1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM 06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi

50 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 16,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tần số và bước bơi là hai nhân tố tạo nên tốc độ, các yếu tố này lại bị chi phối bởi các đặc điểm cá nhân như: Thể hình, lứa tuổi, giới tính, trình độ thể lực, mức độ hoàn thiện kỹ thuật

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước ta hiện nay, cùng với các ngành nghề khác trong xã hội thể dục thể thao (TDTT ) đã có những bước đột phá vượt bậc với những thành công lớn trên đấu trường khu vực và thế giới Các hoạt động thể thao ngày càng trở thành nhu cầu của đông đảo quần chúng, là hình thức nghỉ ngơi giải trí và là phương tiện hữu hiệu để thực thi chính sách kinh tế, văn hóa, chính trị và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới

Trong hệ thống các môn thể thao bơi lội là một môn thể thao quan trọng với lịch sử phát triển khoảng 5000 năm Đối với con người nó không chỉ có ý nghĩa thực dụng là: Mang lại sức khỏe, phát triển thể chất, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, nâng cao năng suất lao động…Đối với xã hội bơi lội có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một môn thể thao cơ bản trong các kỳ đại hội Olympic, đại hội thể thao châu lục và trong khu vực

Hiện nay thành tích bơi lội Việt Nam đã có tiến bộ, chúng ta đã đạt được những huy chương vàng tại các kỳ SEGAMES tuy nhiên thành tích so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn còn thua kém Để thoát khỏi tình trạng tụt hậu và chậm phát triển của môn bơi hiện nay có nhiều vấn đề cần giải quyết

Thành tích bơi được chi phối bởi nhiều nhân tố: Kỹ thuật, chiến thuật, thể lực

và tâm lý Tần số và bước bơi là hai nhân tố tạo nên tốc độ, các yếu tố này lại bị chi phối bởi các đặc điểm cá nhân như: Thể hình, lứa tuổi, giới tính, trình độ thể lực, mức độ hoàn thiện kỹ thuật…

Qua quan sát các giờ học của sinh viên chuyên sâu bơi chúng tôi nhận thấy tần

số của nữ sinh viên chuyên sâu bơi thấp đã ảnh hưởng không nhỏ tới thành tích bơi Qua tham khảo tài liệu chúng tôi thấy đã có một số công trình nghiên cứu về tần số bơi như của các tác giả: Mai Chấn Diệu (1986), Ngô Xuân Viện (1996), Vũ Thu Hương (1998)… năm 2011 cũng đã có nhóm sinh viên K44 nghiên cứu ứng dụng dụng cụ TSM- 06 nhằm nâng cao tần số và bước bơi cho sinh viên chuyên

Trang 2

sâu Tuy nhiên để ứng dụng có hiệu quả dụng cụ cần có những nghiên cứu với nhiều đối tượng khác nhau với các bài tập có những hướng tác động khác nhau Từ

những lý do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM- 06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi ”

* Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là lựa chọn được những bài tập phát triển tần số có hiệu quả với dụng cụ TSM- 06 nhằm nâng cao tần số từ đó góp phần nâng cao thành tích bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu

* Mục tiêu nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đề ra đề tài đặt ra những mục tiêu cụ thể như sau:

- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng việc sử dụng bài tập nhằm nâng cao tần số

cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi

- Mục tiêu 2: Lựa chọn bài tập và ứng dụng với dụng cụ TSM- 06 nhằm nâng

cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu

* Đối tượng nghiên cứu

- Bài tập với dụng cụ TSM – 06 nhằm nâng cao tần số cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi

* Phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng quan sát và thực nghiệm:

Nữ sinh viên chuyên sâu bơi các khoá 43, 44, 45

- Địa điểm nghiên cứu:

Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN THÀNH TÍCH BƠI

Thành tích bơi, kỷ lục thể thao là mục tiêu cuối cùng của huấn luyện thể thao(HLTT ) Quá trình huấn luyện thể thao (HLTT) là quá trình HL lâu dài, qua nhiều giai đoạn, vì vậy cần phải được kế hoạch hóa một cách chặt chẽ Huấn luyện (HL) thể thao là một dạng hoạt động đặc biệt, đối tượng tác động trước hết là con người

Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển ngày càng cao các năng lực thể chất của con người là quá trình sử dụng các biện pháp, phương pháp tập luyện chuyên biệt để giúp con người có khả năng phát huy tối đa các năng lực thể chất của mình

HL là quá trình thích ứng của cơ thể với kích thích của lượng vận động (LVĐ),

là quá trình phát triển hết mức các năng lực vận động của cơ thể Để đạt được điều

đó cần phải lựa chọn một cách chính xác những phương pháp, biện pháp HL mang lại hiệu quả cao nhất Bơi lội là môn thể thao mang tính chu kỳ, theo đánh giá của Craig và Pendergast (1979): Bơi lội cũng như các phương pháp di động khác, bao hàm sự dùng sức gián đoạn dễ dẫn đến sự chuyển động Trong tất cả các kiểu bơi được sử dụng trong bơi lội, tốc độ trung bình (V) là sản phẩm của tần số động tác (SR = số động tác/phút) và khoảng cách di chuyển trong nước mỗi chu kỳ động tác hoàn chỉnh (DS = khoảng cách /động tác)

Trang 4

gian hoàn thành cự ly bơi lâu hơn nhiều so với trên cạn, cự ly thi đấu chính thức 50m cũng đòi hỏi thời gian hoàn thành lâu hơn chạy 200m

(kỷ lục 50m tự do nam là 22s) Chính vì vậy VĐV bơi không bao giờ sử dụng sức mạnh với công suất tối đa (trừ động tác xuất phát và quay vòng)

