1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh

67 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 749 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bóng rổ hiện đại có những yêu cầu cao về năng lực sức bền chuyên môn đó cũng chính là tố chất của môn thể thao này được thể hiện thông qua các độngtác như: Dẫn bóng thay đổi hướng, tranh

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ngày nay cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật sự phát triểnmạnh mẽ về kinh tế, TDTT ngày càng trở thành nhu cầu thiết thực đối với conngười Hoạt động TDTT đem lại sức khỏe, hoàn thiện về thể chất con người vàtrở thành nhân tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, góp phần pháttriển con người toàn diện, con người XHCN

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 đã khẳng định “con người là vốn quýnhất của chế độ xã hội Bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của con người là mục tiêucao quí của ngành y tế và TDTT dưới chế độ ta”

Nhận định được sâu sắc về vai trò của TDTT Đảng và Nhà nước ta đã quantâm đầu tư nhằm phát triển phong trào TDTT rộng khắp cả nước để nâng caosức khỏe cho nhân dân và phát triển phong trào thể thao thành tích cao Trong

đó việc phát triển các môn thể thao truyền thống như: Võ, Vật, Đua thuyền,Điền kinh và các môn thể thao hiện đại như: Bóng chuyền, Bóng bàn, Cầu lông,Bóng rổ …

Bóng rổ du nhập vào Việt Nam khoảng thập niên 30 và có những thời kỳphát triển sôi nổi ở cả 2 miền Nam, Bắc Cũng như các môn thể thao khác Bóng

rổ chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và phát triển con ngườitoàn diện Bóng rổ là môn thi đấu đồng đội đối kháng trực tiếp và phải hoạtđộng liên tục trong thời gian kéo dài, đồng thời trong quá trình thi đấu vận độngviên còn chịu rất nhiều áp lực từ các phía như đối phương, trọng tài, cổ độngviên, đồng đội, huấn luyện viên … Dẫn đến việc phân tán sự chú ý, khả năngquan sát làm cho vận động viên nhanh chóng suy giảm thể lực Chính vì vậymôn Bóng rổ đòi hỏi phải có các vận động viên được chuẩn bị một cách toàndiện về thể lực, kỹ - chiến thuật và tâm lý

Luật Bóng rổ hiện đại được thay đổi liên tục với các điều luật làm tăng tốc

độ, tăng tính hấp dẫn cũng như sự thể hiện của mỗi cá nhân vận động viên cũngnhư của toàn đội luôn phải thi đấu với nỗ lực tối đa Trước đây một trận đấuđược chia thành 4 hiệp, mỗi hiệp có 25 phút Do đó tốc độ của trận đấu diễn rakhông nhanh, số đợt tấn công ít, cho nên VĐV không phải di chuyển nhiều và

Trang 2

hoạt động với cường độ thấp Như vậy với trình độ của VĐV ngày nay có thểđáp ứng mọi yêu cầu về ý đồ chiến thuật của huấn luyện viên cũng như yêu cầu

về sức bền chuyên môn Nhưng ngày nay một trận đấu được chia thành 4 hiệp,mỗi hiệp 10 phút và thời gian nghỉ giữa hiệp ít đi, đồng thời có thêm các luật vềthời gian như luật 24s phải kết thúc một lần tấn công, luật bóng không được giữ

ở sân nhà quá 8s Điều này làm tăng tốc độ của trận đấu, số đợt tấn công nhiềuhơn, VĐV phải di chuyển nhiều và hoạt động với cường độ cao hơn trước Dovậy VĐV thường bị mệt mỏi sau một khoảng thời gian nhất định Vì vậy, muốnđạt được hiệu quả cao trong thi đấu thì VĐV phải sử dụng tổng hợp các tố chấtnhư: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự khéo léo Trong đó sức bền chuyênmôn có vai trò rất quan trọng bởi vì: “Sức bền chuyên môn là khả năng duy trìhoạt động cao trong các bài tập nhất định” nó tạo điều kiện thuận lợi cho VĐVduy trì ổn định thể lực và kỹ - chiến thuật trong thời gian thi đấu liên tục kéo dài

và căng thẳng Có như vậy mới đáp ứng được ý đồ chiến thuật của huấn luyệnviên, làm chủ tình huống trong những giây phút căng thẳng của trận đấu đảmbảo tính nghệ thuật và hiệu quả thi đấu cao Ngoài ra sức bền chuyên môn cònchính là khả năng thể hiện năng lực sức bền một cách đặc trưng với điều kiệntập luyện và thi đấu của từng môn thể thao chuyên sâu khác nhau

Bóng rổ hiện đại có những yêu cầu cao về năng lực sức bền chuyên môn

đó cũng chính là tố chất của môn thể thao này được thể hiện thông qua các độngtác như: Dẫn bóng thay đổi hướng, tranh cướp bóng, dẫn bóng tấn công nhanh

từ rổ mình sang rổ đối phương ….).Nói cách cụ thể hơn, sức bền chuyên môntrong bóng rổ đặc trưng với sức bền tốc độ (kỹ thuật dẫn bóng chắc nhanh dướibảng rổ chiếm vị trí thuận lợi để ghi điểm …) Sức bền tối đa (di chuyển tấncông nhanh và kịp thời về phòng thủ) sức bền tăng giảm tốc độ (các pha cướpbóng phản công nhanh) và sức bền (đảm bảo cho VĐV duy trì năng lực ở cáctình huống trong trận đấu)

Qua quan sát giải Bóng rổ các đội mạnh phía Bắc, tháng 12 năm 2009 tạiTrường Đại Học TDTT Bắc Ninh chúng tôi nhận thấy rằng: Thể lực chung vàthể lực chuyên môn của các đội tham gia còn rất hạn chế, càng về cuối trận đấu

Trang 3

thì thể lực của các VĐV càng giảm, dẫn đến hiệu quả trận đấu không cao Có rấtnhiều nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm nhanh chóng thể lực của vận độngviên nữ như vậy Dựa vào tình hình thực tế tập luyện và thi đấu của đội tuyểnBóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh chúng tôi xác định nghiên cứu tìm ra hệthống các bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho các VĐV bóng rổ là cầnthiết

Trên thực tế nghiên cứu khoa học, việc lựa chọn ra các bài tập nhằm pháttriển sức bền chuyên môn đã có một số tác giả nghiên cứu như: Tác giả NguyễnVăn Kiệt – Điền Kinh, năm 2001 với tên đề tài: “Lựa chọn một số bài tập nhằmphát triển sức bền chuyên môn cho nam VĐV chạy cự ly 800m trường năngkhiếu TDTT Quảng Ninh giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu”; Tác giả TrầnTrung – Bóng ném, năm 2001 với tên đề tài: “Nghiên cứu các bài tập nâng caosức bền chuyên môn cho VĐV bóng ném trẻ quốc gia” … Tuy nhiên việcnghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao khả năng sức bền chuyên môncho đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh thì chưa có tác giả nào đềcập tới Từ thực tế đó và mục tiêu nâng cao khả năng sức bền chuyên môn chođội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh tạo tiền đề cho việc thi đấutốt, góp phần vào công tác giảng dạy và huấn luyện Chúng tôi mạnh dạn đặt vấn

đề nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển Bóng rổ nữ Trường Đại Học TDTT Bắc Ninh”

- Mục đích nghiên cứu:

Thông qua nghiên cứu thức trạng trình độ sức bền chuyên môn của đốitượng nữ vận động viên đội tuyển trường ĐH TDTT Bắc Ninh chúng tôi dựatrên các cơ sở lý luận khoa học và thực tế công tác giảng dạy tại trường cũngnhư của các đội bóng rổ nữ thuộc khu vực phía Bắc để đưa ra được các bài tậphiệu quả nhất để phát triển trình độ chuẩn bị sức bền chuyên môn của đội tuyểnBóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng

Trang 4

cao thành tích tập luyện và thi đấu của đội tuyển bóng rổ nữ trường ĐH TDTTBắc Ninh.

Mục tiêu nghiên cứu: Để tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi tập trung

tiến hành giải quyết 2 mục tiêu sau:

1 Thực trạng sử dụng bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội

tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh

2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bềnchuyên môn cho đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh

Đối tượng nghiên cứu: Phương tiện bổ trợ phát triển sức bền chuyên chuyên môn cho đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.

