1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế quản lý tài chính tại viện công nghệ môi trường, viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam

100 325 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 789,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lĩnh vực môi trường, trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các dịch vụ của mình, Viện luôn tuân thủ các quy định của Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp có thu công lập và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÙI THỊ VÂN LINH

C¥ CHÕ QU¶N Lý TµI CHÝNH T¹I VIÖN C¤NG NGHÖ M¤I TR¦êNG -

VIÖN HµN L¢M KHOA HäC Vµ C¤NG NGHÖ VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÙI THỊ VÂN LINH

C¥ CHÕ QU¶N Lý TµI CHÝNH T¹I VIÖN C¤NG NGHÖ M¤I TR¦êNG -

VIÖN HµN L¢M KHOA HäC Vµ C¤NG NGHÖ VIÖT NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thị Vân Linh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Danh mục các chữ viết tắt i

Danh mục bảng biểu ii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 4

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 4

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu là các trường đại học và các hoạt động khoa học 4

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu khác 5

1.1.3 Đánh giá tổng quan và những vấn đề đă ̣t ra cần tiếp tu ̣c nghiên cứu 6

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 7

1.2.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu 7

1.2.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu 8

1.2.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp có thu 11

1.3 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 13

1.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu 13

1.3.2 Vai trò của cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu 15

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu 16

1.3.4 Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu 17

1.4 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU Ở VIỆT NAM 30

Trang 5

1.4.1 Cơ chế quản lý tài chính của một số đơn vị sự nghiệp có thu tại các

nước phát triển trên thế giới 30

1.4.2 Bài học kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 31

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 34

2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƯỢC SỬ DỤNG 34

2.1.1 Phương pháp, cách tiếp cận nội dung nghiên cứu 34

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu chủ yếu 34

2.1.3 Phương pháp xử lý thông tin 35

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 35

2.2.1 Địa điểm thực hiện nghiên cứu 35

2.2.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu 36

2.3 CÁC CÔNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG 36

Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG – VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 37

3.1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG – VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 37

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Viện Công nghệ môi trường – Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 37

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm tổ chức quản lý của Viện Công nghệ môi trường 38

3.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG – VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 42

3.2.1 Hành lang pháp lý về quản lý tài chính đối với Viện Công nghệ môi trường – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 42

Trang 6

3.2.2 Quy trình lập kế hoạch ngân sách nhà nước tại Viện Công nghệ

môi trường 48 3.2.3 Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường

– Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 50 3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

TẠI VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG – VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 65 3.3.1 Những kết quả đạt được 65 3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 69

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI

CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG – VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 74

4.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI

TRƯỜNG TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2020 74 4.2 YÊU CẦU HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN

CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 75 4.2.1 Cơ chế quản lý tài chính đối với Viện Công nghệ môi trường phải

đáp ứng được nhiệm vụ chính trị do Nhà nước và Viện Hàn lâm Khoa học

và Công nghệ Việt Nam giao cho 75 4.2.2 Cơ chế quản lý tài chính phải đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

trong giai đoạn mới 76 4.2.3 Cơ chế quản lý tài chính theo yêu cầu tiết kiệm, hiệu quả 77 4.2.4 Cơ chế quản lý tài chính phải đảm bảo yêu cầu phát huy tiềm năng,

trí tuệ của đội ngũ cán bộ công chức ở Viện Công nghệ môi trường 77 4.3 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI

CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG 77 4.3.1 Giải pháp về phía Viện hàn lâm 77 4.3.2 Giải pháp về huy động các nguồn lực tài chính 78

Trang 7

4.3.3 Giải pháp hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ 79

4.3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác lập dự toán chi ngân sách 81

4.3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản 81

4.3.6 Giải pháp kiểm tra và giám sát nguồn lực tài chính 82

4.4 ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 84

4.4.1 Về phía Nhà nước và các cơ quan quản lý Nhà nước 84

4.4.2 Điều kiện về phía Viện Công nghệ môi trường – Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam 85

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

2 Bảng 3.2: Bảng thống kê đề tài, nghiên cứu khoa học tại Viện 52

3 Bảng 3.3: Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của Viện Công

4 Bảng 3.4: Tình hình sử dụng nguồn kinh phí của Viện công

5 Bảng 3.5: Kết quả hoạt động và phân phối chênh lệch 59

6 Bảng 3.6: Tình hình trích lập quỹ của Viện công nghệ môi trường 60

7 Bảng 3.7: Thống kê tài sản cố định tại Viện Công nghệ môi trường 63

8 Bảng 3.8: Diện tích mặt bằng Viện Công nghệ môi trường 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới tiến vào thế kỷ XXI với thành tựu của công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hoá Toàn cầu hoá là một quá trình không thể đảo ngược, nó tác động đến tất cả các lĩnh vực quản lý của các quốc gia trên thế giới, buộc tất cả các quốc gia phải cải cách để hội nhập và phát triển

Việt Nam đã có những nội dung và chương trình lớn để chuẩn bị cho hội nhập thành công Trong đó có chương trình tổng thể cải cách nền hành chính quốc gia, được phê duyệt tại Quyết định số 136/2001/QĐ - TTg ngày 17 tháng 9 năm

2001 của Thủ tướng Chính phủ Một trong bốn nội dung quan trọng của Chương trình tổng thể nền hành chính quốc gia là cải cách nền tài chính công Để thực hiện nội dung trên, Chính phủ đã ban hành, Quyết định 192/2001/QĐ - TTg ngày 17 tháng 12 năm 2001 về mở rộng thí điểm khoản biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính Nhà nước; Nghị định 10/2002/NĐ - CP ngày

16 tháng 1 năm 2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Nghị định 10 của Chính phủ ra đời đã tạo nên những chuyển biến đáng kể trong quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu công lập Tuy nhiên, trong quá trình triển khai cơ chế tài chính mới các đơn vị sự nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc

Vì vậy, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu công lập là một yêu cầu khách quan

Viện Công nghệ môi trường được thành lập theo Quyết định số TTg ngày 30/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ là 1 trong những đơn vị sự nghiệp

148/2002/QĐ-có thu công lập trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (viết tắt

là Viện Hàn lâm) Hiện nay, Viện là một trong những đơn vị hàng đầu ở Việt Nam thực hiện việc nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực môi trường; triển khai, ứng dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ xây dựng quy hoạch, chính sách, chiến lược và các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đào tạo cán bộ có trình độ cao về công nghệ môi trường

Viện Công nghệ môi trường là đơn vị nghiên cứu, khoa học công nghệ trong

Trang 11

lĩnh vực môi trường, trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các dịch vụ của mình, Viện luôn tuân thủ các quy định của Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp có thu công lập và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ Tuy nhiên, thực trạng cơ chế tài chính trong đơn vị khoa học công nghệ còn nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các

dịch vụ của Viện Chính vì vậy việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” là rất quan trọng và cấp thiết cho công tác quản lý tài chính của Viện

trong thời điểm hiện nay

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm

Khoa học và công nghệ Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về cơ chế quản lý tài chính đối

với đơn vị sự nghiệp có thu và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ

Hai là, Đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính của Viện Công nghệ

môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

Ba là, Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cho cơ chế quản lý tài chính tại

Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Vì sao phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt nam?