Mỗi môn thể thao, mỗi cự ly thi đấu lại đòi hỏi những mức độ phát triển khác nhau của các tố chất vận động Cùng là vận động viên (VĐV) bơi nhưng các tố chất sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ linh hoạt khéo léo của từng kiểu bơi, từng cự ly lại giữ những vai trò quan trọng khác nhau Trình độ phát triển thể lực, đặc biệt là năng lực thể lực có ý nghĩa rất lớn đối với việc đạt thành tích thể thao

Trong mỗi giai đoạn HL, nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra có thể khác nhau song cái đích cuối cùng của quá trình HL chính là thành tích thể thao và sức khỏe của người tập Để đạt thành tích thể thao mang tầm cỡ khu vực hoặc thế giới ngày nay ngoài việc tuyển chọn đúng người có tố chất thể thao còn cần có quá trình tập luyện thật hiệu quả Muốn vậy trước hết cần phải sớm chuyên môn hóa về cự ly, kiểu bơi và phải có những hướng phát triển các tố chất thể lực mang tính chuyên biệt

Muốn nâng cao hiệu quả HL thì việc đánh giá năng lực vận động, mức độ phát triển của nó là điều hết sức cần thiết Tuy nhiên bất cứ kiểu bơi nào và cự ly nào thì thành tích bơi trước hết cũng phụ thuộc cả vào các yếu tố nào là điều phải xem xét trước hết Theo các tác giả Phtonov thì thành tích bơi phụ thuộc vào các yếu tố:

- Mức độ hoàn thiện kỹ thuật bơi

- Trình độ phát triển thể lực, đặc biệt là sức mạnh bền và sức mạnh tốc độ

- Trình độ hoàn thiện chiến thuật

- Sự nỗ lực ý chí

- Những hiểu biết về bơi lội

Theo đánh giá trên thì vai trò chủ yếu là các tố chất thể lực và khả năng phát huy chúng khi bơi nhờ kỹ thuật phù hợp và hoàn thiện

Trang 5

Những tổng kết của các tác giả O.L.Costtil, E.W.Magjischo và A.B.Richardson

cho thấy sức mạnh là yếu tố quyết định chủ yếu đến thành công trong các cự ly bơi

từ 50m đến 100m

Nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận: Để đạt được thành tích ở một môn thể thao nào đó phải có một loại hình cấu tạo cơ thể tương ứng TANER (1959); GRIM.(1967); MACTIRÔXÔP(1967) bởi vì nhiều chỉ số hầu như không chịu tác động của tập luyện HAMNOND (1953) NEWMAN PREEMEN, HOLZINGR (1973) …nhiều chỉ số hình thái, chức năng của VĐV bơi có mối tương quan chặt chẽ tới thành tích, tuy nhiên phần lớn chúng chỉ là các chỉ số mang tính bảo thủ, ít chịu sự tác động của tập luyện và do vậy chúng chỉ có ý nghĩa lớn trong tuyển chọn

Trình độ tập luyện thể hiện ở kết quả cuối cùng là thành tích, mà thành tích được quy định bởi một tổng hợp các năng lực TELOP (1961); KRUTEXKI (1968) Nói cách khác, thành tích cao ở mỗi cự ly của VĐV khác nhau có thể bằng nhau, song lại là sự kết hợp của những năng lực khác điều đặc biệt quan trọng là biết được những năng lực có ý nghĩa mấu chốt quy định thành tích trong mỗi hoạt động Khả năng phát huy các năng lực vận động trong mỗi hoạt động cụ thể phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật và chiến thuật Kỹ thuật càng hoàn thiện thì khả năng phát huy các năng lực càng cao và tiết kiệm Chiến thuật có vai trò lớn khi trình độ tập luyện ở mức cao, cảm giác chuyên môn về tốc độ, nhịp điệu dùng sức và trạng thái tâm lý đã ở mức tương đối ổn định; vai trò của chiến thuật phụ thuộc vào trình

độ tập luyện Bơi lội cũng như các môn thể thao có chu kỳ khác, thành tích bơi phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật song khi mức độ hoàn thiện kỹ thuật cao và ổn định thì thành tích phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phát triển các tố chất thể lực

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về những yếu tố quyết định nên thành tích bơi, song có thể rút ra một số kết luận như sau:

Trang 6

- Thành tích bơi trên một cự ly nào đó phụ thuộc trước hết vào kỹ thuật và trình

độ thể lực Những yếu tố khác có vai trò nhỏ hơn đối với thành tích; điều này có thể

dễ dàng nhận thấy khi VĐV bơi trên các cự ly thi đấu khác nhau đặt được những thành tích ở các trình độ khác nhau Rõ ràng thành tích ở mỗi cự ly đòi hỏi những mức độ phát triển của các tố chất thể lực khác nhau của mỗi VĐV Sự khác biệt về thành tích của VĐV trên các cự ly thi đấu khác nhau cho thấy: Không phải kỹ thuật, các yếu tố về hình thái và chức năng mà chính là mức độ phát triển của các tố chất thể lực chuyên môn quyết định thành tích

- Tất cả các năng lực vận động, mức độ hoàn thiện chúng, các đặc tính cá nhân

về thủy động học, kỹ thuật cuối cùng đều đưa đến kết quả là thành tích bơi Thành tích bơi chủ yếu được cấu thành bởi tần số và bước bơi Tốc độ bơi trên một cự ly nào đó có thể ổn định nhưng có thể chênh lệch giữa các đoạn của cự ly Sự chênh lệch tốc độ trên các đoạn của mỗi cự ly có thể nhiều hay ít, nhưng tần số và bước bơi có thể biến động Để đạt cùng một tốc độ bơi trên đoạn cự ly nào đó có nhiều phương án thay đổi khác nhau của tần số và bước bơi Thay đổi tần số hay thay đổi bước bơi để đạt được một tốc độ phụ thuộc vào khả năng hoạt động riêng của mỗi người mà mức độ phát triển các tố chất thể lực quyết định Sức nhanh, sức mạnh, sức bền là các tố chất vận động riêng lẻ, song chúng không có biểu thị riêng tuyệt đối mà chúng luôn biểu thị trong mối tương tác lẫn nhau Thành tích bơi phụ thuộc rất lớn vào mức độ phát trển của các tố chất thể lực và chúng được biểu hiện ở mức cuối cùng trong mối quan hệ của tần số, bước bơi và tốc độ