Phạm vi nghiên cứu: Các bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội

tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh

Trang 5

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm hoạt động thể lực trong môn Bóng rổ

Bóng rổ là môn thể thao phát triển khá phổ biến và rộng rãi trên khắp thếgiới Cũng như các môn thể thao khác Bóng rổ chiếm một vị trí quan trọng trong

sự nghiệp giáo dục và phát triển con người toàn diện vì nó là môn thể thao cótính đồng đội và đối kháng cao, phải hoạt đông liên tục đồng thời qua thi đấu nócòn thể hiện tính nghệ thuật, sự thông minh nhanh nhẹn, khéo léo, tâm lý vữngvàng của VĐV Trận đấu Bóng rổ được chia thành 4 hiệp, mỗi hiệp 10 phút vàthời gian nghỉ giữa hiệp có ít phút đòi hỏi VĐV vận động tích cực trong thờigian thi đấu và có khả năng hồi phục nhanh Mục đích thi đấu của mỗi đội làném bóng vào rổ đối phương càng nhiều càng tốt, kết thúc hiệp đấu không có tỷ

số hòa, tức là không thể quyết định có tính chất thỏa hiệp về trận đấu

Hoạt động thi đấu của VDV trên sân rất phức tạp không theo chu kỳ màthay đổi liên tục theo tình huống và theo các điều luật quy định chặt chẽ củamôn Bóng rổ, như thời gian quy định cho mỗi đợt tấn công là 24s, VĐV khôngđược giữ bóng trên tay quá 5s, không được giữ bóng ở sân nhà quá 8s Ngoài racòn có khu vực 3s cho đội tấn công Với các điều luật quy định chặt chẽ về thờigian buộc VĐV phải có trình độ chuẩn bị cao về thể lực, sức nhanh, sức mạnh,sức bền, sự khéo léo…có như vậy VĐV Bóng rổ mới có thể phù hợp với đặc thùchuyên môn thi đấu luôn hoạt động với cường độ lớn, chịu áp lực về mặt tâm lý,hoạt động với thời gian thi đấu kéo dài, khi thực hiện các động tác, kĩ thuật phứctạp, phối hợp chiến thuật nhanh, biến hóa, tính đối kháng tập thể cao, thành tíchphụ thuộc nhiều yếu tố Vì vậy sức bền chuyên môn đóng vai trò cực kỳ quantrọng; bởi vì “sức bền chuyên môn là khả năng duy trì hoạt động cao trong cácbài tập nhất định” Nó tạo điều kiện cho VĐV duy trì ổn định thể lực và kĩ thuậttrong thời gian thi đấu kéo dài và căng thẳng, đáp ứng được ý đồ, kĩ chiến thuậtcủa HLV, đảm bảo tính nghệ thuật và hiệu quả thi đấu cao

Bóng rổ hiện đại là môn thể thao được thể hiện bằng cường độ vận độngcao Đối với VĐV đẳng cấp cao trong một trận đấu phải di chuyển tổng hợp17000-25000m, trong lúc đó phải thực hiện từ 130-140 lần bật nhảy, chạy tăng

Trang 6

tốc và dừng Khi di chuyển với tốc độ lớn được kết hợp với chuyền bóng và ném

rổ Với các hoạt động thi đấu căng thẳng về mọi mặt, đòi hỏi người tập phải huyđộng tới cực hạn các khả năng chức phận của cơ thể, các tố chất nhanh, mạnh tối

đa Không có thể lực tốt sẽ không thể phát huy hết trình độ kĩ – chiến thuật trongtập luyện và thi đấu Do vậy, với các VĐV Bóng rổ, việc nâng cao các tố chấtthể lực phải dược coi trọng tương ứng với phát triển các kĩ thuật cơ bản Côngtác huấn luyện thể lực là rất quan trọng, xong hiện nay đa số các đội bóng nước

ta còn xem nhẹ Một số cho rằng chỉ nên tập trung vào kĩ – chiến thuật là chính,

số khác lại cho rằng chỉ cần tập sức nhanh và độ chuẩn xác là đủ, ngoài ra đa sốcác đội chỉ chú ý đến thành tích trước mắt nên đã ảnh hưởng nhiều đến kết quả.Tập luyện vì gò ép thành tính dẫn tới sự không hệ thống, không khoa học tronggiảng dạy, huấn luyện

Vì vậy cần phải thấy rõ tầm quan trọng của tập luyện nâng cao các tố chấtthể lực, chính thể lực là việc tiếp thu kĩ - chiến thuật, qua đó cũng bồi dưỡng ýchí phẩm chất cho người tham gia tập luyện môn thể thao Bóng rổ

Để đạt được thành tích cần có sự phối hợp thống nhất phát triển hoạt độngcủa tất cả các thành viên trong đội, nhằm thực hiện một nhiệm vụ chung Cáchoạt động của mỗi VĐV có định hướng cụ thể, tương ứng với định hướng đóHLV phân chia VĐV ra từng vị trí thi đấu theo khả năng và sở trường của mỗingười như:

Trung phong cần có thể lực tốt, sức bền, sức bật tốt, kĩ thuật tranh cướp

bóng quay người nhảy ném rổ tốt, vị trí trung phong là rất quan trọng bởi trungphong là người tranh cướp bóng dưới rổ Nếu bên sân nhà thì lập tức phát độngtấn công, còn bên đối phương thì lập tức ném rổ ghi điểm

Tiền phong điều trước tiên là cần có chiều cao, sức nhanh và sức bật, cảm

giác về không gian và thời gian tốt, có khả năng ném rổ tốt, biết đánh giá tìnhhuống và tấn công kiên quyết, dũng cảm

Hậu vệ cần có sức mạnh, linh hoạt và bền tối đa, khôn ngoan và thận trọng.

Hậu vệ có thể ném rổ tốt ở các cự ly trung bình và xa

Trang 7

Hiệu quả các hoạt động thi đấu gắn liền với các chỉ số phản xạ của các cơquan cảm thụ vận động, các VĐV chơi ở tuyến sau như hậu vệ cần định hướngtốt trong khoảng thời gian 5-10s Điều này liên quan đến tổ chức chơi, các trungphong cần định hướng trong khoảng thời gian 3s theo các luật thi đấu quy định ởkhu vực ném phạt, các VĐV ở tuyến trên thì 1s đó là khoảng thời gian ném rổđảm bảo hơn.

Hoạt động của VĐV Bóng rổ trong thi đấu không đơn thuần là tổng hợpcác động tác tấn công và phòng thủ riêng biệt, mà là tập những hành động đượchợp nhất vào một hệ thống linh hoạt duy nhất, bởi mục đích chung là ném đượcbóng vào rổ của đối phương

Trong thi đấu, mỗi VĐV cần biết thành thạo không chỉ tấn công mà cònphải biết phòng thủ, bảo vệ rổ của mình một cách tích cực Để giành bóng từ tayđối phương hay không cho đối phương cơ hội ném bóng vào rổ, cần phải phảnứng đúng lúc và chính xác đối với các hoạt động của đối phương Trong khi vẫnchú ý tới vị trí của các VĐV đội đối phương, đội mình và vị trí có bóng Cáchoạt động trong thi đấu được dựa vào sự ổn định và ứng dụng biến dạng các kĩnăng vận động vào mức độ phát triển các tố chất thể lực, tình trạng sức khỏe và

tố chất thể lực của VĐV

Tóm lại, hoạt động thi đấu Bóng rổ là quá trình đòi hỏi VĐV phải có sựtiến bộ không ngừng về trình độ kĩ chiến thuật cũng như tiến bộ về thể lựcchuyên môn, trong đó sức bền chuyên môn đóng vai trò rất quan trọng nó quyếtđịnh đến hiệu quả thi đấu của VĐV

1.2 Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV Bóng rổ

Huấn luyện thể lực là quá trình sử dụng các bài tập thể lực nhằm tác động

có chủ đích đến sự phát triển và hoàn thiện về hình thái chức năng, tố chất thểlực và sức khỏe của VĐV Huấn luyện thể lực còn là cơ sở huấn luyện kĩ chiếnthuật Đây là một vấn đề cơ bản trong quá trình đào tạo nói chung, trong giảngđạy môn Bóng rổ nói riêng và cũng được các chuyên gia, các nhà khoa học rấtquan tâm

Trang 8

Trong bất cứ loại hình hoạt động nào thì các tố chất vận động cũng khôngthể đơn độc, mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau Nhưng trong mỗi môn thể thao

có một hoặc nhiều tố chất được thể hiện rõ rệt, nổi trội so với các tố chất khác,quyết định kết quả hoạt động chung, quyết định thành tích thể thao của môn thểthao đó (chủ yếu trong các môn thể thao cá nhân hoặc hoạt động có chu kỳ).Huấn luyện, giảng dạy thể lực chuyên môn nhằm phát triển và hoàn thiện nhữngnăng lực thể chất tương ứng với đặc điểm môn thể thao chuyên sâu và phát triểnđến mức tối đa ở người tập Trong môn Bóng rổ các tố chất thể hiện một cách rõnét:

Sức nhanh: Sức nhanh trong Bóng rổ đó là khả năng xuất phát với tốc độ

nhanh, khả năng tăng tốc đạt tốc độ tối đa và tốc độ của toàn đội Sức nhanh còntạo điều kiện giúp VĐV có thể nhanh chóng rút ngắn thời gian chuẩn bị vànhanh chóng chiếm được các lợi thế trong thi đấu (trong tấn công cũng nhưtrong phòng thủ )

Sức mạnh: Môn Bóng rổ có những yêu cầu cao về năng lực sức mạnh,

biểu hiện đáng kể ở những lần bật nhảy ném rổ chiếm độ cao hay nhảy tranhcướp bóng, ngoài ra còn thể hiện ở tốc độ di chuyển khi thực hiện các bài tập,các động tác khác nhau

Theo các tài liệu chuyên môn Bóng rổ thì có hơn 80% các động tác mangtính sức mạnh - tốc độ Xong khi di chuyển, lúc đứng phòng thủ, các động táccướp bóng hay các động tác gọi là các động tác “rắn” thường đòi hỏi nỗ lực tĩnhlực lớn Bởi vậy, việc huấn luyện sức mạnh cần phải toàn diện và phát triển sứcmạnh các cơ theo chế độ khác nhau, ngoài ra sức mạnh bột phát phản ánh nănglực biểu hiện sức manh đến mức tối đa trong một khoảng thời gian tối thiểu dođiều kiện của bài tập thể thao hay của các tình huống thi đấu chi phối, VĐVBóng rổ thường sử dụng dạng sức mạnh này trong các lần bật nhảy, đột phá tấncông nhanh hay chuyền bóng xa.v.v