4 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của Viện Công nghệ môi trường Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt nam trên cơ sở

cơ chế quản lý tài chính cho đơn vi sự nghiệp có thu và cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ

Trang 12

5 Phạm vi nghiên cứu

- Các hoạt động tài chính và phân tích thực trạng cơ chế tài chính của Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt nam

- Thời gian: từ năm 2011 đến nay

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận cơ bản và thực tiễn

về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu đề tài luận văn

Chương 3: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Viện công nghệ môi

trường – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Viện công

nghệ môi trường – Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ

SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn

vị sự nghiệp có thu là các trường đại học và các hoạt động khoa học

Ở nước ta, những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề tài chính của nền kinh tế cũng như cho hoạt động giáo dục và đào tạo và hoạt động KH&CN trong các trường đại học Có thể nêu lên một số công trình mà ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác đã đề cập đến cơ chế quản lý tài chính cho KH&CN nói chung, cho các trường đại học nói riêng

Về bản chất của cơ chế quản lý tài chính cho KH&CN, trong đề tài cấp Bộ

B2003.38.76TĐ: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động

KH&CN trong các trường đại học Việt Nam do Mai Ngọc Cường chủ trì đã viết: Cơ chế chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN bao gồm cơ chế chính sách huy động, sử dụng và quản lý các nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN

Trong đề tài B2005.38.125: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các

trường đại học công lập ở Việt Nam do Vũ Duy Hào chủ trì, cũng chỉ rõ “Cơ chế quản lý tài chính được hiểu là tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý hoạt động tài chính của một đơn vị trong những điều kiện

cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định

Các công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập đến nguồn tài chính cho

KH&CN trong các trường đại học Trong đề tài cấp Bộ B2003.38.76TĐ viết:

Có nhiều cách phân loại nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN Trong đề tài này,

các nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN được chia thành hai nguồn: Nguồn từ

ngân sách nhà nước; Nguồn ngoài ngân sách nhà nước Tác giả cũng đã làm rõ

vị trí, vai trò, cơ cấu nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn đầu tư tài chính cho KH&CN

Trang 14

Ngoài ra, vấn đề cơ chế quản lý tài chính cho KH&CN nói chung, trong các trường đại học nói riêng còn được đề cập tới trong một số công trình, bài viết khác

như: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tài chính với việc phát triển khoa học - công nghệ, của Học viện Tài chính, Hà Nội 3/2003; Đổi mới quản lý tài chính từ ngân sách

Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ, Mai Ngọc Cường, Kỷ yếu Hội

thảo khoa học do Kiểm toán Nhà nước - Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức, Hà

Nội, tháng 8/2006; Về cơ chế quản lý tài chính chương trình KH&CN trọng điểm

cấp nhà nước giai đoạn 5 năm 2001-2005, Nguyễn Trường Giang, Tạp chí Kiểm

toán, số tháng 9/2006; Thông tư liên tịch số 93/2006/TTL/BTC-BKHCN: Tự chủ

hơn trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án Nguyễn Minh Hoà, Tạp

chí Hoạt động khoa học, số tháng 11/2006, Chi cho KH&CN: Hiệu quả khó "đong

đếm" Minh Nguyệt T/c Hoạt động khoa học, số tháng 9/2006; Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN, Nguyễn Thị Anh Thư, T/c Hoạt động khoa học, số tháng

3/2006; Quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí sự nghiệp khoa học giai đoạn

2001-2005, những bất cập và kiến nghị, Trần Xuân Trí, Tạp chí Kiểm toán, tháng

Trang 15

dục, tăng ý thức trách nhiệm của công dân và các đơn vị trong cung cấp, lựa chọn, kiểm soát và trả phí theo chất lượng dịch vụ, tăng tính cạnh tranh và sức ép buộc các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước phải cải thiện hoạt động của mình Một số công trình cũng phân tích những yếu kém khi triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa dịch vụ công

- Các công trình nghiên cứu về thực trạng đổi mới cơ chế quản lý, nhất là đổi mới cơ chế quản lý tài chính, ở các đơn vị sự nghiệp của nhà nước theo hướng mở rộng quyền tự chủ tài chính cho cơ sở, cụ thể là:

+ Luận văn thạc sĩ của Bùi Xuân Huy năm 2014 về đề tài: Hoàn thiện cơ chế quản

lý tài chính tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật

+ Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngà năm 2012 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài

chính tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao Thông Vận tải

1.1.3 Đánh giá tổng quan và như ̃ng vấn đề đă ̣t ra cần tiếp tu ̣c nghiên cứu

Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án lựa chọn, người thực hiện xin có mô ̣t số đánh giá như sau:

Thứ nhất, đa số các nhóm nghiên cứu về nghiên cứu cơ chế tài chính đối với

đơn vị sự nghiệp có thu cho các trường đại học và hoạt động khoa học

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về đối với đơn vị sự nghiệp có thu về chủ trương

xã hội hóa các dịch vụ công của nhà nước; về thực trạng đổi mới cơ chế quản lý, nhất là đổi mới cơ chế quản lý tài chính, ở các đơn vị sự nghiệp của nhà nước theo hướng mở rộng quyền tự chủ tài chính cho cơ sở

Như vâ ̣y, chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích và đánh giá thực tra ̣ng thực hiê ̣n cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học

và Công nghệ Việt Nam Với nhâ ̣n đi ̣nh , người thực hiện luận văn quyết đi ̣nh lựa chọn vấn đề nghiên cứu “ Cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” Cụ thể nội dung nghiên cứu là:

Một là, Hệ thống hóa một số quan điểm, làm rõ các khái niệm, phân loại, vai

trò, cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ

Trang 16

Hai là, Nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính

của Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, đồng thời lý giải nguyên nhân của thực trạng này

Ba là, đưa ra cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trường, Viện

Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt nam

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.2.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động

sự nghiệp, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, mang tính chất phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận [14]

Đơn vị sự nghiệp công lập có thu là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm

Đơn vị sự nghiệp có thu công lập gọi tắt là đơn vị sự nghiệp có thu (SNCT) được xác định bởi các đặc điểm cơ bản sau [14]:

- Do các cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền thành lập mà trong đó chủ yếu là do cơ quan hành chính Nhà nước thành lập Căn cứ vào vị trí và phạm vi hoạt động mà các đơn vị sự nghiệp có thu mà Thủ trưởng cơ quan cấp quản lý trực tiếp

ra quyết định thành lập

- Trong quá trình hoạt động được Nhà nước cho phép thu các loại phí để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức

và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị

- Nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội (thực hiện hoạt động sự nghiệp được Nhà nước uỷ quyền) không nhằm mục đích sinh lời

- Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Tức các đơn vị sự nghiệp có thu đáp ứng đầy đủ bốn tiêu chí: (1) Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách

Trang 17

nhiệm bằng các tài sản đó; (4) Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập (Điều 9, Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam)

1.2.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu

Các đơn vị SNCT có một đặc điểm chung, đó là bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, các đơn vị còn tận dụng nguồn lực hiện có của mình để thực hiện một số hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ trong khuôn khổ luật pháp cho phép, có mang lại nguồn thu góp phần làm tăng thu cho NSNN, đồng thời hỗ trợ một phần cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của đơn vị Nguồn thu từ các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và các hoạt động khác của đơn vị sự nghiệp không giống nhau, nó tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: lĩnh vực, quy mô và địa bàn hoạt động của đơn vị; khả năng tận dụng tối đa các nguồn lực có sẵn; tính năng động, sáng tạo của đơn vị [14]