Tóm lại: Thành tích bơi cự ly ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng yếu tố mang tính quyết định là sức mạnh và sức mạnh bền Sự biểu hiện của các tố chất vận động, mức độ hoàn thiện kỹ thuật, chiến thuật đều biểu hiện ở kết quả cuối cùng ở thành tích bơi của một cự ly Tần số và bước bơi là hai yếu tố chủ yếu cấu thành nên thành tích bơi Những chỉ số này có thể quan sát và chúng thể hiện những năng lực khác nhau của khả năng phát huy các tố chất vận động

Trang 7

1.2 TẦN SỐ VÀ BƯỚC BƠI, NHỮNG NHÂN TỐ TẠO NÊN THÀNH TÍCH

Cũng như các môn thể thao có chu kỳ khác, thành tích bơi trên một cự ly phụ thuộc chủ yếu vào tần số và bước bơi Trong thi đấu giữa những đối thủ cùng trình

độ thì sự thắng thua có thể do nhiều yếu tố khác nhau Nghiên cứu về hoạt động thi đấu của VĐV bơi lội trình độ thế giới Epghªnhi Lifxki (1988) đã cho thấy bất cứ

cự ly thi đấu nào cũng có thể chia ra thành các đoạn nhỏ để nghiên cứu phân tích thành các giai đoạn như sau: Xuất phát, bơi giữa cự ly, trước quay vòng và sau quay vòng, về đích Đối với VĐV trình độ cao, thành tích ổn định trong các cuộc thi đấu với những đối thủ đồng đều về trình độ thì sự thắng thua có thể chỉ do việc thực hiện tốt hay không tốt một đoạn nào đó của cự ly Vấn đề chúng tôi muốn đề cập không phải là sự thắng thua trong thi đấu mà là trình độ hay thành tích trên một

cự ly của VĐV trước hết và chủ yếu là do cái gì? Mặc dù thật dễ hiểu và nhận biết

là thành tích bơi trên một cự ly là tích của tần số và bước bơi, song mối quan hệ giữa chúng như thế nào để tạo nên thành tích khác nhau Thành tích càng cao thì đòi hỏi tần số và bước bơi càng cao, nhưng thực tế có sự khác biệt về tỷ lệ tần số và bươc bơi ở cùng một trình độ Ngay cả ở những VĐV cấp cao để đạt cùng một thành tích, nhưng mỗi VĐV lại có những đặc điểm riêng về mối quan hệ giữa tần

số và bước bơi Đối với VĐV mới tập bơi hay trình độ thấp thì sự khác biệt không nhiều Ngay cùng một VĐV, trên cùng một giai đoạn HL mặc dù không có sự cải thiện về kỹ thuật, trình độ thể lực nhưng chỉ cần thay đổi về mối quan hệ giữa tần

số và bước bơi thì thành tích sẽ thay đổi

Vậy giữa tần số và bước bơi yếu tố nào quan trọng hơn hay quyết định hơn đối với thành tích? Thật khó có thể nói rằng cái nào quan trọng hơn cái nào, và có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập vấn đề này

Vấn đề đặt ra là: cái gì ảnh hưởng đến tần số và bước bơi của VĐV? Và ngược lại tần số và bước bơi biểu hiện cái gì? Khi nói đến tần số động tác tức là chúng ta nói đến khả năng của sức nhanh, tần số là đặc tính của sức nhanh, còn bước bơi,

Trang 8

khoảng cách mà cơ thể tiến về phía trước sau mỗi chu kỳ là do đâu? Mọi người đều biết để tiến về phía trước khi bơi là do các hoạt động của tay và chân là chính Muốn bơi được phải có các hoạt động dùng sức Mỗi kiểu bơi lại có cách dùng sức khác nhau để tạo lực tiến Cơ sở của việc phát huy sức mạnh chính là kỹ thuật bơi,

kỹ thuật bơi càng tốt, càng hoàn thiện thì sức lực mà con người bỏ ra càng cao, càng hiệu quả hay nói cách khác kỹ thuật hoàn thiện thì khả năng phát huy và hiệu quả phát huy lực càng cao Nhưng đó chỉ là ở một chu kỳ còn để hoàn thiện ở cự ly 50m thì phải bơi ít nhất 20 chu kỳ trở lên, những cự ly dài hơn thì phải sử dụng hàng trăm chu kỳ, vậy điều gì làm cho bước bơi thay đổi trong phạm vi là thời gian bơi của VĐV.Khi đề cập đến những vấn đề trên, chúng tôi thấy tần số và bước bơi

có liên quan đến nhiều yếu tố như: Kỹ thuât bơi, chiến thuật và trình độ thể lực chuyên môn Nếu xét riêng tần số hoặc bước bơi thì chúng có mối quan hệ chặt chẽ vơi nhau Nhưng cả tần số và bước bơi đều phụ thuộc vào kỹ thuật, chiến thuật, các đặc điểm cá nhân về giải phẫu sinh lý và điều không thể thiếu đó là yếu tố thể lực Chúng ta hãy xem xét từng vấn đề, những ảnh hưởng của nó đến tần số bơi

