1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9 10 tỉnh vĩnh phúc

38 579 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 402 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậytheo ông “Trình độ tập luyện là năng lực tiềm tàng vủa VĐV để đạt được thànhtích nhất định trong môn thể thao lựa chọn và năng lực này còn được biểu hiện cụthể về mức độ chuẩn bị v

Trang 1

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết:

Thể dục thể thao (TDTT) là hoạt động không thể thiếu trong đời sống vănhoá xã hội loài người, ngay từ khi mới ra đời TDTT là một bộ phận hữu cơ của nềnvăn hoá xã hội là phương tiện giáo dục thể chất TDTT mang tính lịch sử, tính giaicấp và bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc, vì vậy thông qua TDTT chúng ta có thểđánh giá được sự phát triển của nền văn hoá thực chất của mỗi quốc gia, mỗi địaphương, dân tộc

Cờ vua được phát triển ở Việt Nam từ những năm 1980 Cờ vua là môn thểthao ít đòi hỏi cao về các tố chất thể lực song lại có yêu cầu cao về sự bền bỉ, mưutrí, thông minh, óc sáng tạo của người chơi Cờ vua đã và đang chiếm một vị tríquan trọng trong làng thể thao Việt Nam đạt được nhiều thành tích cao tại đấutrường khu vực, Châu lục và thế giới Những thành tích đạt được của môn Cờ vua

đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao vị thế của đất nước và con người ViệtNam trên thế giới

Bên cạnh những tấm huy chương vàng đó chúng ta cần phải phát huy hết khảnăng của mình để dành nhiều thành tích hơn nữa Ở Vĩnh Phúc Cờ vua được xem làmôn thể thao trọng tâm được lãnh đạo tỉnh đầu tư quan tâm, nhờ đó phong trào Cờvua trong tỉnh ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng gặt hái được nhiềuthành tích đáng kể từ đó đã thu hút được một số lượng đông đảo các số lượng VĐVđặc biệt là VĐV lứa tuổi 9 - 10 tham gia tập luyện và thi vào các lớp năng khiếucủa tỉnh

Vĩnh Phúc là tỉnh mới phát triển mặc dù mức độ tăng trưởng kinh tế cònchưa cao bằng các tỉnh trong cả nước nhưng lại có phong trào TDTT khá phát triển

và gặt hái được nhiều thành tích đáng kể Song qua quan sát các VĐV Vĩnh Phúcthi đấu các giải trong nước và các VĐV Việt Nam thi đấu các giải quốc tế cho thấyrằng các VĐV trẻ nước ta có khả năng chơi khai cuộc, xử lý ưu thế chơi chiến

Trang 2

thuật, chiến lược và kỹ thuật tính toán không thua kém bất kỳ VĐV nào song kếtquả của VĐV nước ta không cao Do vận dụng thực hành trong ván đấu chưa tốt.

Ta biết rằng trình độ thực hành nói chung và trình độ tập luyện của các VĐV nóiriêng có ảnh hưởng rất nhiều đến việc thi đấu Vì vậy, có vận dụng tốt các hìnhthức thi đấu thì trình độ thực hành của VĐV mới được tối đa

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hànhcủa vận động viên như: Hoàng Hải (2004), Trương Thị Thu Trang (2009) song việcnghiên cứu vấn đề này ở VĐV lứa tuổi 9 - 10 còn hạn chế Vì vậy để các VĐV ViệtNam nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng có thể đạt được những thành tích caohơn nữa thì các huấn luyện viên cần phải đặc biệt chú trọng đến việc phát triểntrình độ thực hành cho VĐV

Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho VĐV Cờ

vua lứa tuổi 9 - 10 tỉnh Vĩnh Phúc”

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích và tổng hợp tài liệu từ những nguồn tài liệu trong vàngoài nước cũng như thực trạng công tác huấn luyện Cờ vua Việt Nam hiện nay đềtài tiến hành lựa chọn test và xây dựng tiêu chuẩn để đánh giá trình độ thực hànhcho VĐV Cờ vua lứa tuổi 9 - 10 tỉnh Vĩnh Phúc góp phần nâng cao chất lượngcông tác huấn luyện và đào tạo VĐV Cờ vua tỉnh Vĩnh Phúc

Mục tiêu nghiên cứu

Để giải quyết mục đích nghiên cứu đã đặt ra đề tài đã thực hiện 2 mục tiêusau:

- Mục tiêu 1: Nghiên cứu lựa chọn các test đánh giá trình độ thực hành cho

VĐV Cờ vua lứa tuổi 9 - 10 tỉnh Vĩnh Phúc.

- Mục tiêu 2: Nghiên cứu xây dựng và ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình

độ thực hành cho VĐV Cờ vua lứa tuổi 9 - 10 tỉnh Vĩnh Phúc.

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu: Các test và tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành

của VĐV Cờ vua lứa tuổi 9 – 10 tỉnh Vĩnh Phúc

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 60 VĐV lứa tuổi 9 –

10 tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các quan điểm về đánh giá trình độ thực hành trong TDTT.