1.2.2.1 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đơn vị SNCT bao gồm

Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật:

Bao gồm: Các đoàn nghệ thuật (Ca múa nhạc kịch, cải lương, chèo, tuồng, múa rối, xiếc ;); Trung tâm Chiếu phim quốc gia; Nhà Văn hóa; Thư viện, bảo tồn, bảo tàng; Đài Phát thanh, Truyền hình; Trung tâm Báo chí xuất bản

Đơn vị SNCT hoạt động trong lãnh vực giáo dục đào tạo

Bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như: Trường phổ thông (Mầm non, Tiểu học, Phổ thông cơ sở, Phổ thông trung học); Các Học viện, Trường, Trung tâm đào tạo;

Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học

Bao gồm: Viện Nghiên cứu khoa học; Trung tâm Ứng dụng, chuyển giao

công nghệ;

Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao:

Bao gồm: Trung tâm Huấn luyện thể dục thể thao; Liên đoàn, Đội thể thao; Câu lạc bộ thể dục thể thao

Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực y tế:

Bao gồm: Cơ sở khám chữa bệnh: bệnh viện, phòng khám; Trung tâm Điều dưỡng, phục hồi chức năng

Trang 18

Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực xã hội:

Bao gồm: Trung tâm Chỉnh hình; Trung tâm Dịch vụ việc làm

Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực kinh tế:

Bao gồm: Các Viện Thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn; Các Trung tâm Bảo vệ rừng, Cục bảo vệ thực vật, Trung tâm Nước sạch vệ sinh môi trường, Trung tâm Dâu tằm tơ Trung tâm Đăng kiểm, Trung tâm định kiểm an toàn lao động ; Các đơn vị sự nghiệp giao thông đường bộ, đường sông; Các Vụ Đường biển, Đường sông, Đường hàng không; Trung tâm Khí tượng thủy văn

Ngoài các đơn vị SNCT ở các lĩnh vực nêu trên còn các đơn vị SNCT trực thuộc các tổng công ty, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội

1.2.2.2 Căn cứ vào khả năng tự đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên, người ta phân chia các đơn vị SNCT thành hai loại

Đơn vị SNCT từ đảm bảo toàn bộ chi phí cho hoạt động thường xuyên và đơn

vị SNCT tự đảm bảo một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên

- Đơn vị SNCT tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên cho đơn vị

- Đơn vị SNCT tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN cấp một phần chi phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị

Cách xác định để phân loại đơn vị SNCT

* Đơn vị SNCT tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên là đơn vị có nguồn thu chưa trang trải được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, có mức kinh phí tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị

được xác định theo công thức sau đây nhỏ hơn 100%

Trong đó:

+ Tổng số nguồn thu sự nghiệp của đơn vị bao gồm:

Trang 19

- Tiền thu phí, lệ phí thuộc NSNN (phần được để lại đơn vị thu theo quy định)

- Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ

- Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có) + Tổng số chi cho hoạt động thường xuyên của đơn vị bao gồm:

- Chi cho người lao động: Chi tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, các khoản trích BHYT, BHXH, kinh phí công đoàn theo quy định

- Chi quản lý hành chính: Vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thông tin liên lạc, công tác phí, hội nghị phí

- Chi hoạt động nghiệp vụ

- Chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí

- Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao TSCĐ)

- Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất: Nhà cửa, máy móc thiết bị

- Chi khác

Tổng số thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên đơn vị tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định; tình hình thực hiện dự toán thu, chi của năm trước liền kề (loại trừ các yếu tố đột xuất, không thường xuyên) được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Đơn vị SNCT tự đảm bảo một phần chi phí thường xuyên được phép xác định tổng quỹ tiền lương để trả cho người lao động trên cơ sở tiền lương tối thiểu không quá 3 lần tiền lương tối thiểu chung của Nhà nước, trong đó một lần lương hiện hưởng và tăng thêm không quá hai lần so với mức tiền lương tối thiểu chung

do Nhà nước quy định Hầu hết các đơn vị SNCT hiện nay đều thuộc loại này, trong

đó có nhiều đơn vị có nguồn thu rất thấp

* Đơn vị SNCT tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên là các đơn vị sau đây:

+ Đơn vị có cách tính theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%

+ Đơn vị sự nghiệp đã tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên từ

Trang 20

nguồn thu sự nghiệp NSNN không cấp kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên cho đơn vị

+ Đơn vị sự nghiệp đã tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp và từ nguồn NSNN cho cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng

+ Đơn vị sự nghiệp làm công tác kiểm dịch, kiểm nghiệm, giám định, kiểm tra chất lượng mà nguồn thu đã đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên từ các dịch vụ trên theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định NSNN không cấp thêm kinh phí để đảm bảo hoạt động thường xuyên

Đây là loại hình đơn vị có nguồn thu sự nghiệp lớn, đủ để tự đảm bảo được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị, NSNN không phải cấp kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên cho đơn vị

Theo công thức tính ở trên, những đơn vị này có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên lớn hơn hoặc bằng 100% Đơn vị SNCT thuộc nhóm này được phép xác định tổng quỹ tiền lương để trả cho người lao động trên cơ sở tiền lương tối thiểu không quá 3,5 lần tiền lương tối thiểu chung của Nhà nước quy định Hiện nay số lượng những đơn vị này còn khá hạn chế, chủ yếu là các đơn vị ở Trung ương và hoạt động trong các lĩnh vực có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn thu

1.2.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: Y tế, giáo dục đào tạo, KHCN và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, giáo dục, việc làm

"Sự nghiệp" bản thân nó với nghĩa thông thường nhất là chỉ những công việc

có lợi ích chung và lâu dài cho xã hội Chính vì vậy trên một phương diện nào đó, khi nói đến hoạt động sự nghiệp là nói đến tổ chức thực hiện những công việc chung có lợi ích lâu dài cho xã hội Cụ thể vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập trong nền kinh tế:

Trang 21

Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên

tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu kiếm lời

Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo

ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần kinh tế xã hội Nhưng việc cung ứng những hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi cộng cộng khi can thiệp vào thị trường Nhờ vậy sẽ hỗ trợ cho các ngành kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa tinh thần của nhân dân

Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lại

lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất

và giá trị tinh thần

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhìn chung, đại bộ phận sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp là sản phẩm mang tính phục vụ không bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả, truyền tiếp Mặt khác, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các “hàng hóa công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội Cũng như các hàng hóa khác, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp có giá trị và giá trị sử dụng nhưng có điểm khác biệt là nó có giá trị xã hội cao, điều đó đồng nghĩa là người cùng sử dụng, dùng rồi có thể được dùng lại trên phạm vi rộng Vì vậy, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là "hàng hóa công cộng" Nhờ sử dụng những “hàng hóa công cộng” do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao Hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao đem đến tri thức và đảm bảo sức

Trang 22

khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa thông tin mang lại những hiểu biết cho con người về tự nhiên, xã hội tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống… Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội

Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn

liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ tổ chức duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội Để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình xoá mù chữ, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống AIDS, chương trình phòng chống tội phạm, chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình phủ sóng phát thanh truyền hình Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách hiệu quả Nếu để tư nhân thực hiện, vì mục tiêu lợi nhuận có thể sẽ hạn chế đến tiêu dùng trong xã hội và do đó xã hội không thể phát triển cân đối được

