BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCHTRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH BÙI VĂN ĐIỀN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, CHỨC NĂNG VÀ THỂ LỰC CỦA SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
BÙI VĂN ĐIỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, CHỨC NĂNG VÀ THỂ LỰC
CỦA SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SAU MỘT HỌC KỲ
Ngành: GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Mã số: 521.40206
LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỂ DỤC THỂ THAO
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Đàm Trung Kiên
BẮC NINH - 2011
Trang 2NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn
Bùi Văn Điền
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Vận động viên : VĐVHuấn luyện viên : HLVThể dục thể thao : TDTTHuyến áp : HATần số nhịp tim: TSNT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
MỤC LỤC
Trang 7là nghĩa vụ của mỗi người dân và toàn xã hội, vì thế đây là vấn đề quan trọngtrong chiến lược xây dựng và phát huy nhân tố con người ở nước ta Sức khỏe làtiền đề để con người phát triển trí tuệ, tiếp thu kiến thức, kỹ năng kỹ xảo vậnđộng trong cuộc sống Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, một thiên niên kỷmới, trong đó nền kinh tế tri thức là chủ đạo, những thành tựu của cuộc cáchmạng khoa học công nghệ đang được ứng dụng một cách triệt để vào tất cả cáclĩnh vực của đời sống Vì vậy vai trò sức khỏe của con người lại càng quantrọng Hòa cùng với xu thế chung của thời đại, Việt Nam đã và đang bước vàothời kỳ mới, sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đặt ra nhữngyêu cầu gay gắt về phát triển nguồn nhân lực Toàn Đảng, toàn dân ta đang rasức bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước để nhanh chóng hòa nhập với cácnước trong khu vực và trên thế giới Để làm được điều đó hơn bao giờ hết cầnphải có những con người khỏe mạnh, phát triển toàn diện về thể chất và tinhthần Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển thể chất trong
sự nghiệp xây dựng con người mới Xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Ban chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ II khóa VIII nêu rõ: “Muốn tiến hành công nghiệphóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn lựccon người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền vững”
Đảng ta khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triểncủa xã hội “Chiến lược con người” là một trong những chiến lược quan trọngcủa Đảng và nhà nước ta Nhận thức đó có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thựctiễn thể hiện tính nhân bản trong chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
ta Sự phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm Thống nhất tăngtrưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội Mục tiêu của chính sách xã hộithống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế đều nhằm phát huy sức mạnh nhân tốcon người và vì con người Đảng ta đã khẳng định: “Nguồn nhân lực lớn nhất,quý báu nhất của chúng ta là tiềm lực con người Việt Nam”
Để thực hiện được mục tiêu đề ra Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quantâm chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm phát triển chất lượng nguồn nhân lực
Trang 8Bằng những chớnh sỏch đỳng đắn của Đảng và Nhà nước cựng với sự đi lờn củanền kinh tế đất nước, thể lực và tầm vúc người Việt Nam cú những bước phỏttriển khỏ trong những năm gần đõy Tuy nhiờn, so với cỏc tiờu chuẩn của quốc
tế, thể lực và tầm vúc người Việt Nam cũn thua kộm nhiều nước trong khu vực.Tỡnh trạng này nếu chậm khắc phục sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp cụng nghiệphoỏ, hiện đại hoỏ và quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế
Sinh viờn cỏc trường đại học, cao đẳng là lực lượng lao động trớ thứctrong tương lai gần của đất nước Lực lượng này đúng vai trũ quan trọng trong
sự nghiệp đổi mới, cụng nghiệp hoỏ, hiện đại húa đất nước Trỡnh độ phỏt triểnthể chất của đối tựơng này khụng chỉ là vấn đề nũi giống mà cũn là vấn đề chăm
lo bồi dưỡng một lực lượng lao động quan trọng Vỡ vậy trong nhiều năm qua,chăm lo chuẩn bị thể chất cho toàn dõn núi chung và cho đối tượng này núi riờng
là một trong những mối quan tõm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Sự quantõm đú thể hiện trờn chủ trương đường lối và cả trờn cỏc biện phỏp thực tế.Chuẩn bị thể chất cho đối tượng này là trỏch nhiệm của toàn xó hội, trong đú haingành thể dục thể thao và Giỏo dục đào tạo đúng vai trũ trực tiếp quan trọng Dotớnh chất và tầm quan trọng nờu trờn, ở nước ta cỏc nhà khoa học đó cú một sốcụng trỡnh nghiờn cứu với mục đớch thu thập những thụng tin về thực trạng thểchất, sức khỏe và thể lực cho sinh viờn như: Vũ Đức Thu và cộng sự năm 1989– Lờ Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải, Vũ Bớch Huệ, Nguyễn ThỏiSinh, Đỗ Vĩnh và cộng sự Năm 2000 - 2002, trong chương trỡnh điều tra thểchất người Việt Nam từ 6 đến 60 tuổi của Viện khoa học thể dục thể thao vấn đềnày đó được nghiờn cứu một cỏch khỏ quy mụ Tuy nhiờn, với trỡnh độ của mộtsinh viờn quan tõm đến sự phỏt triển thể chất của sinh viờn, đặc biệt là của hệCao đẳng khúa đầu tiờn của trường Đại học TDTT Bắc Ninh
Xuất phỏt từ những lý do trờn chỳng tụi tiến hành nghiờn cứu đề tài:
" Nghiên cứu đặc điểm hình thái, chức năng và thể lực của sinh viên hệ cao đẳng sau một học kỳ ".
* Mục đớch nghiờn cứu:
Trang 9Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục đích đánh giá mức độphát triển thể chất của sinh viên hệ Cao Đẳng trường Đại học TDTT Bắc Ninh.Thông qua sự biến đổi các chỉ số về hình thái chức năng và thể lực sau một học
kỳ tập luyện số liệu nghiên cứu đựơc làm cơ sở dữ liệu, tài liệu cho công tácnghiên cứu và giảng dạy
* Mục tiêu nghiên cứu:
Để giải quyết mục đích nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng 2 mục tiêu nghiêncứu sau:
Mục tiêu 1: Lựa chọn chỉ tiêu và đánh giá thực trạng hình thái, chức năng và thể
lực của sinh viên cao đẳng Trường Đại Học TDTT Bắc Ninh
Mục tiêu 2: Đặc điểm chỉ tiêu của sinh viên hệ cao đẳng.
* Giả thuyết khoa học:
Đề tài đặt ra giả thuyết hình thái, chức năng, thể lực rất cần cho hoạt độngthể chất trong trường Đại học TDTT Bắc Ninh Thể chất của hệ Cao đẳng khácbiệt hoàn toàn so với hệ Đại học nên việc học tập sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.Kết quả nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ vấn đề là Thể chất của 2 hệ Cao đẳng và Đạihọc có sự tương đồng và yếu tố hình thái, chức năng, thể lực của hệ Cao đẳngthuộc mức phát triển phù hợp với tiêu chuẩn phát triển thể chất người Việt Nam
và đáp ứng được yêu cầu đào tạo của nhà trường
* Đối tượng nghiên cứu: Là các chỉ tiêu về hình thái chức năng, thể lực
của sinh viên nam, nữ hệ Cao đẳng trường đại học TDTT Bắc Ninh
* Phạm vi nghiên cứu: 30 sinh viên nam, 15 sinh viên nữ lớp Điền kinh
hệ Cao đẳng và 30 sinh viên nam, 15 sinh viên nữ lớp Điền kinh 46 (khoa sưphạm thể dục) hệ Đại học
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN
1.1.1 Các khái niệm
Thể chất
Trang 10Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Thể chất là thuật ngữ chỉ chất lượngcủa cơ thể con người Đó là những đặc trưng về hình thái và chức năng của cơthể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhautheo qui luật sinh học Thể chất được hình thành và phát triển đo bẩm sinh ditruyền và những điều kiện sống tác động”.
Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: “Thể chất chỉ chất lượng thân thểcon người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năngcủa cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống(bao gồm cả giáo dục, rèn luyện)” Các tác giả cho rằng: thể chất bao gồm hìnhthái (thể hình), chức năng và năng lực vận động
Hình thái là cấu trúc, hình dáng bên ngoài của cơ thể Trong Thể dục thểthao có khoảng 50 chỉ số hình thái được nghiên cứu (những chỉ số hình tháithông dụng như: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng đùi,vòng bụng, vòng cánh tay…)
Chức năng là khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể:thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, vận động …
Năng lực vận động bao gồm thể lực và các kỹ năng vận động cơ bản như
đi, chạy, nhảy…
Phát triển thể chất
Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Phát triển thể chất của con người làquá trình biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể conngười trong suốt cả cuộc sống cá nhân của nó”
Phát triển thể chất biểu hiện qua các chỉ số hình thái như: kích thước trongkhông gian và trọng lượng cơ thể, còn sự phát triển về chức năng thể hiện ở sựbiến đổi các khả năng chức phận của cơ thể theo các thời kỳ và các giai đoạnphát triển theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi này thể hiện qua các tố chất thể lựcnhư: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo Sự biến đổi năng lựchoạt động của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí phát triển thể chất tuân theo các quy luật tự nhiên, trong các quy luật đó có
Trang 11quy luật tác động lẫn nhau của các xu hướng phát triển di truyền và các xuhướng bị điều kiện sống tác động; quy luật xác định lẫn nhau của các biến đổicấu trúc và chức năng; các thời kỳ theo lứa tuổi phát triển từ từ và thay thế nhau(các thời kỳ phát triển nhanh được thay thế bằng các thời kỳ ổn định tương đối
về cấu trúc và chức năng, sau đó đến các thời kỳ biến đổi sút kém)
Tuy nhiên theo Matveep L.P phát triển thể chất của con người còn phụthuộc vào các điều kiện sống và hoạt động của con người (điều kiện phân phối
và sử dụng sản phẩm vật chất, giáo dục, lao động, sinh hoạt …) và do đó sự
“phát triển thể chất của con người là do xã hội tác động và tác động ở mức độquyết định”
Tổng hợp quan điểm của nhiều tác giả cho thấy, phát triển thể chất củacon người là quá trình biến đổi các yếu tố thể chất và tinh thần, quá trình nàydiễn ra trong suốt cuộc đời của một cá thể theo hai giai đoạn cơ bản là giai đoạnphát triển thuận chiều (dương tính) và phát triển ngược chiều (âm tính hay giaiđoạn suy thoái), phát triển thể chất phụ thuộc vào tổng hòa các yếu tố tự nhiên
và xã hội
Phát triển thể chất là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt cuộc đờimột cá thể Những biến đổi về hình thái, chức năng và tố chất vận động là nhữngyếu tố cơ bản để đánh giá sự phát triển thể chất Phát triển thể chất là một quátrình chịu sự tác động của tổng hợp các yếu tố tự nhiên – xã hội Các yếu tố xãhội đóng vai trò tác động trực tiếp và quyết định sự phát triển thể chất của cơ thểcon người
Từ những luận điểm trên rõ ràng, phát triển thể chất chịu ảnh hưởng củanhiều yếu tố và có thể ghép chúng vào các nhóm Nói cách khác, phát triển thểchất có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Tự nhiên (bẩm sinh và
di truyền, điều kiện địa lý, khí hậu, thời tiết), xã hội (điều kiện kinh tế, giáo dục,giáo dục thể chất, lao động, vệ sinh, sinh hoạt ) Các chỉ tiêu nghiên cứu đểđánh giá phát triển thể chất cũng rất đa dạng như: các chỉ tiêu về hình thái (chiềucao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chỉ số Quetelet), các chỉ tiêu chức năng (công
Trang 12năng tim, dung tích sống, Test tepping), các chỉ tiêu về tố chất vận động (bật xatại chỗ, chạy 30m XPC, dẻo gập thân, chạy con thoi 4 x 10m, chạy 5 phút tùysức ).