Trong thể thao hiện đại vấn đề đánh giá trình độ tập luyện của VĐV có một

vị trí hết sức quan trọng Việc tiến hành đánh giá trình độ tập luyện một cách khoahọc bằng các phương pháp khách quan sẽ cho phép VĐV luôn nắm được nhữngthông tin cần thiết để điều khiển quá trình huấn luyện đồng thời nâng cao hiệu quảcủa công tác tuyển chọn và đào tạo VĐV Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều quanđiểm khác nhau về vấn đề trình độ tập luyện của VĐV

Theo quan điểm của các tác giả trong nước:

Theo quan điểm của Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cho rằng: “Trong lýluận cũng như trong đào tạo VĐV người ta còn thường gặp các khái niệm như:Trình độ đào tạo hay trình độ tập luyện Nói đến trình độ đào tạo là nhằm chỉ tất cảcác mặt đào tạo để làm cho VĐV có thể đạt được những thành tích thể thao kế tiếpnhau trình độ đào tạo bao gồm trình độ đào tạo về thể lực, kỹ thuật, chiến thuật,tâm lý và lý luận nhất định của VĐV”

Theo Nguyễn Danh Thái: “Trình độ tập luyện của VĐV là trình độ điêuluyện và sự vững vàng nhạy bén về tinh thần và ý thức để đáp ứng yêu cầu đạtthành tích thể thao ngày càng cao”

Theo quan điểm của Lê Văn Lẫm và cộng sự: “Trình độ tập luyện của VĐV

là kết quả tổng hợp của việc giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn huấn luyện thểthao Trình độ tập luyện thể hiện ở mức độ nâng cao chức phận cơ thể năng lựchoạt động chung và chuyên môn của VĐV ở mức hoàn thiện các kỹ năng và kỹ xảothể thao phù hợp”

Theo quan điểm của các tác giả nước ngoài:

Theo quan điểm của Aulic I.V (1982) thì: “Việc đánh giá trình độ tập luyệnthì không phải là mục đích tự thân, là nhiệm vụ hàng thứ hai, nó là một phương tiện

Trang 5

kiểm tra cần có để phục vụ cho các vấn đề chính, đó là vấn đề phương pháp tập, tạođiều kiện đạt được những thành tích thể thao cao” Tuy nhiên khi phân tích kháiniệm về trình độ tập luyện ông nhận xét: “Có một yếu tố cơ bản của trình độ tậpluyện không được Novicov và Matveev nói tới đó là thành tích thể thao Vì vậytheo ông “Trình độ tập luyện là năng lực tiềm tàng vủa VĐV để đạt được thànhtích nhất định trong môn thể thao lựa chọn và năng lực này còn được biểu hiện cụthể về mức độ chuẩn bị về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, đạo đức, ý chí và trí tuệ.Trình độ tập luyện càng cao thì VĐV càng có thể làm trọn được một nhiệm vụ nhấtđịnh với hiệu quả mỹ mãn hơn”.

Theo quan điểm của Navicov A.D và Matveev L.P thì trình độ tập luyệnthường liên quan phần lớn đến những thay đổi thích ứng sinh học (hình thái vàchức năng) xảy ra trong cơ thể VĐV dưới tác động của LVĐ tâm lý và nhữg thayđổi đó biểu hiện ở sự phát triển năng lực của VĐV từ đó các ông đưa ra khái niệm:

“Trình độ tập luyện là thước đo mức thích ứng của cơ thể đối với hoạt động cụ thểđạt được thông qua tập luyện”

Theo quan điểm của Dietrich Harre: “Trình độ tập luyện của VĐV thể hiện ở

sự nâng cao năng lực thể thao nhờ ảnh hưởng của LVĐ, LVĐ thi đấu và các biệnpháp bổ trợ khác Các năng lực thể thao bao gồm các năng lực thể chất, năng lựcphối hợp vận động, năng lực trí tuệ, kỹ xảo, kỹ thuật, năng lực chiến thuật và phẩmchất tâm lý” Các thông tin về trình độ tập luyện của VĐV được thể hiện ở các cuộcthi đấu và kiểm tra thành tích (test kiểm tra) Các tiêu chuẩn cơ bản có thể sử dụngtrong việc đánh giá trình độ tập luyện và dự báo tiềm năng của VĐV đó là:

+ Tiêu chuẩn về trình độ thành tích

+ Tiêu chuẩn về nhịp độ phát triển của thành tích

+ Tiêu chuẩn về sự ổn định thành tích và khả năng tăng cường

+ Tiêu chuẩn về khả năng chịu LVĐ

Trang 6

Các tiêu chuẩn trên thể hiện các mặt khác nhau của việc đánh giá năng lựcthể thao.

M IaNbatnhicova đã đề cập tới việc nghiên cứu trình độ tập luyện một cáchsâu rộng thông qua việc mô hình hoá các mặt khác nhau của thành tích thể thao,các chỉ số của mô hình được soạn thảo đối với cả những VĐV trẻ đã cho phép xácđịnh đúng đắn phương pháp giảng dạy - huấn luyện, do đó mà nâng cao công táctuyển chọn và đào tạo trong các trường thể thao thiếu niên và nhi đồng Trong tácphẩm nghiên cứu của mình ông còn trình bày mười nguyên tắc có tính chất chủ đạotrong việc tiến hành kiểm tra tổng hợp sư phạm và y sinh đối với việc đánh giátrình độ tập luyện cho VĐV trẻ

Ngoài ra có thể nói trình độ tập luyện là khả năng cơ thể nhằm giải quyếtmột nhiệm vụ cụ thể nào đó nhất định Trình độ tập luyện có thể xác định thôngqua các phương pháp sư phạm - tâm lý - y sinh học Tuy nhiên trình độ tập luyện làmột khái niệm đặc trưng cho khả năng của toàn bộ cơ thể Trình độ tập luyện trongmột hoạt động nhất định thường mang tính chuyên môn rất cao Để xác định trình

