1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng mĩ học đại cương (dùng cho SVĐH các ngành khoa học xã hội) lê như bình (biên soạn)

96 2,7K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 387,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I- Quá trình xác định đối tượng mỹ học trong lịch sử 1- Thời cổ đại: Nhiều tác giả có tư tưởng tiền đề mĩ học xuất sắc: Hêraclit, Đêmôcrit, Pitago, Xôcrat, Êmpêđôlơ,… tiêu biểu là tư tưở

Trang 1

Lª Nh− B×nh (Biªn so¹n)

Trang 3

“Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa đủ Bởi bằng cách đó, anh ta tuy có thể trở thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá Điều quan trọng là anh ta phải được dạy để có được một cảm thức sống động về cái gì là đáng

để phấn đấu trong cuộc đời Anh ta phải được dạy để có được một ý thức sống động về cái gì

là đẹp và cái gì là thiện Nếu không, với kiến thức được chuyên môn hóa của mình, anh ta chỉ giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn

là một con người được phát triển hài hòa Anh ta cần phải học để hiểu những động cơ của con người, hiểu những ảo tưởng và những nỗi thống khổ của họ để tìm được một thái độ ứng xử đúng đắn với từng con người đồng loại của mình cũng như với cộng đồng” (Einstein)

Trang 4

Mục lục

tr

Chương I

Đối tượng nghiên cứu của mĩ học

I- Quá trình xác định đối tượng mỹ học trong lịch sử

II- Đối tượng của mĩ học theo quan niệm hiện đại

Chương II

Khái quát về quan hệ thẩm mỹ

I- Nguồn gốc của quan hệ thẩm mĩ

II- Khái niệm, các bộ phận cấu thành của quan hệ thẩm mĩ

III- Đặc tính của quan hệ thẩm mỹ

Trang 5

Ch−¬ng V

NghÖ thuËt

I- NghÖ thuËt lµ g×?

II- §èi t−îng cña nghÖ thuËt

III- Néi dung cña nghÖ thuËt

IV- Ph−¬ng thøc tån t¹i cña nghÖ thuËt

V- NghÖ thuËt, h×nh th¸i biÓu hiÖn cao nhÊt cña quan hÖ

thÈm mÜ

Ch−¬ng VI

C¸c lä¹i h×nh nghÖ thuËt

I- Nh÷ng quan ®iÓm kh¸c nhau vÒ lo¹i h×nh nghÖ thuËt

II- Mét sè lo¹i h×nh nghÖ thuËt c¬ b¶n

Ch−¬ng VII

NghÖ sÜ

I- BiÓu hiÖn cña t− chÊt nghÖ sÜ

II- Con ®−êng trau dåi t− chÊt nghÖ sÜ

Ch−¬ng VIII

Gi¸o dôc thÈm mü

I- Môc tiªu, b¶n chÊt cña gi¸o dôc thÈm mü

II- C¸c h×nh thøc gi¸o dôc thÈm mü

Trang 6

I- Quá trình xác định đối tượng mỹ học trong lịch sử

1- Thời cổ đại: Nhiều tác giả có tư tưởng tiền đề mĩ học xuất sắc: Hêraclit, Đêmôcrit, Pitago, Xôcrat, Êmpêđôlơ,… tiêu biểu là tư tưởng của Platon và Arixtot:

a- Platon (427-347, Tr.CN) quan niệm:

- Cái đẹp là là sự hồi tưởng (soi bóng) của con người về một

tiền kiếp còn chung sống với thần linh , tồn tại độc lập, có tính

vĩnh cữu trong thời gian và không gian Cái đẹp được thâm nhập vào các hiện tượng cụ thể mà trở thành vật đẹp

- Nghệ thuật là sự tái hiện, bắt chước cái đẹp tuyệt đối vĩnh

cửu đó Nghệ thuật không phản ánh hiện thực mà là "sự bắt chước của bắt chước", "sự phản ánh của phản ánh", "cái bóng của cái bóng"

Trang 7

- Sáng tạo nghệ thuật không do con người mà do thần nhập,

nhà thơ chỉ là phát ngôn của thần thánh, họ sáng tác khi "cuồng loạn", nhờ linh cảm, nhờ thần lực, nếu tỉnh táo họ không bao giờ làm được thơ

- Chức năng nghệ thuật: giáo dục nghệ thuật có vai trò to lớn

trong việc hình thành tính cách công dân "Nghệ thuật bắt chước ý niệm, thanh lọc thiếu sót về mặt tinh thần"1.Tuy nhiên theo ông, nghệ thuật phải phù hợp với cương lĩnh lí đạo đức và chính trị của Nhà nước lí tưởng."

b- Arixtot (384-322 Tr.CN)

- Cái đẹp là một thực thể vật chất bao gồm trật tự, tỉ lệ, kích

thước, và sự cảm nhận Như vậy bước đầu ông đã nhìn thấy mối quan hệ giữa đối tượng thẩm mĩ và nhận thức thẩm mĩ

- Nghệ thuật là sự "bắt chước thực tế" Mọi loại nghệ thuật

đều bắt chước, nhưng có cách bắt trước khác nhau (đối tượng, phương thức hình thức) cho nên mang lại những sự cảm thụ khác

- Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ mĩ học.Với việc xác định

hệ thống khái niệm, phạm trù, đối tượng, phương pháp nghiên cứu

độc lập cho mĩ học, ông có công sáng lập khoa mĩ học với tư cách

1

Dẫn theo Phạp Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Mĩ học và giáo dục thẩm mĩ, NXB DDHSP, 2005, tr 13

Trang 8

là một khoa học độc lập Xuất bản 2 cuốn Mĩ học: tập I, 1750 và

tập II, 1758

- Từ chỗ đối lập nhận thức cảm tính (tư duy hình tượng) -

loại nhận thức bậc thấp, chỉ nắm được cái không bản chất, với

nhận thức lí tính (tư duy lôgic, tư duy khái niệm) - loại nhận thức

bậc cao, có thể nắm bắt chân lí khoa học, ông đối lập mĩ học và

lôgic học Với ông, mĩ học nghiên cứu qui luật nhận thức cảm tính,

còn lôgic học nghiên cứu qui luật của nhận thức lí tính

- Xác định đối tượng của mĩ học: chỉ trong phạm vi cái đẹp,

ông định nghĩa: "Mĩ học là khoa học về cái đẹp" Nghệ thuật không thuộc đối tượng của mĩ học

- Cở sở của cái đẹp là cái hoàn mĩ Cái hoàn mĩ bao gồm cả lí tính, cảm tính và ý chí; là sự thống nhất chân - thiện - mĩ (Người

ta coi ông là nhà mĩ học duy lý là vậy)

b- E Kant (1724-1804), nhà triết học người Đức

- Theo ông, cái đẹp là cái làm cho người ta vui thích, không

phải thông qua một khái niệm nào cả Ông có câu nói nổi tiếng: " Cái đẹp không phải ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở đôi mắt của kẻ si tình."2 (Người ta gọi ông là nhà triết học duy tâm chủ quan cũng vì vậy).Như thế cái đẹp là tình cảm khoan khoái,vô tư, không vụ lợi vật chất trực tiếp

- Vì vậy, về khoa học thẩm mĩ, ông chỉ nghiên cứu những tình

cảm chủ quan Ông phủ nhận tính khách quan của các qui luật

thẩm mĩ Ông cho rằng cái thẩm mĩ không liên quan đến: đạo đức, khoa học, chính trị và các lĩnh vực thực tiễn xã hội Theo ông, nhận thức cần khái niệm, còn nhìn thấy cái đẹp, không cần khái niệm (không cần biết nó là gì) vẫn nảy sinh mĩ cảm

c- Hegel (1770-1831), nhà triết học Đức lỗi lạc:

2

Dân lại của Đỗ Huy, Mĩ học với tư cách là một khoa học, NXB Chính trị quốc gia, H.1992, tr 83

Trang 9

- Khẳng định đối tượng của mĩ học là cái đẹp, và là cái đẹp trong nghệ thuật Mĩ học loại bỏ cái đẹp của tự nhiên, "mĩ học là triết học về nghệ thuật", "triết học về cái mĩ thuật" 3 Bởi lẽ cái đẹp của tự nhiên là chưa hoàn thiện, nó thấp hơn cái đẹp nghệ thuật

- Nghệ thuật là sự cụ thể hoá ý niệm bằng hình tượng Cái đẹp

là hiện thân cảm tính của ý niệm tuyệt đối

Quan niệm của Hegel về nội dung và hình thức của nghệ thuật là một tư tưởng rất sâu sắc

d- Các nhà dân chủ cách mạng Nga thế kỉ XIX, tiêu biểu

+ Đời sống thẩm mĩ, cội nguồn của nghệ thuật

II- Đối tượng của mĩ học theo quan niệm hiện đại

1- Mỹ học nghiên cứu quan hệ thẩm mỹ của con người với

Trang 10

hệ thẩm mĩ,… Mỗi mỗi quan hệ đó là đối tượng của một ngành khoa hoc: Chính trị học, kinh tế học, đạo đức học, tôn giáo học, mĩ học,…

b - Mĩ học nghiên cứu khách thể thẩm mĩ: Hiện thực khách

quan có những phẩm chất thẩm mĩ (cái thẩm mĩ), bao gồm cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài, gọi chung là các phạm trù thẩm mĩ

c- Mĩ học nghiên cứu chủ thể thẩm mĩ: Con người, chủ thể

phát hiện ra cái thẩm mĩ, khi có quan hệ thẩm mĩ đối với hiện thực

nói trên Biểu hiện của chủ thể thẩm mĩ là ý thức thẩm mĩ, bao

gồm: cảm xúc thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ, lí tưởng thẩm mĩ, gọi chung là phạm trù ý thức thẩm mĩ

c- Mĩ học nghiên cứu những qui luật, đặc trưng của mối quan hệ thẩm mĩ

2- Mỹ học nghiên cứu nghệ thuật - hình thái biểu hiện tập

trung mối quan hệ thẩm mỹ

a- Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ:

- Nghệ thuật - phương thức phản ánh theo qui luật thẩm mĩ

- Nghệ thuật - phương thức tác động theo qui luật thẩm mĩ b- Nghệ thuật là sự sáng tạo theo qui luật thẩm mĩ:

- Đối tượng của nghệ thuật là quan hệ thẩm mĩ

- Nội dung đặc trưng của nghệ thuật là những những tình cảm

Trang 11

Những vấn đề cần Suy nghĩ Thảo luận

(Liên quan đến kiểm tra - đánh giá)

Trang 12

Chương II Khái quát về quan hệ thẩm mỹ

I- Nguồn gốc của quan hệ thẩm mĩ:

1- Nhờ hoạt động thực tiễn con người phát hiện được khách thể thẩm mĩ

- Hiện thực luôn chứa đựng cái thẩm mĩ

- Hàng ngày phải lo đảm bảo những nhu cầu vật chất, và tinh thần cho nên con người đã tác động vào hiện thực Nhờ vậy con người nhận ra vô số những phẩm chất của hiện thực, trong đó

có cái thẩm mĩ Hiện thực có phẩm chất thẩm mĩ được con người

phát hiện ấy được gọi là khách thể thẩm mĩ

2- Nhờ hoạt động thực tiễn con người từ chủ thể sinh vật

đã trở thành chủ thể xã hội và từ chủ thể xã hội đã trở thành chủ thể thẩm mĩ

- Do nhu cầu duy trì đời sống, tìm hiểu hiện thực, cho nên con người tìm ra được những phương cách nhận thức, tư duy khác

nhau Bên cạnh những suy luận lôgíc con người biết cảm nhận thế

giới bằng con đường thẩm mĩ Nhờ hoạt động thực tiễn mà giác

quan thẩm mĩ của con người ngày càng thêm nhạy bén

- Con người không chỉ lao động sản xuất theo những qui luật của tự nhiên mà còn theo qui luật của cái đẹp: nhà cửa không phải

Trang 13

chỉ chắc chắn mà còn phải đẹp, quần áo không phải chỉ để bảo vệ con người mà con phải đẹp…

- Con người có nhu cầu thẩm mĩ: Nhu cầu thẩm mĩ của con người rất lớn, có khi còn lớn hơn các nhu cầu khác

II- Khái niệm, các bộ phận cấu thành của quan hệ thẩm mĩ:

1- Khái niệm: Quan hệ thẩm mĩ là quan hệ giữa chủ thể thẩm

mĩ - tức là chủ thể người xã hội có nhu cầu và có khả năng đánh

giá, thưởng thức, sáng tạo các giá trị thẩm mĩ, với khách thể thẩm

mĩ (cái thẩm mĩ) - tức là những thuộc tính, khía cạnh, phẩm chất

thẩm mĩ ở các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên, trong xã hội

và con người

2- Các bộ phận cấu thành của quan hệ thẩm mĩ

a- Khách thể thẩm mĩ: Đối tượng trong quan hệ thẩm mĩ

Đó là hiện thực có những phẩm chất thẩm mĩ khách quan mà chủ thể thẩm mĩ cảm nhận được

b- Chủ thể thẩm mĩ : Chủ thể trong quan hệ thẩm mĩ Con người có khả năng phát hiện cái thẩm mĩ, thiết lập mối quan hệ thẩm mĩ đối với thế giới

c- Nghệ thuật: sản phẩm độc đáo của quan hệ thẩm mĩ

III- Đặc tính của quan hệ thẩm mỹ

đứng trước cái cao thượng, vĩ đại,…

Trang 14

- Khách thể thẩm mĩ, là cái chủ yếu có khả năng thoả mãn nhu

cầu tinh thần, tác động vào tinh thần của con người Giá trị thẩm

mĩ giống như một liều thuốc điều hoà các trạng thái cảm xúc, cân bằng những sang chấn tâm lí, tăng thêm vẻ đẹp và sự phong phú, khoẻ mạnh cho tâm hồn cho con người Một khung cảnh thiên nhiên đẹp khiến cõi lòng ta thư thái, thanh cao; một hành động nhân hậu cao thượng có thể đổi máu hồng cho một con tim đen giá lạnh, và một số phận bi thương sẽ làm cho con người thêm nhạy cảm, biết tự dằn vặt, xót xa trước thế thái nhân tình

- Giá trị vật chất chủ yếu đáp ứng những đòi hỏi của bản năng, của thể xác, của con người và sẽ thay đổi tỉ lệ nghịch với thời gian

sử dụng Sự quan tâm của chủ thể thẩm mĩ với khách thể thẩm mĩ

là không vụ lợi Khách thể thẩm mĩ thoả mãn những nhu cầu đặc biệt cao của con người: nhu cầu thẩm mĩ, mà không hề bị tiêu hao, tổn hại

2- Tính xã hội:

- Chủ thể thẩm mĩ bao giờ cũng là những con người xã hội Là một sản phẩm của tự nhiên, con người đồng thời là sản phẩm của xã hội Con người là tổng hoà mối quan hệ xã hội (ý Mác)

- Giá trị thẩm mĩ chủ yếu được xác định bằng tiêu chí của con người xã hội Yêu tố chính trị, thời đại, văn hoá,…nghĩa là những

yếu tố xã hội, luôn chi phối những tiêu chí này

- Khách thể thẩm mĩ không chỉ có trong tự nhiên mà còn là những phẩm chất của đời sống xã hội

- Quan hệ thẩm mĩ có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn của con người Mà hoạt động này luôn có tính xã hội

3- Tính cảm tính:

