1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng

53 775 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 457 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lý luận và thực tiễn khoa học của việc đánh giá quá trình thể lực, đề tài nghiên cứu với mục đích xây dựng tiêu chuẩn thể lực khách quan khoa họcnhằm áp

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong thực tiễn, hoạt động TDTT không đơn thuần là một hoạt động cơ bắpchỉ nhằm nâng cao sức khoẻ, giảm mệt mỏi, phòng ngừa căng thẳng từ hoạt độngsản xuất Mà ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - văn hóa –

xã hội,… Thì thể thao đã trở thành một bộ phận của nền văn hoá xã hội, góp phầnlàm phong phú sinh hoạt văn hoá tinh thần, giúp con người phát triển toàn diện,tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia

Thể thao văn hoá đã, đang được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư thíchđáng Đặc biệt là trong công tác giáo dục thể chất và được coi là quốc sách hàngđầu với mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực,thẩm mỹ Hoà cùng với sự phát triển chung của nhân loại và đưa đất nước ta sánhvai cùng các cường quốc 5 châu, thực hiện mong ước lúc sinh thời của chủ tịch HồChí Minh vĩ đại “Dân Cường Nước Thịnh”

TDTT nước ta ngày càng trưởng thành và khẳng định được vị thế của mìnhtrên đấu trường quốc tế như các môn Điền kinh, bơi lội, thể dục, cầu mây, bắnsúng, võ thuật,… Hoà nhịp cùng sự phát triển của các môn thể thao khác Bóng rổcũng đã và đang phát triển khá rộng rãi

Mặc dù vậy, bóng rổ nước ta chưa thể sánh kịp với tầm châu lục cũng nhưtrên thế giới Bởi Bóng rổ Việt Nam vấn còn một số hạn chế trong công tác thểthao thành tích cao và thể thao quần chúng Vì thành tích không chỉ phụ thuộc vàonăng lực huấn luyện của HLV, các phương tiện, phương pháp huấn luyện, điềukiện tập luyện tiên tiến và hiện đại mà còn phụ thuộc vào các công tác tuyển chọnban đầu Tuyển chọn cần phải tìm được những người thực sự có năng khiếu đầy đủ

tư chất về giải phẫu, tâm sinh lý cũng như các tố chất vận động khác và khả năngđạt thành tích cao trong tương lai Vì vậy việc định hướng cơ sở khoá học chocông tác giảng dạy và huấn luyện, đặc biệt là công tác tuyển chọn vận động viên(VĐV) là bước đi ban đầu hết sức quan trọng và cầu thiết

Cao Bằng là tỉnh có phong trào Bóng rổ phát triển tuy nhiêu công tác tuyểnchọn và đào tạo VĐV trẻ vẫn còn nhiều bất cập Đặc biệt là hệ thông thiêu chuẩn,còn chưa đầy đủ cơ sở khoa học trong việc tuyển chọn nói chung và tiêu chuẩn

Trang 2

tuyển chọn thể lực nói riêng cho nữ VĐV Bóng rổ trẻ Từ đó dẫn đến hiệu quả củaquá trình đào tạo chưa cao.

Qua tìm hiểu, nghiên cứu một số tài liệu chuyên môn thì ở lĩnh vực này cómột số tác giả nghiên cứu xung quanh vấn đề này những đối tượng là của các tỉnhthành phố khác, còn ở Cao Bằng chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề này Xuấtphát từ những vấn đề trên chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ VĐV Bóng

rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh Cao Bằng”.

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn khoa học của việc đánh giá quá trình thể lực,

đề tài nghiên cứu với mục đích xây dựng tiêu chuẩn thể lực khách quan khoa họcnhằm áp dụng cho việc tuyển chọn VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 trong giaiđoạn huấn luyện ban đầu

* Mục tiêu nghiên cứu.