Ngoài ra, bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, các đơn vị SNCT còn tận dụng nguồn lực hiện có của mình để thực hiện một số hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ trong khuôn khổ luật pháp cho phép, có mang lại nguồn thu góp phần làm tăng thu cho NSNN, đồng thời hỗ trợ một phần cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của đơn vị Nguồn thu từ các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ

và các hoạt động khác của đơn vị sự nghiệp không giống nhau, nó tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: Lĩnh vực, quy mô và địa bàn hoạt động của đơn vị; khả năng tận dụng tối đa các nguồn lực có sẵn; tính năng động, sáng tạo của đơn vị

1.3 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu

* Khái niệm cơ chế quản lý tài chính

Theo Từ điển Tiếng Việt, cơ chế được hiểu là “cách thức theo đó một quá trình được thực hiện” Trong tiếng Anh từ cơ chế “mechanism” được hiểu theo 3

Trang 23

nghĩa: (i) Là một sự kết hợp giữa các bộ phận hoạt động của một chiếc máy để thực hiện một chức năng nhất định; (ii) Là cách thức hoặc hệ thống tổ chức để đạt được mục tiêu đã định; (iii) Là một hệ thống các bộ phận của một cơ thể sống mà các bộ phận này cùng nhau thực hiện một chức năng nhất định [12]

Từ những cách hiểu trên về cơ chế, có thể hiểu cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu là cách thức tổ chức quản lý hoạt động, huy động, phân phối và giám sát các nguồn lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, xã hội được nhà nước giao và đảm bảo cho đơn vị phát triển bền vững

* Tiêu chí đánh giá cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp

có thu:

- Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu được huy động từ đâu?

- Nguyên tắc tổ chức, quản lý các khoản thu của đơn vị sự nghiệp có thu như thế nào?

- Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định các khoản chi tiêu của đơn vị sự nghiệp có thu? Việc phân định thẩm quyền quyết định các khoản chi như thế nào?

- Hoạt động chi tiêu của đơn vị sự nghiệp có thu phải tuân thủ những nguyên tắc nào? Phải thỏa mãn những điều kiện gì?

- Cách thức tổ chức giám sát và kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động

thu, chi của các đơn vị sự nghiệp có thu như thế nào? Các nội dung quan trọng nhất

về cách thức giám sát và kiểm soát hoạt động thu, chi của các đơn vị sự nghiệp có thu là đề xuất ra các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá sự tuân thủ và tính hiệu quả việc sử

dụng các nguồn tài chính, cũng như việc tổ chức hoạt động giám sát và kiểm soát

Hai tiêu chí đầu tiên liên quan đến cơ chế tạo lập nguồn tài chính của các đơn

vị sự nghiệp có thu Tiêu chí thứ ba và thứ tư liên quan đến cơ chế quản lý và sử dụng nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu Tiêu chí thứ năm liên quan đến cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả thu, chi của đơn vị sự nghiệp có

thu (đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính) [15]

Trang 24

1.3.2 Vai trò của cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế - xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra một cơ chế quản lý tài chính thích hợp, có tác động tới mục tiêu đầu tư phát triển đã được hoạch định

Vai trò của cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu được xét trên cả hai góc độ [16]:

- Đối với cơ quan quản lý cấp trên:

Thứ nhất, tạo lập vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và

của đơn vị SNCT nói riêng nhằm khơi dậy và huy động các nguồn lực tài chính trong xã hội, NSNN và ngoài NSNN vào đầu tư phát triển các hoạt động sự nghiệp

Thứ hai, tạo môi trường thuận lợi cho các đơn vị SNCT phát triển thông qua

việc phân bổ vốn đầu tư phát triển cho các đơn vị SNCT tập trung, có trọng điểm, tránh dàn trải, gắn chi thường xuyên, chi đầu tư và chi chương trình mục tiêu

Thứ ba, kiểm tra, giám sát tài chính trong mọi hoạt động tài chính của các

đơn vị SNCT nhằm có được thông tin trung thực, khách quan, đầy đủ và toàn diện

về các hoạt động tài chính của các đơn vị này Thông qua quá trình tạo lập, quản lý

và sử dụng các nguồn lực tài chính của các đơn vị SNCT đảm bảo tuân thủ theo quy định của Nhà nước và điều chỉnh, ngăn chặn các sai phạm, lành mạnh hóa và nâng cao hiệu quả các hoạt động tài chính của các đơn vị SNCT

- Đối với bản thân mỗi đơn vị SNCT:

Một là, chủ động thu hút, khai thác, tạo lập nguồn vốn NSNN và ngoài

NSNN thông qua đa dạng hóa các hoạt động của đơn vị SNCT và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính

Hai là, phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị SNCT trong

việc tạo lập, quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính đầu tư từ NSNN và ngoài NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả, lành mạnh hóa các hoạt động tài chính đảm bảo các nguồn kinh phí được đầu tư, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả cao, ngăn chặn hiện tượng vụ lợi trong hoạt động tài chính

Trang 25

Ba là, chịu sự quản lý Nhà nước, kiểm tra, giám sát tài chính của cơ quan

chủ quản cấp trên, cơ quan tài chính trong quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính của các đơn vị SNCT

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

Nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu chủ yếu liên quan đến hoạt động tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, đó là:

- Nhân tố bên ngoài:

+ Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước: Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra trong mọi thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước là phát triển và tăng trưởng về kinh tế một cách bền vững, ổn định chính trị - xã hội Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế và sự thống nhất, hoàn thiện các cơ chế chính sách về quản lý tài chính thì việc đưa cơ chế quản lý tài chính đối với các sự nghiệp đối với đơn vị

sự nghiệp có thu cũng là một vấn đề cấp thiết [15]

+ Quy mô, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội ảnh hưởng rất lớn đến

cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu Bởi vì, quy mô, tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội sẽ làm cho ngân sách Nhà nước thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến quá trình tạo lập nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước

+ Đặc điểm, địa bàn hoạt động có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp, đặc biệt là đối với các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp Những đặc điểm về dân cư, thu nhập bình quân trên địa bàn có ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu thông qua việc ảnh hưởng đến nguồn thu, cơ cấu và tốc độ thu của các đơn vị sự nghiệp [16]

+ Tình hình phát triển kinh tế: Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đòi hỏi các đơn vị dù ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng phải nỗ lực, phát huy hiệu quả trong quá trình hoạt động, đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

- Nhân tố bên trong:

+ Đặc điểm hoạt động của ngành là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu Mỗi lĩnh vực sự nghiệp có những đặc thù riêng, Nhà nước có những quy định riêng để điều chỉnh [15]

Trang 26

+ Sự thay đổi về quy mô hoạt động của đơn vị, về cơ sở vật chất và giá cả; + Trình độ cán bộ quản lý: Con người là nhân tố không thể thiếu được để vận hành bộ máy quản lý Trình độ cán bộ quản lý quyết định chất lượng quản lý vì cán

bộ quản lý là người trực tiếp ra các quyết định quản lý

Các nhân tố trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị SNCT Tùy vào từng giai đoạn hoàn cảnh khác nhau mà Nhà nước nhấn mạnh nhân tố này hay nhân tố khác trong cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị SNCT

1.3.4 Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

Cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị SNCT bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành và liên quan đến hàng loạt các vấn đề khác nhau như: Các chính sách, chế

