Qua một số giải bóng rổ được tổ chức hàng năm ở trong nước chúng tôinhận thấy các VĐV của ta đã vận dụng nhiều các kỹ thuật vào trong thi đấutrong đó kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném
Trang 1MỞ ĐẦU
“Khoẻ để xây dựng và bảo vệ tổ quốc” đó là mục tiêu, là phương châmhành động của ngành TDTT Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con ngườingày càng được nâng cao do đó nhu cầu đòi hỏi của con người ngày càng caohơn về mọi mặt như: kinh tế, thông tin, dịch vụ… trong đó TDTT được đôngđảo các tầng lớp nhân dân lao động trí thức ở mọi thành phần mọi lứa tuổi thamgia tập luyện Nó là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người dân ViệtNam nói riêng và toàn nhân loại nói chung, là động lực quan trọng trong giáodục và đào tạo hế hệ trẻ Việt Nam nhằm phát triển hài hoà, cân bằng cuộc sốngcon người, phát triển con người theo tiêu chí “Đức - Trí - Thể - Mỹ - Dục” Hơnnữa TDTT còn mang lại những giá trị cao đẹp, giúp mọi người trên thế giớiđoàn kết, gắn bó với nhau tạo nên sự hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc trên thếgiới Do vậy phong trào TDTT ngày càng được phát triển mạnh mẽ trong thờiđại ngày nay
Trong những năm gần đây TDTT Việt Nam đã có những bước chuyểnmình đáng ghi nhận thể hiện được ở việc giành nhiều huy chương, thứ bậc caotrong các kỳ đại hội ở khu vực cũng như trên thế giới ở một số môn thể thao mũinhọn như: Điền kinh, bơi lội, cầu lông, bắn súng… Tuy nhiên bên cạnh đó cònmột số môn thể thao chúng ta chưa được thành tích cao và cần sự quan tâm hơnnữa trong đó có môn bóng rổ Bóng rổ là một trong những môn thể thao mangtính nghệ thuật và đòi hỏi sự chính xác cao Tập luyện và thi đấu bóng rổ có tácdụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện các tố chất vận động cho con người như:Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, tư duy linh hoạt và khả năng phối hợpđồng đội Vì thế nhiều môn thể thao còn sử dụng bóng rổ để rèn luyện thể lực, ýchí và tinh thần cho VĐV Chính vì sự toàn diện này mà bóng rổ được coi làmôn không thể thiếu được trong nội dung, phương tiện GDTC cho con người
Từ đó góp phần tích cực vào việc tạo nên những lớp người có trí tuệ, có thể lựccường tráng đáp ứng với xu hướng thời đại mới phục vụ cho công cuộc xâydựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 2Hiện nay bóng rổ ở nước ta đã có những bước tiến mới về kỹ thuật, chiếnthuật, thể lực cũng như tâm lý thi đấu Tuy nhiên có một đặc điểm chung là cácVĐV Việt Nam có tầm vóc thấp bé cũng như trình độ kỹ thuật còn thấp nên hiệuquả thi đấu ở các giải chưa cao Vì vậy mà việc tìm ra những bài tập, những đấupháp hợp lý cho quá trình tập luyện và thi đấu bóng rổ phù hợp với tầm vóc,trình độ của các VĐV Việt Nam là điều rất quan trọng Trên thực tế tập luyện vàthi đấu bóng rổ đã cho thấy rằng kỹ thuật tấn công ngày càng phát triển và hoànthiện bao nhiêu thì kỹ thuật, chiến thuật trong phòng thủ cũng phát triển khôngkém, từ đó việc tấn công ghi điểm của các đấu thủ gặp rất nhiều khó khăn Đểgiành được thắng lợi trong các trận đấu đòi hỏi các VĐV phải có thể lực dồi dàothực hiện kỹ thuật hoàn hảo, áp dụng triệt để các kỹ, chiến thuật cho hợp lýtrong từng trận đấu.
Đạt được yêu cầu môn học cũng như các yêu cầu về kỹ thuật động tác lànhiệm vụ rất quan trọng đối với người tập Hệ thống kỹ thuật bóng rổ rất đadạng, phong phú được chia thành nhiều nhóm kỹ thuật, trong đó ở nhóm kỹthuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần là một trongnhững kỹ thuật quan trọng thể hiện ở hiệu quả mà kỹ thuật này đem lại trong cáctrận thi đấu
Qua một số giải bóng rổ được tổ chức hàng năm ở trong nước chúng tôinhận thấy các VĐV của ta đã vận dụng nhiều các kỹ thuật vào trong thi đấutrong đó kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần có
ưu điểm là làm cho VĐV ở đội tấn công nhanh chóng chiếm được vị trí gần rổ,thu hút được hàng phòng thủ của đối phương, tạo được khoảng trống cho đồngđội có điều kiện áp sát ném rổ và ghi điểm Do vậy ở các đội bóng có trình độcao nhiều VĐV đã sử dụng kỹ thuật này cần phải có được những bài tập, nhữngphương pháp tập luyện hợp lý là rất cần thiết, có như vậy mới mong đạt đượcmục đích đề ra trong quá trình tập luyện và thi đấu khi sử dụng kỹ thuật này
Qua tìm hiểu sách báo và tài liệu chuyên môn chúng tôi thấy đề tài này đã
có tác giả Lưu Thanh Nga SV K36 và một số tác giả đề cập tới, tuy nhiên đề tài
Trang 3chỉ áp dụng trên đối tượng là nam, với đối tượng là nữ chưa có tác giả nào đềcập tới vì kỹ thuật này với nữ thường khó thực hiện và hiệu quả lại thấp.