Để giải quyết mục tiêu trên, đề tài giải quyết hai mục tiêu sau:

- Mục tiêu 1: Xây dựng tiêu chuẩn thể lực trong công tác tuyển chọn nữVĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh Cao Bằng

- Mục tiêu 2: Ứng dụng các tiêu chuẩn đã xây dựng trong thực tiễn cho côngtác tuyển chọn VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh Cao Bằng

* Đối tượng nghiên cứu.

Các tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14tỉnh Cao Bằng

* Phạm vi nghiên cứu.

Là 20 VĐV trẻ lứa tuổi 13 – 14 đội Bóng Rổ tỉnh Cao Bằng

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những luận điểm cơ bản về tuyển chọn tài năng thể thao.

Những năm gần đây, lực lượng vận động viên đạt thành tích cao ở đại đa sốcác môn thể thao đang lần lượt “từ dã đài” và để lại khoảng trống lớn trong khi lựclượng VĐV kế cận còn quá mỏng và thiếu đồng bộ Ngành nghề TDTT đang đứngtrước một thực tế là phải tìm nguồn dự trữ bổ xung nhằm đáp ứng kịp thời đượcnhu cầu giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng (trước mắt là khu vực Đông Nam Á)

Do đó công tác tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao trẻ - lực lượng kế cận chocác môn thể thao đang trở thành một nhu cầu cấp thiết Và trong nhiều năm gầnđây tuyển chọn đã trở thành vấn đề trọng tâm của lý luận và phương pháp thể thaothanh thiếu niên và là một hướng nghiên cứu độc lập trong khoa học thể dục thểthao

Tuyển chọn là một vấn đề có nhiều mặt: Kinh tế, xã hội, triết học đạo đức,

sư phạm, tâm sinh lý, y học,… Chính vì vậy đã có nhiều chuyên gia đầu ngành củalĩnh vực tham gia vào nghiên cứu như: Y – sinh học, sư phạm, kinh tế,… nên đã cónhiều quan điểm khác nhau về cơ sở lý luận trong tuyển chọn tài năng thể thao.Xuất phát từ tính cấp bách, sự quan trọng và có vai trò quyết định các nhà khoahọc đã đưa ra một hệ thống cơ sở lý luận trong việc tuyển chọn VĐV

1.1.1 Phát hiện, đánh giá những phẩm chất tương đối ổn định và có sự thích hợp nghề nghiệp hoặc thể thao cá nhân hay còn gọi là năng khiếu.

+ Không thể phủ nhận rằng năng khiếu xuất phát từ cơ sở là những tư chất

có tính tự nhiên và có nguồn gốc di truyền

+ Dưới tác động của xã hội, gia đình, năng khiếu tiếp tục được phát triển,ngoài ra năng khiếu còn tiếp tục được phát triển trong quá trình vận động

+ Năng khiếu là một hoạt động nhất định, là một phẩm chất phức tạp

1.1.2 Tuyển chọn tài năng thể thao là một quá trình liên tục nhiều năm, nhiều chu kỳ huấn luyện trong suốt quá trình đào tạo VĐV.

- Bản chất của quá trình này là việc xác định và đánh giá khả năng thíchnghi cho từng loại hình hoạt động riêng biệt

Trang 4

- Khả năng thích nghi tập luyện: Là tổ hợp các đặc tính chức năng của cơ thểđáp ứng được đòi hỏi của loại hình vận động đặc thù của môn chuyên sâu Các đặctính này bao gồm: Yếu tố tâm – sinh lý, thể lực yêu cầu đối với các năng lực vềnhanh, mạnh, bền, khéo léo, khả năng phối hợp vận động.

- Đặc tính di truyền của cá thể phải mang tính duy trì ổn định(gen trội), cácchỉ số này luôn luôn di truyền ổn định qua nhiều thế hệ

- Các loại hình vận động về: Cường độ, khối lượng, thời gian,… phải có tácdụng nâng cao năng lực

Đối với các yếu tố không mang tính di truyền, nhất thiết phải được xem xétthông qua nhịp tăng trưởng của chúng dưới tác động của quá trình huấn luyện rồimang so sánh với các chỉ số khởi điểm ban đầu

Khả năng thích nghi tập luyện ở mỗi môn thể thao là khác nhau và khả năngnày phải xem xét tổng thể dưới các góc độ, tâm lý, sư phạm, y học,…

1.1.3 Các chỉ số cơ bản trong tuyển chọn là chức năng cơ thể tố chất vận động, hình thức cơ thể, hay nói cách khác chính là khả năng và loại hình.