- Tính chất đặc thù của quan hệ thẩm mĩ

Trang 15

- Khách thể thẩm mĩ luôn luôn tồn tại cụ thể, toàn vẹn, sinh động

Một buổi sáng mùa xuân rộn rã, một bầu trời trong trẻo lúc thu sang, một lời nói dẹp, một hành vi đẹp…là những cái có thể tác

động đến giác quan của con người

- Chủ thể thẩm mĩ nhận ra những giá trị thẩm mĩ trước hết bằng

con đường cảm tính Cái thẩm mĩ đến với con người thông qua các

giác quan (trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tưởng tượng lên

tưởng như trong văn học).Trong 5 giác quan của con người thì chủ yếu có mắt và tai là hai giác quan có khả năng rất lớn cảm nhận

được giá trị thẩm mĩ, bởi chúng “linh hoạt nhất, phong phú nhất, tế nhị nhất, có cảm hứng nhiều nhất”, “có khả năng đem lại những khoái cảm mang tính chất người…”4 ưu thế về mặt sinh học của mắt và tai là có thế lĩnh hội được đối tượng một cách đầy đủ cảm tính mà không cần tiếp xúc trực tiếp

- Những con người tài năng, khéo léo, nhất là các nghệ sĩ thường có những năng lực thị giác và thính giác đặc biệt Mặt khác chính hoạt động thực tiễn đã nâng cao những khả năng này của của con người

- Tuy nhiên, không thể tách rời cảm tính và lí tính trong

nhận thức thẩm mĩ

4- Tính tình cảm:

- Đây là một ưu thế đặc biệt của quan hệ thẩm mĩ Không phải tình cảm không tác động đến những quan hệ khác, nhưng không có tình cảm không thể có quan hệ thẩm mĩ Và tình cảm thẩm mĩ tạo ra sức mạnh to lớn cho quan hệ thẩm mĩ

- Quan hệ thẩm mĩ được thiết lập bao giờ cũng được khởi đầu

và duy trì bằng tình cảm thẩm mĩ Ví dụ, trong bài thơ " Người hàng xóm" (Nguyễn Bính" dù không chủ ý, nhưng rồi những tình

4

Viện Hàn lâm khoa học Liên xô, Nguyên lí mĩ học Marx – Lênin, phần II, NXB Sự thật, H 1962.tr 10

Trang 16

cảm cứ đầy dần khiến cho nhân vật "tôi" và nàng có những quan

hệ đặc biệt Không có tình cảm thẩm mĩ thì quan hệ thẩm mĩ cũng biến mất

- Tình cảm thẩm mĩ là yếu tố không thể thiếu của hoạt động nhận thức, biết đổi thế giới theo qui luật của cái đẹp Thực tế cho thấy, niềm say mê, hứng thú, những tình yêu mãnh liệt, đã tạo ra sức khám phá, và những sáng tạo tuyệt vời của nhân loại

- Tuy nhiên, tình cảm bao giờ cũng gắn với lí trí, sự hiểu biết, nh− vậy tình cảm mới thật sự bề vững và sâu sắc

- Đặc biệt trong nghệ thuật, thiếu tình cảm thẩm mĩ thì không bao giờ có nghệ thuật Tình cảm đóng vai trò quyết định trong

sáng tạo cũng nh− tác động của nghệ thuật

Những vấn đề cần Suy nghĩ Thảo luận

(Liên quan đến kiểm tra - đánh giá)

1- Trình bày nguồn gốc của quan hệ thẩm mĩ

2- Nêu khái niệm và các bộ phận cấu thành của quan hệ thẩm mĩ 3- Trình bày ngắn gọn những đặc tính của quan hệ thẩm mỹ

4- Tại sao nói tính chất cảm tính là tính chất đặc thù của quan hệ thẩm mĩ

1- Lí giải nguồn gốc thực tiễn của quan hệ thẩm mĩ

2- Giải thích khái niệm chủ thể thẩm mĩ và khách thể thẩm mĩ

3- Chỉ ra biểu hiện tính chất của quan hệ thẩm mĩ trong khách thể thẩm mĩ và chủ thể thẫm mĩ

Trang 17

Chương III Chủ thể thẩm mỹ

- Darwin, trong cuốn sách nổi tiếng: "Nguồn gốc con người

và sự đào thải về giới tính" (1871): " người ta không thể nào

không thừa nhận những con chim cái mến phục vẻ đẹp của những con chim đực ( ) Những con chim sâu và vài giống chim khác xếp đặt một cách rất đẹp mắt những vật lóng lánh để trang hoàng

tổ của chúng và những nơi chúng tụ tập; chắc chắn rằng chúng cảm thấy vui thích và ngắm nghía những đồ vật đó Trong mùa yêu

đương những điệu hót thánh thót của nhiều chim đực chắc chắn là

được những chim cái thần phục

Dẫu sao thì chắc chắn rằng con người và nhiều loài vật đều

ưa thích những màu sắc những hình thức xinh đẹp và cùng những

Trang 18

âm điệu như nhau" Có chỗ Darwin còn cho rằng năng khiếu thẩm

mĩ của người man rợ "không phát triển bằng năng khiếu thảm mĩ của một vài giống vật, chẳng hặn như của loài chim"5

b- Quan niệm của các nhà duy vật biện chứng: chủ thể thẩm mĩ trước hết là con người xã hội , là con người có ý thức thẩm mĩ

- Hoạt động của chủ thể thẩm mĩ, theo C.Marx, trước hết là hoạt động mang tính tự do, hoàn toàn thoát khỏi sự đề nén của nhu cầu thể xác, (Hoạt động của con vật bất luận như thế nào đều mang tính bản năng sinh tồn)

- Hoạt động của chủ thể thẩm mĩ phải luôn luôn mang tính sáng tạo

- Chỉ con người mới có khả năng "nhào nặn vật chất theo qui luật của của cái đẹp".6

- Năng lực của chủ thể thẩm mĩ gắn liền với vai trò của các giác quan như mắt, tai và đôi tay Đó là những giác quan mà nhờ một quá trình xã hội hoá, trải qua sự rèn luyện lâu dài từ thế hệ này đến thế hệ khác, đã có được những cảm giác "có tính chất người", có khả năng cảm thụ và sáng tạo thẩm mĩ

c- Định nghĩa: Chủ thể thẩm mĩ là con người xã hội, con người

có ý thức thẩm mĩ : có khả năng hưởng thụ, sáng tạo và đánh giá thẩm mĩ đối với thế giới; có những giác quan được rèn luyện để

C Max - Ph ăng -ghen - V.I Lê-nin, Về văn học và nghẹ thuật, NXB Sự thật, H 1975, tr 17, 18 :

" súc vật cố nhiên cũng sản xuất Nó xây dựng tổ, chỗ ở cho nó như con ong, con hải li, con kiến, v.v Nhưng súc vật chỉ sản xuất ra những mà bản thân nó, hoặc con nó cần đến, xản xuất một chiều; còn con người thì sản xuất một cách phổ biến; súc vật chỉ sản xuất dưới sự thống trị của nhu vật chất trực tiếp, trong khi đó thì con người sản xuất ngay cả khi thoát khỏi nhu cầu vật chất, và chỉ khi thoát khỏi nhu cầu đó thì mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của chữ đó; súc vật chỉ tái sản xuất ra bản thân mình, còn con người tái sản xuất ra toàn bộ tự nhiên; sản phẩm của súc vật trực tiếp gắn liền với cơ thể vật chất của nó, còn con người thì đối lập một cách tự do với sản phẩm của mình Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của gióng loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo thước đo của bất kì giống nào và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng; do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo qui luật của cái đẹp"

Trang 19

a- Chủ thể thưởng thức thẩm mĩ:

- Đặc trưng hoạt động: phản ánh thụ cảm cái thẩm mĩ có trong cuộc sống và nghệ thuật, thông qua hai giác quan là tai và mắt

- Điều kiện: Thính giác và thị giác phải có năng lực cảm thụ giá trị thẩm mĩ

b- Chủ thể sáng tạo thẩm mĩ:

- Đặc trưng hoạt động: sáng tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới đó là các tác phẩm nghệ thuật thuần tuý hoặc các sản phẩm hàng hoá có chứa hàm lượng nghệ thuật đáng kể Sản phẩm của nhóm chủ thể sáng tạo thẩm mĩ này chính là đối tượng của chủ thể thưởng thức thẩm mĩ

- Điều kiện: + Có năng lực thưởng thức các giá trị thẩm mĩ + Có năng lực sáng tạo thẩm mĩ: tưởng tượng, tạo hình, biểu hiện,

c- Chủ thể định hướng thẩm mĩ:

- Đặc trưng hoạt động: Đánh giá, xác định, hướng dẫn cảm thụ và sáng tạo những giá trị thẩm mĩ

- Điều kiện: + Có sự hiểu biết sâu sắc các qui luật thẩm mĩ của người sáng tạo

+ Có sự hiểu biết sâu sắc nhu cầu và kĩ năng của người thưởng thức

- Những con người cụ thể cần mang phẩm chất của chủ thể

định hướng thẩm mĩ là các nhà lí luận, phê bình hoặc các nhà lãnh

đạo văn hoá nghệ thuật Họ là những đại diện cho một thị hiểu thẩm mĩ, một quan niệm thẩm mĩ cũng như một lí tưởng thẩm mĩ nhất định

d- Chủ thể biểu hiện thẩm mĩ:

Trang 20

- Đặc trưng hoạt động: Truyền đạt sản phẩm nghệ thuật của chủ thể sáng tạo cho chủ thể thưởng thức thẩm mĩ Từ những sáng tạo họ lại tạo ra những tác phẩm sáng tạo mới

- Điều kiện: + Am hiểu sâu sắc giá trị trong sáng tác nghệ thuật + Có năng khiếu biểu hiện và các phương tiện biểu hiện phù hợp với các loại hình nghệ thuật cụ thể e- Chủ thể thẩm mĩ tổng hợp:

- Đặc trưng hoạt động: Có thể thực hiện được mọi hoạt động của các nhóm chủ thể thẩm mĩ nói trên

- Điều kiện: Bao gồm được nhiều năng lực, có năng khiếu đặc biệt

II- Khái niệm ý thức thẩm mỹ:

1- Bản chất của ý thức thẩm mỹ:

a- ý thức thẩm mĩ là một hành thái ý thức xã hội

- ý thức thẩm mĩ phản ánh tồn tại đời sống xã hội

- ý thức thẩm mĩ có khả năng tác động trở lại cải biến đời sống xã hội

b- ý thức thẩm mĩ phản ánh đời sống bằng hình tượng giàu tình cảm xã hội thẩm mĩ

- Hình tượng - cảm tính là biểu hiện sự tồn tại của khách thể

thẩm mĩ trong chủ thể thẩm mĩ Trong ý thức thẩm mĩ, cái thẩm

mĩ không bao giờ là những khái niệm khô cứng, phiến diện mà luôn hiện diện một cách toàn diện, cụ thể cảm tính, sinh động như

sự thật ngoài đời Đây là một thế mạnh của ý thức thẩm mĩ trong việc nhận thức thế giới trong trạng thái vốn có của nó Người có ý thức thẩm mĩ là người có được một kho tàng hết sức phong phú về hình tượng thẩm mĩ Ví dụ ý thức về cái đẹp của con người phải là hình ảnh về những con người cụ thể với những lời nói, hành động,

Trang 21

cử chỉ, dáng vẻ cụ thể Bởi vậy, giáo dục ý thức thẩm mĩ cho học sinh trước hết phải cho các em tiếp xúc với cái thẩm mĩ tồn tại trong những hình tượng - cảm tính

- Tình cảm xã hội thẩm mĩ: đó là những rung động những

cảm xúc mang tính xã hội sâu sắc Tình cảm thẩm mĩ luôn là mối quan hệ hài hoà giữa chủ thể thẩm mĩ và khách thể thẩm mĩ (tán thưởng hoặc không, trên cơ sở cái thẩm mĩ)

c- ý thức thẩm mĩ có tính chất vô tư, không vụ lợi, không vì những nhu cầu vật chất trực tiếp, gắn với cái chân, thiện,

động là biểu hiện cảm xúc, tình cảm được xuất hiện khi có sự tiếp xúc của con người và đời sống Cảm xúc thẩm mĩ là những rung

động, tạo nên tình cảm thẩm mĩ của chủ thể thẩm mĩ khi tiếp xúc với khách thể thẩm mĩ Nói cách khác đó là dấu hiệu khi quan hệ thẩm mĩ được thiết lập, là biểu hiện của ý thức thẩm mĩ

- Điều kiện của cảm xúc thẩm mĩ: Khi khách thể thẩm mĩ gặp gỡ chủ thể thẩm mĩ - con người có khả năng cảm thụ thẩm mĩ Tức là khi xuất hiện quan hệ thẩm mĩ

- Tính chất của cảm xúc thẩm mĩ: vô tư, không vụ lợi, thuộc

lĩnh vực tinh thần, hoàn toàn không phải là một cảm giác mang tính chất sinh lí, không phải là phản ứng thuần tuý mang tính bản năng Cảm xúc thẩm mĩ là " cảm xúc tinh thần" (Marx) Cảm xúc

7

Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Viêt, NXB KHXH - TT từ điển hoc, H 1994, tr 104

8 (như trên) , tr 962

Trang 22

đáo trong mọi sự vật, hiện tượng của thế giới Điều này các ngành khoa học sử dụng các phép lô gích thường khó đạt được

+ Trong việc hoàn thiện con người: cảm xúc thẩm mĩ có ảnh hưởng tích cực, mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách tâm hồn con người, cho nó có sự cân đối hài hoà toàn diện

Bielinxki đã nói " Cảm xúc về cái kiều diễm là một điều kiện làm nên phẩm giá con người: phải có nó mới có được trí tuệ, phải

có nó nhà bác học mới cất mình lên tới những tư tưởng tầm cỡ thế giới (…) phải có nó người cộng sản mới có thể hiến dâng cho tổ quốc cả những hoài vọng các nhân lẫn những lợi ích riêng tư của mình; phải có nó con người mới có thể không quị ngã dưới sức đè nặng trĩu của cuộc đời và làm nên những chiến công"9

Mar Minski, nhà bác học về trí thông minh nhân tạo, đang có

dự định chế tạo máy tính biết cảm xúc, theo ông khi đó mới có thế

có loại máy thông minh thực sự

+ Trong nghệ thuật: giúp con người thưởng thức, cảm thụ, sáng

tạo Thực tế có rất nhiều ví dụ về cảm xúc thẩm mĩ sôi động dâng

trào đã khơi nguồn cho những sáng tác nghệ thuật vĩ đại Cảm xúc, tình cảm thẩm mĩ là tham gia vào cấu trúc của hình tượng nghệ

Trang 23

được khách thể hoá Yếu tố tình cảm đó đã tạo ra những năng lực

tác động lớn lao của hình tượng nghệ thuật Nói chung mọi chủ

thể thẩm mĩ đều cần có cảm xúc thẩm mĩ

2 b - Thị hiếu thẩm mỹ:

b1* Khái niệm: Thị hiểu thẩm mĩ là năng lực chủ quan

trong việc tiếp nhận, lựạ chọn, xác định, đánh giá giá trị thẩm mĩ

của các sự vật hiện tượng khách quan, theo các chuẩn mực của cái

đẹp cần có (lí tưởng), được biểu hiện qua thái độ, tình cảm, cảm

xúc như khen hay chê, thích hay không thích, thoả mãn hay không thoả mãn, của con người

b2* Quan điểm về thị hiếu thẩm mĩ:

- Phái duy cảm : thị hiếu là "cái thu hút chúng ta chú ý tới

đối tượng bằng tình cảm", là "tình cảm về cái đẹp"10

- Phái duy lí : "thị hiếu là năng lực nhận xét về cái mà

đông đảo mọi người thích hay không thích"; và không nhận xét vẻ

đẹp theo ấn tượng ban đầu mà phải suy nghĩ, tư duy11

b3* Đặc trưng:

- Lấy cái đẹp cần có, cái đẹp lí tưởng làm thước đo, là chuẩn

mực cho việc định giá thẩm mĩ và xác định sở thích thẩm mĩ

- Có sự thống nhất hài hoà giưã tình cảm và lí trí, cảm xúc và

trí tuệ + Sự đánh giá nếu thiếu cảm xúc thì mất hẳn nét riêng tư

phong phú đa dạng, nếu thiếu lí trí thì dễ sai lầm và không đáng tin cậy

+ Điều này dẫn đến hiện tượng cao thấp trong thị hiểu thẩm

mĩ của con người Cái đúng đắn và hợp lí trong sự phân định đẹp hay không đẹp, thái độ thích hay không thích phụ thuộc rất nhiều

10

Dẫn theo Lê Văn Dương, Lê Hồng Lực, Lê Hồng Vân, Mĩ học đại cương, NXB Giáo duc, 1999 tr 49

11 Như trên, tr 49

Trang 24

và trình độ văn hoá, trình độ học vấn, đặc biệt là tri thức nghệ thuật, kinh nghiệm thẩm mĩ của mỗi người

+ Bài học: Cần phải nâng cao tri thức thẩm mĩ cho con

người

- Thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa tính cá nhân và tính xã

hội:

+ Tính chất cá nhân của thị hiểu thẩm mĩ:

Thị hiếu thâm mĩ thể hiện ở cái "gu", cái "khiếu", là sở thích riêng của mỗi con người về phương diện thẩm mĩ

Thị hiếu thẩm mĩ rất đa dạng, phong phú sinh động góp phận tạo ra sự đa dạng của thị hiếu xã hội, kích thích sản xuát phát triển Bài học: Cần phải tôn trọng và phát huy những sở thích, thị hiểu thẩm mĩ cá nhân Đây là vấn đề nhân quyền và còn là vấn đề tạo điều kiện cho sự phát huy tài năng cá nhân đóng góp cho sự phát triển của đời sống xã hội Nói về sự nghiệp văn học, Lê-nin

có ý kiến rất đúng đắn như sau: "Không thể chối cãi được rằng sự nghiệp văn học, ít chịu được hơn hết sự san bằng, sự bình quân máy móc sự thống trị của số đông với số ít Không thể chối cãi

được rằng trong sự nghiệp này cần phải đảm bảo một phạm vi hết sức rộng rãi cho sáng kiến cá nhân, cho những thiên hướng cá nhân, cho suy nghĩ và tưởng tượng, cho hinhd thức và cho nội dung"12

+ Tính chất xã hội của thị hiếu thẩm mĩ:

Tôn trọng thị hiếu cá nhân không đồng nghĩa với việc tuyệt

đối hoá tính chất các nhân của thị hiếu Thực tế khó có thể hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Kant: "thị hiếu là cái không thể tranh

12

Lênin bàn về văn hóa văn học, NXB Văn hoc, H.1977, tr 75

Trang 25

cãi về nó được"13 Bởi lẽ, cá nhân bao hời cũng là một thành viên của xã hội

Thị hiếu thẩm mĩ có tính chất xã hội, vì luôn bị chi phối bởi cắc yếu tố :giai cấp, lứa tuổi, nghề nghiệp, thời đại, dân tộc,

b4*- Vai trò: thị hiếu thẩm mĩ là "một thứ điểu khiển độc đáo hoạt động thẩm mĩ và cảm thụ thẩm mĩ của con người"14

b5*- Vấn đề bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ cho con người:

+ Rất cần thiết, rất quan trọng + Có thể bồi dưỡng được

B6*- Vấn đề thị hiếu nghệ thuật:

Thị hiếu nghệ thuật là sự cụ thể hoá của thị hiếu thẩm mĩ trong phạm vi tiếp nhận và đánh giá tác phẩm nghệ thuật

Thị hiếu thẩm mĩ và thị hiếu nghệ thuật gắn bó chặt chẽ và tác

động qua lại lẫn nhau trong suốt quát trình phát triển thẩm mĩ và nghệ thuật của xã hội

Trình độ tính chất thị hiếu thẩm mĩ của công chúng phụ thuộc rất nhiều và chất lượng nghệ thuật.Nghệ thuật nào thì công chúng

ấy Ngược lại trình độ công chúng ảnh hưởng không nhỏ đến nghệ thuật "Nếu anh muốn thưởng thức nghệ thuật thì trước hết anh phải được giáo dục về nghệ thuật" (Marx)15

2c- Lý tưởng thẩm mỹ:

c1- Khái niệm lí tưởng:

Là hình dung, là khát vọng về những gì hoàn thiện nhất, tốt

đẹp nhất mà con người cho rằng cần phải phấn đấu để đạt tới

Lí tưởng có vai trò rất lớn đối với con người "Khi tự nhiên

tước mất ở con người cái khả năng đi bốn chân, thì nó đã cho con

Trang 26

người một cái gậy chống đó là lí tưởng Và từ bấy giờ con người lao tới những điều tốt đẹp và cao cả hơn"16

Không bao giờ tồn tại một lí tưởng chung, trừu tượng Lí

tưởng luôn gắn với một lĩnh vực hoạt động cụ thể nào đó của con

người: Lí tưởng chính trị, lí tưởng đạo đức, lí tưởng tôn giáo, lí tưởng thẩm mĩ,

Lí tưởng, xét về bản chất cũng là sự phản ánh, nhưng là sự

phản ánh vượt trước, không nhất thiết phải phản ánh những cái đã

có trong hiện thực mà hoàn toàn có thể phản ánh những cái chưa

có trong hiện thực - hiện thực trong tương lai, đang hoàn thiện

c2- Khái niệm lí tưởng thẩm mĩ:

Gắn chặt chẽ, có sự thống nhất (tất nhiên không phải đồng nhất) về tư tưởng với các lí tưởng xã hội khác: lí tưởng đạo đức và

lí tưởng chính trị

Đối tượng phán ánh của lí tưởng thẩm mĩ: Khía cạnh thẩm mĩ

của hiện thực: cái đẹp, cái cao cả

Phương thức phản ánh của lí tưởng thẩm mĩ: theo phương thức tư duy hình tượng, thông qua những hình ảnh thực trong đời

sống và hình thượng thực trong nghệ thuật, được cảm nhận thông qua những giác quan đã được thẩm mĩ hoá cao độ (tai, mắt)

So với các hình thức khác của ý thức thẩm mĩ, lí tưởng thẩm

mĩ tỏ ra tự do hơn trong quá trình phản ánh đối tượng Nó không

phù thuộc vào thực tế đối tượng đã tồn tại hay chưa, vượt lên trên những dấu ấn chủ quan, là kết quả của sự tổng hợp, khái quá mang tính khách quan sâu sắc những kinh nghiệm, quan điểm thẩm mĩ không chỉ của một các nhân mà của cả một tầng lớp xã hội, một thời đại nhất định

16 Lê Văn Dương, SĐD, tr 60

Trang 27

Vai trò, vị trí: Lí tưởng thẩm mi trở thành hình thức cao nhất

của ý thức thẩm mĩ, thành "khuôn vàng thước ngọc" cho việc nhận thức, đánh giá, sáng tạo các giá trị thẩm mĩ trong đời sống cũng như trong nghệ thuật

c3- Lí tưởng thẩm mĩ trong nghệ thuật:

Hoạt động cơ bản của lí tưởng thẩm mĩ vẫn là ở nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ được thể hiện một cách trọn vẹn nhất

Trong nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ biểu hiện tập trung ở hệ thống hình tượng nghệ thuật: Hình tượng nghệ thuật là hình thức

đánh giá, nhận xét cuộc sống, cái thể hiện rõ nhất lí tưởng thẩm mĩ của nghệ sĩ

Những nhân vật chính diện, tích cực, trực tiếp (còn những nhân vật phản diện, gián tiếp ) mang lí tưởng thẩm mĩ của nghệ sĩ

Nghệ thuật là một phương diện đặc biệt quan trong trong việc giáo dục lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp cho nhân dân lao dộng

Nhận xét chung:

Sự phân chia ý thức thẩm mĩ như trên để tiện quan sát và nghiên cứu, hoàn toàn mang tính chất giả định Thực tế ý thức thẩm mĩ luôn tồn tại trong một thể thống nhất biện chứng, trong đó mọi yếu tố có sự hoà quện vào nhau

Những vấn đề cần Suy nghĩ Thảo luận

(Liên quan đến kiểm tra - đánh giá)

1- Trình bày những quan niệm về chủ thể thẩm mĩ

2- Nêu và giải thích ngắn gọn khái niệm chủ thể thẩm mĩ theo quan điểm duy vật biện chứng

3- Thế nào là chủ thể thưởng thức thẩm mĩ, chủ thể sáng tạo thẩm mĩ?

Trang 28

4- Thế nào là chủ thể định hướng thẩm mĩ, chủ thể biểu hiện thẩm

4- Phân tích vai trò, chức năng của cảm xúc thẩm mĩ đối với con người

5- Có cần và có thể bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ cho con người không?

6- Tại sao có thể nói lí tưởng thẩm mĩ là "khuôn vàng thước ngọc" cho việc nhận thức đánh giá, sáng tạo mọi giá trị thẩm mĩ trong

đời sống cũng như trong nghệ thuật?

4 - Bình luận câu nói của E Kant: "Cái đẹp không phải ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở đôi mắt của kẻ si tình."

Trang 29

Chương IV Khách thể thẩm

II- Cái đẹp

1- Cái đẹp là gì?

a- Vị trí của của cái đẹp trong quan hệ thẩm mĩ:

- Cái đẹp hiện diện khắp nơi: ở đâu có cuộc sống, có lao

động là ở đó có cái đẹp Bởi lẽ cuộc sống có nhiều khó khăn gian khổ, chính cái đẹp đã đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc, nâng đỡ con người vượt qua tất cả những trở ngại để vươn lên, để luôn luôn

sáng tạo Cái đẹp là khởi nguyên cho quan hệ thẩm mĩ giữa con

người và hiện thực

- Với tư cách là chủ thể thẩm mĩ, con người luôn tìm tòi,

khám phá, sáng tạo, khát vọng cái đẹp Bởi vậy cái đẹp là phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử mĩ học Và mặc dù có rất nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng cái đẹp bao giờ cũng được coi là

Trang 30

tiêu chuẩn quan trọng nhất, phổ biến nhất, trung tâm nhất để con

người đánh giá đời sống về mặt thẩm mĩ Con người luôn lấy cái

đẹp (đẹp hay không đẹp) làm thước đo cho mọi sự vật hiện tượng

quanh mình

- Về phía khách thể thẩm mĩ, cái đẹp là trung tâm của

cái thẩm mĩ, cái đẹp có liên quan rất chặt chẽ với các phạm trù mĩ học khác: Nhìn chung, cái hài là cái đẹp giả danh bị bóc trần, cái

bi là cái đẹp bị thất bại, cái cao cả là cái đẹp ở đỉnh cao và cái xấu

xa thấp hèn là phía đối lập của cái đẹp

Tóm lại: dù ở phương diện nào cái đẹp cũng ở vị trí trung tâm của quan hệ thẩm mĩ

b- Bản chất của cái đẹp:

* Sự phức tạp trong việc xác định: Lí do cả hai phía chủ quan

và khách quan

+ Cái đẹp trong hiện thực hết sức đa dạng, phong phú

(chủng loại, kích thước, màu sắc, đường nét, cấu trúc, ) Con người dễ dàng chỉ ra cái này đẹp, cái kia đẹp, cái này làm cho ta dễ chịu, bớt phiền muộn, cái kia làm cho ta phấn chấn, Nhưng khi cần có một khái quát, một chân lí thì lại hết sức khó khăn

+ Cách đánh gía của mỗi người về cái đẹp lại không

phải bao giờ cũng thống nhất Cùng một sự vật, người thì thích, người thì không,

* Các quan điểm trước Marx:

+ Khuynh hướng duy tâm khách quan: Platon, Hegel

+ Khuynh hướng duy tâm chủ quan: Hume, Lalo, Kant + Khuynh hướng duy vật: Aristotle

* Quan điểm của các nhà mĩ học dân chủ Nga, thế kỉ XIX,

đại biểu là Tsernưxshevski:

Trang 31

* Quan điểm mac-xít: Bản chất của cái đẹp là sự thống nhất

biện chứng giữa hai nhân tố khách quan và chủ quan

+ Bản chất của cái đẹp gắn liền với phẩm chất khách

quan của sự vật: Một sự vật, hiện tượng có kích thước, đường nét,

âm thanh, màu sắc, nhịp điệu, được cấu trúc hài hoà, cân đối thì luôn có khả năng gợi lên ở con người ý niệm về cái đẹp, một ý thức thẩm mĩ tích cực.ý niệm về cái đẹp trong con người chẳng qua là sự phản ánh những tính chất thẩm mĩ khách quan của hiện thực Con người nếu bị biệt lập, tách rời với mọi sự vật, hiện tượng

đời sống thì không có ý niệm về cái đẹp

+ Tuy nhiên bản chất của cái đẹp còn bao hàm những quan niệm chủ quan của con người Không phải cái gì phù hợp với qui luật hài hoà cân đối đều có được sự thống nhất ở mọi người về

sự đáng giá về cái đẹp Có những con người hình thức xấu xí nhưng phẩm chất tâm hồn họ vẫn được coi là hiện thân của cái đẹp

và ngược lại

* Vậy, cái đẹp là gì?

+ Là những cái hoàn thiện, hài hoà phù hợp với quan niệm của

con người

+ Là cái phù hợp với lí tưởng của con người

+ Là cái "chân", "thiện" theo quan niệm của con người

Thoả mãn được ba yếu tố đó là cái đẹp có tính chất lí tưởng (Trong thực tế khó có thể có được sự hoàn thiện này)

Nhìn chung cái gì hướng con người tới những giá trị thẩm mĩ

tích cực như sự hoàn thiện, tốt tươi, no đủ, hạnh phúc, là cái đẹp

"Cái đẹp là cuộc sống" (Tsernưshevski), "Cái đẹp là sự mời gọi hạnh phúc." (Standan)

* Những yếu tố chi phối quan niệm của con người về cái đẹp:

Trang 32

+ Lịch sử- xã hội: Giai cấp, chế độ xã hội, thời đại

+ Dân tộc: Văn hoá khác nhau, quan niệm về cái đẹp cũng khác nhau Bởi vậy, trong thời đại hiện nay, việc định giá, sáng tạo cái

đẹp rất cần kết hợp chặt chẽ giữa cái đẹp bản sắc truyền thống dân tộc và cái đẹp hiện đại, phải có quan điểm đúng đắn trong việc kế thừa và cách tân, dân tộc và nhân loại