Xuất phát từ những ưu điểm và hạn chế của kỹ thuật này, nhằm nâng caohiệu quả trong tập luyện và thi đấu bóng rổ của nữ VĐV lứa tuổi 16 – 18 tỉnhBắc Giang, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện và đào tạo VĐV của tỉnhBắc Giang, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho nữ vận động viên bóng
rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang”.
Đối tượng nghiên cứu:
Bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự
ly trung bình và gần
Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng quan trắc: nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang
- Quy mô nghiên cứu:
+ Số lượng mẫu nghiên cứu: 14 nữ VĐV bóng rổ
+ Phạm vi không gian nghiên cứu: Sở TDTT tỉnh Bắc Giang, Trường ĐHTDTT Bắc Ninh - Từ Sơn - Bắc Ninh
+ Phạm vi thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từtháng 12/2009 đến tháng 6/2011 được chia làm 3 giai đoạn sau:
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Những cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Cơ sở tâm lý
Ở lứa tuổi 16 – 18 các em tỏ ra mình là người lớn, muốn để cho mọingười tôn trọng mình, có trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tíchtổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có hoài bão còn nhiều nhược điểm và thiếu kinhnghiệm sống
Lứa tuổi này chủ yếu hình thành thế giới quan tự ý thức, hình thành tínhcách và hướng về tương lai Đó cũng là tuổi lãng mạn, mơ ước độc đáo và mongcho cuộc sống tươi đẹp hơn Các em có nhu cầu sáng tạo, nảy nở những tìnhcảm mới và mối tình đầu thường để lại dấu vết trong suốt cuộc đời
Hứng thú: Đã phát triển rõ rệt và hoàn thiện mang tính chất bền vững sâu
sắc phong phú Hứng thú của các em rất năng động, sẵn sàng đi vào lĩnh vực mình
ưa thích do thái độ tự giác tích cực trong cuộc sống hình thành từ động cơ đúng đắn
và hướng tới việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi học xong THPT Tuy nhiên hứngthú của các em còn do nhiều động cơ khác: Giữ lời hứa với bạn, do hiếu thắng, đôikhi do tự ái Vì vậy các em cần được định hướng, xây dựng động cơ đúng đắn đểcác em có hứng thú trong học tập nói chung và trong GDTC nói riêng
Tình cảm: Tình cảm của các em đang đi đến hoàn thiện, biểu hiện ở
những nét yêu quý tôn trọng mọi người, cư xử đúng mực, biết kính trên nhườngdưới Tình cảm biểu lộ rõ nét hơn, các em gắn bó yêu quý mái trường, thầy cô,đặc biệt hơn là với các giáo viên, huấn luyện viên của các em (yêu, ghét rõràng), việc HLV gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một trong những thànhcông, điều đó thuận lợi trong giảng dạy, huấn luyện, nó thúc đẩy các em tích cực
tự giác trong tập luyện và ham mê TDTT
Trí nhớ: Lứa tuổi này các em hầu như không còn tồn tại ghi nhớ máy
móc vì các em đã tồn tại ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặtchẽ hơn Do đặc điểm trí nhớ của học sinh 16 – 18 tuổi khá tốt nên giáo viên cóthể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu sắc các
Trang 5chi tiết kỹ thuật động tác, vai trò, ý nghĩa cũng như phương pháp sử dụng cácbiện pháp, phương pháp trong quá trình GDTC để các em có thể độc lập trongthời gian dỗi.
Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyếnyên, làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữa hưng phấn và
ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực Đặc biệt ở các em
nữ tính nhịp điệu giảm sút nhanh chóng, khả năng chịu đựng lượng vận độngyếu Vì vậy giáo viên cần sử dụng các bài tập thích hợp và thường xuyên quansát phản ứng cơ thể học sinh để có biện pháp giải quyết kịp thời
Hệ vận động
- Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển Nữ cao thêm 0,5 – 1cm, namcao thêm 1 – 3 cm/mỗi năm Tập luyện TDTT một cách thường xuyên liên tụclàm cho bộ xương khoẻ mạnh hơn Lứa tuổi 16 – 18, các xương nhỏ như xương
cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một số động
Trang 6tác kỹ thuật khó khăn hơn, hoặc mang các vật nặng mà không làm tổn hại hoặckhông tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng,nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo Cho nên việc tiếp tụcbồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như: đi, chạy, nhảy…cho các em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ Riêng đối với các em nữ,xương xốp hơn các em nam, ống tuỷ rỗng hơn, chiều dài xương ngắn hơn, bắpthịt nhỏ hơn và yếu hơn, nên xương của nữ không khoẻ bằng nam Đặc biệt làxương chậu của nữ nhỏ và yếu Vì thế trong quá trình GDTC không thể sử dụng
có khối lượng vận động và cường độ vận động như nam mà phải có sự phù hợpvới đặc điểm giới tính
Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn còn
tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay)còn các cơ nhỏ (cơ bàn tay, ngón tay) phát triển chậm hơn Các cơ co pháttriển sớm hơn các cơ duỗi, các cơ duỗi của nữ lại càng yếu Đặc biệt vào tuổi
16 các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh, nên ảnh hưởng đến việcphát triển sức mạnh của cơ thể Nói chung cuối thời kỳ học sinh THCS và đầuthời kỳ THPT
Các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại
cơ đều được phát triển Nhưng tuy nhiên với nữ cần có yêu cầu riêng biệt, tính chấtđộng tác của nữ cần toàn diện mang tính mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo
Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn của các em đang phát triển và đi đến hoàn thiện Buồng timphát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nữ 75 – 85 lần/phút Hệ thốngđiều hoà vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh Phản ứng của hệ tuần hoàntrong vận động khá rõ rệt , nhưng sau vận động, mạch đập và huyết áp hồi phụctương đối nhanh chóng Cho nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập chạy vàdai sức và những bài tập có khối lượng vận động và cường độ vận động lớn cầnthận trọng và thường xuyên theo dõi trạng thái sức khoẻ của các em
Trang 7Hệ hô hấp
Đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực của nữ từ 69 – 74cm.Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 – 120cm2 gần bằng tuổi trưởng thành.Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng: lúc 15 tuổi từ 2 – 2,5 lít, đến 16 – 18tuổi khoảng 3 – 4 lít, tần số hô hấp gần giống người lớn 10 – 20 lần/phút
Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức có giãn của lồng ngực ít chủyếu là co giãn cơ hoành Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thở bằngngực Các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, việt dã có tác dụng tốt đến pháttriển hệ hô hấp
1.3 Cơ sở lý luận
GDTC là một mặt của quá trình giáo dục, nó là quá trình truyền thụ, tiếpthu kiến thức giữa người dạy và người học Quá trình giảng dạy các thao tác kỹthuật động tác là một quá trình giáo dục thể chất nó thể hiện ở việc xây dựng các
kỹ năng kỹ xảo vận động
Quá trình giảng dạy không chỉ làm cho người học nắm vững các kỹ thuậtđộng tác mà cần phải làm cho họ biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vànhững tình huống cụ thể để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và huấn luyện bóng
rổ là môn thể thao mang tính đối kháng trực tiếp, các kỹ thuật trong bóng rổthuộc loại không có chu kỳ luôn luôn biến đổi linh hoạt và rất phức tạp pháttriển các tố chất thể lực, đạo đức mà còn hình thành các kỹ năng kỹ xảo mànhững người tập luyện bóng rổ tiếp thu đến mức hoàn thiện
Vì vậy để quá trình giảng dạy và học tập đạt kết quả tốt chúng ta phải tuânthủ các nguyên tắc sau:
1.3.1 Nguyên tăc tự giác tích cực
Hiệu quả của quá trình giảng dạy, huấn luyện phụ thuộc phần lớn vào sự
tự giác tích cực của người học Tính tích cực tự giác phụ thuộc vào hoạt độnggắng sức nhằm hoàn thành các nhiệm vụ học tập, sự cố gắng tiếp thu những kỹnăng kỹ xảo vận động và những hiểu biết có liên quan
Vậy trong quá trình giảng dạy, huấn luyện, người thầy không chỉ giúp các
em hiểu đúng nhiệm vụ cần phải thực hiện mà còn phải biết khuyến khích, động
Trang 8viên biểu dương và đánh giá thành tích của các em để phát huy cao hơn nữa tinhthần tự giác tích cực của các em.