Giáo dục thể chất
Thuật ngữ giáo dục thể chất có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước Ở nước
ta, do bắt nguồn từ gốc Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt giáo dục thể chất làthể dục theo nghĩa tương đối hẹp Vì theo nghĩa rộng của từ Hán – Việt cũ, thểdục còn có nghĩa là thể dục thể thao
Thông thường, người ta coi giáo dục thể chất là một bộ phận của thể dục thể thao Nhưng chính xác hơn, đó còn là một trong những hình thức hoạtđộng cơ bản có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình
có tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị của thể dục thể thao trong hệthống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu trong nhà trường) [34, 28]
Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: “Giáo dục thể chất là một loạihình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và pháttriển có chủ định các tố chất vận động của con người” Từ quan niệm trên ta cóthể coi phát triển thể chất là một phần hệ quả của giáo dục thể chất Quá trìnhphát triển thể chất có thể chỉ là bẩm sinh tự nhiên (sự phát triển thể chất tự nhiêncủa trẻ khi đang lớn) hoặc còn có thêm tác động có chủ đích, hợp lý của giáodục thể chất mang lại
Giáo dưỡng thể chất
Theo P.Ph.Lexgaphơtơ (1837 – 1909), nhà bác học Nga nổi tiếng, nhà sưphạm, nhà hoạt động xã hội, người sáng lập học thuyết giáo dưỡng thể chất, bảnchất của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học, tách riêng các cử động ra và sosánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với cáctrở ngại, đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất
Hoàn thiện thể chất
Trang 13Theo Aulic: “Hoàn thiện thể chất là tổng hợp các ý niệm về phát triển thểchất cân đối ở mức độ hợp lý và về trình độ huấn luyện thể lực toàn diện của conngười”.
Sức khỏe
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe được hiểu là trạng thái hàihòa về thể chất, tinh thần xã hội, mà không chỉ nghĩa là không có bệnh haythương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môitrường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả
Thể lực
Thể lực là sức lực của cơ thể, biểu hiện qua các tố chất thể lực Tố chấtthể lực là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người Bao gồm:nhanh, mạnh, bền, khéo léo và mềm dẻo Tố chất thể lực thường được thể hiệntrong khi làm động tác và phụ thuộc vào cấu trúc của động tác Ngoài ra, việcthể hiện các tố chất còn phụ thuộc trạng thái người tập và điều kiện thực hiện
Các tố chất như sức mạnh, sức nhanh, sức bền và mềm dẻo là những yếu
tố mang tính năng lượng (vì phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp năng lượng)còn khả năng phối hợp vận động (khéo léo) là một yếu tố mang tính thần kinh –
cơ (vì chủ yếu liên quan đến sự điều khiển của hệ thần kinh – cơ) Hai thuật ngữ
tố chất thể lực và tố chất vận động tương đồng về nghĩa vì cùng phản ảnh nhữngnhân tố, những mặt tương đối khác nhau của thể lực con người Tuy nhiên, khinói tố chất vận động là muốn nhấn mạnh mặt điều khiển động tác của hệ thầnkinh trung ương Khi nói tố chất thể lực là muốn nhấn mạnh đến đặc trưng sinhhọc của cơ thể
Trình độ thể lực là mức độ phát triển của các tố chất của con người Đó là sựtích lũy của những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (chức năng và hình thái)diễn ra trong cơ thể dưới tác động của tập luyện và biểu hiện ở năng lực hoạt độngcao hay thấp Những biến đổi này diễn ra theo hai hướng có liên quan đến nhau.Một là, sự tăng cường các khả năng chức phận và năng lực hoạt động tiềm tàng củacác cơ quan trong cơ thể trên cơ sở những biến đối về cấu trúc và sinh hoá Hai là,
Trang 14sự hoàn thiện khả năng điều hòa hoạt động của các cơ quan và các hệ thống thầnkinh trung ương.
Thể lực được phân biệt thành thể lực chung và thể lực chuyên môn Thểlực chung không mang tính chuyên môn hoá và là nền tảng để phát triển thể lựcchuyên môn
Trình độ thể lực chung là năng lực tổng hòa mức độ của các tố chất thểlực Trong việc nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực chung các nhà khoa họcthường sử dụng các test đánh giá mức độ phát triển các tố chất vận động Cáctest được dùng để đánh giá thể lực chung rất đa dạng, đặc điểm chung là kỹthuật thực hiện dễ
1.1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong trường học.