1.1.1 Kỹ thuật bơi:

Đối với cùng một VĐV khi kỹ thuật bơi hoàn thiện ngày một tốt hơn thì hiệu quả của các hoạt động dùng sức sẽ tốt hơn Hiệu quả của các hoạt động dùng sức biểu hiện trước hết ở bước bơi Cùng một người với những năng lực vận động chung đã có sẵn, kỹ thuật bơi đúng hơn sẽ cho một hiệu quả phát huy các năng lực vận động tốt hơn Tính hiệu quả thể hiện ở khả năng phát huy cao hay thấp của các năng lực vận động, tính tiết kiệm của từng động tác và thành tích trên một cự

ly Kỹ thuật bơi của một kiểu bơi bất kỳ đều nhằm mục đích là giảm lực cản nhiều nhất và tăng lực tiến Lực cản khi bơi lại có tỷ lệ bình phương với tốc độ bơi nên giảm lực cản có vẻ lệ thuộc chủ yếu đến chiến thuật (khả năng phân phối tốc độ trên đoạn bơi khác nhau) Tuy vậy, kỹ thuật bơi ngoài việc giảm lực cản còn phải dùng sức ra sao để tăng lực tiến một cách tiết kiệm nhất Khi đề cập đến lực đẩy

Trang 9

và lực cản trong bơi các tác giả Mỹ đã nêu ra: hiệu xuất được ra tăng do năng lực của VĐV sản sinh ra lực đẩy và giảm lực cản của nước trong chuyển động về trước của họ Kỹ thuật bơi thể thao trước hết do luật thi đấu quy định, căn cứ vào luật bơi, kỹ thuật bơi phải hướng tới mục đích tạo công xuất cao nhất trong điều kiện luật cho phép Mỗi kiểu bơi, mỗi cự ly thi đấu lại có những kỹ thuật bơi riêng biệt, ngay cùng một VĐV với cùng một kỹ thuật của một kiểu bơi nào đó nhưng ở những cự ly khác nhau thì kỹ thuật đó có sự thay đổi Theo E.LIFXKI kỹ thuật bơi của một VĐV, cùng một kiểu bơi và trên một cự ly thi đấu không phải luôn hoàn toàn cố định kỹ thuật hoàn toàn hợp lý chỉ tồn tại trên một đoạn của cự ly Nhìn bề ngoài kỹ thuật bơi của VĐV trên một cự ly không có sự thay đổi, nhưng thực tế là có sự thay đổi nhưng không nhiều Sự thay đổi tốc độ bơi trên một cự ly dẫn đến sự thay đổi về tần số và bước bơi (hoặc ngược lại sự thay đổi về tần số và bước bơi sẽ làm thay đổi tốc độ) và như vậy kỹ thuật tốt nhất, hợp lý nhất không thể còn giữ nguyên.

Mục đích của kỹ thuật là hướng tới việc giảm lực cản của nước và tăng lực đẩy, gắn với mục đích đó là tính hiệu quả của việc dùng sức Hiệu quả của các động tác dùng sức chủ yếu (quạt tay, đập chân) phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Phương hướng dùng sức, góc độ khớp ban đầu, độ dài ban đầu của các cơ vận động, biên độ động tác, tốc độ dùng sức Khác với việc đánh giá các động tác ở trên cạn, đánh giá các hoạt động của các bộ phận của cơ thể tạo hiệu lực đưa cơ thể về trước hết sức phức tạp Riêng động tác quạt tay khi bơi với chỉ riêng bàn tay các tư thế ở các giai đoạn khác nhau, tốc độ di chuyển của nó, quỹ đạo di chuyển đều là những biểu hiện của sự khác nhau của cùng một kỹ thuật bơi Trong phần nói về lực cản và lực đẩy của tác giả Mỹ trong cuốn bơi lội đã chỉ ra

sự khác biệt rất lớn của việc tạo lực đẩy do tư thế khác nhau của bàn tay và tốc độ quạt nước Nói như vậy có nghĩa là kỹ thuật bơi có ý nghĩa hết sức quan trọng đén

độ lớn của lực đẩy Một sự sai sót về kỹ thuật có thể ảnh hưởng rất nhiều đến tốc

Trang 10

độ và thành tích bơi Người có kỹ thuật bơi tốt ở một kiểu bơi nào đó phải là người tạo ra lực đẩy lớn nhất, giảm lực cản nhiều nhất phù hợp với đặc điểm cá nhân về trình độ thể lực và các đặc điểm giải phẫu, sinh lý, kỹ thuật bơi của VĐV nào là của người đó, không phải mọi người đều có cùng kỹ thuật Điều này có vẻ

vô lý, nhưng đó lại chính là sự thật bởi lẽ: Mặc dù mỗi kiểu bơi do luật quy định,

có thể có cùng một cấu trúc kỹ thuật Sự phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng to lớn đến kỹ thuật bơi của từng VĐV Như vậy kỹ thuật bơi có thể quyết định đến hiệu quả của các động tác dùng sức, nó giúp cho việc phát huy các năng lực vận động của các VĐV, giúp người bơi giảm các lực cản của nước khi bơi Rõ ràng kỹ thuật có vai trò quan trọng đến thành tích bơi ở một cự ly và có quan hệ đến tần số và bước bơi Có thể nói tần số và bước bơi cũng là một biểu hiện của

kỹ thuật bơi Hiệu quả của những động tác dùng sức biểu hiện ở tần số và bước bơi, thành tích trên một cự ly bơi là do sự cấu thành của tần số và bước bơi là chủ yếu Kỹ thuật chính là cơ sở quan trọng của những yếu tố tạo nên tần số và bước bơi do vậy nó quyết định tần số và bước bơi

1.1.2 Chiến thuật:

Bơi lội là môn thể thao cá nhân, chiến thuật trong thi đấu bơi lội chủ yếu là chiến thuật cá nhân (trừ các cự ly tiếp sức) Chiến thuật bơi có những đặc thù riêng khác với những môn thể thao khác Về bản chất chiến thuật trong thi đấu bơi chính là khả năng phân phối sức trên các đoạn của cự ly là chủ yếu Đối với những VĐV cấp cao, ở những cuộc thi đấu quan trọng, có nhiều đối thủ ngang tài ngang sức, thắng thua không chỉ là do chiến thuật trên đường bơi mà còn ngay trong những phần nhỏ như xuất phát hoặc về đích Khi nói về chiến thuật khi thi đấu bơi khó có thể xem nhẹ một khâu chiến thuật nào, song về cơ bản chiến thuật trên đường bơi vẫn có ý nghĩa quyết định chủ yếu Đối với VĐV có trình độ thấp thì chiến thuật chủ yếu là trên đường bơi, chiến thuật bơi phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Đối thủ,về mục đích cuộc thi, trình độ Trong thực tế Việt Nam những năm