Sức bền: Với lượng vận động tập luyện và thi đấu cũng như nhịp độ thi

đấu rất cao, các động tác kĩ thuật được thể hiện rất lớn trong khi co sự phản côngcủa đối phương, áp dụng các hệ thống phòng thủ và tấn công tích cực, đột phátấn công nhanh và phòng thủ kèm người toàn sân Thời kỳ thi đấu kéo dài cùng

Trang 9

sự căng thẳng cao độ của các trận đấu giải và các cuộc thi riêng lẻ đòi hỏi trongtrận đấu VĐV luôn cố gắng sức tối đa với sự tham gia trao đổi chất không cóôxy và các hoạt động sức mạnh luôn được gắng sức tới tối đa Do vậy cần cókhả năng chống lại mệt mỏi do tập luyên kéo dài hay thi đấu gây ra…

Khéo léo: Sự linh hoạt trong môn Bóng rổ rất quan trọng trong thi đấu,

giúp VĐV kịp thời ứng phó với các tình huống thay đổi trong thời gian rất ngắn.Huấn luyện thể lực (còn gọi là quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung

và chuyên môn) là một quá trình tác động thường xuyên và theo kế hoạch sắpxếp hợp lý bằng các bài tập thể thao nhằm phát triển các mặt chất lượng và khảnăng của con người

Quá trình ấy tác động sâu sắc đến hệ thần kinh cơ cũng như đối với cơquan nội tạng của con người Nhất là cơ quan tuần hoàn hô hấp dưới tác độngcủa lượng vận động ngày càng lớn Sự lựa chọn đúng bài tập có ý nghĩa rất lớnđối với các môn thể thao, khi lựa chọn và thực hiện không đúng các bài tập dẫnđến các sai lầm chuyên môn trong các cơ quan chức phận ảnh hưởng đến việcphát triển thành tích thể thao của VĐV

Muốn có thành tích tốt trong môn Bóng rổ trước tiên cần có các tố chất thểlực tốt phù hợp với các yêu cầu chuyên môn của môn thể thao này (thể lựcchuyên môn) Xong không có nghĩa là coi nhẹ các mặt khác như thể lực chung,

kĩ thuật, chiến thuật, tâm lý, đặc điểm cá nhân Nguyên tắc chung trong lựa chọncác bài tập nhằm giáo dục các tố chất thể lực chuyên môn là các bài tập phảiđược thực hiện bằng cường độ thi đấu, tăng hoặc giảm khối lượng kết hợp vớicác điều kiện huấn luyện nhằm thực hiện các bài tập

1.3 Vấn đề huấn luyện sức bền chuyên môn trong thể thao.

Trong huấn luyện thể thao, sức bền là một trong 5 tố chất cần thiết để nângcao thành tích thể thao Đặc biệt trong công tác huấn luyện Bóng rổ, đa số cácnhà chuyên môn cho rằng tố chất thể lực của VĐV Bóng rổ phải được phát triển

và tập luyện lâu dài trong suốt quá trình tập luyện

Theo quan điểm của các nhà lý luận cho rằng: Sức bền là khả năng thựchiện một hoạt động với cường độ cho trước hay là năng lực duy trì khả năng vậnđộng trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được Hay nói cách khác sứcbền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong hoạt động nào đó Khái niệm

Trang 10

sức bền luôn liên quan đến khái niệm mêt mỏi: Mệt mỏi là sự giảm sút tạm thờikhả năng vận động hay hoạt động do sự vận động gây nên.

Chúng ta đã biết, sức bền có rất nhiều loại và đa dạng, nó tùy thuộc vào cơchế mệt mỏi do các hình thức vận động khác gây nên Nhưng dựa vào khả năngchuyển sức bền từ hoạt động này sang hoạt động khác mà có thể chia sức bềnthành hai loại: Sức bền chung và sức bền chuyên môn

Sức bền chung: Là sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ thấp,

có sự tham gia của phần lớn hệ cơ

Sức bền chuyên môn: Là khả năng duy trì khả năng vận động cao trongnhững loại hình bài tập nhất định

Theo Pharơphen cho rằng: Thời gian mà con người có khả năng duy trìcường độ hoạt động định trước là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánggiá sức bền

Theo tiến sĩ Dietrich hare cho rằng: Sức bền là khả năng chống lại mệt mỏikhi vận động với tốc độ tối đa và gần tối đa Sức bền được chia thành: Sức bềntrong thời gian ngắn: “Thời gian hoạt động từ 40s đến 2 phút”; Sức bền trongthời gian trung bình: “Thời gian hoạt động từ 2 phút đến 11phút”; Sức bền trongthời gian dài: “Thời gian hoạt động từ 11 phút đến nhiều giờ”

Theo Matveev: Sức bền là cơ sở, là khả năng đối kháng lại cơ thể của vậnđộng viên khi thực hiện lượng vận động ở thời gian kéo dài; Sức bền là khảnăng chống lại mệt mỏi và duy trì hoạt động dài của VĐV

Theo quan điểm của Nguyễn Toán và Phạm Văn Tốn: Sức bền là khả năngthực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay năng lực duy trì khả năngvận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được

Như vậy, sức bền là khả năng vận động của cơ thể trong khoảng thời giandài khắc phục và quá mệt mỏi do hoạt động gây ra Để hoạt động sức bền tốthơn cơ thể phải hoạt động mạnh trong điều kiện ưa khí và nguồn năng lực phảiđược cung cấp đầy đủ cho hoạt động, để có được sức bền tốt phải tích cực rènluyện, cộng với sự kiên trì, nỗ lực ý chí cao…Hoạt động vừa nâng cao phẩmchất ý chí của VĐV

Trang 11

Người ta gọi sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ thấp, có sựtham gia của phần lớn hệ cơ là sức bền chung Sức bền chung có khả năngchuyển từ dạng hoạt động này sang hướng hoạt động khác, là từ khi được nângcao trong một loại bài tập nào đó, có khả năng biểu hiện trong các bài tập kháccũng có tính chất Điều này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng để nâng cao sức bềnchung của VĐV cũng như sinh viên ở một môn nào đó có thể sử dụng nhiềuhình thức, bài tập khác nhau.

Huấn luyện sức bền chung cần phải tạo nên các tiền đề quan trọng cho việchình thành và thể hiện sức bền thi đấu chuyên môn Nhiệm vụ chính của huấnluyện sức bền chung là phát triển khả năng ưa khí và sử dụng khả năng này mộtcách “kinh tế” Việc này đòi hỏi phải nâng cao khả năng hấp thụ ôxy tối đa vàkhả năng truyền, phải mở rộng khả năng ôxy hóa các tế bào của các cơ chịulượng vận động chính trong điều kiện tập luyện, thi đấu cũng như phải biết tiếtkiệm tối đa các quá trình tuần hoàn, trao đổi chất và hô hấp

Ngoài ra, trong huấn luyện sức bền chung phải hoàn thiện và nâng cao kĩthuật thể thao để cùng với kết quả của toàn bộ sự thích nghi này VĐV có khảnăng vận động với tốc độ cao trong một tình trạng còn trao đổi chất ưa khí Hơnnữa huấn luyện sức bền chung cũng cần phải phát triển các phẩm chất cá nhânnhư khả năng chịu đựng, ý chí nghị lực tự chủ, tự tin, cứng rắn… Các phẩm chất

cá nhân này cũng có ảnh hưởng quan trọng trong quá trình huấn luyện sức bềnchung cũng tạo ra khả năng chịu đựng lượng vận động và tâm lý phát triển lêncủa VĐV Do đó một nhiệm vụ quan trọng nữa của huấn luyện sức bền chung làđảm bảo cho VĐV, có khả năng hoàn thành, có kết quả một khối lượng vậnđộng ngày càng lớn hơn khi tăng tốc độ qua đó có thể thường xuyên xảy ranhững sự dự trữ mới để nâng cao thành tích Hình thức thể hiện điển hình củahuấn luyện sức bền chung là một khối lượng vận động lớn và tăng lên có hệthống trong từng buổi tập Tốc độ các lượng vận động này chỉ cao tới mức sựsẵn sàng sử dụng năng lượng cơ thể xảy ra một cách rộng rãi nhất theo conđường ôxy hóa (ưa khí) Các phương pháp chính của huấn luyện sức bền chung

là các phương pháp liên tục giãn cách thời gian dài

Trang 12

Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo ra nguồn năng lực do hoạt động

cơ bắp thông qua quá trình ôxy hóa các hợp chất giàu năng lượng của cơ thể Đểnâng cao khả năng ưa khí cần phải giải quyết ba nhiệm vụ: Nâng cao khả nănghấp thụ ôxy tối đa; Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì mức hấp thụ thểtích O2 lớn nhất; Làm cho hệ tuần hoàn và hô hấp nhanh chóng đạt được mứchiệu quả với hiệu suất cao