độ tập luyện của VĐV của các môn thể thao khác nhau cần phải lựa chọn các bàitập chuyên biệt trong môn thể thao được nghiên cứu Trình độ tập luyện có thể xácđịnh bằng trạng thái phát triển thành tích thu được Theo các quan điểm nghiên cứu

và định nghĩa trên của các tác giả trong và ngoài nước chúng tôi thấy rằng trình độtập luyện của VĐV được các nhà khoa học nhìn nhận và xem xét theo các luận điểmsau:

- Trình độ tập luyện được thể hiện ở mặt: Kỹ chiến thuật, thể lực, tâm lý,chức năng, khi VĐV thực hiện các hoạt động chuyên môn

- Trình độ tập luyện chủ yếu là những biến đổi thích nghi về hình thái cũngnhư chức năng diễn ra trong cơ thể dưới tác động của tập luyện

- Trình độ tập luyện bao gồm nhiều thành phần, nhiều mặt và chịu nhiều ảnhhưởng của LVĐ

Trang 7

- Yếu tố cơ bản của trình độ tập luyện là thành tích thể thao của VĐV đượcnâng cao thông qua quá trình đào tạo huấn luyện.

Do vậy chúng ta thấy rằng quan niệm về trình độ thực hành trong TDTTđược nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau rất phong phú và đa dạng

1.2 Cơ sở lý luận của phương pháp đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua.

Cờ vua là môn thể thao có đặc trưng là ít đòi hỏi cao về thể lực, song lại cóyêu cầu cao về sự bền bỉ, mưu trí thông minh, óc sáng tạo ở người chơi Với đặcđiểm Cờ vua là một môn thể thao trí tuệ, LVĐ trong Cờ vua là LVĐ tâm lý tácđộng vào VĐV từ đó gây ra những biến đổi trong cơ thể, chính vì vậy mà khả năngchuyên môn được hình thành tâm lý và các cơ chế sinh lý, sinh hoá khác cũng cần

ổn định hơn

Theo I.M Xêtrênôp và rất nhiều nhà khoa học khác đã nghiên cứu chứngminh rằng khi con người tham gia hoạt động thể lực cũng như trí lực đều xảy rahiện tượng mệt mỏi và hồi phục Cờ Vua tuy là môn thể thao hoạt động trí lực,nhưng cũng giống như các môn thể thao khác đều phải tuân thủ theo các quy luậtchung của hoạt động thể thao Vì vậy nguyên lý cơ bản để xem xét đánh giá trình

độ tập luyện phải là nguyên tắc tổng hợp Nghĩa là xem xét một cách toàn diện tất

cả các hoạt động của cơ thể Trạng thái sức khỏe, tâm lý, trình độ kỹ - chiến thuật,trình độ thể lực…

Đánh giá trình độ VĐV Cờ vua là một vấn đề hết sức quan trọng trong huấnluyện, việc làm này phải được tiến hành tại những thời điểm quan trọng trong cácgiai đoạn huấn luyện Thực chất quá trình đào tạo VĐV Cờ vua là quá trình điềukhiển, tác động có hướng đích của HLV tới VĐV của mình nhằm đạt được cácthành tích thể thao cao và cao nhất Một trong những khâu quan trọng nhất của việcđiều khiển quá trình huấn luyện nhiều năm là hệ thống kiểm tra tổng hợp nhằmđánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua trong tất cả các giai đoạn của quá

Trang 8

trình giảng dạy - huấn luyện Hệ thống kiểm tra tổng hợp có hiệu quả giúp cho cácHLV đánh giá khách quan tính đúng đắn của hướng huấn luyện đã chọn, thườngxuyên theo dõi tình trạng và động thái của trình độ thực hành VĐV, kịp thời điềuchỉnh quá trình giảng dạy - huấn luyện Ý nghĩa của việc kiểm tra tổng hợp trongquá trình huấn luyện Cờ vua - đặc biệt là trong giai đoạn huấn luyện ban đầu là hếtsức to lớn Vì đạt được các thành tích thi đấu Cờ vua tương đối cao so với lứa tuổi

và hoàn thành các tiêu chuẩn đẳng cấp không phải bao giờ cũng chứng tỏ VĐV Cờvua đó sẽ phát triển tốt trong giai đoạn huấn luyên tiếp theo Vì vậy hệ thống cácthử nghiệm kiểm tra và các tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở khoa học có tầmquan trọng đến mức được coi là những mối định hướng xác định để tổ chức hợp lýquá trình giảng dạy huấn luyện của các VĐV Cờ vua thuộc các lứa tuổi đẳng cấpkhác nhau để kiểm tra tổng hợp, cần sử dụng các phương pháp kiểm tra sư phạm và

y sinh

+ Kiểm tra sư phạm là cơ sở để có thông tin về tình trạng và hiệu quả hoạtđộng của VĐV Cờ vua Nó được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các phươngtiện, phương pháp huấn luyện, để xác định động thái của trạng thái xung sức thểthao và dự báo các thành tích Nhiệm vụ của kiểm tra sư phạm là: Thống kê lượngvận động tập luyện và thi đấu, xác định các mặt khác nhau của trình độ huấn luyệncủa các VĐV Cờ vua, xác định các khả năng để đạt được thành tích thể thao dựkiến, đánh giá hành vi của VĐV Cờ vua trong các cuộc thi đấu Các phương phápchủ yếu của kiểm tra sư phạm là quan sát sư phạm và các thử nghiệm kiểm tra (lậptest) về những mặt khác nhau của trình độ huấn luyện của các VĐV Cờ vua - đặcbiệt là các VĐV Cờ vua trẻ

+ Các phương pháp kiểm tra y - sinh nhằm đánh giá tình trạng sức khoẻ,mức độ phát triển thể chất, tuổi sinh học, trình độ huấn luyện về mặt chức năng củaVĐV

Trang 9

Trình độ tập luyện là mức độ thích nghi của cơ thể với một hoạt động cụ thểnào đó đạt được bằng hoạt động tập luyện đặc biệt, trình độ tập luyện liên quan đếnnhững biến đổi về cấu tạo và chức năng xảy ra trong cơ thể dưới tác động tích cựccủa lượng vận động tập luyện.