Trang 11

gần đây ở giải vô địch quốc gia, rất ít cự ly thi đấu có vai trò quan trọng của chiến thuật Phần lớn các cự ly, thứ hạng đã được dự đoán trước khi thi đấu Chiến thuật đối với một số VĐV hàng đầu ở các cuộc thi trong và ngoài nước chỉ hướng tới việc phá kỷ lục của chính mình Dẫu sao điều này vẫn có ý nghĩa nào đó trong việc nâng cao thành tích Để vận dụng chiến thuật cho thi đấu bơi lội, trước hết phải có một đội ngũ có trình độ chuyên môn nhất định Cơ sở của chiến thuật bơi lội vẫn là khả năng phân phối sức trên các đoạn của mỗi cự ly ra sao trong từng hoàn cảnh cụ thể Để làm được điều đó VĐV phải có một kỹ thuật hoàn thiện và

ổn định,một trình độ chuẩn bị chuyên môn hợp lý với những cảm giác chuyên môn về cự ly, về nhịp điệu, về tốc độ Tất cả những cái đó đều biểu hiện ra bằng những yếu tố quan sát được như: tần số, bước bơi, tốc độ trên các đoạn của cự ly Yếu tố dễ nhận biết nhất là tốc độ trên các đoạn đường bơi, sự chênh lệch tốc độ trên các đoạn bơi của cùng một cự ly cho phép đánh giá một cách tương đối chính xác khả năng phân phối sức mà VĐV đã biểu hiện khi bơi Như vậy chiến thuật bơi của một VĐV rõ ràng biểu hiện ở cả tần số và bước bơi Để đặt cùng một thành tích,mỗi VĐV có thể sử dụng tần số và bước bơi riêng, nhưng sự thay đổi mối quan hệ giữa tần số và bước bơi của các đoạn khác nhau trên một cự ly có thể thay đổi thành tích toàn cự ly Sự thay đổi quan hệ của tần số và bước bơi dẫn đến thay đổi thành tích chính là khả năng chiến thuật Thế nhưng giữa các trình độ, đẳng cấp khác nhau thì sự thay đổi này lại có ý nghĩa khác nhau Vận động viên cấp III khó có thể phân phối sức bằng cách thay đổi tần số và bước bơi (hay điều chỉnh tốc độ) trên các đoạn cự ly lại có thể đạt thành tích cấp II hoặc cao hơn Ở những trình độ khác nhau về thành tích thì sự khác biệt thành tích bơi không phải

do chiến thuật Rõ ràng vai trò của chiến thuật chỉ có một ý nghĩa nào đó mang tính tức thời trong thi đấu chứ không phải có ý nghĩa quyết định cho sự khác biệt thành tích giữa các trình độ Trình độ càng cao thì vai trò của chiến thuật càng quan trọng song ý nghĩa của nó trong việc thay đổi thành tích lại càng ít Đối với

Trang 12

VĐV cấp III, sự phân phối sức hợp lý có thể làm thành tích tăng một vài giây (cự

ly 100m), nhưng VĐV kiện tướng quốc tế thành tích thay đổi nhờ chiến thuật một vài giây là điều khó có khả năng Những cự ly ngắn hơn 25m, 50m thì điều này càng rõ nét

1.1.3 Các đặc điểm cá nhân về hình thái - chức năng:

Khi phân tích tương quan giữa thành tích bơi và 83 dấu hiệu hình thái và chức năng đã cho phép xác định được đặc điểm hình thể và trình độ thể lực chi phối thành tích ở các kiểu bơi Như vậy giữa các đặc điểm khác nhau về hình thái và chức năng với thành tích có quan hệ mật thiết Các dấu hiệu về hình thái và chức năng đã được xem xét nghiên cứu cùng với những đặc điểm khác nhau như tuổi, giới tính Không có gì ngạc nhiên khi thành tích thay đổi ở các lứa tuổi khác nhau

và rõ ràng thành tích phụ thuộc vào lứa tuổi và giới tính Trong rất nhiều chỉ số khác nhau về hình thái và chức năng có những chỉ số luôn được quan tâm nhiều nhất trong tuyển chọn Thực chất đó chính là những chỉ số được nghiên cứu và chứng minh mối tương quan chặt chẽ của chúng với thành tích Có thể kể ra rất nhiều chỉ số đó như: Chiều cao, thể trọng, chiều dài các phần cơ thể, thiết diện các nhóm cơ chủ yếu, dung tích sống, mạch đập, khả năng hấp thụ oxy tối đa, tỷ lệ mỡ trong cơ thể Vấn đề chúng tôi muốn đề cập đến là ảnh hưởng của các chỉ số đó đến tần số và bước bơi như thế nào Đó là vấn đề hết sức phức tạp và khó có thể giải thích trên cơ sở khoa học một cách chặt chẽ riêng từng số Nếu như ở trên cạn người nào có chiều cao lớn, chân dài rất nhiều khả năng họ có bước đi dài hoặc chạy lớn Nhưng để có tần số cao thì chưa chắc vả lại nếu ở cự ly dài thì bước dài của người cao liệu có ổn định không? Rõ ràng bước đi hay chạy cao và ổn định trên một cự ly còn phụ thuộc những nhân tố khác nữa và trình độ tập luyện Bước bơi cũng vậy mặc dù có sự chi phối của các đặc điểm thể hình và sự khác biệt trong thực tế ở những người có chỉ số về thể hình khác nhau Tuy nhiên cũng có một thực tế khác là hai VĐV có hình thái giống nhau (anh em sinh đôi cùng