Trong bóng rổ tinh thần tự giác tích cực đối với quá trình học tập và thiđấu là rất cần thiết, ngay cả khi người học hiểu đúng nhiệm vụ nhưng không tựgiác tích cực và sự nỗ lực cố gắng của bản thân để giải quyết nhiệm vụ đó thì kếtquả đạt được sẽ không cao
Từ những yêu cầu của nguyên tắc này thì huấn luyện viên, giáo viên phải
tổ chức giờ học sao cho có thể giáo dục cho người tập có thái độ tự giác, sángtạo, tích cực và tự tập Ngoài ra cần phải cho các em biết tư duy về các bài tập,
từ đó sẽ tạo điều kiện để các em phát triển tư duy chiến thuật và hoàn thành kỹxảo phối hợp chiến thuật
1.3.2 Nguyên tắc trực quan
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì quá trình nhận thức củacon người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừutượng đến thực tiễn Vậy trực quan giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quátrình GDTC, vì trực quan là tiền đề để tiếp thu động tác, mà trực quan trongquá trình sư phạm là sử dụng thị giác và các cơ quan cảm thụ khác để tiếp xúctrực tiếp với xung quanh để người học hiểu và thực hiện được động tác đó.Những hiểu biết đó chính là biểu tượng vận động và khi đã có biểu tượng vậnđộng đúng thì người tập sẽ tiếp thu nội dung cần học nhanh hơn Nhờ tínhtrực quan trong giảng dạy mà người ta có thể tiếp nhận số lượng thông tin cầnthiết qua tranh ảnh, băng hình… làm cho các khái niệm trừu tượng trở nên cụthể hơn
Trực quan có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành biểu tượng vậnđộng nên nó được coi là tiền đề để tiếp thu kỹ thuật động tác Trong quá trìnhgiảng dạy người ta tiến hành theo hai cách:
+ Học động tác mới trên cơ sở đã tiếp thu động tác cũ
+ Sử dụng tổng hợp các hình thức trực quan khác nhau đặc biệt là làmmẫu các động tác cần học và tham khảo các tài liệu trực quan khác nhau
Trang 91.3.3 Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hoá
Nguyên tắc này đòi hỏi phải chú ý đến đặc điểm của người tập, đếnmức tác động của những nhiệm vụ đề ra cho họ Muốn đạt được kết quả caothì nhiệm vụ đặt ra phải vừa sức và tuỳ theo đối tượng tập luyện Nếu yêu cầubài tập quá cao, vượt quá khả năng của người tập sẽ làm cho họ chán nản,không tin tưởng và bản thân và làm mất đi sự hứng thú đối với tập luyện Mặtkhác nếu nhiệm vụ đặt qua quá nhẹ nhàng sẽ làm cho người tập thiếu tíchcực, thờ ơ và mất đi sự cố gắng dẫn đến kết quả tập luyện không được nhưmong muốn Trong bóng rổ cũng vậy, các bài tập phải được xây dựng sao chocác hình thức tập thể phối hợp hài hoà với các hình thức cá nhân Việcchuyên môn hoá vị trí cũng cần phải được phân tích kỹ lưỡng theo từng đặcđiểm cá nhân của người tập
1.3.4 Nguyên tắc hệ thống
Hệ thống có nghĩa là nhiều thành phần, bộ phận kết hợp với nhau theomột trình tự nhất định Hiệu quả của quá trình huận luyện phụ thuộc vào nộidung đó hay nói cách khác nguyên tắc hệ thống là nguyên tắc cơ bản trong quátrình dạy học Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung giảng dạy phải được sắp xếptheo một trình tự logic khoa học, số giờ học phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính,trình độ tập luyện của VĐV
Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, kéo theo sự phát triểncủa nền kinh tế và đời sống văn hoá tinh thần của con người cũng được nânglên Bởi vậy ở mỗi giai đoạn khác nhau thì kinh nghiệm về bản chất thi đấu vànhững động tác thay đổi chủ yếu khác nhau Từ đó hiệu quả thi đấu có liên quanđáng kể đến sự cải tiến nâng cao khả năng phối hợp vận động, hoàn thiện kỹchiến thuật chuyên môn
Nội dung của quá trình huấn luyện trong bóng rổ cũng phải được sắp xếpmột cách hợp lý, khoa học và phải đảm bảo:
+ Tính liên tục, luân phiên hợp lý giữa LVĐ với nghỉ ngơi
+ Tính lặp lại và biến dạng
Trang 10+ Tính tuần tự của các buổi tập và mối liên hệ lẫn nhau giữa các mặt khácnhau trong nội dung buổi tập.