Trình độ tập luyện có thể được xác định thông qua các phương pháp sưphạm, tâm lý và y - sinh học Tuy nhiên, trình độ tập luyện là một khái niệm tổnghợp, đặc trưng cho khả năng của toàn bộ cơ thể, vì vậy nguyên lý cơ bản để xemxét trình độ tập luyện phải là nguyên tắc tổng hợp Nghĩa là phải xem xét một cáchtoàn diện tất cả các mặt hoạt động của cơ thể: Trạng thái sức khoẻ, trạng thái tâm

lý, trình độ kỹ-chiến thuật, trình độ thể lực

Trình độ tập luyện thể hiện trong một hoạt động nhất định, vì vậy trình độtập luyện mang tính chuyên môn rất cao Để xác định trình độ tập luyện của cácVĐV Cờ vua cần phải lựa chọn tổ hợp các chỉ tiêu tâm - sinh lý chuyên biệt đặctrưng trong môn thể thao Cờ vua

Trình độ tập luyện của VĐV có thể cao, trung bình hoặc thấp, trạng thái đóphụ thuộc vào quá trình tập luyện Tập luyện Cờ vua nhằm đạt được thành tích thểthao cao nhất vào thời điểm nhất định Trạng thái của VĐV Cờ vua trong giai đoạn

có trình độ, tập luyện cao nhất được gọi là trạng thái sung sức thể thao Trạng tháisung sức thể thao trong Cờ vua thể hiện ở sự phối hợp hoạt động tối đa giữa các hệ

cơ quan trong cơ thể, khả năng chức phận của cơ thể được phát triển tối đa và khảnăng huy động hoàn toàn các nguồn dự trữ trong cơ thể Trạng thái sung sức thểthao đạt được nhờ các lượng vận động tập luyện lớn, vì vậy nó không duy trì đượclâu dài; Tuy nhiên cơ thể có thể đạt được trạng thái sung sức thể thao nhiều lầntrong một năm

Trình độ tập luyện cũng như biểu hiện cao nhất của nó là trạng thái sung sứcthể thao, có thể xác định thông qua các chỉ tiêu tâm - sinh lý nhất định Đó là đặcđiểm cấu tạo và chức năng của các hệ cơ quan trong cơ thể Chúng được nghiên

Trang 10

cứu trong trạng thái nghỉ, trong hoạt động định lượng và thực hiện hoạt động tối đa.Trình độ tập luyện của VĐV Cờ vua thể hiện ở sự nâng cao năng lực chuyên mônnhờ ảnh hưởng của lượng vận động tập luyện, lượng vận động thi đấu và các biệnpháp bổ trợ khác nhau.

Trong các giai đoạn huấn luyện khác nhau, nhiệm vụ của công tác đánh giátrình độ VĐV Cờ vua cũng khác nhau

+ Trong giai đoạn tuyển chọn ban đầu, việc đánh giá - dự báo trình độ VĐV

Cờ vua đó chính là quá trình phát triển năng khiếu thể thao Phát hiện năng khiếuthể thao trước hết dựa vào việc dự báo với một xác xuất cao đáng tin cậy về mộtVĐV có thể có khả năng hoàn thành giai đoạn huấn luyện Cờ vua có thành tích tốtđến mức sẽ thu nhận vào giai đoạn huấn luyện Cờ vua sau này

+ Trong giai đoạn tiếp theo của quá trình huấn luyện việc đánh giá - dự báotrình độ VĐV Cờ vua nhằm mục đích xác định thành tích cao nhất mà bản thânVĐV có thể đạt được, và khoảng thời gian để đạt được thành tích đó Để tiến hànhđánh giá trong giai đoạn này, cần thiết phải thu nhận các thông tin tiếp theo ở VĐVthông qua việc phân tích các yếu tố xác định thành tích thể thao như:

- Tiêu chuẩn trình độ của thành tích: Dựa vào tiêu chuẩn này có thể kết luậnrằng VĐV có cơ sở thành tích rộng rãi và đầy đủ trong các yếu tố xác định thànhtích của môn Cờ vua Bởi vậy, cần phải dựa theo các quan điểm sư phạm thể thao,

y học thể thao và tâm lý học thể thao để xác định rằng VĐV đó có đầy đủ các trị sốthành tích thể thao cao trong các yếu tố xác định thành tích

- Tiêu chuẩn về nhịp độ phát triển thành tích: Dựa vào tiêu chuẩn này phảicần xác định xem VĐV Cờ vua có thể thực hiện các yêu cầu của lượng vận độngmột cách có hiệu quả hay không? Và đặc biệt là các yếu tố xác định thành tích củaVĐV đó phát triển nhanh như thế nào? Điều đó bao gồm nhịp độ phát triển, cácthành tích thể thao cũng như các yếu tố xác định nó, bao gồm chất lượng của khả

Trang 11

năng thích ứng của các hệ thống chức năng và nhịp độ phát triển các cấu trúc nănglực tiếp đó cũng như các đặc điểm cấu trúc có thể nhất định.