Sự nghiệp thể dục thể thao chăm lo sức khỏe cho nhân dân ở nước ta đượcxây dựng và phát triển trong chế độ mới hơn 60 năm qua Được Đảng, Nhà nước
và Chủ Tịch Hồ Chí Minh quan tâm lãnh đạo, chăm sóc và đầu tư phát triển, thểdục thể thao chăm lo sức khỏe cho nhân dân là một bộ phận quan trọng của sựnghiệp cách mạng và ngày càng trở thành phong trào quần chúng sâu rộng
Trong từng giai đoạn cách mạng, theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụthể, Đảng luôn có những chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo kịp thời, đề ra những chủtrương nhằm đẩy mạnh phong trào TDTT chăm lo sức khỏe cho nhân dân Hàngloạt các chỉ thị về công tác TDTT được Đảng ban hành như Chỉ thị 106/CT-TƯngày 2/10/1958, Chỉ thị 181/CT-TƯ ngày 31/01/1960, Chỉ thị 180/CT-TƯ ngày26/8/1970 và chỉ thị 227/CT-TƯ ngày 18/11/1975 đều nhấn mạnh đến vai tròTDTT như một công tác cách mạng, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là chăm sóc sựckhỏe, tăng cường thể chất cho nhân dân, nhất là thanh thiếu niên, học sinh – sinhviên
Trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII(khóa III) tháng 06/1991 có ghi rõ “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn
Trang 15thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông chuyênnghiệp và các trường đại học”
Sau 20 năm thực hiện chỉ thị 227/CT-TƯ ngày 18/11/1975, Ban Bí thưTrung ương Đảng đã ra chỉ thị 36/CT-TƯ ngày 24/03/1994 nhấn mạnh “… thựchiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTTtrở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến
sĩ, các lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên chức và một bộ phận nhândân” Gần đây, Thường vụ Bộ Chính trị (Khóa VIII) đã ra thông tư 03 về tăngcường lãnh dạo công tác TDTT, một lần nữa nhắc nhở thực hiện tốt công tácgiáo dục thể chất
Luật giáo dục quy định: “Nhà nước coi trọng thể dục thể thao trường học,nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng.Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thựchiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học”
Chương III, Pháp lệnh thể dục thể thao quy định: “Thể dục thể thao trườnghọc bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động ngoại khóa cho người học Giáo dụcthể chất trong trường học là chế độ giáo dục thể chất bắt buộc, nhằm nâng cao sứckhỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứngyêu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích thể dục thểthao ngoại khóa trong nhà trường”
Ngày 7/3/1996 Thủ Tướng chính phủ ra chỉ thị 113/TTg về việc xây dựng
và quy hoạch phát triển ngành thể dục thể thao, về giáo dục thể chất trường học
có đoạn viết: “Bộ giáo dục đào tạo cần coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhàtrường, cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khóa, ngoại khóa, quyđịnh về tiêu chuẩn rèn luyện thên thể cho học sinh các cấp học, các quy chế bắtbuộc đối với nhà trường”
Bộ giáo dục và đào tạo, cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục, trên tinhthần các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chấttrong trường học đã kịp thời ban hành các văn bản để thi hành như trong quy chế
Trang 16giáo dục thể chất và thể thao trường học có viết “Cải tiến chương trình giảngdạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao cho trườnghọc các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độgiáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Thông tư số 11/TT-GD-ĐT ngày 01/08/1994,hướng dẫn thực hiện chỉ thị 36/CT-TƯ về công tác TDTT trong giai đoạn mớiđối với ngành mình và đã chỉ rõ:” cải tiến tiêu chuẩn rèn luyện thân thể vànội dung chương trình giảng dạy TDTT cho học sinh – sinh viên Đào tạo và bồidưỡng giáo viên TDTT cho trường học các cấp – Tạo những điều kiện cần thiết
về cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện việc dạy và học thể dục bắt buộc ở tất
cả các trường học ”
Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục TDTT đã có Thông tư số04/93/GD-ĐT/TDDD ngày 17/04/1993 về việc đẩy mạnh và nâng cao chấtlượng giáo dục thể chất cho học sinh – sinh viên đã nêu: “Trong quá trình pháttriển và đào tạo, giáo dục thể chất là nội dung, biện pháp quan trọng góp phầnđào tạo thanh thiếu niên Việt Nam phát triển hài hòa về trí tuệ, thể chất, tinhthần và đạo đức; đồng thời xây dựng nhà trường thành những cơ sở phong tràoTDTT quần chúng của học sinh – sinh viên”
Tóm lại, Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta coi sức khỏe của nhân dân nhất làcủa thanh thiếu niên là tài sản của đất nước, do vậy chăm lo sức khỏe của mọingười dân là trách nhiệm chung của các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền, củatoàn xã hội
1.1.3 Tình hình sức khỏe, thể chất sinh viên nước ta
Chăm lo cho thế hệ trẻ về mọi mặt, là trách nhiệm của toàn xã hội, nhằmđào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực tương lai cho đất nước Sự chăm lo vềnhiều mặt, trong đó có mặt quan trọng và tất yếu là chăm lo về sức khỏe và thểlực, bởi vì sự cường tráng về thể chất, không những là nhu cầu của bản thân conngười, mà còn là vốn quý để tạo ra những tài sản vật chất và tinh thần cho xãhội
Trang 17Ý thức được điều này, các nước tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là cácnước có nền công nghiệp phát triển, vấn đề giáo dục thể chất toàn dân được Nhànước đặc biệt quan tâm Ở nước ta cũng vậy, Nhà nước đưa vấn đề giáo dục thểchất là quốc sách và duy trì giáo dục thể chất đại học bắt buộc đối với sinh viên
Theo tài liệu của các nhà chuyên môn, hiện nay sức khỏe, thể chất củasinh viên trong các trường Đại học đã khá hơn nhiều so với các kết quả điều tratrước nay Điều này được chứng minh qua các công trình nghiên cứu của các tácgiả trong nước như sau:
- Theo nhóm tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải và VũBích Huệ, trong cuốn “Thực trạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viêntrước thềm thế kỷ XXI” đã nhận xét: sinh viên nước ta đến năm 1998, ở lứa tuổi
18 – 22, có chiều cao ở nam là 165.16cm, ở nữ là 154.81cm So với năm 1996,của các tác giả trong cuốn “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa”, thì chiều cao của sinh viên cùng lứa tuổi ở nam là 163.97cm –164.97cm, ở nữ sinh viên là 153.2cm – 153.8cm
- Theo nhóm tác giả Hoàng Công Dân, Dương Nghiệp Chí trong bài viết:
“Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 -60 tuổi ở đầu thế kỷ 21” qua điều trathể chất người Việt Nam trên phạm vi toàn quốc nhóm tác giả nhận định: chỉ sốphát triển chiều cao, cân nặng của người Việt Nam từ 6 – 60 tuổi, nếu so sánhnhững số liệu với HSSHVN năm 1975 thì, sau hơn 25 năm; nam 20 tuổi trungbình cao lên được 6cm, nặng lên được 8 kg (năm 2001 chiều cao trung bình165.14 ± 5.62cm, cân nặng 53.19 ± 6.02 kg; năm 1975 chiều cao 159 cm, cânnặng 45 kg) So sánh với các số liệu của Bộ Y Tế khi nghiên cứu giá trị sinh họcngười Việt Nam bình thường thập kỷ 90 của thế kỷ 20 thì chiều cao nam tuổi 20– 24 là 163.72cm, chiều cao của nữ là 153 cm
Chỉ số công năng tim (liên quan đến chức năng tim mạch), chỉ sốQuetelet, BMI ở mọi lứa tuổi của ta so với chuan quốc tế đều chỉ xếp vào loạidưới trung bình và trung bình