1.3.5 Nguyên tắc tăng dần yêu cầu
Giáo dục thể chất không ngừng vận động và phát triển đồng thời thay đổi
từ buổi tập này sang buổi tập khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác Đểnâng cao thành tích thể thao, trong quá trình tập luyện phải không ngừng tăngyêu cầu tập luyện ngày càng cao và phức tạp hơn Tập luyện từ đơn giản đếnphức tạp, từ không có đối kháng đến có đối kháng, từ tập luyện cá nhân đến phốihợp toàn bộ Vì vậy các nhiệm vụ đặt ra cho người tập càng khó khăn và phứctạp hơn thông qua việc tăng từ từ khối lượng và cường độ vận động và mức độkhéo léo của bài tập Chú ý đổi mới có hệ thống khối lượng vận động để tránhLVĐ trở thành quen thuộc
+ Chọn các bài tập và tiến hành phức tạp hoá theo trình tự
+ Định hướng đúng đắn đối với các bài tập, chuyển đúng lúc sang biếnthể động tác phức tạp hơn, luân phiên có kế hoạch tập luyện và nghỉ ngơi
+ Kiểm tra thường xuyên những KNKX của người tập thông qua bài tập
và test kiểm tra đề ra các nhiệm vụ cho các giai đoạn tập luyện tiếp theo
1.4 Cơ sở thực tiễn
- Để có cơ sở thực tiễn của đề tài chúng tôi đã tiến hành quan sát và thu thập
số liệu ở “Giải vô địch các đội mạnh phía Bắc tháng 12/2009” tổ chức tại trường ĐHTDTT Bắc Ninh chúng tôi thấy kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự lytrung bình và gần được các VĐV ít sử dụng và nhưng đạt hiệu quả cao thể hiện ởbảng 1.1
Trang 11Bảng 1.1: Hiệu quả sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần tại giải "Giải vô địch
rổ ở cự ly trung bình và gần
Trang 12Qua bảng chúng tôi thấy kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự lytrung bình và gần được các đội sử dụng ít hơn, nhưng hiệu quả đạt được lại cao hơn
so với các kỹ thuật khác Trong toàn giải các đội đã sử dụng 1409 trên 10 trận,trong đó số lần thực hiện kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trungbình và gần là 168 lần chiếm 11,9% số lần thực hiện thành công là 98 lần đạt58,3% chiếm tỉ lệ cao nhất so với các kỹ thuật khác Tại chỗ ném rổ là 44%, tại chỗnhảy ném rổ là 43,8%, di động ném rổ là 40,5% và các loại kỹ thuật khác là 40,3%
Cụ thể ở các đội như sau:
* Đội PKKQ: Sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự lytrung bình và gần 35 lần chiếm 12,58% số lần ném rổ trong toàn giải trong đóthành công 21 lần chiếm 60%
* Đội ĐHHN: Sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự lytrung bình và gần 32 lần chiếm 11,11% số lần ném rổ trong toàn giải trong đóthành công 19 lần chiếm 59,4%
* Đội Aniat: Sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự lytrung bình và gần 37 lần chiếm 12,62% số lần nóm rổ trong toàn giải trong đóthành công 23 lần chiếm 62,2%
* Đội ĐHY HN: Sử dụng kỹ thuật qua người nhảy ném rổ ở cự ly trungbình và gần 30 lần chiếm 10,71% số lần ném rổ trong toàn giải trong đó thànhcông 18 lần chiếm 60%
* Đội ĐH TDTT Bắc Ninh: sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảyném rổ ở cự ly trung bình và gần 34lần chiếm 12,6% số lần ném rổ trong toàngiải trong đó thành công 17 lần chiếm 50%
Từ những kết quả trên cho ta thấy đây là một kỹ thuật rất quan trọng bởi ưuđiểm của kỹ thuật này hơn hẳn các kỹ thuật khác vì có thể đánh lừa được đốiphương và bật nhảy bất ngờ và kết thúc động tác ở trên cao nên đối phương khócản phá Con người Việt Nam tuy có tầm vóc nhỏ nhưng nhanh nhẹn, khéo léo
và linh hoạt… nên sử dụng kỹ thuật này là rất phù hợp và đạt hiệu quả cao trong thiđấu Vậy cần có các bài tập phong phú và đa dạng sử dụng hợp lý trong mọi tìnhhuông thi đấu để các đội mạnh dạn áp dụng trong quá trình tập luyện và thi đấuđặc biệt là đối với nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16-18 tỉnh Bắc Giang
Trang 13CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chính tôi sửdụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu
Mục đích của đề tài khi sử dụng phương pháp này là để thông qua các tàiliệu, sách chuyên môn cũng như thông tin khoa học có liên quan đến đề tài, từ
đó phát triển những thành tích đã đạt được, tìm hiểu các quy luật vận động vàphát triển những cái mới để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra
- Tài liệu chung gồm:
- Tài liệu chuyên môn gồm:
Trang 14giáo viên bóng rổ lâu năm có kinh nghiệm để từ đó xác định chắc chắn hơn nữaviệc lựa chọn mốt số bài tập cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trungbình gần góp phần nâng cao hiệu quả bài tập và thi đấu cho nữ VĐV lứa tuổi 16– 18 tỉnh Bắc Giang.