độ và quy định về quản lý tài chính cũng như huy động, sử dụng, giám sát việc sử dụng các nguồn lực tài chính Cơ chế quản lý tài chính còn là mối quan hệ tài chính theo phân cấp Cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị SNCT, bao gồm:

1.3.4.1 Cơ chế huy động, tạo nguồn lực tài chính

Việc tạo nguồn tài chính có tính quyết định đến triển khai chiến lược, kế hoạch phát triển của các đơn vị SNCT Bởi lẽ, cho dù chiến lược, kế hoạch phát triển tốt đến đâu nếu không có nguồn tài chính đảm bảo thì chiến lược, kế hoạch chỉ

là ước nguyện, không thể triển khai được trong thực tế

Nguồn tài chính của đơn vị SNCT gồm kinh phí do NSNN cấp và nguồn ngoài NSNN (bao gồm: nguồn thu sự nghiệp của đơn vị; nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật và các nguồn thu khác)

Theo đặc điểm hình thành các nguồn tài chính trong các đơn vị SNCT có thể khái quát hóa thành hai loại cơ chế quản lý tài chính, tạm gọi là cơ chế quản lý tài chính "cứng" và cơ chế quản lý tài chính "mềm" [16]

- Cơ chế quản lý tài chính "cứng" được áp dụng đối với nguồn tài chính từ NSNN và có nguồn gốc từ NSNN Gọi là cơ chế quản lý tài chính "cứng" vì khi thiết lập và vận hành cơ chế này đều phải tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc theo những quy định các văn bản pháp luật về sử dụng NSNN Cơ chế này không đặt mạnh về

Trang 27

quyền lựa chọn của lãnh đạo đơn vị sử dụng nguồn lực tài chính của NSNN Ngược lại, coi trọng trách nhiệm trong việc điều hành, sử dụng nguồn lực tài chính mà Nhà nước cấp cho đơn vị Cơ chế quản lý tài chính "cứng" được thể hiện trong quá trình lập dự toán thu - chi dựa trên những quy định về chế độ, tiêu chuẩn định mức do Nhà nước và các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho đơn vị đảm nhận

Nói chung, cơ chế quản lý tài chính được gọi là "cứng" trong các đơn vị SNCT chủ yếu do Nhà nước quy định từ khâu lập, tổ chức chấp hành dự toán, đến khâu quyết toán nguồn tài chính mà Nhà nước cấp cho đơn vị Đơn vị chỉ có quyền vận dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh của đơn vị, đảm bảo kỷ luật kỷ cương tài chính

- Cơ chế quản lý tài chính gọi là "mềm" được áp dụng để huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ngoài NSNN cấp Gọi là cơ chế quản lý tài chính "mềm"

có phần mang ý nghĩa thị trường hơn, linh hoạt hơn không hoàn toàn chịu sự chi phối trực tiếp bởi những quy định của Nhà nước như cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho nguồn tài chính được ngân sách cấp Với cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị SNCT được gọi là "mềm" thì vai trò của thủ trưởng, các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên có ý nghĩa quyết định

a) Đối với nguồn NSNN cấp:

Nguồn vốn NSNN cấp cho các đơn vị SNCT được thể hiện qua hai nội dung chi lớn là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Ngoài ra còn có khoản chi trả

nợ, chi viện trợ và chi khác [14]

* Đối với chi thường xuyên

Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng Đây là khoản chi tiêu công nằm trong tổng thể nguồn tài chính công và không mang tính bồi hoàn trực tiếp

Nếu căn cứ vào nội dung kinh tế thì chi thường xuyên của NSNN bao gồm: + Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp, như: Tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá nhân

Trang 28

+ Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn

Hoạt động nghiệp vụ chuyên môn trong các đơn vị hành chính - sự nghiệp được đảm bảo bằng nguồn kinh phí thường xuyên của NSNN ở mỗi ngành rất khác nhau Nếu như ở cơ quan Công chứng nhà nước, hoạt động nghiệp vụ chuyên môn

là xác nhận tính hợp lệ, hợp lý của các loại giấy tờ cho mỗi tổ chức, cá nhân có nhu cầu; thì ở các đơn vị sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo là hoạt động giảng dạy, học tập

và nghiên cứu khoa học; ở các đơn vị sự nghiệp Y tế lại là hoạt động phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh; v.v

Được tính vào chi nghiệp vụ chuyên môn phải là những khoản chi mà xét về nội dung kinh tế của nó phải thực sự phục vụ cho hoạt động này Ví dụ: Các chi phí

về nguyên liệu, vật liệu; chi phí về năng lượng, nhiên liệu; chi phí cho nghiên cứu, hội thảo khoa học; chi phí về thuê mướn chuyên gia, giáo viên để tư vấn hay đào tạo cho đội ngũ nghiên cứu; chi phí để tiến hành khảo sát, tham quan học tập những điển hình tiên tiến về nghiên cứu và ứng dụng qui trình công nghệ của một số hoạt động nào đó; v.v

+ Các khoản chi mua sắm, sửa chữa

Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính - sự nghiệp còn được NSNN cấp kinh phí để mua sắm thêm các tài sản (kể cả tài sản cố định) hay sửa chữa các tài sản đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu hoạt động và nâng cao hiệu suất sử dụng của các tài sản đó Tuy nhiên, mức chi cho mua sắm, sửa chữa của mỗi đơn vị lại phụ thuộc vào:

- Tình trạng tài sản của đơn vị thuộc diện được sử dụng vốn NSNN;

- Khả năng nguồn vốn NSNN có thể dành cho nhu cầu chi này ở mức độ nào? Trong điều kiện hiện tại, được tính vào chi NSNN cho mua sắm, sửa chữa ở các đơn vị hành chính - sự nghiệp, bao gồm: Các khoản chi để mua sắm thêm tài sản (bao gồm cả công cụ, dụng cụ và tài sản cố định) Các khoản chi để thực hiện sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản cố định

+ Các khoản chi khác

Thuộc phạm vi các khoản chi khác nằm trong cơ cấu chi thường xuyên của

Trang 29

NSNN, có thể nói một cách khái quát nhất là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn nhưng chưa được đề cập tới ở 03 nhóm mục trên

* Đối với chi đầu tư phát triển của NSNN

Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm nhiều khoản chi với những mục đích khác nhau, có tính chất và đặc điểm khác nhau

Theo tính chất hoạt động đầu tư phát triển thì chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm:

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN là các khoản chi để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, các công trình của doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo kế hoạch được duyệt, các dự

án quy hoạch vùng, lãnh thổ Chi đầu tư xây dựng cơ bản có thể thực hiện theo hình thức đầu tư xây dựng mới hoặc theo hình thức đầu tư xây dựng mở rộng, cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa các tài sản cố định và năng lực sản xuất phục vụ hiện có

- Các khoản chi không có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản như chi cấp vốn ban đầu, cấp bổ sung vốn pháp định hoặc vốn điều lệ cho các doanh nghiệp nhà nước, chi trợ cấp trợ giá hoặc các chế độ ưu đãi khác khi thực hiện nhiệm vụ công ích

b) Đối với nguồn ngoài NSNN

Nguồn ngoài NSNN cấp bao gồm [14]:

- Nguồn thu sự nghiệp như Phần để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước; Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị; Thu khác (nếu có); Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ;

Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật: Đây

là nguồn vốn do Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế tài trợ cho các đơn vị sự nghiệp Nguồn vốn này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn thu sự nghiệp

và được Chính phủ Việt Nam quy định là một phần ngân sách của Nhà nước giao

Trang 30

cho các đơn vị sự nghiệp quản lý và sử dụng Tuy nhiên, việc chi tiêu từ nguồn này thường phải theo định hướng những nội dung đã định từ phía nhà tài trợ

Nguồn thu khác: Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng và vốn huy động

của cán bộ, viên chức trong đơn vị; Nguồn vốn tham gia liên doanh, liên kết của các

tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật;

1.3.4.2 Cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính

Hoạt động quản lý, sử dụng nguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu vừa chịu sự chi phối bởi chiến lược và kế hoạch hoạt động của đơn vị, vừa có ảnh hưởng tác động đến toàn bộ hoạt động của đơn vị theo hai chiều hướng thuận nghịch khác nhau của các đơn vị sự nghiệp có thu Điều đó tùy thuộc vào công tác

tổ chức các hoạt động tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu, hay nói một cách khác là tùy thuộc vào cơ chế tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu Tùy theo đặc điểm của các nguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu mà có thể hình thành các loại cơ chế quản lý tài chính khác nhau sao cho việc tạo lập và quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu phù hợp với đặc điểm từng nguồn tài chính, phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị cụ thể đảm bảo việc sử dụng nguồn lực tiết kiệm và đạt hiệu quả cao

Cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính đối với các đơn vị SNCT bao hàm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm, cụ thể [7]:

+ Quyền tự chủ của đơn vị SNCT

Thứ nhất, khuyến khích đa dạng hóa các loại hình và tăng các nguồn thu

Nguồn thu được phép giữ lại để bổ sung kinh phí cho các hoạt động của đơn vị, nguồn thu đa dạng là sự đảm bảo tốt nhất cho quyền tự chủ của các đơn vị Nếu đơn

vị phụ thuộc duy nhất vào NSNN thì quyền tự chủ vẫn là một khái niệm rỗng Đối với đơn vị SNCT được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí thì đơn

vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng hoạt động, tùy đối tượng nhưng không được vượt quá mức khung do cơ quan có thẩm quyền quy định Đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng thì đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cho phù hợp, đảm bảo bù đắp chi phí, có tích luỹ

Trang 31

Thứ hai, đơn vị SNCT tự chủ về sử dụng nguồn tài chính Các khoản chi của

đơn vị SNCT gồm các khoản chi thường xuyên và các khoản chi không thường xuyên Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và nguồn tài chính, đơn vị được quyết định một số mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính Căn cứ vào tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc

Thứ ba, tự quyết định các khoản chi tiêu như: Chi trả tiền lương, tiền công

cho người lao động Trong phạm vi tổng quỹ tiền lương, tiền công được xác định theo mức Nhà nước quy định, sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn và được công khai trong đơn vị, thủ trưởng đơn vị quyết định việc chi trả tiền lương, tiền công theo chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc trên nguyên tắc người nào, bộ phận nào có thành tích, có đóng góp làm tăng thu, tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì được trả tiền lương, tiền công cao hơn

+ Tính trách nhiệm của đơn vị SNCT

Một là, trong điều kiện ngặt nghèo về nguồn lực, cần xác định yếu tố đầu vào

tối thiểu cần thiết để đầu tư và sử dụng kinh phí được hiệu quả nhất và đảm bảo chất lượng các hoạt động

Hai là, các đơn vị SNCT có trách nhiệm sử dụng NSNN, nhiều nước đã áp

dụng cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên hệ thống chỉ số thực hiện nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi tăng tính hiệu quả quản lý nguồn lực của đơn vị

Ba là, cùng với việc đa dạng hóa các nguồn tài chính và thực hiện sứ mệnh

chính trị - xã hội quan trọng, buộc các đơn vị SNCT có trách nhiệm đầy đủ về tính thích hợp của các chương trình của đơn vị mình

Nguồn lực tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu được quản lý, sử dụng thông qua công tác dự toán và định mức chi của quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng, thực hiện theo tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006

* Công tác dự toán bao gồm:

+ Công tác lập dự toán

Trang 32

Đây là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý tài chính các đơn vị SNCT Lập dự toán thu, chi một cách đúng đắn, có cơ

sở khoa học, thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch hoạt động đối với đơn vị SNCT nói chung và việc thực hiện dự toán nói riêng Lập dự toán thu, chi quyết định chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính Nó cũng là căn cứ quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát chi phí phát sinh hàng năm của NSNN

Vì vậy, để phát huy vai trò tích cực của công tác lập dự toán thu, chi của các đơn vị SNCT, lập dự toán phải đáp ứng các yêu cầu nhất định và dựa vào những căn

cứ nhất định với những phương pháp và trình tự có tính khoa học và thực tiễn đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, đảm bảo việc xây dựng dự toán thu, chi của các đơn vị SNCT dựa

trên hệ thống chế độ, chính sách, tiêu chuẩn định mức của ngành, của Nhà nước được các cấp thẩm quyền phê duyệt, phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội và nhiệm

vụ chính trị - xã hội của đơn vị SNCT

Thứ hai, đảm bảo việc xây dựng dự toán thu, chi của các đơn vị SNCT được

thực hiện đúng với trình tự và thời gian quy định

Thứ ba, dự toán thu, chi của đơn vị SNCT phải bao quát được toàn bộ hoạt

động của đơn vị

Thực chất dự toán của đơn vị SNCT là sự phản ánh nhu cầu huy động, tạo lập các nguồn tài chính và quản lý sử dụng các nguồn tài chính đó, nhằm đáp ứng nhiệm vụ của đơn vị SNCT Vì vậy, để dự toán ngân sách trở thành hiện thực thì khi lập dự toán phải dựa vào những căn cứ sau đây:

- Nhiệm vụ được giao của Nhà nước đối với đơn vị SNCT, bám sát vào chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước trong năm kế hoạch Dựa vào căn cứ này, đảm bảo cho việc lập dự toán thu, chi của đơn vị bám sát được mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động cũng như nhiệm vụ cần động viên khai thác nguồn thu của đơn vị cũng như phân phối và sử dụng các nguồn tài chính huy động được có trọng tâm, trọng điểm, đảm bảo được yêu cầu tiết kiệm, hiệu quả

- Hệ thống chính sách, chế độ, các định mức, tiêu chuẩn thu, chi của Nhà nước Đây là cơ sở đảm bảo việc lập dự toán có căn cứ thực tiễn, cơ sở khoa học và

Trang 33

cơ sở pháp lý Ngoài ra, việc lập dự toán cần phải căn cứ vào kết quả phân tích việc thực hiện dự toán thu, chi của đơn vị trong thời gian qua Đây là căn cứ quan trọng

bổ sung cho những kinh nghiệm cần thiết cho việc lập dự toán trong kỳ kế hoạch

Chi thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, gồm: Tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành cho số lao động trực tiếp phục vụ công tác thu phí, lệ phí; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn; sửa chữa thường xuyên TSCĐ và các khoản chi khác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí

Chi cho các hoạt động dịch vụ, gồm: Tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao TSCĐ; sửa chữa TSCĐ; chi trả lãi tiền vay; lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức, chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có)

Các nhóm chi được cụ thể hóa thành các nhóm như chi thanh toán cá nhân; chi nghiệp vụ chuyên môn; chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định; chi khác