Ngoài ra còn có những luận điểm khác nhau về tuyển chọn VĐV

+ Độ tin cậy trong tuyển chọn - Plattrienco và Bludovmov NXB TDTT1983

+ Vấn đề khả năng - Plattrienco và Bludovmov NXB TDTT 1972

+ Tuyển chọn và dự báo thành tích thể thao – Atremio và Moc 1977

Các nhà nghiên cứu đã xây dựng 3 nhân tố cơ bản trong tuyển chọn VĐV

- Năng lực thể thao của trẻ từ tuổi nhi đồng

- Tiềm năng phát triển thành tích trong tương lai

- Điều kiện huấn luyện tiếp theo

Hiện nay trong thực tiễn thường sử dụng 2 phương pháp tuyển chọn:

+ Chia các VĐV ra làm hai đội thi đấu với nhau, theo dõi hoạt động của trẻtrong quá trình thi đấu với nhau, rồi tìm ra những em có động tác: Thông minh,khéo léo, linh hoạt, sau đó có sự chọn lọc một cách tự nhiên và bổ xung thêmnhóm tập luyện

Trang 5

+ Để bổ xung thêm nhóm giám định hành động thi đấu người ta dùng cáctest: Tập chạy trên các đoạn dường ngắn khác nhau, các bài tập nhảy, những độngtác kỹ thuật đơn giản (dẫn bóng, bắt bóng, chuyền bóng, ném bóng,…)

Kết quả tuyển chọn những VĐV có nhiều triển vọng cho các môn thể thaophụ thuộc và những chỉ số được sử dụng mang tính tiêu chuẩn, tuyển chọn và độchính xác của việc đo lường được, tiến hành thường xuyên trong quá trình giáodục, học tập và tập luyện thể thao, được tổ chức trong quá trình huấn luyện, được

tổ chức trong những giai đoạn đầu của quá trình tuyển chọn

Các test tuyển chọn cần phù hợp với những yêu cầu sau: Có giá trị thông tinmang tính dự báo: có độ tin cậy, có hệ thống đo lường đã được chuẩn hóa, kết quảtrong các test cần phải có hệ thống đánh giá

Ngoài ra còn quy định rõ động cơ nhằm đạt được kết quả tối đa và bắt buộc,

vì trẻ em biết được là bằng kết quả thực hiện các test thì có được chơi các mônbóng hay không; tinh thần thi đấu vốn có của trẻ cũng là cơ sở tốt cho động cơ

Sau quá trình nghiên cứu những lý luận và các phương pháp tuyển chọnVĐV, cũng như việc xác định các nhân tố cơ bản trong quá trình tuyển chọn VĐVthì ta có thể phân chia cho thành giai đoạn cụ thể trong quá trình tuyển chọn VĐVnhư sau

Các giai đoạn trong quá trình tuyển chọn VĐV

Sơ tuyển

Tìm hiểu sơ bộ những điều kiện

cơ bản cơ thể tham gia tập luyệnthể thao

Các đặc trưng di truyền về hìnhthái, cơ năng, tâm lý, mức phátdục Quá trình hoạt độngTDTT của đối tượng và giađình

Tuyển chọn

lại

Kiển nghiệm và xác định khả năngtập luyện thể thao hệ thống củađối phương

Những biến đổi đặc trưng vềsinh học và tâm lý học qua tậpluyện thử nghiệm

Định

hướng

Xác định (chọn) tập luyện ở mộtmôn thể thao chuyên sâu

Đặc trưng của cá nhân qua cácnhân tố quyết định năng lực thể

Trang 6

thao cùng mức thích hợp vớiyêu cầu của môn thể thaochuyên sâu.