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Chúng tôi đã tiến hành quan sát các trận đấu tại giải vô địch các độimạnh phía Bắc tháng 12/2009, giải chuyên sâu bóng rổ trường ĐH TDTT BắcNinh và tại các trung tâm TDTT của các tỉnh,thành phố nhằm thu thập số liệu
để đánh giá có hiệu quả của kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự
ly trung bình và gần cũng như những mặt còn hạn chế của kỹ thuật này Đồngthời qua quan sát các buổi tập của nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh BắcGiang nhằm tìm ra những điểm mạnh, yếu trong quá trình tập luyện cũng nhưtrong nội dung, hình thức các bài tập ném rổ Trên cơ sở đó lựa chọn ranhững bài tập để nâng cao hiệu quả kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném
rổ ở cự ly trung bình và gần
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để kiểm nghiệm và đánh giá hiệuquả ứng dụng các bài tập đã được lựa chọn vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệuquả tập luyện và thi đấu
Sau khi nghiên cứu lựa chọn được các bài tập chúng tôi tiến hành thựcnghiệm trên 14 nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang, chia ngẫunhiên thành 2 nhóm, mỗi nhóm 7 em
Nhóm A: Là nhóm thực nghiệm, tập theo hệ thống các bài tập do chúngtôi đã lựa chọn
Nhóm B: Là nhóm đối chiếu, tập theo những bài tập cũ vẫn thường tập
Trang 152.1.5 Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp này được sử dụng để xử lý số liệu thu thập được trong quátrình khảo sát thực trạng việc sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ
ở cự ly trung bình và gần Đồng thời kiểm nghiệm tính hiệu quả của hệ thốngbài tập đã lựa chọn cho đối tượng thực nghiệm Các tham số được sử dụng trong
2 ) (
) (
B B A
A c
n n
x x x
B A
n n
x x
2 2
) )(
(
y y x
x
y y x x
i i
i i
2.2 Tổ chức nghiên cứu
BẮT ĐẦU
THỜI GIAN KẾT THÚC
1
Đọc tài liệu tham khảo, xác định đề tài ,
xây dựng và báo cáo đề cương Viết
Hoàn thiện đề tài và bảo vệ trước hội
đồng khoa học của nhà trường 3/2011 6/2011
2.3 Trang thiết bị nghiên cứu
Để tiến hành thực nghiệm cần có sân bóng rổ đủ tiêu chuẩn, bóng, đồng
hồ tính thời gian, còi
Trang 16CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang
3.1.1 Thực trạng hiệu quả sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném
rổ ở cự ly trung bình và gần cho nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang.
Để nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng hiệu quả sử dụng kỹ thuật cầm bóngqua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho nữ VĐV lứa tuổi 16-18tỉnh Bắc Giang Chúng tôi tiến hành quan sát các buổi tập luyện và giao lưu giữacác địa phương tại các trung tâm huấn luyện như: Quảng Ninh, Hà Nội, CaoBằng…
Qua quan sát trận thi đấu giao hữu giữa hai đội tuyển nữ Quảng Ninh vàBắc Giang chúng tôi thu được số liệu về hiệu quả sử dụng kỹ thuật cầm bóngqua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần trong thi đấu Kết quả quan sátđược trình bày ở bảng 3.1
Trang 17Bảng 3.1:Thực trạng hiệu quả sử dụng kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần trong thi
đấu giao hữu đội tuyển nữ Quảng Ninh và Bắc Giang Loại kỹ
thuật
Tên đội
Tổng
số lần ném rổ
Nhảy ném rổ
Di động ném rổ Các loại kỹ thuật
khác Tại chỗ nhảy ném rổ
Cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần Số
lần
Thành
Số lần
Thành
Số lần
Thành
Số lần
Thành công %
Trang 18Nhận xét:
Qua bảng 3.1 chúng tôi thấy hiệu quả sử dụng kỹ thuật cầm bóng quangười nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần ở cả hai đội đều cao hơn hẳn so vớicác kỹ thuật khác Tuy nhiên đội tuyển nữ Bắc Giang (39.3%) đạt hiệu quả thấphơn hẳn đội tuyển nữ Quảng Ninh (64.5%)
Từ kết quả trên cho thấy Vì vậy cần phải có hệ thống một số bài tập để nângcao hiệu quả kỹ thuật này cho đội tuyển nữ VĐV lứa tuổi 16-18 tỉnh Bắc Giang
3.1.2 Thực trạng sử dụng bài tập cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang.
Qua phân tích giáo án huấn luyện và quan sát thực tế tập luyện của nữVĐV bóng rổ tỉnh Bắc Giang,đề tài nhận thấy bài tập thường sử dụng để nângcao kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho đốitượng nghiên cứu gồm có:
- Thực hiện dẫn bóng 2 bước nhảy dừng ném rổ (10 lần)
- Tại chỗ nhảy ném rổ tại nhiều vị trí (20 lần)
- Cầm bóng thực hiện bước thuận, bước chéo nhảy ném rổ (20 lần)
- Dẫn bóng đột phá qua người nhảy ném rổ (10 lần)
- Các bài tập áp dụng cho huấn luyện kỹ thuật ném rổ nói chung và kỹthuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho đối tượngnghiên cứu nói riêng còn nghèo nàn, dẫn đến sự đơn điệu trong huấn luyện chưaphát huy được tính tích cực, chủ động của các em
- Hình thức tập luyện chưa đa dạng, phong phú, chưa tạo được hưng phấncho các em trong tập luyện
Trang 193.2 Lựa chọn bài tập và đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang.