Trang 13

trứng) hoặc cùng một VĐV như có sự khác biệt về tần số, bước bơi của cùng một thành tích Rõ ràng kỹ thuật và trình độ phát triển của năng lực vận động giữ vai trò quan trọng hơn Cũng như các môn thể thao có chu kù khác, tần số và bước bơi phụ thuộc chủ yếu vào kỹ thuật và trình độ thể lực Sức mạnh cơ bắp là yếu tố quyết định quan trọng đối với sự thành công trong thi đấu bơi lội Điều này có thể giải thích lý do tại sao các VĐV thường có sự tiến bộ cao nhất về thành tích trong thời kỳ mà cơ thể và cơ bắp phát triển nhanh nhất.Vì vậy trong quá trình giảng dạy, HLV cần đặc biệt chú ý đến đặc điểm này Mặt khác các đặc điểm tâm lý cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng Chính vì vậy đặc điểm tâm sinh lý được xem xét một cách hữu cơ trong quá trình huấn luyện cũng như giảng dạy cơ bản

Tóm lại: Có thể nói tần số bơi chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Tuy vậy đối

với một VĐV khi kỹ thuật bơi đã hoàn thiện và ổn định những đặc điểm cá nhân và hình thái không thay đổi thì sự thay đổi về tần số bơi bị chi phối chủ yếu ở năng lực vận động

1.3 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA NỮ LỨA TUỔI 19 - 22

Đại đa số sinh viên của các trường đại học đều thuộc lứa tuổi từ 19- 22 Ở lứa tuổi này cơ thể đang trưởng thành và phát triển toàn diện

Với các sinh viên lứa tuổi từ 19- 22 đây là thời kỳ cuối cùng quá độ từ trẻ con sang người lớn Trong thời kỳ này đại đa số các em đã phát triển toàn diện các chức năng về sinh lý như người lớn nhưng còn một số em phát triển chậm (dậy thì muộn) nên cơ thể còn đang phát triển

Đặc điểm tâm lý:

Về đặc điểm tâm lý có sự thay đổi lớn, nhiều phẩm chất mới được hình thành như: Tính tập thể, tự chủ, khả năng tư duy Tuy nhiên ở lứa tuổi này do tính hưng phấn chiếm ưu thế nên dễ bị phân tán khi có tác động ngoại lực Năng lực tập trung chú ý còn kém

Trang 14

Đặc điểm sinh lý:

1.3.1 Hệ thần kinh :

Ở lứa tuổi này kích thước não chỉ đạt được mức như ở người trưởng thành Hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hoạt động tốt, điều này rất thuận lợi cho việc hình thành các phản xạ có điều kiện Nhờ tác động mạnh của tuyến giáp trong các tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn của thần kinh chiếm ưu thế Tuy nhiên với các bài tập đơn điệu, lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gây căng thẳng thần kinh rất dễ làm các em nhanh chóng chán nản,thờ

ơ, thực hiện không tốt các bài tập Do vậy trong quá trình giảng dạy, HL giáo viên cần đưa ra các bài tập sinh động, hấp dẫn, phù hợp với tính hưng phấn cao nhằm giúp các em tham gia tập luyện một cách tự giác tích cực

1.3.2 Hệ cung cấp năng lượng.

Đặc điểm chính của lứa tuổi này là quá trình đồng hóa chiếm ưu thế so với quá trình dị hóa do nhu cầu phát triển và hoàn thiện đặc biệt là với các em tập luyện TDTT thì nhu cầu đường, đạm, mỡ lại càng tăng cao Đây chính là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho các hoạt động.Ngoài ra nước và các chất khoáng cũng có ý nghĩa rất quan trọng ( nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể ) Vì vậy trong quá trình huấn luyện cần chú ý lượng vận động cho phù hợp

1.3.3 Hệ vận động

Ở lứa tuổi này hệ xương của các em phát triển tương đối hoàn thiện đặc biệt là xương có chức năng vận động như xương tứ chi, xương hông, xương cột sống Trong quá trình trưởng thành của cơ thể sự phát triển của bộ máy vận động còn thể hiện sự cốt hóa xương, sự thay đổi thành phần hóa học của xương, sự phát triển của xương theo chiều dài cũng như chiều rộng, tăng hàm lượng các muối như: Canxi, magiê, phốtpho Thành phần quan trọng của bộ máy vận động là cơ Sự phát triển của cơ phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của xương Khối lượng của cơ tăng dần theo lứa tuổi tuy nhiên sự phát triển này diễn ra không đều, mỗi nhóm cơ hoặc

Trang 15

cơ riêng lẻ cũng phát triển không đồng đều (cơ chân phát triển nhanh hơn cơ tay) Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm phát triển của hệ cơ chúng ta cần phải lựa chọn những bài tập sao cho phù hợp với sự phát triển của chúng có như vậy mới đem lại hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và huấn luyện Nếu không chú ý đến những đặc điểm này thì không những kìm hãm sự phát triển mà còn ảnh hưởng xấu đến cơ thể người tập

Trang 16

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu.