Để giải quyết những nhiệm vụ trên, nguyên tắc chung của các phươngpháp tập luyện nâng cao khả năng ưa khí là sử dụng các bài tập Trong đó cóhiệu suất hô hấp và tuần hoàn có thể đạt mức tối đa và duy trì được mức ôxy caotrong thời gian dài Tuy nhiên, đó phải là những bài tập có sự tham gia của nhiềunhóm cơ có tốc độ gần tới hạn Các phương pháp chủ yếu để nâng cao khả năng

ưa khí của cơ thể là: Phương pháp đồng đều liên tục, phương pháp biến đổi vàphương pháp lặp lại Các phương pháp này có cấu trúc và thành phần của lượngvận động như sau:

- Cường độ hoạt động (tốc độ di chuyển ) Cần phải cao hơn tốc độ tới hạn

và vào khoảng 75-80% cường độ tối đa: Cường độ này cần sao cho vào khoảngcuối lực hoạt động, tần số mạch đập phải xấp xỉ 180 lần/phút

- Độ dài cự li tập luyện phải được lựa chọn sao cho thời gian thực hiệnkhông quá 40-60 phút, chỉ trong điều kiện này hoạt động mới diễn ra trong điềukiện nợ ôxy và hấp thụ ôxy đạt mức tối đa vào lúc nghỉ ngơi

- Khoảng cách nghỉ ngơi cần phải làm sao để hoạt động sau được tiến hànhtrên cơ sở thuận lợi của hoạt động trước đó, nếu xác định theo thể tích tâm thuthì khoảng cách nghỉ ngơi đó đối với VĐV có luyên tập tốt tần số tim vàokhoảng 140-180 lần /phút Trong mọi trường hợp thời gian nghỉ không nên vượtquá 5-6 phút khi mà hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp giảm nhiều

- Số lần lặp lại cần tính toán sao cho đảm bảo duy trì được trạng thái ổnđịnh trong sự phối hợp hoạt động của các hệ thống cơ thể Số lần lặp lại có thểtùy thuộc vào tần số mạch đập để tránh mức lượng vận động

Nâng cao khả năng yếm khí cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao khảnăng yếm khí tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện yếm khí Bởi vì quá

Trang 13

trình trả nợ ôxy được diễn ra một phần trong lúc vận động và có khả năng ưa khícao thì phần trả nợ ôxy trong vận động đó sẽ lớn hơn và hiệu quả hoạt động của

cơ thể sẽ tăng lên

Để nâng cao khả năng yếm khí thì phải giải quyết hai nhiệm vụ phân hủycủa hai phản ứng: Hoàn thiện cơ chế phôtspho crêatin và glucôza

+ Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế phôtspho crêatin

Là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựa vào nguồn cung cấpnăng lượng yếm khí

+ Cường độ bài tập (tốc độ bài tập) gồm tốc độ tối đa hoặc thấp hơn mộtchút (90% VO2 max) tốc độ này không ảnh hưởng đến trao đổi chất tạo điềukiện để kiểm tra kỹ thuật bài tập và để tránh hiện tượng hàng rào tốc độ

+ Thời gian bài tập (mỗi lần lặp lại chỉ giới hạn từ 3-8s) Bởi vì dự trữ cơchế CP trong cơ thể rất ít, sự phân hủy hợp chất này chỉ diễn ra trong thời gianvài giây (3-8s) sau khi bắt đầu hoạt động

+ Thời gian nghỉ giữa quãng từ 2-3 phút, đó cũng là thời gian đủ để hồiphục cơ chế phôtspho crêatin và tạo ra axit lactic, nên tốc độ trả nợ ôxy diễn rakhá nhanh Nhưng do dự trữ cơ chế phôtspho crêatin trong cơ thể rất ít, nên sau3-4 lần lặp lại thì hoạt động của cơ chế glucôphân sẽ tăng lên, còn cơ chếphôtspho crêatin sẽ giảm đi Để khắc phục hiện tượng này, người ta chia bài tập

từ 2-3 nhóm, mỗi nhóm gồm 3-5 lần lặp lại, thời gian nghỉ giữa các nhóm kéodài từ 8-10 phút (đủ để ôxy hóa phần lớn axit lactic và đảm bảo được trạng tháihưng phấn cao của các trung tâm thần kinh)

+ Số lần lặp lại: Dựa vào trình độ tập luyện của VĐV sao cho tốc độ không

bị giảm đi

Để hoàn thiện tối ưu cơ chế này cần yêu cầu cường độ của bài tập phải đạt

từ 85-100% vận tốc tối đa cuối các lần lặp lại vận tốc có giảm nhưng phải đảmbảo vận tốc tối đa

Theo kết quả thí nghiệm thì nồng độ axit lactic đạt được ở mức cao khôngphải là sau khi kết thúc bài tập mà là sau khi nghỉ 1 phút Quá trình lặp lại vớiquá trình nghỉ giảm dần thì nồng độ axit lactic lại gần tới thời điểm kết thúc buổi

Trang 14

tập, mục đích là làm cho cơ thể thích nghi với trạng thái nợ ôxy cao, thể hiện ởnồng độ axit lactic nhằm nâng cao khả năng yếm khí

Trong công tác huấn luyện sức bền chuyên môn phải dựa vào phương phápgiáo dục sức bền kết hợp giữa 5 yếu tố cơ bản của luật vận động: Tốc độ bài tập,thời gian bài tập, thời gian nghỉ giữa quãng, tính chất nghỉ ngơi, số lần lặp lại

Tốc độ bài tập: Tốc độ dưới tới hạn là tốc độ di chuyển đòi hỏi sự cung

cấp ôxy dưới mức cơ thể có thể đáp ứng được tức là nhu cầu ôxy thấp hơn khảnăng hấp thụ ôxy trong cơ thể Trong thực tế lượng ôxy đáp ứng đủ nhu cầu oxycho VĐV đòi hỏi thì hoạt động điễn ra trong điều kiện ổn định thật, trong vùngtốc độ dưới tới hạn thì nhu cầu ôxy tỷ lệ thuận vối tốc dộ di chuyển

- Nếu VĐV di chuyển với tốc độ nhanh thì dẫn đến sẽ đạt đến mức độ tớihạn, khi đó nhu cầu ôxy sẽ đạt tới mức độ bằng khả năng ưa khí (khả năng hấpthụ ôxy tối đa trong cơ thể)

- Tốc độ trên tới hạn: Là tốc độ di chuyển có nhu cầu oxy cao hơn nănglượng hấp thụ ôxy tối đa Lúc này hoạt động sẽ diễn ra trong điều kiện nợ ôxy

do các nguồn yếm khí, do hiệu suất của cơ thể cung cấp năng lượng yếm khí gây

ra ở vùng tốc độ tới hạn nhu cầu ôxy phát triển nhanh hơn nhiều so với mức tăngcủa tốc độ di chuyển

Thời gian bài tập: Thời gian bài tập có liên quan đến tốc độ di chuyển tức

là thời gian giới hạn của một bài tập luôn luôn tương ứng với tốc độ di chuyểnnáo đó Như vậy, thời gian của bài tập kéo dài tới mức độ tới hạn và tới hạn đòihỏi sự hoạt động căng thẳng của những hệ thống đảm bảo cung cấp và sử dụngôxy trước hết là sự tuần hoàn và hô hấp Còn thời gian bài tập với tốc độ trên tớihạn đã đòi hỏi khả năng nợ ôxy cơ thể

Thời gian nghỉ giữa quãng: Trong các bài tập, lặp lại có vai trò quan

trọng đối với tính chất và phương hướng hoạt động của bài tập đối với cơ thể.Những bài tập có tốc độ tới hạn và dưới tới hạn nếu thời gian nghỉ giữa quãng

đủ dài cho các hoạt động sinh lý trở lại ở mức tương đối bình thường, ở mỗi lầnlặp lại các bài tập tiếp theo, các phản ứng của cơ thể sẽ diễn ra gần giống nhưlần thực hiện bài tập trước đó

Trang 15

Các bài tập lại với tốc độ tới hạn và tới hạn khi thời gian bài tập ngắn (dưới

2 phút) Các quá trình hô hấp chưa kịp phát huy ở mức độ đầy đủ và hoạt độngdiễn ra trong điều kiện thiếu ôxy Trong trường hợp này nếu thời gian nghỉ giữaquãng ngắn thì lần thực hiện bài tập tiếp theo sẽ diễn ra trên nền tảng của hô hấpchưa giảm và tăng lượng cho hoạt động dần được đảm bảo bằng cơ chế ưa khí.Trong các bài tập lặp lại với tốc độ trên tới hạn và quãng nghỉ không đầy

đủ, để thanh toán nợ ôxy thì cần lặp lại bài tập tiếp theo sẽ diễn ra trên nền nợôxy chưa được thanh toán, lượng ôxy sẽ tích lũy và tăng lên nhanh chóng saumỗi lần lặp lại bài tập, hoạt động ngày càng mang tính chất yếm khí Các bài tậpnày tuy số lần lặp lại không lớn nhưng thuộc loại những bài tập nặng tác độngmạnh đến với cơ thể

Tính chất nghỉ ngơi: Nghỉ ngơi giữa quãng có thể là thụ động bởi tiếp tục

bài tập dưới hình thức nào khác, có thể là nghỉ ngơi tích cực tức là bài tập vẫntiếp tục với cường độ thấp hơn (chạy nhẹ nhàng, thả lỏng…) Các hình thức nghỉngơi tích cực khác nhau được coi là biện pháp tốt để tránh hiện tượng chuyểnđột ngột từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động và ngược lại, để duy trì trạng thái

cơ thể ở mức hoạt động cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện bàitập ở mỗi lần lặp lại bài tập tiếp theo, cũng như để thúc đẩy quá trình hồi phục