Trang 34

Lập dự toán chi không thường xuyên

Đơn vị lập dự toán căn cứ vào các nội dung chi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức; chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định; chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có); chi đầu tư xây dựng cơ bản

+ Công tác chấp hành dự toán

Đối với dự toán chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao, đơn vị sự

nghiệp được điều chỉnh nội dung chi cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, đồng thời gửi cơ quan cấp trên và Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để theo dõi, quản lý, thanh toán, quyết toán Cuối năm ngân sách dự toán chi hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp chưa sử dụng hết đơn vị được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng

Đối với các khoản chi không thường xuyên, việc điều chỉnh nội dung chi; nhóm mục chi; kinh phí cuối năm chưa sử dụng hoặc không sử dụng hết thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn của

Bộ Tài chính

+ Về hạch toán kế toán: Các đơn vị sự nghiệp thực hiện hạch toán vào các

mục thu, chi theo mục lục ngân sách đã quy định

+ Quyết toán: Các đơn vị sự nghiệp thực hiện lập báo cáo kế toán quý, báo

cáo quyết toán năm gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định

* Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị sự nghiệp có thu [14]:

Để chủ động nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên được giao đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính có trách nhiệm xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị Quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện và Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi

- Quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, đảm bảo đơn vị sự nghiệp có thu

Trang 35

hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện hoạt động thường xuyên phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý

- Những nội dung chi nằm trong phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ đã

có chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành, thì thủ trưởng đơn vị được quy định mức chi cao hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước quy định, trừ một số tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi sau đây:

Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô trong các cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước

Tiêu chuẩn về nhà làm việc

Chế độ công tác nước ngoài

Chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam

Kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia

Nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao

Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành Kinh phí thực hiện tinh giản biên chế

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng dự án và vốn viện trợ

Kinh phí mua sắm và sửa chữa lớn tài sản cố định

Những nội dung chi cần thiết phục vụ cho hoạt động của đơn vị nằm trong phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, nhưng Nhà nước chưa ban hành chế độ, thì Thủ tưởng đơn vị có thể xây dựng mức chi cho từng nhiệm vụ, nội dung công việc, trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị

- Đơn vị SNCT không được dùng kinh phí của đơn vị để mua sắm thiết bị, đồ dùng, tài sản trang bị tại nhà riêng cho cá nhân hoặc cho cá nhân mượn dưới bất kỳ hình thức nào (trừ trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng theo quy định)

- Quy chế chi tiêu nội bộ được thảo luận rộng rãi, dân chủ, công khai trong đơn vị SNCT, có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn đơn vị Quy chế chi tiêu nội bộ đơn vị SNCT gửi cơ quan quản lý cấp trên để báo cáo và gửi kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch làm căn cứ kiểm soát chi

Trang 36

1.3.4.3 Cơ chế phân phối kết quả hoạt động tài chính

Việc phân phối kết quả hoạt động tài chính hàng năm dựa trên kết quả tài chính hàng năm của đơn vị được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa tổng số thu và tổng số chi của đơn vị trong năm tài chính [1] Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định; phần chênh lệch thu lớn hơn chi (thu, chi hoạt động thường xuyên và nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng), đơn

vị được sử dụng theo trình tự sau:

- Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo chế độ quy định

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi mức trích tối đa hai quỹ không quá ba tháng tiền lương, tiền công và thu nhập bình quân tăng thêm trong năm

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm đơn vị được quyết định chi trả như sau:

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Trích lập các quỹ: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (không khống chế mức tối thiểu 25% chênh lệch thu lớn hơn chi), Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi mức trích tối đa hai quỹ không quá ba tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân trong năm

Căn cứ vào mức quy định trên đây, mức cụ thể chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ do thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

Nội dung chi của quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi theo quy định trên bao gồm

cả nội dung chi khen thưởng, chi phúc lợi của hoạt động thu phí, lệ phí (đối với những đơn vị được giao thu phí, lệ phí)

1.3.4.4 Cơ chế quản lý, sử dụng tài sản

Đối với đơn vị SNCT, tài sản của đơn vị thuộc sở hữu Nhà nước, Nhà nước giao cho cán bộ, nhân viên mà người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ

Trang 37

tài sản và cơ sở vật chất theo chế độ tài chính của Nhà nước [6] Tài sản được sử dụng cho hoạt động của đơn vị được tính hao mòn hàng năm theo quy định Trường hợp tài sản sử dụng vào hoạt động dịch vụ thì phải trích khấu hao TSCĐ và được để lại để tăng cường cơ sở vật chất và trả nợ vốn vay (nếu có) Đối với tài sản được thanh lý, sau khi trừ chi phí thanh lý, được để lại đơn vị để trả nợ tiền vay, tiền huy động (nếu có) và hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị hoặc được để lại tăng nguồn kinh phí đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị

Đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước theo quy định hiện hành về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập Việc quản lý sử dụng đất tại đơn vị sự nghiệp phải thực hiện theo đúng quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn luật hiện hành

Cơ chế quản lý tài sản được thực hiện theo QĐ số 32/2008/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ quản lý, tính hao mòn TSCĐ trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng NSNN

và Thông tư 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính nay được thay thế bằng TT45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính Hằng năm, các đơn

vị phải lập dự toán chi thường xuyên để duy trì bảo dưỡng để nâng cao hiệu quả sử dụng tối đa của tài sản cố định

Đối với tài sản cố định sử dụng cho hoạt động dịch vụ thực hiện trích khấu hao để thu hồi vốn theo quy định

1.3.4.5 Cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu

Cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính đối với các đơn vị SNCT chủ yếu liên quan đến công tác hạch toán kế toán, báo cáo quyết toán và kiểm tra, kiểm toán ở các đơn vị SNCT Trong đó, hạch toán kế toán, báo cáo quyết toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính trong các đơn vị SNCT nhằm kiểm tra toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh

tế tài chính của các đơn vị đó Hạch toán kế toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính Quản lý tài chính là quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin liên quan đến các hoạt động tài chính của mỗi đơn vị [1]; [7]

Trang 38

Để thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán phản ánh số liệu hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của đơn vị kịp thời, chính xác

Thông qua công tác hạch toán, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu chi tài chính, tình hình thu nộp và thanh toán, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản,

sử dụng kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản, vi phạm chế độ chính sách, thể lệ tài chính, kinh tế của Nhà nước và của các đơn vị SNCT

Thông qua quá trình ghi chép, tổng hợp số liệu, hạch toán kế toán cung cấp các số liệu, tài liệu phục vụ cho việc điều hành và quản lý các hoạt động trong các đơn vị SNCT, kiểm tra phân tích các hoạt động kinh tế tài chính, phục vụ công tác lập kế hoạch, phục vụ công tác thống kê và thông tin kinh tế

Báo cáo quyết toán NSNN, theo chế độ tài chính kế toán hiện hành, tất cả các khoản thu chi của đơn vị SNCT đều được theo dõi, ghi chép, phản ánh đầy đủ kịp thời vào sổ sách kế toán của các đơn vị SNCT theo hệ thống các loại sổ sách, biểu mẫu của Nhà nước quy định Việc cập nhật thường xuyên, kịp thời các nghiệp

vụ tài chính phát sinh đặc biệt là các khoản thu chi nhằm mục đích giúp các đơn vị SNCT theo dõi chính xác việc thực hiện dự toán thu chi đã được lập Hệ thống sổ sách kế toán còn là căn cứ quan trọng, không thể thiếu để lập báo cáo quyết toán hàng năm của các đơn vị SNCT