Năng lực chịu đựng lượng vậnđộng, xu hướng tăng tiến tốtqua các giai đoạn; triển vọngtập luyện và tiềm lực thể thao

Như vậy, qua phân tích tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu cho phép nêu

ra những luận điểm chủ yếu của tuyển chọn thể thao như sau:

- Tuyển chọn thể thao là quá trình nhiều năm, nhiều cấp độ khác nhau, baoquát các thời kỳ huấn luyện thể thao Nó dựa trên nghiên cứu toàn diện các khảnăng của VĐV và tạo ra những tiền đề cần thiết thận lợi để thực hiện khả năngnày Những khả năng này cho phép hoàn thiện có kết quả trong môn thể thao lựachọn

Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý rằng: Sự tồn tại rất đa dạng của các môn thể thaokhác nhau cho phép một cá nhân đạt được tài nghệ điêu luyện ở trong các môn thểthao Sự yếu kém của các đặc tính được coi là không thuận lợi, coi trọng trong mônthể thao nào đó có thể là thuận lợi và đảm bảo cho các môn thể thao khác Vì vậy,tuyển chọn VĐV dự bị năng khiếu thể thao có thể chỉ thích hợp với một hay mộtnhóm môn thể thao nào đó

Năng khiếu thể thao phụ thuộc rất lớn vào những tư chất mang tính di truyền

có đặc điểm ổn định, thời gian thay đổi Vì vậy, khi dự báo năng khiếu thể thao cầnchú ý trước hết đến những dấu hiệu có tác dụng chi phối thành công của thể thaotrong tương lai Vì vai trò của các dấu hiệu mang tính di truyền sẽ được bộc lộ ởmức độ tối đa khi có những đòi hỏi cao đối với người tập, nên để đánh giá hoạtđộng của VĐV trẻ cần dùng vào mức thành tích cao nhất

Cùng với việc nghiên cứu các dấu hiệu có tính ổn định, việc tuyển chọn – dựbáo năng khiếu thể thao đòi hỏi phải làm rõ những chỉ số có ảnh hưởng nhiều đếnquy trình tập luyện Để nâng cao độchính xác của dự báo cần chú ý đến cả nhịp độtăng trưởng của các chỉ số cũng như mức khởi điểm của chúng Do có sự phát triển

Trang 7

không đồng thời của các chức năng cơ thể và các tố chất, nên có sự khác nhautrong cấu trúc biểu hiện năng khiếu của VĐV, ở các thời kỳ năng khiếu khác nhau.Nhưng những khác nhau đó có thể đặc biệt thấy rõ ở các học sinh tập luyện cácmôn thể thao có kỹ thuật phức tạp Những môn có thể đạt được th nh tích caoành tích caongay ở lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên và toàn bộ việc huấn luyện VĐV từ lúc mớitập đến khi đạt trình độ kiện tướng quốc tế diễn ra trên nền quá trình hình thànhphức tạp trong cơ thể VĐV trẻ.

1.2 Những luận điểm cơ bản về huấn luyện và tuyển chọn VĐV Bóng ssRổ trẻ.

1.2.1 Quá trình huấn luyện nhiều năm các môn thể thao.

Theo DietricH Harre (Đông Đức cũ), quá trình huấn luyện dài hạn được chiathành hai giai đoạn đào tạo khác nhau là: Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ và giaiđoạn huấn luyện viên cấp cao Giai đoạn huấn luyện viên trẻ bao gồm 2 giai đoạn

là giai đoạn huấn luyện ban đầu (giai đoạn huấn luyện VĐV mới tham gia tậpluyện) và giai đoạn huấn luyện chuyên sâu hóa (giai đoạn huấn luyện VĐV chuyểntiếp)

Trên quan điểm thể thao có những quy luật đặc thù riêng Nabotnhicova MIA(Liên xô cũ) đã đề ra chương trình đào tạo VĐV trẻ từ 8 – 10 năm và cho ra 4 giaiđoạn đào tạo