Số lần lặp lại: Trong huấn luyện để phát triển sức bền chuyên môn, các

bài tập thường lặp lại nhiều kiểu cách và cấu trúc khác nhau Trong các bài tập

ưa khí thì thời gian mỗi lần thực hiện bài tập (mỗi lần lặp lại) tương đối ngắn thì

số lần lặp lại tương đối lớn Ngược lại trong các bài tập yếm khí, việc tăng số lầnlặp lại phải thận trọng và chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định Như vậy sốlần lặp lại là một trong những yếu tố quy định luật vận động, tạo nên kết quảphối hợp của cả bài tập Việc xác định số lần lặp lại tùy thuộc vào mức độ tậpluyện của VĐV Trong rất nhiều bài tập, hiệu quả chính của bài tập phụ thuộcvào số lần lặp lại cuối cùng Vì vậy nếu quy định số lần lặp lại không đúng, thìhiệu quả bài tập sẽ giảm đi rất nhiều Một trong những căn cứ để xác định số lầnlặp lại là đảm bảo cho tốc độ thực hiện bài tập trong những lần lặp lại cuối cùngkhông bị giảm đi đáng kể

Trang 16

Như vậy, việc thay đổi một trong năm thành phần trên của luật vận động

có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ làm thay đổi cơ chế diễn biến sinh lý trong cơ thể

Nó có tác dụng trực tiếp tới việc thay đổi thành tích

1.4 Đặc điểm huấn luyện sức bền chuyên môn trong Bóng rổ.

Mỗi môn thể thao có đặc thù riêng, sự vận động đặc thù đó tạo nên sự pháttriển không đều nhau ở các nhóm cơ khác nhau, ở các VĐV các môn thể thaokhác nhau Sức bền là một trong những nhân tố quan trọng nhất của VĐV Bóng

rổ, đồng thời còn là một trong những yếu tố dẫn tới sự thành công của VĐVtrong tập luyện và thi đấu

Nguyên tắc tập luyện để phát triển sức bền.

Nâng cao sức bền phải toàn diện cho nên không được tập luyện một cáchcục bộ vì các tố chất của thể lực cơ thể có liên quan mật thiết với nhau Phải tậpluyện thường xuyên, liên tục và phải kiên trì mới có được hiệu quả mong muốn.Khối lượng và cường độ phải nâng cao dần phụ thuộc vào cùng thời kỳ và giáodục huấn luyện

Sức bền chuyên môn trong Bóng rổ thể hiện ở sức bền ý chí và sức bền cơbắp Sức bền trong thi đấu Bóng rổ có liên quan mật thiết tới các tố chất khác,đặc biệt là tố chất sức nhanh và sức mạnh… Các mối tương quan đó chúng tôithể hiện trên sơ đồ sau:

Sức bền chung

Trang 17

Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới sức mạnh và sức bền hay cụ thể hơn là sứcbền tốc độ và sức mạnh bền

Sức bền tốc độ.

Huấn luyện chuyên môn cho VĐV Bóng rổ trước hết là nhằm cải thiện cáckhả năng sức mạnh, tốc độ tạo nền tảng để phát triển tốt các hoạt động, xuấtphát, dừng đột ngột, nhảy và ném trong trận đấu đó cũng chính là thành phầnchính công tác huấn luyện sức mạnh cho VĐV Bóng rổ.Việc thực hiện tay némBóng rổ và bật nhảy có thể kết hợp đồng thời Ở đây đòi hỏi lượng vận độngluôn luôn chuyển đổi từ các hoạt động tay ném sang chân giậm bật, quãng nghỉgiữa hai lần bật nhảy cũng phải đủ dài để phát huy hết sức mạnh cho những lầnthực hiện ở các bài tập sau

Sức bền tốc độ trong Bóng rổ vừa giúp tăng cường sự ổn định của viêc sửdụng các động tác kĩ thuật, chiến thuật, vừa là những nhân tố chuyên môn đểduy trì sức nhanh và sức mạnh (sức bền tốc độ) Cơ sở cơ bản để đạt được điều

đó là phát triển vững chắc sức bền tốc độ ở từng thời kỳ, ở từng giai đoạn huấnluyện Luật vận động để phát triển sức bền ở các thời kỳ chuẩn bị: Số lần lặp lạicao trong các nhóm tập 15-20 lần với quãng chạy vừa phải từ 100m- 200m.Cường độ vận động trung bình khoảng 70% sức, tốt nhất là sử dụng các bài tậpchạy với phương pháp kéo dài, và các động tác nhảy, ném với phương pháp ngắtquãng Việc chuyển đổi thường xuyên liên tục giữa hao khả năng hoạt động của

cơ thể trong điều kiện nợ dưỡng và đủ dưỡng sẽ nâng cao khả năng chịu dựngcủa cơ thể, tăng nhanh khả năng cung cấp năng lượng trong lúc vận động, pháttriển nhanh được khả năng hồi phục và như vậy sẽ nâng cao được hiệu quả trongthi đấu

Sức mạnh bền.

Sức mạnh bền phụ thuộc vào nhiều nhân tố, xong ở đây ta chỉ tập chungvào các nhân tố có thể điều khiển được bằng các biện pháp sư phạm Trong đóđiều khiển phát triển và hoàn thiện nhân tố ngoại biên (thiết diện cơ) và nhân tốđiều hòa thần kinh (trong một cơ và giữa các nhóm cơ) có ý nghĩa chủ đạo Ởđây vừa phải nâng cao nhân tố trên, vừa phải cho cơ quan vận động thích nghicác hoạt động nằm trong chuyên môn Bóng rổ Chủ yếu phát triển sức mạnh bột

Trang 18

phát để bật nhảy chiếm độ cao hay điều chỉnh cơ thể trong tư thế không chântrụ, các động tác ném bóng xa tay hay ném bóng cầu môn…Thông thường sửdụng lặp lại các bài tập cực hạn với lượng đối kháng chưa tới tối đa và sử dụngcác bài tập với trọng lượng chưa tới tối đa với tốc độ tối đa.

Nâng cao sức mạnh bền trong Bóng rổ là đồng thời cùng lúc phát triển cảhai tố chất sức mạnh và sức bền chuyên môn Trước hết ta phát triển sức mạnhcho các nhóm cơ đặc thù chuyên môn bằng các phương pháp, phương tiện (cácbài tập thể lực), đồng thời nâng cao khả năng chịu đựng của các nhóm cơ trongthời gian kéo dài

Đặc điểm trong hoạt động Bóng rổ rất đa dạng thể hiện ở các lần tăng tốcđột ngột, luôn luôn nỗ lực nhanh, mạnh tới mức tối đa khi thực hiện nhảy némcầu môn hay chuyền bóng xa, cản người trong phòng thủ… cùng với các áp lực

về tâm lý gây cho VĐV sự mệt mỏi nhanh chóng mà nguyên nhân chính là doVĐV không có khả năng hồi phục nhanh trong thời gian ngắn do sức bền củacác nhóm cơ vận động chính nhanh chóng mệt mỏi do chưa có trình độ cao vềsức mạnh bền

Để phát triển sức mạnh bền thì phải kết hợp đồng thời hai yếu tố là pháttriển sức mạnh và sức bền, tức là nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể khivận động với cường độ lớn trong thời gian kéo dài Chính vì vậy để nâng caosức mạnh bền trong Bóng rổ cần phải giải quyết 3 nhiệm vụ sau:

- Nâng cao sức mạnh và sức mạnh tốc độ chuyên môn

- Kéo dài khả năng hoạt động của cơ thể trong điều kiện thực hiện lượngvận động chuyên môn lớn

- Tăng nhanh khả năng hồi phục khi cơ thể hoạt động với cường độ lớn,thời gian kéo dài, quãng nghỉ ngắn

Để giải quyết các nhiêm vụ này, phương pháp cơ bản được sử dụng đó làtập luyện với bài tập sức manh, sức mạnh tốc độ với tần số lần lặp lại nhiều lần,thời gian kéo dài và quãng nghỉ ngắn

Như vậy dựa trên nghiên cứu và đặc điểm, phương pháp giảng dạy sức bềnchuyên môn trong Bóng rổ, đặc điểm lứa tuổi 18-22 chúng tôi đã có những cơ sở

Trang 19

xác thực để đi sâu vào vấn đề nâng cao sức bền chuyên môn cho đội tuyển Bóng

rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh

1.5 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 18-22.