+ Cá nhân: Tuổi tác, vốn văn hoá, nghề nghiệp, hoàn cảnh riêng (người buồn cảnh có vui đâu bao giờ - Nguyễn Du)

* Tóm lại: Cái đẹp là một phạm trù mĩ học dùng để chỉ một

phẩm chất thẩm mĩ của sự vật, hịên tượng khi nó phù hợp với quan niệm của con người về sự hoàn thiện, hài hoà và lí tưởng, có khả năng gợi lên ở con người một thái độ thẩm mĩ tích cực

2 - Các lĩnh vực của cái đẹp:

a- Cái đẹp trong tự nhiên:

- Do tạo hoá tạo ra tồn tại khách quan không phụ thuộc

và ý muốn chủ quan của con người

- Thế giới vô sinh như sông núi, biển, trời, ;

- Thế giới hữu sinh như cây cối, động vật, con người, b- Cái đẹp trong xã hội:

- Do con người tạo ra trong hoạt động thực tiễn Bao gồm: Các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể

- Cái đẹp trong lao động sản xuất: Con người tạo ra những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mĩ tích cực đối với xã hội Điều này phụ thuộc vào ba yếu tố: Chủ thể sản xuất đồng thời là chủ thể thẩm mĩ; chủ thể thẩm mĩ thuộc nhóm chủ thể sáng tạo thẩm mĩ; sản phẩm có khả năng trở thành khách thể thẩm mĩ

Trang 33

- Cái đẹp trong các quan hệ xã hội: Cơ sở khách quan: công bằng, tự do, dân chủ, bác ái, văn minh Cơ sở chủ quan: mỗi cá nhân phải là một chủ thể thẩm mĩ có vốn văn hoá sâu rộng

- Vẻ đẹp hình thể, tính cách, tâm hồn con người cũng là sản phẩm xã hội Con người đã thẩm mĩ hoá chính bản thân mình

c - Cái đẹp trong nghệ thuật:

- Thống nhất với cuộc sống

- Có tính chất điển hình (Một người lạ quen biết)

- Có tính biểu cảm rất cao

- Có tính toàn vẹn cả nội dung và hình thức

3- Cái xấu xa, thấp hèn:

a- Khái niệm: Cái xấu là một phạm trù mĩ học phản ánh chất

phi thẩm mĩ của các sự vật hiện tượng trong hiện thực, khi nó

không phù hợp với quan niệm của con người về sự hoàn thiện, hài hoà và lí tưởng, nó thường gợi lên ở con người một tháí độ thẩm

- Tạo ra những cái phi giá trị, thái độ thẩm mĩ tiêu cực:

+ Ô nhiễm môi trường sống, chất lượng sống bị giảm sút

+ Hình thành ý thức thẩm mĩ méo mó lệch lạc, có hại cho xã hội cũng như bản thân mỗi cá nhân

Trang 34

c- Các lính vực biểu hiện:

- Trong tự nhiên: Những sự vật hiện tượng làm cho con

người kinh sợ, dẫn đến sự huỷ diệt

- Trong xã hội: + Những sản phẩm có hại cho con người

(sản xuất bất chấp tất cả, chỉ vì lợi nhuận ích kỉ)

+ Những quan hệ xã hội phi lí bạo tàn, phi nhân tính

4- ý nghĩa giáo dục to lớn của cái đẹp và cái xấu xa, thấp hèn

đối với con người (SV tìm hiểu thảo luận)

III- Cái cao cả (trác tuyệt)

1- Bản chất thẩm mĩ của cái cao cả:

a- Vài nét về lịch sử nghiên cứu cái cao cả:

* So với cái đẹp, cái cái cao cả với tính chất là một phạm trù thẩm mĩ độc lập, xuất hiện khá muộn:

- Người có công nghiên cứu đầu tiên là Pxepdo Login (213-273), khi bàn đến lĩnh vực tu từ học, ông đã đưa ra khái niệm

"sublime" (cao cả, trác tuyệt, hùng tráng, anh hùng, )

- Nhưng mãi nghìn rưỡi năm sau cái cao cả mới được nghiên cứu một cách toàn diện (nhờ các nhà lí luận của chủ nghĩa

cổ điển - thể kỉ XVII, lí luận thời khai sáng - thế kỉ XVIII; lí luận

mĩ học cổ điển Đức - thế kỉ XIX)

* Những quan niệm về cái cao cả trong lịch sử:

- Quan điểm duy tâm chủ quan: Đại biểu là Kant, cho

rằng: cái cao cả " chỉ có trong ta, trong những ý nghĩ mà cái cao cả

Trang 35

gợi nên để góp vào quan niệm chung của tự nhiên"17 Như vậy cái cao cả chỉ là quan niệm của lí trí và chỉ tồn tại ở phía chủ thể, không liên gì đến khách thể

- Quan điểm duy tâm khách quan: Đại viểu là Hegel,

định nghĩa: "Cái cao cả là cái gợi lên ở chúng ta ý niệm về cái vô tận"18 Như vậy cái cao cả, với tầm vóc vô hạn đó là kết quả của trí

tưởng tượng, là giai đoạn cao trong sự vận động của tinh thần tuyệt

đối (khái niệm quan trọng trong tư tưởng của Hegel, sự vận động

của tinh thần tuyệt đối không phụ thuộc vào chủ thể)

Nhận xét: cả Kant và Hegel đều giải thích cơ sở của cái cao cả từ nguyên nhân chủ quan, thế giới tinh thần, ý thức chủ quan của chủ thể

- Quan điểm duy vật : Đại biểu là Tsernưshevski, khẳng

định: "Cái cao cả là cái to lớn hơn tất cả những cái mà ta đem so sánh với nó"19

+ Tsernưshevski thấy được yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan của cái cao cả

+ Quá nhấn mạnh số lượng qui mô của đối tượng khách quan, chưa chú ý đến chất lượng, (có cái to lớn thật nhưng gợi lên

được những cảm xúc thẩm mĩ trong chủ thể)

+ Chưa chú ý đến những điều kiện lịch sử - cụ thể

Bản chất thẩm mĩ của cái cao cả là gì?

b - Xét về phía khách thể: Cái cao cả là phẩm chất thẩm mĩ

của những sự vật, hiện tương, con người có tầm vóc, sức mạnh to

lớn phi thường, phản ánh tính chất vô tận, vĩnh cửu của thế giới,

khả năng không giới hạn của con người:

Trang 36

- Những cái có tầm vóc (số lượng, thể tích, qui mô) đồ sộ,

phi thường: núi cao, biển rộng, vực sâu, công trình xây dựng,

- Những con người có sức mạnh, (thể chất hoặc tinh thần,

hoặc cả hai) to lớn, phi thường: vĩ nhân, lãnh tụ, anh hùng,

- Những cái vừa có tầm vóc, vừa có sức mạnh to lớn, đồ

sộ, phi thường: bão tố, động đất, núi lửa, sóng thần, các cuộc khởi nghĩa long trời lở đất,

c - Xét về phía chủ thể: Cái cao cả có khả năng gây nên những phản ứng thẩm mĩ ở chủ thể:

- Ban đầu là cảm giác choáng ngợp, bối rối, lo sợ, mất tự chủ

- Tiếp theo là tình cảm ngưỡng mộ, thán phục, kính trọng

- Ngay sau đó là cảm giác say mê, thích thú, phấn chấn, kích thích sức mạnh, khát khao muốn được chiếm lĩnh, chinh phục những đỉnh cao chói lọi

d - Định nghĩa: Cái cao cả là phẩm chất thẩm mĩ khách quan

của những sự vật, hiện tượng, con người, có tầm vóc và sức mạnh

to lớn, phi thường, gây nên ở con người cảm xúc choáng ngợp, tình cảm ngưỡng mộ, thán phục, khơi dậy ở con người sức mạnh

vượt qua gian khổ, khát vọng chiếm lĩnh, chinh phục những đỉnh cao chói lọi

2- Quan hệ giữa cái cao cả và cái đẹp:

- Có quan niệm cho rằng có sự khác biệt giữa cái cao cả và cái đẹp:

+ Cái cao cả gây nên cảm xúc tiêu cực: làm cho con người có cảm giác bị đè nén, bó buộc

+ Cái đẹp cho con người cảm xúc tích cực: cảm giác hạnh phúc, dễ chịu

Trang 37

- Có quan niệm gắn cái cao cả với cái đẹp: cái cao cả là "mức

độ cao nhất của cái đẹp", "cái đẹp vô tận" Cả hai đều đem lại cảm xúc tích cực

- Quan niệm chung: Hai phạm trù này vừa có nét gần gủi tương đồng vừa có nét khác biệt, thống nhất nhưng không đồng nhất:

+ Nét gần gủi: Cả hai đều gợi lên những cảm xúc thẩm

mĩ tích cự, khiến con người sảng khoái, hưng phấn

+ Nét khác biệt:

Đem lại cảm giác gần gủi, dịu

Thể hiện ước mơ của con người

gần lí tưởng

Chính là cái tiến gần đến lí tưởng của con người

3- Các lĩnh vực biểu hiện của cái cao cả

a – Cái cao cả trong tự nhiên:

- Tồn tại trong những thuộc tính thẩm mĩ khách quan của những sự vật, hiện tượng có tầm vóc to lớn đồ sộ: Trời cao lồng lộng, biển rộng mênh mông, vách núi sừng sững, núi lửa tuôn trào, vực sâu hun hút, dòng sông cuộn chảy,

- Chứa đựng những sức mạnh khổng lồ, bí ẩn

- Gợi cho con người khả năng chinh phục tự nhiên

b– Cái cao cả trong xã hội:

- Những công trình sáng tạo vĩ dại của con người

- Các cuộc cách mạng, những trận chiến long trời lở đất

Trang 38

- Các danh nhân, vĩ nhân, lãnh tu, anh hùng, nghệ sĩ, những con người có sự nghiệp, công trình, chiến công, hành động, nhân cách vĩ đại, phi thường

c- - Cái cao cả trong nghệ thuật:

- Phản ánh cái cao cả vốn có của hiện thực, của cuộc sống

- Đối tượng quan trọng của văn học, đặc biệt của thể loại anh hùng ca Nhân vật trung tâm của thể loại này là những anh hùng, con người có sự nghiệp anh hùng với những chiến công chói lọi, quên mình vì hạnh phúc, danh dự của cộng đồng Họ là những con người hoàn thiện, hoàn mĩ

- Tạo ra sức mạnh cảm hoá to lớn đối người đọc, có ý nghĩa giáo dục, thẩm mĩ, nhận thức hết sức sâu sắc, mãnh liệt

4- ý nghĩa giáo dục to lớn của cái cao cả đối với con người

- Cái cao cả cần cho cuộc sống Nó làm cho cuộc sống không bị tầm thường và nhỏ bé đi, làm cho thế giới hiện ra lúc nào cũng to lớn hùng vĩ, khó khăn, nhưng đầy cảm hứng về chiến công, sự phiêu lưu và những hành động phi thường

- Biết ngưỡng mộ trân trọng kính phục cái cao cả, Con người không biết trân trọng cái cao cả, coi tất cả chỉ là tầm thường, bản thân sẽ tự biến mình thành tầm thường, thậm chí tha hoá

- Tuy nhiên sùng bái, khuất phục cả cao cả, khiến con người nhỏ bé, bị thủ tiêu óc sáng tạo, tính tích cực chủ quan, chỉ còn sự phục tùng và niềm tin mù quáng kiểu tôn giáo

IV- Cái bi:

1- Về khái niệm cái bi và bi kịch:

a- Cái bi: Một phạm trù thẩm mĩ của mĩ học b- Bi kịch: Một thể loại của văn học; một tình huống xuất hiện cái bi

Trang 39

c- Cái đẹp và cái bi:

Cái đẹp Cái bi Phạm vi bên

ngoài

Pham vi bên

trong

Nội dung / Hình thức Nội dung

Cảm xúc Vui, phấn khởi, hạnh

phúc

Đau thương, mất mát, bất hạnh

Đặc điểm

của đối tượng

Hài hoà, hoàn thiện Xung đột

2- Những quan niệm về cái bi trong lịch sử: Cái bi với tư cách là

một phạm trù thẩm mĩ, có mặt từ rất sớm trong lịch sử mĩ học:

a- Aristote (384 -322, TCN, Hi-lạp): Người có công

đầu, đóng góp sâu sắc trong việc nghiên cứu cái bi Trong tác phẩm "Nghệ thuật thi ca", ông đã lí giải các khía cạnh của cái bi: Cái bi là một hiện tượng quan trọng trong xã hội và bi kịch chính

là đỉnh cao nhất của nghệ thuật Nhân vật trung tâm của bi kịch là người tốt, có hành động nghiêm túc và cao thượng, nhưng xung

đột với cái xấu lại phải chịu bất hạnh, thậm chí cái chết Cảm xúc

bi kịch có tác dụng "thanh lọc"(catharsis) tâm hồn" ( "Bi kịch là

sự bắt trước hành động hệ trọng và tròn vẹn" nhằm "dùng hành

động chứ không phải bằng kể chuyện, bằng cách gây nỗi xót thương và nỗi sợ hãi để thực sự thanh lọc những nỗi xúc động tương tự")

b- Hegel (1770 - 1831, Đức): sau Aristotle, là người có

công nghiên cứu toàn diện cái bi và bi kịch Ông đã khái quát: Bi

kịch là kết quả của sự tác động của tính cách bi kịch và hoàn cảnh

Trang 40

bi kịch (một "tình huống thế giới", tình huống có tính lịch sử-cụ

thể) Tính cách bi kịch coi tính mục đích là nguyên tắc bất di bất

dịch Đó là "khát vọng đạt tới cái tuyệt đối trong bản chất của mình"20 Cái chết trong bi kịch là lời khẳng định mục đích chứ

không từ bỏ nó Xung đột bi kịch có đặc tính gay gắt, không khoan

nhượng, không thoả hiệp, có ý nghĩa chủ yếu trọng đại, không phải

là sản phẩm của những xích mích, tranh cải nhỏ nhen Hegel nhấn mạnh đến tính tất yếu phủ nhận tính ngẫu nhiên của cái bi Sự phủ nhận này là một hạn chế

c- Tsernưshevski (1828 - 1889, Nga): Khẳng định cái

bi vừa có tính tất yếu vừa có tính ngẫu nhiên Ông định nghĩa: "Cái

bi là cái khủng khiếp trong cuộc sống của con người"21, như vậy

ông đã không thấy rõ những nguyên nhân có tính lịch sử, cụ thể và tính xã hội của cái bi

3- Bản chất thẩm mĩ của cái bi theo quan niệm hiện đại:

a- Xung đột trong cái bi: Những xung đột nào có thể tạo nên cái bi?

- Cái bi gắn liền với xung đột, không có xung đột, không có

cái bi

- Nhưng không phải xung dột nào cũng có cái bi, những

xung đột tạo nên cái bi luôn căng thẳng quyết liệt, không thể

khoan nhượng, kết thúc bằng cái chết của một bên đối lập; "mỗi

bên trong đó đều tỏ ra có đủ tính tất yếu và đủ sức mạnh để coi mình là hợp pháp và không chịu nhượng bộ"22

- Xung đột bi kịch phải có ý nghĩa xã hội (phổ biến là những

khát vọng về một lí tưởng xã hội tốt đẹp nhưng thực tế không có khả năng vươn tới), loại xung đột "tình huống thế giới" (Hegel),

Ngày đăng: 04/09/2015, 21:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w