- Giai đoạn đào tạo ban đầu (tối thiểu 2 năm)

- Giai đoạn bắt đầu chuyên môn hóa (2 năm)

- Giai đoạn chuyên môn hóa sâu môn thể thao lựa chọn (2-3 năm)

- Giai đoạn huấn luyện thể thao (2 – 3 năm)

Còn ở Trung Quốc cho đến nay vấn chưa có ý kiến nhất trí về sự phân chiacác giai đoạn trong quá trình huấn luyện nhiều năm Sự phân chia này trong cácmôn thể thao cũng không giống nhau, ví dụ: Ở sự phân chia các giai đoạn huấnluyện xuất bản năm 1993 là: giai đoạn huấn luyện cơ sở, giai đoạn huấn luyệnchuyên môn hoá, giai đoạn duy trì và kéo dài thành tích thể thao

1.2.2 Quá trình đào tạo nhiều năm tại các cường quốc Bóng rổ và tại tỉnh Cao Bằng.

Trang 8

Tại Nga quá trình đào tạo nhiều năm được chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn huấn luyện sơ bộ (2-3 năm) từ 9-11 tuổi

- Giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu (3 năm) từ 12-14 tuổi

- Giai đoạn chuyên môn hoá sau (3 năm) từ 15 – 17 tuổi

- Giai đoạn hoàn thiện thể thao

Tại Cao Bằng quy trình đào tạo VĐV bóng rổ cũng bắt đầu được tổ chứctheo định hướng 4 giai đoạn

- Giai đoạn huấn luyện sơ bộ: Tuyển năng khiếu ban đầu và năng khiêu ởcác trung tâm thể thao

- Giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá ban đầu: Tuyển năng khiếu trọngđiểm của CLB và năng khiếu dự bị

- Giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá sâu: tuyển năng khiếu dự bị

- Giai đoạn hoàn thiện thể thao: Đội dự tuyển của tỉnh

1.2.3 Đặc điểm huấn luyện nhiều năm.

Do yêu cầu từng môn thể thao đối với chức năng cơ thể và sự phát triển củacon người (chủ yếu là giai đoạn thanh thiếu niên) không đồng đều nên lứa tuổi đạtthành tích cao nhất cũng không như nhau

Trong hệ thống huấn luyện nhiều năm cần quán triệt nguyên tắc “ Bồi dưỡng

từ nhỏ, đặt nền móng tích cực nâng cao” các nhà huấn luyện phải tuân thủ chặt chẽtheo nguyên tắc này vì huấn luyện viên chuyên môn sớm cho lứa tuổi thanh thiếuniên còn phải căn cứ vào các đặc điểm sinh lý giải phẫu để sự phát triển tự nhiêncủa các em đi đúng hướng, tránh sự sai lệch và để lại hậu quả xấu

Kinh nghiệm cuả Nga và các nước khác cho thấy muốn huấn luyện cho các

em thiếu niên nhi đồng đạt tới đỉnh cao bóng rổ thể giới phải trải qua huấn luyện từ

12 – 16 năm

Sự phát triển của trẻ từ nhi đồng, thiếu niên trở đi cũng có những đặc điểm

rõ rệt theo từng giai đoạn Vì vậy muốn đạt được đỉnh cao phải từng bước đào tạoVĐV phù hợp với quy luật đặc điểm đó Nên phải phân chia quá trình huấn luyện

ra làm một số giai đoạn, mỗi giai đoạn phải giải quyết những nhiệm vụ, nội dungphương tiện

Trang 9

Phương pháp khác nhau và phải đảm bảo giai đoạn này làm nền tảng, làm cơ

sở cho giai đoạn tiếp theo tiếp tục phát triển, tuy nhiên vẫn đảm bảo tính phongphú của mỗi giai đoạn