Trong tâm lý học lứa tuổi người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạnphát triển lúc đầu từ lúc dậy thì và kết thúc bước vào tuổi người lớn

- Lứa tuổi từ 14-18 là giai đoạn của tuổi thanh niên

- Lứa tuổi từ 18-22 là giai đoạn 2 của tuổi thanh niên

Chúng ta xem xét đặc điểm tâm lý của giai đoạn hai từ 18-22 tuổi

Xét về nội dung tính chất hoạt động của lứa tuổi này phức tạp hơn nhiều sovới lứa tuổi trước đó, lứa tuổi này không những đòi hỏi về mặt học tập mà cònđòi hỏi về tính năng động, sáng tạo ở mức độ cao hơn nhiều Đồng thời cũng đòihỏi muốn nắm được chương trình học tập một cách sâu sắc thì cần phát triểnmột cách tư duy về mặt lý luận Khi tuổi càng trưởng thành kinh nghiệm càngphong phú thì càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa củacuộc đời Do đó, thái độ ý thức của lứa tuổi này phát triển cao, có hứng thú họctập gần với hứng thú nghề nghiệp, các em được thúc đẩy bằng động cơ học tập

và đã nhận thức được ý nghĩa xây dựng của môn học của nghề nghiệp, của mìnhlựa chọn đó cũng là điều kiện cho việc giảng dạy và huấn luyện

Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ tri giác có mục đích đã đạt ở mức độ cao,quan sát trước nên có mục đích có hệ thống và toàn diện hơn, ghi nhớ có chủđịnh giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ đồng thời vai trò của ghi nhớlogic trừu tượng ngày một tăng rõ rệt, đặc biệt các em đã tạo được tâm thế trongghi nhớ

Hệ thần kinh, mức phát triển thể hình đã tương đối hoàn thiện, kích thướcnão và hành tủy đã đạt đến mức người trưởng thành Hoạt động phân tích phứchợp của vỏ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt Tư duy, suy nghĩcủa các sinh viên đã đạt mức độ cao như của người lớn, có khả năng suy nghĩđộc lập, có sáng tạo trong học tập

Hệ tuần hoàn: Tần số co bóp của tim khoảng 60-80 lần/ phút/ yên tĩnh khivận động sẽ thay đổi nhiều Mạch đạt 160-180 lần / phút Tim hoạt động tinh tế

Trang 20

hơn và đạt mức gần ổn định Hệ tuần hoàn cũng thích nghi với sự tăng công suấthoạt động thể lực ở mức độ cao Sự hồi phục sau vận động nhanh Thể tích phútđạt 24-28 lần/ phút Thể tích tâm thu đạt 120-140ml Huyết áp tối đa tăng 180-200mm Hg, huyết áp tổi thiểu không ổn định.

Hệ hô hấp: Các chỉ số hô hấp đạt ổn định tần số hô hấp đạt 12-18 lần/ phútlúc yên tĩnh, độ hô hấp sâu (400-500ml) hấp thụ ôxy thấp hơn người lớn mộtchút

Bộ máy vận động: Xương, cơ, khớp đã phát triển ở mức độ cao, cơ thểchịu đựng được lượng vận động lớn: Tuy nhiên ở nữ vì xương xốp hơn, lỗ tủyrỗng, bắp thịt còn yếu và nhỏ, xương chân to và yếu nên khi bị chấn động mạnh

rễ bị ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong khung chậu như buồng trứng, dạcon…

Ở lứa tuổi này các sinh viên có thể đạt được thành tích cao trong môn thểthao chuyên sâu, có khả năng thi đấu ở trình độ tương đối cao nên được đào tạomột cách toàn diện và có trình độ kĩ thuật cũng như thể lực đạt ở mức độ cao, sựchuẩn bị tốt

Sự phát triển các tố chất thể lức không đều và chưa đạt đến mức độ cao,thậm chí còn ở mức thấp Sức mạnh các nhóm cơ phát triển không đồng đều nếukhông có sự tập luyện đặc biệt thì sức mạnh phát triển chậm Sức nhanh: thờigian phản ứng vận động đơn giản ở mức độ người trưởng thành (0,11-0,25) Tốc

độ động tác đơn lẻ hơn giảm so với lứa tuổi 13-14 Sức bền: Thể tích O2 lớnnhất đạt 3,5 lít/ phút, sức bền biểu hiện rõ rệt dưới tác động của tập luyện, đồngthời sức bền chung của các nhóm cơ chung tăng lên Khả năng phối hợp vậnđộng: Khả năng định hướng trong không gian đạt mức độ cao như người lớn,Khả năng định hướng thời gian đạt độ hoàn chỉnh, tuy nhiên cũng có độ daođộng rất lớn trong cùng một độ tuổi Khả năng điều chỉnh về lực gần hoànchỉnh

1.6 Đặc điểm trình độ thể lực của đội tuyển nữ.

Thành tích các môn thể thao nói chung và môn Bóng rổ nói riêng bị chiphối bởi tuyển chọn khoa học đúng phương pháp, nhờ đó giúp cho các công tác

Trang 21

huấn luyện nâng cao các mặt cấu thành của tài năng thi đấu, hạn chế tối đa ảnhhưởng không tốt, đó là lãng phí thời gian, kéo dài tuổi thọ của VĐV Yêu cầuđầu tiên trong huấn luyện VĐV Bóng rổ là không được đuổi theo thành tích quásớm và phải chú ý về đạo đức, ý chí, kỹ năng chiến thuật và thể lực của VĐVnhững nhân tố quyết định tới thành tích thể thao Trong đó khả năng hoạt độngthể lực và đặc biệt là thể lực chung và thể lực chuyên môn giữ vai trò nền tảng.Với mục đích tìm hiểu thực trạng công tác huấn luyện trình độ thể lực củađội tuyển nữ nói chung và thực trạng công tác huấn luyện tố chất sức bềnchuyên môn nói riêng, chúng tôi tiến hành tìm hiểu về vai trò của sức bềnchuyên môn trong công tác huấn luyện cho VĐV đội tuyển nữ Bóng rổ trường

ĐH TDTT Bắc Ninh dưới hình thức phỏng vấn các HLV trực tiếp tham gia côngtác huấn luyện đội tuyển và các giảng viên, HLV Bóng rổ của trường ĐH TDTTBắc Ninh kết quả thu được như trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1: Đánh giá vai trò huấn luyện các tố chất thể lực trong huấn luyện

là rất quan trọng Tuy nhiên trong công tác huấn luyện VĐV đội tuyển nữ Bóng

rổ hiện nay, ở rất nhiều trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc nói chung vàtrên địa bàn trường ĐH TDTT Bắc Ninh nói riêng, việc chuẩn bị về tâm lý, thểlực, kỹ chiến thuật cho VĐV đội tuyển nữ chưa được thực hiện đầy đủ Thực tếcho thấy trong quá trình huấn luyện chuẩn bị thi đấu do áp lực học tập kết hợpvới việc tập luyện gấp rút, mà các HLV đưa VĐV của mình đi thi đấu quá sớm

Trang 22

khi mà VĐV chưa chuẩn bị kỹ về tâm lý, thể lực, kỹ chiến thuật Việc này cóảnh hưởng xấu tới việc đào tạo lâu dài và phát triển thành tích thể thao cao ở cáclớp VĐV đội tuyển sau.

Mặt khác trong công tác huấn luyện VĐV, các HLV chỉ chú trọng huấnluyện kỹ chiến thuật thi đấu của VĐV mà không chú ý đến huấn luyện thể lực

và tâm lý cho VĐV Điều này cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài củaVĐV Khi thi đấu, VĐV sẽ không đủ tự tin để thực hiện kỹ chiến thuật của mìnhmột cách trọn vẹn có hiệu quả cao, cũng như giảm thể lực ở thời gian cuối trậnđấu và khi thi đấu các trận tiếp theo

Ở một số giải đấu, trong quá trình huấn luyện đội tuyển nữ không ít HLV

đã không chú ý đến sự biến đổi tâm sinh lý lứa tuổi cũng như thời kỳ nhạy cảmcủa các tố chất thể lực của VĐV dẫn tới không có những biện pháp điều chỉnhhợp lý trước những thay đổi này Đó cũng chính là một số lý do ảnh hưởngkhông tốt tới tâm sinh lý cũng như quá trình tập luyện của VĐV Ngoài ra việc

sử dụng bài tập phát triển các tố chất thể lực, trong đó có tố chất sức bền chuyênmôn trong huấn luyện đội tuyển nữ chưa được thống nhất một cách có hệ thống

mà chỉ sử dụng theo kinh nghiệm của HLV ở tất cả các giải đấu Đặc biệt huấnluyện tố chất sức bền chuyên môn cho đội tuyển nữ (một trong những tố chấtquan trọng nhất cần được phát triển trong những năm đầu của quá trình tậpluyện cũng như được quan tâm thích đáng) Để nhanh chóng xóa bỏ khoảngcách về trình độ, thể lực đó thì đòi hỏi các cán bộ giảng dạy, HLV phải có kếhoạch huấn luyện, đào tạo VĐV một cách khoa học Đặc biệt chú trọng đến cácbài tập phát triển sức bền chuyên môn

Hiện nay trình độ của đội tuyển nữ Bóng rổ trường ĐH TDTT Bắc Ninhvẫn còn hạn chế, đặc biệt là về mặt thể lực chuyên môn Điều này thể hiện quakết quả thi đấu Bóng rổ của giải Bóng rổ sinh viên toàn quốc 2009 Chúng tôi đãthống kê được số liệu qua các trận đấu, kết quả thu được trình bày ở bảng 1.2

Trang 23

Bảng 1.2 Thống kê số điểm ghi được trong các trận đấu của đội ĐH TDTT Bắc Ninh tại giải

Sinh viên toàn quốc 2009

Tóm lại, qua nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đềhuấn luyện thể lực cho vận động viên nữ Bóng rổ Đề tài nhận thấy thực trạngvấn đề sức bền chuyên môn nói riêng và thể lực nói chung của vận động viênBóng rổ nữ được đặc biệt quan tâm, tuy nhiên vấn đề huấn luyện nâng cao sứcbền chuyên môn cho vận động viên nữ, đặc biệt các vận động viên nữ thuộc độituyển trường ĐH TDTT Bắc ninh đang gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó đềtài cũng xác định các vấn đề huấn luyện sức bền chung cho vận động viên nữđược cụ thể trong từng nội dung huấn luyện, thành phần lượng vận động

Trang 24

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TÔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu nêu trên, trong quá trình nghiên cứu

đề tài dự kiến sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Thông qua phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu như: Sách giáo khoabóng rổ, lý luận và phương pháp TDTT, Sinh lý TDTT, Tâm lý TDTT, Huấnluyện các tố chất thể lực như: Một số vấn đề đào tạo VĐV trẻ, một số nghiêncứu về sức bền cho các VĐV thành tích cao cho chúng tôi thấy được cơ sở lýluận về phương pháp thể lực chuyên môn sao cho phù hợp với đối tượng nghiêncứu

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn.