Để giải quyết các mục tiêu đề ra đề tài sử dụng các phương pháp sau :

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu đọc và phân tích tài liệu tham khảo

Với việc sử dụng phương pháp đọc và phân tích tài liệu tham khảo

có thể lựa chọn đề tài, xác định các nhiệm vụ, lựa chọn được phương pháp nghiên cứu, có được những cơ sở về mặt lý luận khoa học cho việc giải quyết các nhiệm

vụ đặt ra, phân tích các kết quả nghiên cứu

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn

Thông qua việc sử dụng phương pháp phỏng vấn có thể thu thập thông tin của các nhà khoa học, các huấn luyện viên, giáo viên về vấn đề nghiên cứu Từ đó có những thông tin cần thiết về các bài tập, các cách kiểm tra và đánh giá Những vấn

đề mà nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Thông qua việc sử dụng phương pháp quan sát thưc tế thu thập thông tin về thực trạng việc sử dụng bài tập nâng cao tần số và bước bơi, những diễn biến trong

quá trình ứng dụng kiểm nghiệm trong thực tế

2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Sau khi lựa chọn các bài tập phát triển tần số với dụng cụ TSM- 06 cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi trường ĐHTDTT Bắc Ninh, chúng tôi đưa các bài tập ứng dụng vào thực nghiệm trong thực tế để đánh giá hiệu quả của chúng

- Thời gian thực nghiệm : Từ tháng 9 tới tháng 11 năm 2010 mỗi tuần 2 giáo

án và thực hiện tổng số 16 giáo án

- Địa điểm thực nghiệm : Trường TDTT Bắc Ninh

- Đối tượng thực nghiệm : Nữ sinh viên chuyên sâu các khóa 43, 44, 45

trường ĐH TDTT Bắc Ninh

Trang 17

2.1.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm đề tài sẽ có được các kết quả kiểm tra các năng lực khác nhau của đối tượng trước và sau thực nghiệm, có được các

thông tin cần thiết cho việc đánh giá hiệu quả của các bài tập mà đề tài đưa ra

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê

Sau khi thu thập được các thông tin bằng số liệu chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lý các số liệu đó

Các công thức được sử dụng để tính toán như sau :

Trang 18

2.2 Tổ chức nghiên cứu.

Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 2 năm 2010 đến tháng 6 năm

2011 và chia thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Từ tháng 2 năm 2010 đến tháng 4 năm 2010

Nội dung công việc:

- Chọn đề tài

- Xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu

- Bảo vệ đề cương trước hội đồng khoa học

Giai đoạn 2: Từ tháng 04 năm 2010 đến tháng 01 năm 2011

Nội dung công việc

- Tham khảo tài liệu, phỏng vấn, quan sát

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm

- Thu thập xử lý thông tin nghiên cứu

Giai đoạn 3: Từ tháng 02 năm 2011 đến tháng 06 năm 2011

Nội dung công việc :

- Viết và hoàn thiện đề tài, in ấn

- Báo cáo nghiệm thu đề tài trước hội đồng khoa học

Trang 19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển tần số bơi

3.1.1 Thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển tần số bơi:

Để có thể đánh giá thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển tần số bơi đề tài

đã tiến hành quan sát các giờ giảng dạy và huấn luyện và thống kê bài tập mà giáo viên trường ĐH TDTT BN và huấn luyện viên một số địa phương sử dụng huấn luyện phát triển tần số bơi Các bài tập được tổng hợp theo hai nhóm: Trên cạn và dưới nước:

* Nhóm bài tập trên cạn:

1 - Quạt tay trườn sấp Vmax 4 x 30s

2 - Quạt tay trườn sấp với dây cao su 4 x 30s Vmax

3 - Quạt tay kiểu bơi ngửa với dây cao su 4 x 30s Vmax

4 - Quạt tay kiểu bơi bướm với dây cao su 4 x 20s Vmax

5 - Bài tập nhảy dây đổi chân 4 x 40s

6 - Bài tập co tay xà đơn 15 s với tốc độ tối đa

7 - Chạy lặp lại 30m Vmax

8 - Bài tập nằm sấp chống đẩy 15 s với tốc độ tối đa

* Nhóm bài tập dưới nước:

1 - Bài tập bơi có người trợ giúp kéo dây

2 - Bài tập bơi 3 (4 lần ×25 m) tốc độ tối đa

3 - Bài tập bơi 4 lần × 50 m với dây cao su kéo căng buộc thắt lưng

4 - Bài tập bơi tay với dây cao su kéo căng buộc thắt lưng 8 (10 ×25 m) Vmax

5 - Bài tập bơi biến tốc 4 x 50 m (25 m nhanh, 25 m chậm )

6 - Bài tập bơi biến tốc 3 x 100 m (50 m chậm, 50 m nhanh )

7 - Bài tập bơi biến tốc 4 x 100 m (25 m nhanh, 50 m chậm, 25 m nhanh )

8 - Bài tập bơi biến tốc 4 x 150 ( 50m nhanh, 75m chậm, 25m nhanh)

9 - Bàt tập bơi kéo dây 3 x 50m ( 25m nhanh, 25m chậm)

Trang 20

10 - Bài tập bơi kéo dây 4x 50m Vmax

Đề tài quan sát thống kê tần suất sử dụng các bài tập của các lớp chuyên sâu bơi trường Đại học TDTTBN và đội tuyển Hà Nội trong 3 tuần với tổng số 18 giáo

án có bài tập trên cạn và 21 giáo án có bài tập dưới nước Kết quả quan sát thống kê được trình bày tại bảng 3.1 và 3.2

Bảng 3.1: Thống kê thực trạng sử dụng bài tập phát triển tần số trên cạn

TT

Tần suất

Bài tập

Số lần sử dụng trong

18 giáo án

Tỷ lệ % trên tổng số

1 Bài tập quạt tay trườn sấp Vmax 4 x 30s 12 21.05

2 Bài tập quạt tay trườn sấp với dây cao su 4

6 Bài tập co tay xà đơn 15s với tốc độ tối đa 9 15.79

8 Bài tập nằm sấp chống đẩy 15 s tốc độ tối đa 6 10.53

Bảng 3.2: Thống kê thực trạng sử dụng bài tập phát triển tần số dưới nước

Trang 21

Nhóm Tần suất

Bài tập

Số lần sử dụng trong 21 giáo án

Tỷ lệ % trên tổng số

1 Bài tập bơi có người trợ giúp

4

Bài tập bơi tay với dây cao

su kéo căng buộc thắt lưng 8 (10 ×25m ) Vmax

8

Bài tập bơi biến tốc 4 x 150 ( 50m nhanh, 75m chậm, 25m nhanh)