- Tiêu chuẩn về sự ổn định thành tích với khả năng tăng trưởng thành tích:Tiêu chuẩn này có thể giải thích rằng VĐV Cờ vua có cơ sở ổn đinh thành tích đốivới các thành tích thi đấu cao Điều đó được hiểu là mức độ thể hiện của các yếu tốxác định thành tích cho phép VĐV Cờ vua hoàn thành nhanh chóng và liên tục cácthành tích của mình và cần phải lập được thành tích tốt nhất của bản thân trong cáccuộc thi đấu quan trọng Vì điều đặt ra rõ ràng trong thể thao cũng như trong Cờvua, thành tích thể thao cao nhất ở các thời điểm đã được xác định trước (các đạihội Olympic, các cuộc thi đấu vô địch thế giới) Nên sự ổn định thành tích có ýnghĩa đặc biệt to lớn các kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng, tiêu chuẩn này có vịtrí lớn với ý nghĩa là cơ sở trung tâm của quá trình đánh giá

- Tiêu chuẩn về khả năng chịu đựng lượng vận động: Dựa vào tiêu chuẩnnày, cần phải giải thích được VĐV Cờ vua có thể giải quyết được các yêu cầu trongtập luyện, trước hết là các lượng vận động, ở mức độ nào Thể hiện đầu tiên củakhả năng này là việc thực hiện một cách có hiệu quả cường độ vận động được nângcao thường xuyên và một khối lượng vận động được tăng lên liên tục Việc dự báothành tích ở đây, dựa trên cơ sở mong muốn rằng, sự tăng lượng vận động tậpluyện một cách thường xuyên sẽ dẫn đến những thích ứng tập luyện rõ ràng, vữngchắc, và điều đó thể hiện nâng cao năng lực hoạt động của các chức năng tâm - sinh

lý và sự nâng cao thường xuyên thành tích thi đấu

Cờ vua là môn thể thao trí tuệ đặc trưng của môn thể thao này là sự căngthẳng lớn về cảm xúc mà giữa người chơi phải khắc phục trong thi đấu Chính bởi

lẽ đó mà lượng vận động trong tập luyện và thi đấu Cờ vua thể hiện rõ nét đặc thùchuyên môn, khác với nhiều môn thể thao khác

Trang 12

Để đánh giá trình độ tập luyện của VĐV Cờ vua cần thiết phải được nghiêncứu trong các trạng thái khác nhau như: Trạng thái nghỉ, khi hoạt động định lượngmang nét đặc thù chuyên môn và khi thực hiện hoạt động tối đa.

1.3 Phương phápđánh giá trình độ của VĐV Cờ Vua.

Việc đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua là cơ sở cho quá trình dựbáo trình độ VĐV Cờ vua Dự báo VĐV Cờ vua là một trong những công việc cầntiến hành trong quá trình đào tạo VĐV Cờ vua, nghĩa là phải tìm ra những khả năng

cá nhân có liên quan đến trình độ thể thao của VĐV Cờ vua Trong công việc huấnluyện thường xuyên của HLV Cờ vua, việc tìm kiếm các đặc điểm cá nhân đó về cơbản là việc dựa vào việc phân tích kết quả thi đấu ở các giải cũng như kinh nghiệm

dự báo các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có các môn thể thao khác.Việc dự báo trình độ của VĐV Cờ vua đòi hỏi sự phân tích toàn bộ hoạt động tronglĩnh vực chuyên môn - nghề nghiệp Đánh giá đúng những thử nghiệm - kiểm tra

mà đòi hỏi người học phải thực hiện, người ta gọi đó là đánh giá các phương giá dựbáo

Do đặc điểm hoạt động thi đấu Cờ vua luôn liên qua chặt chẽ với môi trườngcảm xúc - ý chí nên khi tiến hành đánh giá trình độ chuyên môn cho hoạt động thiđấu đó, mà còn cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá đúng, chính xác cả những đặcđiểm tâm lý của VĐV Cờ vua (Cotôv - 1998)

Hiện nay, ở các nước có phong trào Cờ vua phát triển mạnh trên thế giớinhư: Anh, Pháp, Mỹ và đặc biệt là Liên Xô (cũ) - Một cường quốc về Cờ vua đềutiến hành đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua một cách hết sức chặt chẽtheo những phương pháp và những quy trình đã được chuẩn y, kiểm nhiệm trongthực tiễn, trong công tác đào tạo VĐV Cờ vua

Các phương pháp đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua hiện đang sửdụng là:

- Đánh giá trình độ thực hành qua thành tích thi đấu

Trang 13

- Đánh giá trình độ thực hành bằng chỉ số Reiting.