Trang 18Kết quả đánh giá phát triển các chỉ tiêu tố chất thể lực cho thấy sinh viênhiện nay trình độ thể lực chung tốt hơn trước đây: Nằm sấp co duỗi tay ở nữ sinhviên (1998), đạt từ 8 – 13 lần, cao hơn hẳn năm 1993; lúc đó nữ sinh viên chỉ đạt
từ 4 – 7 lần
Theo Nghiêm Xuân Thúc (1998), Đánh giá thực trạng thể lực sinh viêntrường Đại học Bách khoa Hà Nội theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộgiáo dục và đào tạo đã đưa ra kết luận: số sinh viên dạt tiêu chuẩn đánh giá sứcmạnh rất cao: bật xa ở nam đạt 92%, nữ đạt 91.1%, ở nam co tay xà đơn đạt72.5%; nằm sấp co duỗi tay nữ đạt 70%
Qua các số liệu trên cho thấy, thể chất của sinh viên nước ta gần đây có sựgia tăng so với các năm trước Điều này, đã phản ánh thực tế đời sống kinh tế ổnđịnh và các điều kiện được cải thiện của đất nước và quá trình giáo dục thể chấtđúng hướng ở trong các trường Đại học, cao đẳng Tuy vậy, người Việt Namvốn đã thấp bé lại trãi qua nhiều năm chiến tranh, do đó thể chất dù có gia tăngtrong những năm gần đây, thì vẫn thấp hơn các nước trong khu vực cùng lứatuổi
Tóm lại: Từ việc phân tích, so sánh tình hình sức khỏe, thể chất của sinhviên nước ta, chúng tôi rút ra nhận xét sau:
- Sức khỏe, thể chất của sinh viên nước ta tuy có tiến bộ hơn trước, songvẫn ở mức thấp, chưa đạt yêu cầu đặt ra, đặt biệt trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
- Năng lực thể lực của sinh viên ở dạng tiềm ẩn, chưa có biện pháp thíchhợp để phát huy sự nỗ lực thể chất, nhằm nâng cao trình độ thể lực chung cho
họ
1.1.4 Các yếu tố xác định thể chất của sinh viên.
Từ khái niệm ở mục 1.1.1 cho thấy: thể chất của sinh viên là một kháiniệm đa nhân tố, được cấu thành bởi nhiều yếu tố trong mối quan hệ thống nhất
Trang 19với nhau Cấu trúc này phụ thuộc vào đặc điểm phát triển thể chất của từng cáthể Đó là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo qui luật trong cuộc đờicủa từng người về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lựcvận động.
Từ quan điểm tra cho thấy thể chất của sinh viên được xác định bằng bayếu tố cơ bản: Hình thái, chức năng sinh lý và chức năng vận động
Yếu tố hình thái: Hình thái phản ánh cấu trúc cơ thể, được xác định bởi
trình độ phát triển, những giá trị tuyệt đối về nhân trắc và tỷ lệ của những chỉ sốđó
Mặt khác, khả năng vận động của con người phụ thuộc vào đặc điểm vềthể hình:
Chiều cao và khối lượng cơ thể
Tỷ lệ của cơ thể – tỷ lệ các kích thước từng phần của cơ thể (mình, chân,tay)
Đặc điểm về cấu trúc
Các tỷ lệ và kích thước cơ thể ở mọi người cơ bản là khác nhau, khôngbằng nhau cả về khả năng vận động Ở cùng một trình độ thể lực, những người cókhối lượng cơ thể lớn sẽ có sức mạnh cơ lớn hơn Trong khi đó sức mạnh cơtương đối (tính trên 1 kg khối lượng cơ thể) giảm đi khi các kích thước cơ thểtăng lên Khi đi độ dài bước và tần số bước phụ thuộc nhiều vào kích thước cơthể, mà trước hết là vào độ dài chân
Các chỉ tiêu hình thái chịu sự chi phối của nhiều gien Yếu tố môi trườngcũng có ảnh hưởng, nhưng chủ yếu là yếu tố di truyền quyết định, tùy mức độ cókhác nhau ở từng chỉ tiêu và từng giới tính Trong các chỉ tiêu thể hình, diện tíchphổi, vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi và trọng lượng cơ thể có độ di truyềnthấp chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường, các chỉ số khác đều có độ di truyềncao
Chỉ tiêu chiều cao có độ di truyền rất cao (nam 75%, nữ 92%), độ ditruyền phụ thuộc vào chủng tộc, gia tộc Điều đó, cho thấy ngoài yếu tố rèn