Trang 22

tại trường ĐHTDTT BN các bài tập các giáo viên chỉ hướng tới phát triển sức mạnh, tốc độ, sức bền chứ không có bài tập chuyên biệt nhằm phát triển tần số

3.1.2 Thực trạng tần số của nữ sinh viên chuyên sâu :

Để đánh giá được thực trạng tần số bơi của nữ sinh viên chuyên sâu đề tài đã tiến hành kiểm tra tần số tại cự ly 50m Do điều kiện thời gian và các phương tiện kiểm tra hiện đại không có nên chúng tôi tính tần số bằng cách kiểm tra thành tích bơi và số chu kỳ trên cự ly 50m của kiểu bơi trườn sấp Kết quả kiểm tra được trình bày tại bảng 3.3

Bảng 3.3: Thực trạng tần số bơi của sinh viên chuyên sâu cự ly 50m

kỳ/50m

Thành tích 50m ( s)

Thành tích 50m kéo dây(s)

Tần số ( số Ck/p)

Trang 23

đương cấp III đến cấp II Tuy nhiên muốn tăng thành tích bơi thì phải tăng tần số

Bước 1: Nghiên cứu về tính năng tác dụng của dụng cụ TSM- 06

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu sáng chế dụng cụ tập luyện sức mạnh dưới nước TSM- 06 nhằm phát triển sức mạnh chuyên môn và thành tích bơi

cự ly ngắn cho sinh viên chuyên sâu trường Đại học TDTT I’’

Các tác giả: Nguyễn Ngọc Anh, Quách Hoàng Việt, Lê Thị Huyền đã chế tạo thành công dụng cụ tập sức mạnh dưới nước TSM-06, kết quả nghiên cứu đã được nghiệm thu năm 2006 và ứng dụng rất hiệu quả trong thực tiễn

Cấu tạo:

Trang 24

Hình 3.1: Bộ dụng cụ TSM- 06 hoàn chỉnh

Hình 3.2: Cấu tạo giá chính

- Giá chính: Có cấu tạo gồm 4 bộ phận chính, các bộ phận này được kết nối với

nhau thành một bộ máy hoàn chỉnh có hình chữ L lắp áp sát vào thành bể

+ Phần khung: Được làm từ các thanh sắt hộp rỗng có kích thước 3x6 cm, gồm một thanh dọc (dài 93cm) và 3 thanh ngang (1 thanh có chiều dài 63cm, và hai thanh dài 67cm) được hàn chụm vuông góc với thanh dọc nhưng đầu kia chếch ra tạo thành chân đế hình tam giác, đầu ngoài mỗi thanh ngang có các đoạn ngắn để

ốp chặt vào mặt của bờ thành bể bơi Trên thanh ngang giữa có hàn khung đỡ bộ phận điều chỉnh độ căng của dây là một ròng rọc hãm ngược

+ Bộ phận điều chỉnh độ căng của dây: Là một ròng rọc bằng sắt có đường

kính 20cm, trục ròng rọc được hàn chặt vào giá đỡ trên thanh ngang giữa Dây cáp

Ròng rọc hãm Tay quay

Thanhngang

Thanh dọc Móc cố định giá

Trang 25

sắt lụa có đường kính 0,8cm, dài 3m, đầu dây có một móc khoá để nối với dây chính Chuyển động của ròng rọc được thực hiện bằng một tay quay dài 35cm có thể chuyển động quay về hướng nào là do cá hãm quy định Khi kéo dây ra hoặc cuộn vào cá hãm sẽ được điều chỉnh theo các chiều khác nhau, việc này giúp cho việc giữ độ dài của dây luôn ổn định.

+ Các vòng điều chỉnh đường đi của dây ròng rọc được hàn chặt vào thanh dọc

có tác dụng cho phép dây đi theo một đường cố định và ở độ sâu ổn định dưới mặt nước 20cm

+ Vòng móc cố định giá vào thành bể: Là một vòng sắt hàn cố định vào thanh dọc tại vị trí của cọc sắt buộc dây phao của bể bơi để khi lắp có thể móc vào cọc sắt

+ Tác dụng của vòng móc này là giữ cho giá chính và giá phụ cố định được tại hai đầu bể bơi khi có lực kéo lớn của người tập Tuy đơn giản nhưng bộ phận này hết sức quan trọng đòi hỏi phải vững chắc, chịu được lực kéo lớn mới có thể giữ cho các giá chính và giá phụ ổn định tại hai đầu bể khi nhiều người cùng tập và lực kéo rất lớn

Hình 3.3: Giá phụ

Thanh ngang

Vòng móc cố

định Thanh dọc

Ngày đăng: 04/09/2015, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Bộ dụng cụ TSM- 06 hoàn chỉnh - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Hình 3.1 Bộ dụng cụ TSM- 06 hoàn chỉnh (Trang 24)
Hình 3.3: Giá phụ - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Hình 3.3 Giá phụ (Trang 25)
Hình 3.4: Hình thức từng người tập - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Hình 3.4 Hình thức từng người tập (Trang 27)
Hình 3.5: Hình thức nhiều người tập - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Hình 3.5 Hình thức nhiều người tập (Trang 27)
Bảng 3.7: Kết quả trung bình của cả nhóm trước thực nghiệm - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Bảng 3.7 Kết quả trung bình của cả nhóm trước thực nghiệm (Trang 33)
Bảng 3.8: Tiến trình thực nghiệm - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Bảng 3.8 Tiến trình thực nghiệm (Trang 33)
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm. (n = 15) - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm. (n = 15) (Trang 34)
Bảng 3.11: So sánh kết quả kiểm tra  trước và sau thực nghiệm. - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
Bảng 3.11 So sánh kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm (Trang 35)
4     Hình 3.4: Hình thức từng người tập 27 - Nghiên cứu lựa chọn bài tập với dụng cụ TSM   06 nâng cao tần số bơi cho nữ sinh viên chuyên sâu bơi
4 Hình 3.4: Hình thức từng người tập 27 (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w