- Đánh giá trình độ thực hành bằng test sư phạm

- Đánh giá trình độ thực hành dựa vào kinh nghiệm huấn luyện

* Phương pháp đánh giá trình độ thực hành qua thành tích thi đấu

Trình độ thực hành của VĐV không chỉ thể hiện ở trạng thái nghỉ ngơi hoặctrong hoạt động định lượng (hoạt động không lớn lắm) mà nó còn được thể rõ nhấttrong hoạt động tối đa Khi VĐV thực hiện lượng vận động tối đa sẽ thể hiện tínhthông tin cao nhất, đó chính là các phản ứng thích nghi của cơ thể với hoạt động tối

đa Chúng thể hiện rõ nhất ở trình độ thực hành của VĐV

Phản ứng chuẩn cơ thể đối với hoạt động tối đa đến giới hạnh có thể đượcnghiên cứu và xác định trong điều kiện tập luyện, thi đấu cũng như trong thínghiệm đặc biệt Hoạt động tối đa thực hiện đến mức mệt mỏi hoàn toàn, chỉ cótrong điều kiện như vậy mới có thể xác định được mức dự tính chức năng và khảnăng sử dụng chúng của cơ thể

Thực hiện các hoạt động tối đa cho phép chúng ta xác định được các yếu tốtrong đó có các môn thể thao khác nhau Vì vậy hoạt động tối đa phải mang tínhchuyên môn cao

Một trong những hướng nhằm đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vuatrong hoạt động tối đa đó chúng là thông qua hoạt động thi đấu Bởi lẽ, LVĐ lớnnhất trong Cờ vua là LVĐ thi đấu (thi đấu Cờ vua truyền thống, thi đấu thời giandài, hoặc thi đấu Blid “mà” đồng loại thi đấu trong thời gian ngắn không nhìn bàn

cờ với nhiều đấu thủ cùng một lúc) đó chính là ván đấu có hạn định thời gian, cókiểm tra nước đi (khống chế số lượng nước đi trong phạm vi thời gian)

* Phương pháp đánh giá trình độ thực hành bằng chỉ số Reiting

Thực tế cho thấy rằng trong cuộc thi đấu Cờ vua chỉ có sự tham gia số ítVĐV thì việc xác định trình độ của họ là điều không mấy khó khăn với câu hỏi ai

là người mạnh hơn trong hai người (tức là trình độ cao hơn) được giải quyết rất đơn

Trang 14

giản Các VĐV phải thường xuyên gặp nhau trong các cuộc thi đấu, điều đó cónghĩa là VĐV liên tục thắng đó là VĐV mạnh hơn hay có trình độ cao hơn; Songnếu như họ luân phiên lúc người này thắng lúc người kia thắng thì có thể coi trình

độ của họ là ngang nhau Nhưng trường hợp đặc biệt, luôn gây tranh cãi là khi cácván đấu của họ luôn kết thúc hoà cờ

Hiện nay, không phải là hiếm khi mà là đồng thời trên một vài quốc gia, mộtvài khu vực tiến hành tổ chức các giải thi đấu, thậm chí có thể liền một lúc ở mộtvài thành phố của một quốc gia Và trên thực tế cho thấy ở hàng loạt các cuộc thiđấu lớn của thế giới đều có sự tham gia của hàng nghìn VĐV, mà nhiều ngườitrong số họ chỉ biết nhau chứ không được thi đấu với nhau trực tiếp Trong nhữngtrường hợp đó việc so sánh trình độ của họ quả là điều khó khăn

Trình độ VĐV Cờ vua là một đại lượng định tính nên để có thể đánh giá mộtcách chính xác và khách quan thì cần phải thông qua một đại lượng định lượng.Chính điều này làm nảy sinh ý đồ sử dụng toán học để giải quyết vấn đề khó khănnày Những nỗ lực đầu tiên nhằm xây dựng một hệ thống đánh giá sức mạnh củaVĐV Cờ vua đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ Xĩ Và thực tế cuối những năm

50 của thế kỷ này, hàng loạt các hệ thống đánh giá chính thức được đưa vào thửnghiệm Hầu hết nền tảng của hệ thống đánh giá đó đều xuất phát từ hệ số riêngbiệt của mỗi VĐV được xác định từ trước - nói một cách khác là căn cứ vào chỉ sốReiting (từ gốc tiếng anh “Raiting” nghĩa là đánh giá, xếp loại trình tự) Reiting làchỉ số đánh giá về thực chất trình độ VĐV Cờ vua thường xuyên tham gia các cuộcthi đấu khác khoảng thời gian và hệ số này luôn bị thay đổi từ cuộc thi đấu đó Saunhiều năm theo dõi và phân tích kiểm nghiệm hàng loạt các hệ thống đánh giá đềucho thấy chúng không có sự khác biệt lớn lắm về bản chất Vì vậy 1970, Liên Đoàn

Cờ vua thế giới (FIDE) đã quyết định sử dụng hệ thống đánh giá theo hệ số đượcgiáo sư A.Elô (người Mỹ) đề xướng

Những đặc điểm cơ bản của hệ thống này là:

Trang 15

Nếu như hệ số “cũ” của VĐV (hệ số đã có trước khi tham gia cuộc) được gọi

là HC Thì hệ số mới được gọi là Hm (hệ số sẽ có được ngay sau khi kết thúc cuộcthi) sẽ được xác định theo công thức:

Hm = Hc + K (Đ - Đmc)

Trong đó:

- Đ : Số điểm mà VĐV đó thực sự đạt được trong cuộc thi đó

- Đmc: Số điểm mà mong muốn đạt được trong cuộc thi đó

- K: Hệ số phát triển = 10

Số điểm mong muốn đạt được này phụ thuộc vào hệ số của VĐV đó là hệ sốcủa các đấu thủ mà VĐV đó gặp Nếu số điểm đạt được cùng với số điểm mongmuốn chỉ số Reiting của VĐV đó sau cuộc thi sẽ không thay đổi Còn nếu VĐV đóthu nhận nhận số điểm thực tế nhiều hơn hay ít hơn số điểm mong muốn thì tấtnhiên chỉ số Reiting của VĐV sẽ bị thay đổi hoặc tăng lên hoặc giảm xuống Từcông thức tính nêu trên cho thấy rõ ràng một điểm trong cuộc thi tương ứng với 10đơn vị Reiting Như vậy, để có thể áp dụng được công thức này cần phải biết cáchxác định Đmc - Số điểm mong muốn đạt được trong một cuộc thi mà VĐV sẽ thamgia