Báo cáo tài chính của các đơn vị SNCT (hay còn gọi là báo cáo quyết toán hàng năm) chủ yếu phản ánh tình hình tiếp nhận nguồn kinh phí và việc sử dụng nguồn kinh phí đó phục vụ cho hoạt động của đơn vị SNCT Báo cáo tài chính hàng năm của đơn vị SNCT là cơ sở để cấp chủ quản thẩm định và phê duyệt các khoản thu, chi tại các đơn vị hàng năm Thông qua việc thẩm định và phê duyệt quyết toán tài chính của các đơn vị SNCT, cơ quan chủ quản và các cơ quan chức năng khác có thể thấy rõ toàn bộ hoạt động của các đơn vị SNCT Từ đó rút ra kinh nghiệm cần thiết trong công tác quản lý tài chính Nếu lập dự toán thu, chi là khâu đầu của hoạt

Trang 39

động tài chính trong các đơn vị SNCT thì lập báo cáo quyết toán và phê duyệt quyết toán tài chính năm là khâu cuối của hoạt động tài chính trong các đơn vị SNCT

1.4 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ CÔNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC

PHÁT TRIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU Ở VIỆT NAM

1.4.1 Cơ chế quản lý tài chính của dịch vụ công tại các nước phát triển trên thế giới

Tại các nước phát triển trên thế giới, các hoạt động sự nghiệp thường được

đề cập đến dưới dạng là một bộ phận cấu thành của dịch vụ công Theo quan niệm quốc tế, dịch vụ công là những dịch vụ có tính chất công cộng mà Nhà nước có trách nhiệm tổ chức cung cấp để phục vụ cho nhu cầu chung cần thiết cho cuộc sống cộng đồng, đảm bảo an toàn xã hội và không vì mục tiêu lợi nhuận Trách nhiệm chính của việc cung cấp dịch vụ công thuộc về Nhà nước nhưng việc cung cấp dịch vụ có thể do Nhà nước trực tiếp làm hoặc do các đối tác xã hội làm trong khuôn khổ pháp luật dưới sự giám sát, quản lý của Nhà nước

Tại Vương Quốc Anh:

Từ năm 1998 Chính phủ Công Đảng của Vương quốc Anh thực hiện một loạt cải cách theo hướng thu hẹp chức năng của Nhà nước, giảm chi tiêu công, sử dụng những kinh nghiệm quản lý của khu vực tư vào khu vực công và đẩy mạnh chính sách tư nhân hóa trong một số lĩnh vực công cộng Trọng tâm của chương trình cải cách này được xác định vào bốn lĩnh vực cung cấp dịch vụ công đó là: Y

tế, giáo dục, tư pháp hình sự và giao thông công cộng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ ở các dịch vụ rất cơ bản và thiết yếu này Chính phủ Anh đã đưa ra bốn nguyên tắc dịch vụ công đó là:

Một là: Xây dựng các chuẩn mực chung có tính quốc gia đáp ứng nhu cầu

của người dân và thoả mãn các đòi hỏi của Liên minh Châu Âu (EU); xác định rõ trách nhiệm thực hiện để đảm bảo người dân dù là ai, ở đâu đều có quyền nhận được các dịch vụ có chất lượng cao

Hai là: Thực hiện nguyên tắc phân cấp, phân quyền và uỷ quyền để nâng cao

Trang 40

tính chủ động sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của cơ quan chính quyền địa phương, các chủ thể trong cung cấp dịch vụ công

Theo đó, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm một phần đáng kể chi phí cho việc cung ứng dịch vụ công như giáo dục, các dịch vụ xã hội, chăm sóc người tàn tật và giao thông công cộng

Ba là: Tạo điều kiện cho các cơ sở cung cấp dịch vụ công có khả năng trả

thêm lương cho cán bộ công chức, thực hiện nguyên tắc khuyến khích tính năng động và tự chủ của các cơ sở

Bốn là: Thực hiện nguyên tắc mở rộng khả năng lựa chọn cho khách hàng,

đảm bảo cho người dân có quyền lựa chọn và yêu cầu chất lượng dịch vụ cao hơn không chỉ từ khu vực tư nhân mà cả từ khu vực công

Tại Hồng Kông, Singapore, Thái Lan:

Các nước này đặc biệt khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào cung cấp dịch vụ công Các kế hoạch tư nhân hóa và mở rộng các cơ hội liên kết giữa khu vực công và khu vực tư trong hoạt động cung ứng dịch vụ công được triển khai mạnh mẽ Những cơ hội như vậy mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong đó Chính phủ tham gia đầu tư vốn ở mức độ nhỏ, phần lớn vốn đầu tư được huy động

từ khu vực tư nhân

Tại Malaysia:

Vào những năm 1980, Malaysia đã bắt đầu tư nhân hóa các dịch vụ công để giảm bớt gánh nặng hành chính và tài chính của Chính phủ đồng thời nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc Những thành công của Malaysia được xem như là một mẫu hình cho nhiều nước khác học tập

Sang thế kỷ 21, cả hai khu vực tư nhân và nhà nước đã có sự cạnh tranh mạnh mẽ trên mọi phương diện Chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp (trong đó có

cả việc trao các giải thưởng cụ thể cho các đơn vị cá nhân có thành tích) để thúc đẩy

sự cạnh tranh giữa các cơ quan khu vực công và khu vực tư nhân hoạt động công ích, thúc đẩy cải tiến hệ thống cung cấp dịch vụ công

1.4.2 Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam

Trong tổ chức và quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ công của các nước đã

Ngày đăng: 04/09/2015, 22:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1:   Cơ cấu tổ chức của Viện Công nghệ môi trường - Cơ chế quản lý tài chính tại viện công nghệ môi trường, viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Viện Công nghệ môi trường (Trang 50)
Bảng 3.1: Nguồn ngân sách Nhà nước cấp - Cơ chế quản lý tài chính tại viện công nghệ môi trường, viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam
Bảng 3.1 Nguồn ngân sách Nhà nước cấp (Trang 60)
Bảng 3.2: Bảng thống kê đề tài, nghiên cứu khoa học tại Viện - Cơ chế quản lý tài chính tại viện công nghệ môi trường, viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam
Bảng 3.2 Bảng thống kê đề tài, nghiên cứu khoa học tại Viện (Trang 61)
Bảng 3.4: Tình hình sử dụng nguồn kinh phí của Viện công nghệ môi trường - Cơ chế quản lý tài chính tại viện công nghệ môi trường, viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng nguồn kinh phí của Viện công nghệ môi trường (Trang 64)
Bảng 3.5: Kết quả hoạt động và phân phối chênh lệch - Cơ chế quản lý tài chính tại viện công nghệ môi trường, viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam
Bảng 3.5 Kết quả hoạt động và phân phối chênh lệch (Trang 68)
Bảng 3.8: Diện tích mặt bằng Viện Công nghệ môi trường - Cơ chế quản lý tài chính tại viện công nghệ môi trường, viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam
Bảng 3.8 Diện tích mặt bằng Viện Công nghệ môi trường (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w