Trong quá trình huấn luyện nhiều năm đối với thiếu niên nhi đồng có nhiềucâu hỏi đặt ra: có thể đào tạo VĐV bóng rổ ở lứa tuổi nào? Huấn luyện trong baonhiêu năm? Đó là những bộ phận cấu thành một hệ thống quá trình, khâu nọ nốitiếp khâu kia đồng thời có tính quy luật nội tại Vì vậy, trong huấn luyện ta phảinắm vững quy luật đó

1.2.4 Đặc điểm môn Bóng rổ

Bóng rổ là một môn thể thao đòi hỏi có sự khéo léo linh hoạt Sự phối hợpthông minh giữa các cầu thủ trên sân đấu Và bản chất là một môn thể thao hoạtđộng đối kháng trực tiếp, đội bóng này phấn đấu chiếm ưu thế trước đội bóng khácbằng cách che dấu ý đồ của đội bóng mình, đồng thời cố gắng phá vỡ phương áncủa đối phương Và khi xem xét tính chất thi đấu của các đội nhất thiết phải xuấtphát từ những vị trí đối kháng của từng cầu thủ trên sân

Trong một cuộc thi đấu cụ thể người ta chia ra hai yếu tố: hoạt động thi đấu

và hành vi xử sự

+ Hoạt động thi đấu có liên quan đến các biểu hiện cho đối phương nắmđược các thông tin về trạng thái sức khoẻ phản ứng di động của mình để tác độngđến đối phương.VĐV bóng rổ cần che giấu sự mệt mỏi, cảm xúc tiêu cực, tập trungthi đấu với một tinh thần quyết tâm chiến thắng vừa phải khắc phục những điểmcòn tồn tại của mình, đồng thời đánh vào điểm yếu của đối phương

Bóng rổ là môn thể thao tập thể Đội hình chính của đội bóng gồm có 5người Tất cả được liên kết bởi một mục tiêu chung là làm thế nào để ném đượcnhiều bóng nhất vào rổ của đối phương và hạn chế tối đa nhất đối phương némbóng vào rổ của đội mình Hoạt động của từng cầu thủ trong đội có định hướng cụthể Căn cứ theo vị trí các VĐV mà chia cầu thủ ra từng vị trí: tiền phong, trungphong và hậu vệ

Bóng rổ hiện đại là môn thể thao được thể hiện bằng cường độ vận độngcao, hoạt động thi đấu căng thẳng đòi hỏi VĐV phải huy động đến cực hạn các khả

Trang 10

năng chức phận của cơ thể và các tố chất nhanh, mạnh tối đa Trong một trận đấu,VĐV đẳng cấp cao phải di chuyển trung bình từ 4000m – 6500m Tổng số đợt bứtphá trong tấn công và phòng thủ lên tới 50 lần Khi đó VĐV phải vượt qua đến25% khoảng cách trong trận đấu Di chuyển với tốc độ cao kết hợp với thực hiệncác kỹ thuật bắt bóng, truyền bóng, ném bóng trong tấn công vào rổ của đốiphương.

Bóng rổ là môn thể thao với hoạt động không theo chu kỳ và là môn bóngcủa những hoạt động động lực với cường độ luôn thay đổi Điều đó tạo thành cáctình huống trên sân trong những thời điểm thi đấu Sự phối hợp tuần tự giữa cácthời kỳ chủ động và thụ động trong hoạt động vận động của VĐV bóng rổ diễn ra

từ 3 đến 20 giây

Tổng số mạch đập trong cả trận đấu 40 phút ( thi đấu chính thức của VĐVthanh thiếu niên) lên đến 9000 – 10000 lần Căn cứ vào các chỉ số về phát triển củaxương, sự biến đổi của các dấu hiệu giới tính thứ cấp cùng sự phát triển chiều caohàng năm (%) có thể xác định được thời gian bắt đầu và duy trì dậy thì từ lúc nào

và diễn ra bao lâu Dựa vào tình trạng phát dục của thiếu niên có thể phân thành 9loại hình thức phát dục Tuổi bắt đầu phát dục bình thường nhưng lại giữ ở mứccao lâu thì năng lực thể thao sẽ được tăng tự nhiên tương đối nhiều, rõ rệt và triểnvọng thành tài càng lớn (xem bảng 1.3)

Bảng 1.3 Tỷ lệ được tuyển chọn và thời lượng phát dục của thiếu niên trong trường thể thao trẻ.