Việc đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua theo phương pháp này ởViệt Nam hiện nay chưa tiến hành, vì điều kiện thực tế hiện nay thang điểm xâydựng cho VĐV Cờ vua Việt Nam chưa được chuẩn hoá và khi đánh giá trình độthực hành theo cách này đòi hỏi các VĐV phải thường xuyên tham gia các giải thiđấu Mặt khác khi sử dụng chỉ số này nhằm đánh giá trình độ thực hành cho VĐV

Cờ vua trẻ là khó có thể thực hiện được nhất là trong giai đoạn huấn luyện ban đầu.Bởi lẽ các VĐV trẻ ít có cơ hội được tham gia thường xuyên các giải đấu đỉnh cao

Để đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua thông qua hoạt động địnhlượng mang tính chuyên môn (thông qua test sư phạm) người ta có thể sử dụng cáctest như:

Trang 16

+ Test phân tích đánh giá lập kế hoạch

+ Test trí nhớ thực hành

+ Test khai cuộc

+ Test đòn phối hợp

+ Test kỹ năng tính toán

+ Test chiến thuật

+ Test chiến lược

+ Test tàn cuộc

+ Test thi đấu ván cờ tích cực

+ Test xử lý ưu thế

+ Test thi đấu Blid (thực hiện ván đấu trong thời gian hạn hẹp từ 30 phút trở lại)

Để đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua cũng cần thiết phải nghiêncứu cả trong trạng thái nghỉ khi hoạt động định lượng mang nét đặc thù chuyênmôn và cả khi thực hiện hoạt động tối đa Bản chất của hoạt động định lượng nàymang tính chuyên biệt về Cờ vua

Mục đích của quá trình đánh giá về tâm lý nhằm thu nhận các thông tin vềtốc độ của quá trình tư duy và sự linh cảm trong đánh giá nhân tố thời gian Để giảiquyết các vấn đề đó cần phải tìm ra phương pháp nghiên cứu tốc độ tư duy dướicác dạng thức khác nhau Muốn vậy cần phải nghiên cứu các mặt: Tốc độ tính toáncác thành phần đơn lẻ, tốc độ tính toán các biến thế phức tạp hơn mang tính tư duylogic và tốc độ tính toán các biến thế cấu thành đòi hỏi sự tập trung căng thẳng kéodài

Để đánh giá tốc độ tính toán các biến thế đơn lẻ, người ta xây dựng và chuẩn

bị phương pháp sau: VĐV phải tiến hành theo lệnh trừ 3 từ 1000 và sau đó lại theolệnh 2 lại thêm 7 vào số ghi cuối cùng khi trừ Mỗi lần thực hiện theo lệnh (trừ vàcộng) kéo dài khoảng 1 phút và kéo dài trong 2 phút thực hiện bài test Với cấu

Trang 17

trúc và thời gian tự kiểm tra như trên, ngay sau khi có lệnh dừng lại, người thựchiện nhất thiết phải nêu rõ thời gian cảm nhận được để sử dụng bài test.

Trong quá trình phân tích bài test, cần xác định số lần thực hiện các lần cộngtrừ, đánh giá độ chính xác khi thực hiện bài thử, tính số lần sai và độ chính xác củaviệc xác định bằng linh cảm thời gian sử dụng Sau đó VĐV tự xác định trong thờigian 1 phút khi không có đồng hồ bằng bất kỳ phương tiện nào Test chuẩn đánhgiá tốc độ và độ chính xác trong giải quyết các nhiệm vụ logic được tiến hành theomẫu “tương quan số lượng” được dùng trong tâm lý học thử nghiệm ở đây đòi hỏiphải xác định mối quan hệ về độ lớn theo các điều kiện định trước

Khi tiến hành xác định tốc độ và độ chính xác trong tính toán các biến thếcấu thành với sự căng thẳng giác quan Test được ứng dụng là test “các đường rối”

Để thực hiện bài test này đòi hỏi người thực hiện phải có sự tập trung cao độ trigiác và sự chú ý

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 9 – 10.

và dễ dàng mắc phải những tệ nạn xã hội)

- Hứng thú của các em xuất hiện thêm nhiều nét mới Hứng thú đã được xácđịnh rõ rệt hơn, mang tính chất bền vững, sâu sắc và phong phú hơn Hứng thú củacác em rất năng động, các em sẵn sàng đi vào lĩnh vực tri giác mình yêu thích Dovậy việc giảng dạy TDTT cũng như các môn học khác đóng vai trò chủ yếu trongvấn đề này Giờ học TDTT sẽ tạo cho các em hiểu được ý nghĩa, vai trò của TDTTđối với cá nhân và xã hội, giúp các em tích cực tự giác tập luyện trong giờ học

Trang 18

chính khoá và hoạt động ngoại khoá Song chất lượng giảng dạy và nhân cách giáoviên có ảnh hưởng mạnh đến sự nảy sinh và phát triển hứng thú của các em đối vớimôn học.