3.2.1 Lựa chọn các bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho nữ VĐV lứa tuổi 16 – 18 Bắc Giang Lựa chọn các bài tập trong huấn luyện kỹ thuật, chúng tôi căn cứ vào:
- Trình độ thực tế của đối tượng tập luyện, cụ thể là nữ VĐV lứa tuổi 16 –
18 tỉnh Bắc Giang
- Trình độ của HLV
- Cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ
- Thời gian, kinh phí cho quá trình tập luyện
- Dựa trên kết quả phỏng vấn các chuyên gia, các HLV, các giáo viên lâunăm để giải quyết nhiệm vụ này chúng tôi đã nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sởthực tiễn, các tài liệu chuyên môn kết hợp với phương pháp trao đổi phỏng vấncác chuyên gia, các giáo viên, HLV Chúng tôi đã đưa ra một số bài tập để thamkhảo, lựa chọn ra những bài tập phù hợp để đem lại hiệu quả cao trong huấnluyện kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho
nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16-18 tinh Bắc Giang
Đồng thời qua tham khảo giáo án huấn luyện của các huấn luyện viên ,các chuyên gia của một sổ CLB,các đội tuyển mạnh đã có nhiều thành tích trongthi đấu khác thì ngoài những bài tập như chúng tôi nêu trên còn một số bài tậpkhác như :
+ Bài tập dẫn bóng quay người 3600 nhảy ném rổ
+ Bài tập cầm bóng giả bước chéo, bước thuận nhảy ném rổ
+ Bài tập đột phá qua người nhảy ném rổ
+ Thi đấu
Và một số bài tập khác
Từ đó chúng tôi đưa ra 18 bài tập và tiến hành phỏng vấn 15 chuyên gia, giáoviên, HLV kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 3.2
Trang 20Bảng3.2:Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần(n=15)
T
Kết quả Phỏng vấn Số
phiếu phát ra
Số phiếu thu về
Số phiếu tán thành
Tỷ lệ (%)
3 Chân đạp đất, nghiên vai, ngả thân 15 15 13 90
4 Tại chỗ nhảy ném rổ ở các cự ly trung
14 Nhận bóng giả đột phá bước thuận,
bước chéo qua người nhảy ném rổ 15 15 14 93
15 Chạy biến hướng nhận bóng nhảy ném rổ 15 15 11 73
* Các bài tập đó là
Trang 211 Bài tập di chuyển không bóng
2 Bài tập chân đạp đất nghiêng vai, ngả thân
3 Bài tập tại chỗ nhảy ném rổ ở các cự ly trung bình và gần
4 Bài tập dẫn bóng quay người 3600 đột phá ném rổ
5 Bài tập đột phá ném rổ
6 Bài tập nhận giả đột phá bước thuận, bước chéo qua người nhảy ném rổ
7 Bài tập thi đấu
Chúng tôi sử dụng 1 số ký tự chuyên môn khi trình bày cụ thể các bài tậpnhư sau:
Nội dung: Di chuyển ngang, dọc, tiến, lùi
Chạy tốc độ, biến hướng
Hình thức tập: Tập trung thành một hàng dọc, đứng cuối sân thực hiện từđầu đến cuối hàng, thực hiện bài tập theo tín hiệu của HLV Thực hiện 2 tổ, mỗi
tổ 10 phút (hình 1)
Trang 22
(hình 1)
H.1 Bài tập 2: Bài tập chân đạp đất, nghiêng vai, ngả thân
Mục đích: Hình thành kỹ thuật động tác cơ bản
Yêu cầu: Thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên
Nội dung: Tập chân đạp đất
Tập chân đạp đất kết hợp với nghiêng vaiTập toàn bộ động tác
Hình thức tập: Chia học sinh đứng thành 2 hàng ngang theo sân mỗi hàngcách nhau 3m, cự ly giãn cách 2 người cùng hàng là 1m, thực hiện lần lượt cácnội dung trên, mỗi hàng từ 6 – 7 lần (hình 2)
H.2
Trang 233 Bài tập 3: Bài tập tại chỗ nhảy ném rổ ở các cự ly trung bình và gần
Mục đích: Tạo cảm giác nhảy ném rổ ở các cự ly khác nhau, cảm giác vềkhông gian
Yêu cầu: Học sinh thực hiện động tác nhảy ném rổ đúng kỹ thuật khônglao người về phía trước
Nội dung: Dẫn bóng 1 nhịp, bắt bóng nhảy ném rổ ở các cự ly trong khuvực 3 điểm, đánh dấu các vị trí nhảy
Hình thức tập: Xếp thành hàng dọc lần lượt thực hiện nhảy ném rổ ở các
cự ly 10 phút thì đổi người
H.3
4 Bài tập 4: Bài tập dẫn bóng quay người 360 0 đột phá nhảy ném rổ
Mục đích Giúp học sinh nâng cao khả năng phối hợp giữa kỹ thuật dẫnbóng và ném rổ
Yêu cầu: Khi dẫn bóng và quay người VĐV hạ thấp trọng tâm để tạo điềukiện thuận lợi cho việc thực hiện các động tác kế tiếp
Nội dung: Dẫn bóng quay 3600 đột phá ném rổ
Hình thức tập: xác định sẵn 3 vị trí tạo thành 1 tam giác, trong mỗi vị trí
có 1 người phòng thủ Các cầu thủ tấn công mỗi người một bóng, khi dẫn đếncho có người phòng thủ thì làm động tác thay đổi tay dẫn quay người 3600 độtphá ném rổ
Tập ở 3 vị trí (bên phải, bên trái, ở giữa) sau mỗi lần các VĐV đổi chỗcho nhau
Trang 245 Bài tập 5: Bài tập đột phá ném rổ
Mục đích: Hình thành biểu tượng cơ bản của kỹ thuật đột phá ném rổ
Yêu cầu: VĐV thực hiện động tác nhanh, chính xác
Nội dung: Đột phá không bóng
+ Hình thức tập: 2 người tập với nhau, một phòng thủ, 1 tấn công
+ Tư thế chuẩn bị: Hai tay để trước ngực làm động tác giả ném rổ sau đó làmđộng tác đột phá qua người Mỗi người thực hiện 4 đến 5 lần bằng đột phá bướcthuận và bước chéo sau đó đổi chỗ cho nhau
- Đột phá bước thuận, bước chéo
Trang 25Yêu cầu: VĐV thực hiện động tác giả không được nhanh quá và khichuyển sang bước chéo qua người phải nhanh, dứt khoát động tác kết thúc phảichuẩn xác.