Để tiến hành phương pháp này, chúng tôi đã phỏng vấn bằng phiếu, thưtay trao đổi trực tiếp với các giáo viên môn Bóng rổ, Huấn luyện viên các độiBóng rổ đang tham gia thi đấu ở các hạng vô địch quốc gia, giải trẻ quốc gia,giải các tỉnh phía Bắc, các chuyên gia và cán bộ làm công tác chuyên môn tại

Ủy ban TDTT

Các vấn đề chính mà chúng tôi phỏng vấn: Phát triển sức bền chuyênmôn, các bài tập đang sử dụng hiện nay và hiệu quả Mẫu phiếu phỏng vấnchúng tôi trình bày ở phần phụ lục 2

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Chúng tôi tiến hành quan sát các trận thi đấu của giải: Câu lạc bộ các độimạnh, giải Bóng rổ sinh viên toàn quốc tháng 12/2009, 2010; các buổi tập luyệncủa các VĐV Bóng rổ Câu lạc bộ Hà Nội, các đội Bóng rổ trẻ quốc gia, các độibóng ở các tỉnh phía Bắc như Hà Nội, Cao Bằng, Yên Bái, Quảng Ninh, từ đóđánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của các VĐV Bóng rổ nữ trường ĐHTDTT Bắc Ninh Trên cơ sở đó chúng tôi biên soạn hệ thống các bài tập nhằmnâng cao sức bền chuyên môn cho VĐV đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐHTDTT Bắc Ninh

Trang 25

2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Là phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài đểđánh giá hiệu quả của hệ thống các bài tập đã lựa chọn ứng dụng nhằm pháttriển tố chất sức bền chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu Đối tượng thựcnghiệm sư phạm của đề tài được chia thàn 2 nhóm:

- Nhóm thực nghiệm: Bao gồm 10 nữ VĐV đội tuyển Bóng rổ trường

ĐH TDTT Bắc Ninh Nhóm này được áp dụng hệ thống các bài tập chuyên môn

đã lựa chọn và hệ thống các bài tập này được coi là những bài tập chính, sắp xếpkhoa học trong từng giai đoạn, từng thời kỳ được áp dụng vào nhóm thựcnghiệm

- Nhóm đối chứng: Bao gồm 10 nữ VĐV đội tuyển Bóng rổ trường ĐH

TDTT Bắc Ninh Nhóm này được áp dụng hệ thống các bài tập chuyên môn đãđược xây dựng theo chương trình huấn luyện năm của trường ĐH TDTT BắcNinh Hệ thống các bài tập này được áp dụng trong các chương trình, giáo án tậpluyện theo từng giai đoạn huấn luyện có sẵn từ trước đến nay

Trước khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, trình độ phát triển tố chất sứcbền chuyên môn của hai nhóm không có sự khác biệt rõ ràng

2.1.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá thực trạng của VĐV đốitượng nghiên cứu đồng thời kiểm tra kết quả của hệ thống bài tập mà đề tài tiếnhành kiểm tra 2 giai đoạn thực nghiệm Để kiểm tra và đánh giá hiệu quả các bàitập chúng tôi lựa chọn một số test để đánh giá như:

1 Chạy con thoi (s)

2 Dẫn bóng số 8 ném rổ 5 lần (s)

3 Bật nhảy liên tục với cao 40 cm trong 60” (lần)

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê

Phương pháp này sử dụng để phân tích và xử lý số liệu thu thập được Sauđây là những công thức được sử dụng trong đề tài

1 Giá trị trung bình cộng:

Trang 26

B A

n n

X X t

2 2

B A

n n

x x x

) )(

(

y y x x

y y x x r

i i

i i

* Giai đoạn 1: Từ tháng 12/2009 đến tháng 4/2010: Xây dựng và bảo vệ

đề cương nghiên cứu Thu thập nghiên cứu tài liệu có liên quan.

* Giai đoạn 2: Từ tháng 5/20010 đến tháng 9/2010: Tiến hành điều tra

thực trạng công tác huấn luyện sức bền chuyên môn cho đội tuyển Bóng rổ nữtrường ĐH TDTT Bắc Ninh, nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chođối tượng nghiên cứu

* Giai đoạn 3: Từ tháng 10/20010 đến tháng 1/2011: Tiến hành thực

nghiệm các bài tập cho đội tuyển nữ Bóng rổ trường ĐH TDTT Bắc Ninh, kiểmtra hiệu quả phát triển sức bền sau thực nghiệm

* Giai đoạn 4: Từ tháng 2/2011 đến tháng 6/2011: Phân tích kết quả

nghiên cứu, viết và hoàn thiện luận văn Chuẩn bị và bảo vệ kết quả nghiên cứu trước hội đồng khoa học

Trang 27

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN

Để đạt hiệu quả trong quá trình huấn luyện trong các môn bóng nói chung

và Bóng rổ nói riêng thì ngay từ đầu cần vạch ra được các hướng đi đúng và có

kế hoạch huấn luyện riêng của mình cả về thể lực lẫn kĩ - chiến thuật Tuynhiên, tùy thuộc vào từng môn thể thao, giai đoạn thi đấu mà có thể ưu tiên choviệc huấn luyện thể lực hay kĩ chiến thuật nhiều hơn Trong Bóng rổ vấn đề vềthể lực luôn là yếu tố quan trọng ở tất cả các giai đoạn phát triển VĐV Xongvấn đề kĩ – chiến thuật cũng phải được quan tâm một cách hợp lý

Đội tuyển Bóng rổ nữ được thành lập vào năm 2008 với 20 VĐV và 2HLV Trong đó có 4 trung phong, 8 hậu vệ và 8 tiền phong Có 2 VĐV có đẳngcấp và 18 VĐV là các sinh viên mới tập luyện Thời gian tập luyện là 2buổi/tuần, tổng thời gian một buổi tập là 120 phút Tập huấn thi đấu giải 2 tuần

15 ngày, 2 buổi tập/ngày Hằng năm tham gia giải Bóng rổ các tỉnh phía Bắc vàthi đấu giải sinh viên toàn quốc (2 năm/lần) Hằng tháng thi đấu giao hữu vớicác đội trong khu vực phía Bắc

Để tìm hiểu thực trạng huấn luyện thể lực cũng như huấn luyện sức bềnchuyên môn cho đội tuyển Bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh chúng tôiquan sát và trực tiếp tìm hiểu tiến trình, kế hoạch huấn luyện của đội tuyển Bóng

rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh Kết quả chúng tôi trình bày ở bảng

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát chương trình thể lực cho đội tuyển bóng rổ nữ

trường Đại học TDTT Bắc Ninh.

Trang 28

Qua bảng 3.1 chúng tôi thấy kế hoạch huấn luyện thể lực của đội tuyển như sau:

- Thời gian huấn luyện sức nhanh là: 26.5%

- Thời gian huấn luyện sức mạnh là: 26,5%

- Thời gian huấn luyện sức bền là: 30%

- Thời gian huấn luyện mềm dẻo là: 6.5%

- Thời gian huấn luyện khéo léo là: 6.5%

Trong khi đó thời gian sức mạnh bền chuyên môn là 17.0% chiếm 50%thời gian huấn luyện sức bền Như vậy, thời gian dành cho huấn luyện sức bềnchuyên môn của đội tuyển bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh là còn quá ít

3.1.2 Thực trạng trình độ sức bền chuyên môn của VĐV đội tuyển bóng rổ nữ trường Đại học TDTT Bắc Ninh.

Trong những năm gần đây, Bóng rổ phát triển nhanh chóng, qua các giảiBóng rổ chúng ta nhận thấy trình độ thi đấu của các đội đứng đầu không cóchênh lệch lớn Trong số đó đa phần là các đội tuyển của tỉnh phía Bắc

Bóng rổ là môn thể thao có tính chất đối kháng mạnh, với những tìnhhuống xảy ra liên tục trên sân và thời gian thi đấu kéo dài của một trận đấu, mộtgiải đấu Việc đạt thành tích trong thi đấu Bóng rổ phụ thuộc rất nhiều yếu tố, cụthể là sự tổng hòa các thành tích của từng cá nhân Trong đó mỗi đấu thủ của độiphải chịu tác động từ nhiều mặt Do đó, người có trình độ thể lực tốt thì các hoạtđộng phòng thủ cũng như tấn công đều đạt hiệu quả cao, có thể cùng đồng độigây nên những bất ngờ cho đối phương, có thể làm cho đối phương thi đấu theo

ý đồ chiến thuật của mình và đạt hiệu quả cao

Do đó, những VĐV muốn đạt được hiệu quả cao trong tập luyện cũng nhưtrong thi đấu đều phải có trình độ thể lực tốt Đặc biệt là sức mạnh và sức bềnchuyên môn

Trang 29

Bóng rổ cũng như các môn thể thao khác, trong quá trình huấn luyện baogiờ cũng có huấn luyện thể lực.