Một đặc điểm nữa là hứng thú nhận thức đối với môn học này ngày càngphân hoá được thể hiện khi các em ham mê một lĩnh vực tri giác nào đó thì coithường các giờ học những môn mà các em không thích Do hứng thú của các emphát triển rộng rãi nên thầy giáo và cha mẹ phải hướng và điều chỉnh hứng thú đósao cho phù hợp để hướng dẫn các em hoạt động có hiệu quả Do vậy cần phảithường xuyên quan sát và giáo dục cho phù hợp trên cơ sở dựa trên tính tích cực,phát huy tính chất sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động cho các em tạođiều kiện phát triển tốt khả năng của các em

1.4.2 Đặc điểm sinh lý.

Hệ thần kinh: Não bộ đang thời kỳ bắt đầu hoàn chỉnh hoạt động của thần

kinh chưa ổn định, hưng phấn chiếm ưu thế Vì vậy khi học tập các em dễ tập trung

tư tưởng, nhưng nếu thời gian kéo dài, nội dung nghèo nàn hình thức hoạt độngđơn điệu thì thần kinh sẽ sớm mệt mỏi và phân tán sự chú ý Do hoạt động thầnkinh linh hoạt đó là điều kiện dễ dàng hình thành phản xạ có điều kiện Do vậy nộidung tập luyện phải phong phú, phương pháp giảng dạy tổ chức giờ học phải linhhoạt, không cứng nhắc đơn điệu giảng giải và làm mẫu có trọng tâm chính xácđúng lúc, đúng chỗ Ngoài ra cần tăng cường hoạt động TDTT ngoài giờ và hìnhthức vui chơi khác để làm phong phú khả năng hoạt động và phát triển các tố chất thểlực một cách toàn diện

Hệ vận động: Hệ xương chưa phát triển mạnh mẽ về chiều dài Hệ thống sụn

và các khớp đang đòi hỏi điều kiện để phát triển Do vậy giáo dục thể chất có tácdụng tốt đến sự phát triển của hệ xương nhưng phải chú ý đến tư thế, đến sự cânđối hoạt động để tránh sự phát triển sai lệch của hệ xương và kìm hãm sự phát triển

Trang 19

của chiều dài Đặc biệt đối với các em gái xương chậu chưa phát triển nên dễ bịlệch lạc nếu quá trình hoạt động vận động không hợp lý.

Hệ cơ: của các em chưa phát triển, hệ cơ chủ yếu là phát triển về chiều dài

thiết diện cơ chưa phát triển nhưng đến tuổi 13 - 14 thì thiết diện cơ phát triển hơn

Do sự phát triển không đồng bộ nên các em không phát huy được sức mạnh vàchóng mệt mỏi Vì vậy trong giáo dục thể chất cần chú ý phát triển cơ bắp và pháttriển toàn diện

Hệ tuần hoàn: Tim phát triển chậm hơn so với sự phát triển mạch máu, sức

co bóp còn yếu, khả năng điều hoà hoạt động của tim chưa ổn định nên hoạt độngquá nhiều sẽ chóng mệt mỏi Vì vậy, tập luyện TDTT thường xuyên sẽ ảnh hưởngtốt tới sự hoạt động của hệ tuần hoàn, sự hoạt động của tim dần được thích ứng và

có khả năng chịu đựng khối lượng lớn sau này Nhưng trong quá trình tập luyệnTDTT cần phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và nguyên tắc tăng dần yêu cầu, tránhhoạt động quá sức và quá đột ngột

Hệ hô hấp: Phổi của các em phát triển chưa hoàn thiện, phế nang còn nhỏ,

các cơ hô hấp chưa phát triển, dung lượng phổi còn bé Vì vậy, khi hoạt động các

em thở nhiều, thở nhanh nên chóng mệt mỏi Nên việc rèn luyện thể chất cho các

em phải toàn diện, phải chú ý phát triển các cơ hô hấp và hướng dẫn các em biếtcách thở sâu, thở đúng và biết cách thở trong hoạt động Như vậy mới có thể làmviệc và hoạt động được lâu và có hiệu quả

Nhận xét: Từ những kết quả nghiên cứu trên, cho phép đi đến một số nhậnxét sau:

- Trình độ thực hành của VĐV là trình độ thích ứng của cơ thể VĐV với hoạtđộng TDTT nhờ một quá trình huấn luyện có hệ thống Trình độ thực hành là thước

đo hiệu quả huấn luyện

Ngày đăng: 04/09/2015, 21:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn các hình thức, phương pháp và các test đánh giá trình độ tập - Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9   10 tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn các hình thức, phương pháp và các test đánh giá trình độ tập (Trang 26)
Bảng 3.2. Tính thông báo của các Test trên đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9   10 tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.2. Tính thông báo của các Test trên đối tượng nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 3.3. Kết quả so sánh kết quả kiểm tra của VĐV Cờ vua lứa tuổi 9 – 10 - Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9   10 tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.3. Kết quả so sánh kết quả kiểm tra của VĐV Cờ vua lứa tuổi 9 – 10 (Trang 31)
Bảng 3.6. Thang điểm đánh giá trình độ thực hành của nam VĐV - Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9   10 tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.6. Thang điểm đánh giá trình độ thực hành của nam VĐV (Trang 33)
Bảng 3.8: Tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho VĐV Cờ vua - Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9   10 tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.8 Tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho VĐV Cờ vua (Trang 34)
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra ngược thông qua tiêu chuẩn đã xây dựng ở VĐV - Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9   10 tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra ngược thông qua tiêu chuẩn đã xây dựng ở VĐV (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w