Trang 11

Thời gian phátdục

Tỷ lệ %trong họcsinh TT trẻ

Tỷ lệ %được chuyểntiếp

Tỷ lệ trongnhững nhà

vô địchBắt đầu

1.3 Đặc điểm phát triển lứa tuổi 13 – 14.

Đặc điểm trẻ từ 13 – 14 tuổi nữ nằm trong lứa tuổi nhi đồng và ở đầu lứatuổi thiếu niên đối vận động với các em nữ Theo Dietrich Harre lứa tuổi này gọi làlứa tuổi học sinh phổ thông cơ sở trùng với thời kỳ phảt triền của “tuổi thành tíchchuyên môn” và là “tuổi học vận động tốt nhất của trẻ” Hầu như tất cả các chỉ tiêu

về năng lực thể chất đều có tỷ lệ tăng trưởng lớn nhất trong khoảng thời gian pháttriển này

Những đặc điểm của lứa tuổi 13 – 14 theo các lĩnh vực

- Đặc điểm di truyền học thể thao

- Đặc điểm sinh lý giải phẫu của lứa tuổi học sinh THCS

- Đặc điểm phát triển các tố chất của thiếu niên và nhi đồng

- Đặc điểm tâm lý lứa tuổi

Trang 12

- Đặc điểm tuổi học sinh thiếu niên nhi đồng

1.3.1 Đặc điểm di truyền học thể thao.

Hệ số di truyển thông thường chỉ tỷ lệ phần trăm di truyền biến động trongtổng biến dị Hệ số di truyền cao chứng tỏ khả năng di truyền thể trạng đó cho thế

hệ sau tương đối mạnh, ngược lại hệ số di truyền yếu chứng tỏ ảnh hưởng của môitrường tương đối lớn

Sau đây là một di truyền của một số chỉ số cơ bản:

- Hệ số di truyền về hình thức cơ thể

Bảng 1.4 Hệ số di truyền về hình thức cơ thể

(theo SVARS_1970)

85 – 90 % Chiều cao cơ thể, chiều dài tứ chi

80 – 95% Chiều dài (thân, đùi, cẳng chân, cánh tay, cẳng tay)

70 – 80% Trọng lượng cơ thể, rộng (hông, đùi)

Trang 13

(theo ZAXIORSKI và SECGHIENCO)

Các chỉ số vận động Yếu tố di truyền (%) Yếu tố môi trường (%)

1.3.2 Đặc điểm sinh lý giải phẫu của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng.

- Hệ thần kinh: Não bộ đang trong thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động của thầnkinh chưa ổn định, hưng phấn chiếm ưu thế Vì vậy khi học tập các em dễ tập trung

tư tưởng Do hoạt động thần kinh linh hoạt nên đây là điều kiện tốt để hình thànhphản xạ có điều kiện

- Hệ vận động: Hệ xương đang thời kỳ phát triển mạnh mẽ về chiều dài, hệthống sụn tại các khớp đòi hỏi điều kiện tốt để phát triển và hoàn thiện Thời kỳnày thiếu niên nhi đồng đang phát triển mạnh mẽ về chiều dài hơn chiều ngang

- Đặc điểm cơ bắp: Chưa phát triển đầy đủ, cơ mềm, nước nhiều, protid, mỡ,các chất dịch thể và vô cơ tương đối ít

- Đặc điểm hệ tim mạch: Những sợi cơ tim của các em nhỏ và tính đàn hồi

ít, van tim phát triển kém, dung tích và thể tích của tim nhỏ, nhịp tim nhanh hơnngười lớn

Trang 14

- Đặc điểm hô hấp: Khoang ngực còn hẹp, lực cơ hô hấp tương đối yếu, thởnông, song sự trao đổi chất lại mãnh liệt, nhu cầu oxy hoá cao hơn người lớn dovậy cần hô hấp nhanh.