Hình thức tập: Cho VĐV xếp thành hàng dọc ở giữa sân từng em mộtchay đến vị trí có bóng, nhận bóng và thực hiện động tác
Nội dung: - Giả đột phá bước thuận qua người nhảy ném rổ
- Giả đột phá bước chéo qua người nhảy ném rổ
H.6
7 Bài tập thi đấu
Mục đích: Giúp học sinh vận dụng những kỹ thuật đã học vào thi đấu.Yêu cầu: Thi đấu nhiệt tình, các vận động viên chỉ được kết thúc rổ khi đã
sử dụng kỹ thuật đột phá cầm bóng qua người nhảy ném rổ
Nội dung:
- Thi đấu ½ sân, 2 đấu 2, 3 đấu 3 trong 2 hiệp mỗi hiệp 5 phút
- Thi đấu trên toàn sân: 5 đấu 5 trong 2 hiệp, mỗi hiệp 10 phút
H.7
Trang 263.3.2 Đánh giá hiệu quả một số bài tập đã lựa chọn cho nữ VĐV bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang.
Để đánh giá hiệu quả các bài tập đột phá qua người nhảy ném rổ đã lựachọn, chúng tôi tiến hành thực nghiệm giảng dạy cho 14 nữ VĐV bóng rổ lứatuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang Đối tượng thực nghiệm được chia làm 2 nhóm
- Nhóm A: Nhóm thực nghiệm gồm 7 VĐV tập những bài tập do chúngtôi đã lựa chọn
- Nhóm B: Nhóm đối chiếu gồm 7 VĐV tập theo những bài tập cũ
3.2.2.1 Thời gian thực nghiệm
Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trong 5 tháng từ tháng 9/2010 đếntháng 2/2011 Mỗi tuần chúng tôi tổ chức tập luyện 4 buổi, mỗi buổi 30 phút
3.2.2.2 Tổ chức thực nghiệm.
Để đảm bảo chính xác hiệu quả thực nghiệm, trước khi bước vào tậpluyện chúng tôi tiến hành kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng qua
đó so sánh thành tích ném rổ của 2 nhóm
Ở giao điểm đầu thông qua cá test kiểm tra
Để lựa chọn được các test,nội dung kiểm tra phù hợp đáng tin cậy chúng tôitiến hành phỏng vấn 20 các giáo viên, huấn luyện viên có kinh nghiệm Kết quảphỏng vấn được trình bày ở bảng
Bảng 3.3: Kết quả phỏng vấn các tets kiểm tra đánh giá hiệu quả kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần (n=20)
STT Nội dụng test
Số phiếu phát
Thu về
Kết quả phỏng vấn
Số phiếu tán thành % 1
Nhận bóng qua người nhảy
Trang 27cự ly trung bình và gần cho nữ vận động viên bóng rổ lứa tuổi trung bình và gầncho nữ vận động viên bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang.
Đồng thời các test được lựa chọn phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Các test phải đặc trưng cho đặc điểm vận động bóng rổ, phải đánh giáđược kỹ thuật cầm bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần cho
nữ vận động viên bóng rổ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Bắc Giang
+ Các test phải đảm bảo các yêu cầu về test
Các test đó là:
Test 1: Nhận bóng qua người nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần
Test 2: Cầm bóng đột phá nhảy ném rổ ở cự ly trung bình và gần
Test 3: Thi đấu
* Đánh giá kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (nA =nB =7)
Để đánh giá một cách khách quan chính xác trình độ của 2 nhóm, chúngtôi tiến hành kiểm tra toàn bộ số sinh viên tham gia thực nghiệm bằng 3 test đãlựa chọn ở trên Sau khi kiểm tra trước thực nghiệm kết quả thu được chúng tôitrình bày ở 3.5 và 3.6
Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (n A = n B =7)