Huấn luyện thể lực là quá trình huấn luyện bằng các phương tiện của thểdục thể thao (chủ yếu là các bài tập thể lực) để tác động có chủ đích đến sự pháttriển và hoàn thiện hình thái chức năng, tố chất thể lực và sức khỏe của VĐV

Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động nào đó với cường độ chotrước hay năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể

có thể chịu đựng được

Vì vậy phát triển sức bền chuyên môn có ý nghĩa rất lớn trong thi đấuBóng rổ Vì Bóng rổ là môn thể thao thi đấu đồng đội, đối kháng trực tiếp, hầuhết các tình huống thi đấu đều mang tính chất luân phiên ở cả hai phía đòi hỏicác VĐV phải sử dụng triệt để khả năng khéo léo của đôi tay, di chuyển chạychỗ, nhận bóng, chuyền bóng hợp lý để thực hiện các kĩ thuật, chiến thuật để ghiđiểm cho đội mình và thực hiện trong suốt thời gian trận đấu Nếu như các VĐVthực hiện đầy đủ các chức năng và nhiệm vụ của mình trong suốt trận đấu mộtcách hoàn tất thì trước thi đấu VĐV không những phải nâng cao trình độ chuyênmôn của mình mà còn phải có sự chuẩn bị tốt về sức bền chuyên môn

Kết thúc một học kỳ kiểm tra trình độ chung của VĐV nữ Bảng 3.2 là kếtquả kiểm tra định kỳ trình độ của VĐV đội tuyển nữ vào tháng 6/2009

TRA

TIỀNPHONG

TRUNGPHONG

HẬU VỆTẤN CÔNG

Trang 30

Từ thực tế thi đấu cho thấy đội bóng nào có sự chuẩn bị tốt về sức bềnchuyên môn thì đó là đội luôn giữ thế chủ động trong thi đấu, có hiệu quả némbóng vào rổ, chuyền bắt bóng, tranh bóng bật bảng tốt hơn và là đội giành phầnthắng.

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đi tới quyết định tiến hành thống kê sốliệu về nhảy ném rổ của các đội Bóng rổ qua giải Bóng rổ các tỉnh phía Bắc năm

2009

Trang 31

Bảng 3.3: Thống kê số lần nhảy ném rổ tại giải Bóng rổ các tỉnh phía Bắc năm 2009

Tên đội

Tổng số lần thực hiện

SL thực hiện

Thành công

Thất bại

SL thực hiện

Thành công

Thất bại

SL thực hiện

Thành công

Thất bại

SL thực hiện

Thành công

Thất bại

Bách Khoa

Hà Nội 105

22.8% 41.7% 58.3% 25.7% 33.3% 66.7% 24.8% 30.8% 69.2% 26.7% 17.9% 82.1% Đại Học

Kiến Trúc 107

24.3% 34.6% 65.34% 23.4% 32.0% 68.0% 27.1% 20.7% 79.3% 25.2% 18.5% 81.5% Đại học TDTT

Trang 32

Biểu đồ 1: Hiệu quả thực hiện nhảy ném rổ tại giải Bóng rổ các tỉnh phía Bắc 2009

Trang 33

Qua các bảng thống kê số liệu trên cho thấy: ở hiệp thứ nhất của trận đấuthì hiệu quả nhảy ném rổ của các đội bóng thường không cao.

V.d: Tại giải bóng rổ các tỉnh phía Bắc 2009 đội ĐH TDTT Bắc ninh có

25 lần thực hiện, trong số đó lần thực hiện thành công là 10 lần, chiếm 40.0%,thất bại 15 lần, chiếm 60.0%

- Sang hiệp hai của mỗi trận đấu thì hiệu quả cao hơn hiệp thứ 1, số lầnthực hiệp động tác hỏng giảm đi

V.D: Cũng tại giải Bóng rổ các tỉnh phía Bắc 2009, đội ĐH TDTT Bắcninh có 32 lần thực hiện nhảy ném rổ Trong số đó lần thực hiện thành công là

14 lần, chiếm 43.7%, thất bại 18 lần, chiếm 56.3%

Nhưng hiệp 3 và hiệp 4 của mỗi trận đấu thì hiệu quả thi đấu đã giảm đirất nhiều so với hiệp 1 và hiệp 2

V.D: Đội ĐH TDTT Bắc ninh ở hiệp thứ 4 có 28 lần thực hiện nhảy ném

rổ Trong đó chỉ có 6 lần thực hiện thành công, chiếm 24.4%,trong khi đó thấtbại tới 22 lần, chiếm 78.6%

Vì vậy mỗi câu hỏi đặt ra ở đây là nguyên nhân nào dẫn tới hiệu quả thiđấu của các đội qua mỗi hiệp lại có sự thay đổi lớn như vậy? Để giải quyết câuhỏi trên chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và tham khảo ý kiến của các huấnluyện viên Bóng rổ của trường ĐH TDTT Bắc ninh và rút ra một số kết luậnnhư sau:

Trong hiệp một của mỗi trận đấu, hiệu quả thực hiện nhảy ném rổ của cácđội không cao, điều đó hoàn toàn không do ảnh hưởng của vấn đề thể lực bởi vìlúc này các VĐV chưa phải hoạt động nhiều Như chung ta dã biết, sức bền phụthuộc chủ yếu vào thời gian và cường độ vận động Vì vậy, nguyên nhân gâynên sự kém hiệu quả của các đội bóng theo chúng tôi có thể do các VĐV chuẩn

bị tâm lý thi đấu chưa tốt, các VĐV chưa thích nghi được vợi nhịp độ của trậnđấu Mặt khác, ở những phút đầu của trận đấu thường diễn ra theo tính chất

“thăm dò”, các đội phòng thủ rất chặt chẽ nên hiệu quả trong tấn công khôngcao

Ngày đăng: 04/09/2015, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Nghiệp Chí ( 1991), đo lường thể thao, NXB TDTT Hà Nội Khác
2. Đình Can (1976), kỹ thuật Bóng Rổ, NXB TĐTT Hà Nội Khác
3. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên(1995), sinh lý TDTT,NXB TDTT Hà Nội Khác
4. Lê Văn Lẫm(1993), đo lường thể thao tài liệu giảng dạy cho các khoá bồi dưỡng sau đại học, NXB TDTT Hà Nội Khác
5. Nôvicốp - Mátvêép(1980), lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, NXB TDTT Hà Nội Khác
6. Philin(1995), lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, NXB TDTT Hà Nội Khác
7. Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn(1993), lý luận và phương pháp thể dục thể thao, NXB TDTT Hà Nội Khác
8. Nguyễn Văn Trung(1996), tài liệu giảng dạy Bóng Rổ, NXN TDTT Hà Nội Khác
9. Nguyễn Văn Trung, Phạm Văn Thảo(2003), giáo trình Bóng Rổ, NXB TDTT Hà Nội Khác
10. Uỷ ban thể dục thể thao(2005), luật Bóng Rổ, NXB TDTT Hà Nội Khác
11. Nguyễn Đức Văn(1987), phương pháp thống kê trong thể dục thể thao, NXB TDTT Hà Nội Khác
12. Nguyễn Văn Trung, Phạm Văn Thảo(2004), huấn luyện kỹ thuật,NXB TDTT Hà Nội Khác
13. Iu.M.Portnove(1997), Bóng Rổ, NXB TDTT Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Đánh giá vai trò huấn luyện các tố chất thể lực trong huấn luyện - Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh
Bảng 1.1 Đánh giá vai trò huấn luyện các tố chất thể lực trong huấn luyện (Trang 21)
Bảng 1.2. Thống kê số điểm ghi được trong các trận đấu của đội ĐH TDTT - Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh
Bảng 1.2. Thống kê số điểm ghi được trong các trận đấu của đội ĐH TDTT (Trang 23)
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát chương trình thể lực cho đội tuyển bóng rổ nữ - Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát chương trình thể lực cho đội tuyển bóng rổ nữ (Trang 27)
Bảng 3.3: Thống kê số lần nhảy  ném rổ tại giải Bóng rổ các tỉnh phía Bắc năm 2009 - Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh
Bảng 3.3 Thống kê số lần nhảy ném rổ tại giải Bóng rổ các tỉnh phía Bắc năm 2009 (Trang 31)
Bảng 3.4: Kết quả lựa chọn các bài tập phát triển sức bền chuyên môn - Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh
Bảng 3.4 Kết quả lựa chọn các bài tập phát triển sức bền chuyên môn (Trang 35)
Bảng 3.5: Tiến trình thực nghiệm - Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh
Bảng 3.5 Tiến trình thực nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra của 2 nhóm trước thực nghiệm (n 1  = n 2  = 10) - Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ trường đại học TDTT bắc ninh
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra của 2 nhóm trước thực nghiệm (n 1 = n 2 = 10) (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w