Trang 20luyện mỗi người còn được thừa hưởng một phần thể lực nhờ di truyền từ thế hệtrước đó Ở một chừng mực nhất định, yếu tố hình thái đặc trưng, phù hợp chotừng tố chất thể lực phát triển Hình thái phát triển cân đối, cho phép các tố chấtthể lực phát triển đồng đều Ngược lại, hình thái cơ thể phát triển sai lệch sẽ dẫnđến tố chất thể lực phát triển không đồng đều, không cân đối Dễ dàng nhận thấydạng hình thái phát triển mạnh phía thân trên, tạo ưu thế cho hai tay và vai; dạnghình thái phát triển mạnh phía thân dưới, tạo ưu thế cho hai chân Ở độ tuổiđang phát triển, chỉ tiêu chiều cao thường tỷ lệ thuận với cân nặng và một số chỉtiêu về tố chất thể lực khác
Cân nặng là chỉ tiêu có độ di truyền thấp (nam 68%, nữ 42%) Cân
nặng phản ánh mức độ phát triển các tổ chức trong cơ thể, trong đó trọng lượng
cơ bắp giữ vai trò chủ đạo
Yếu tố chức năng sinh lý:
Các yếu tố chức năng sinh lý qui định khả năng hoạt động thể lực của cơthể Nguyễn Ngọc Cừ cho rằng: “ .khả năng hoạt động thể lực là biểu hiện tậptrung của năng lực hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể con người,phản ánh khả năng thích nghi của các cơ quan trong cơ thể với lượng vận động”.Khả năng chức phận của các cơ quan trong cơ thể là năng lực tiềm ẩn của mỗicon người, được phát triển, hoàn thiện nhờ quá trình giáo dục, rèn luyện và bộc
lộ ra bên ngoài bằng tố chất thể lực và năng lực vận động
Lưu Quang Hiệp cho rằng: “Những biến đổi thích nghi diễn ra bên trong
cơ thể, dưới tác động của lượng vận động, nhờ hoàn thiện sự điều khiển và phốihợp vận động giữa các hệ chức năng, trên cơ sở biến đổi sâu sắc về cấu trúc,chức phận và sinh hóa bên trong cơ thể” Mức độ thích nghi của cơ thể với cáchoạt động vận động cụ thể nào đó trong quá trình giáo dục thể chất sẽ thúc đẩyquá trình phát triển, hoàn thiện thể lực và tạo nên trình độ thể lực
Các thông số đánh giá chức năng của cơ thể con người thường dùng là:huyết áp, mạch đập, công năng tim, dung tích sống, test PWC170, test Haward,test Rombeger
Trang 21Yếu tố chức năng vận động:
Chức năng vận động được thực hiện bởi sự điều khiển hoạt động củanhiều cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể Mức độ đạt được trong hoạtđộng vận động phụ thuộc vào cấu tạo và chức năng cũng như sự hoàn thiện củachúng Trong quá trình giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao, phát triển các
tố chất thể lực cũng chính là phát triển và hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể vàngược lại sự hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể lại là tiền đề để các tố chất thểlực phát huy mạnh mẽ
Như vậy, yếu tố chức năng vận động là biểu hiện của khả năng hoạt độngvận động cụ thể của con người, khả năng hoạt động vận động được hình thành
và phát triển thông qua con đường tập luyện
Chức năng vận động được biểu hiện qua năng lực vận động và các tố chấtthể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vậnđộng (khéo léo)
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực vận động thường được sử dụng:
- Các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh: Bật xa tại chỗ, bật cao tại chỗ, kéo tay
xà đơn, lực bóp tay, nằm sấp chống đẩy
- Các chỉ tiêu đánh giá sức nhanh: chạy 30m XPC, chạy 30m tốc độ cao,chạy 60m, chạy 80m, chạy 100m, chạy tại chỗ, nhảy dây trong 30 giây
- Các chỉ tiêu đánh giá sức bền: chạy 5 phút tùy sức, chạy 500m, chạy800m, chạy 1.500m, chạy 3.000m, chạy 12 phút (test Cooper)
- Các chỉ tiêu đánh giá độ mềm dẻo: dẻo gập thân, xoặc ngang, xoặc dọc,dẻo vai
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng phối hợp vận động (khéo léo): di chuyểnnhặt bóng, chạy con thoi 4 x 10m, chạy con thoi 8 x 8m, chạy lượn vòng, chạyzích – zắc
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT LỨA TUỔI 1.2.1 Đặc điểm giải phẩu sinh lý lứa tuổi 19 – 22