1.3.3 Đặc điểm phát triển các tố chất của thiếu niên nhi đồng.

Tố chất thể lực là tên gọi chung của các năng lực sức mạnh tốc độ, sức bền,mềm dẻo, linh hoạt biểu hiện tong quá trình vận động của con người Phát triền các

tố chất thể lực cho các em thiếu niên, nhi đồng có quy luật sinh lý nội tại đặc biệtcủa nó Chỉ có tôn trọng quy luật khách quan đó, huấn luyện khao học mới có thểnâng cao chức năng của cơ thể Nếu bắt đầu huấn luyện quá sớm sẽ ảnh hưởngđến phát dục, nếu huấn luyện muôn quá sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển thuận lợi

- Sức mạnh: Là một trong những tố chất cơ bản của VĐV Bóng rổ và cũng

lâ cơ sở của tố chất tốc độ đặc biệt là sức mạnh bột phát Sự phát triển sức mạnhcủa thiếu niên, nhi đồng có đặc điểm như sau:

+ Về sức mạnh tối đa: Sự phát triển tự nhiên của sức mạnh tối đa được chialàm 4 giai đoạn Trong đó giai đoạn đầu từ 10-13 tuổi, là sức mạnh tăng đột biếncuả sức mạnh tối đa, đặc biệt là co cơ

+ Về sức mạnh tốc độ: Từ 7-13 tuổi sức mạnh tốc độ phát triển tương đốinhanh và duy trì sự phát triển

+ Về sức bền: xu thế phát triển sức bền tự nhiên của thiếu niên, nhi đồng ở

nữ từ 9 – 14 tuổi xu thế phát triển là biểu đồ đường thẳng đi lên

- Tốc độ: là biểu hiện chung của năng lực bóng rổ, là kết quả của sự hoànthiện chức năng của cơ thể, là mốc đánh dấu quan trọng trong sự thành công haythất bại trong phân tích, đánh giá công tác huấn luyện Trong huấn luyện tốc độcho thiếu niên cần nắm chắc thời kỳ nhạy cảm phát triển tốc độ từ khoảng 10 – 13tuổi đã có thể tập một số bài tập phát triển tốc độ động tác và tần số

- Sức bền: các kết quả nghiên cứu về sức bền của các VĐV thiếu niên đãchứng minh: 9 tuổi là sức bền của các em nữ phát triển lần đầu mạnh nhất và đến

13 tuổi lại xuất hiện một đợt phát triển hơn nữa

- Linh hoạt (khả năng phối hợp vận động): giai đoạn quý nhất để phát triển

tự nhiên tố chất linh hoạt là từ 10 – 12 tuổi

Trang 15

- Mềm dẻo: là một trong những tố chất quan trọng trong bóng rổ Độ mềmdẻo có giới hạn nhất định về tuổi tác, tuổi càng lớn thì mềm dẻo càng kém.

Tóm lại: tổng quan vấn đề nghiên cứu giúp chúng tôi bước đầu xác địnhđược cách thức xây dựng các chỉ tiêu tuyển chọn về thể lực đồng thời cũng đánhgiá được trình độ thể lực của nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 Dựa trên kếtquả nghiên cứu của các nguồn tư liệu đó, chúng tôi đã định hướng và lựa chọnđược các phương tiện, biện pháp có thể ứng dụng vào công tác tuyển chọn và đàotạo VĐV Bóng rổ trẻ tỉnh Cao Bằng

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu.

Đề giải quyết những mục tiêu trên đề tài sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.

Thông qua quá trình tham khảo các tài liệu chung và chuyên môn liên quanđến lĩnh vực tuyển chọn VĐV năng khiếu thể thao trẻ

Trang 16

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã đọc tham khảo và tổng hợpnhững tài liệu chung, chuyên môn về các vấn đề khác nhau trong tuyển chọn VĐVBóng rổ của tỉnh Cao Bằng và tìm hiểu cơ sở lý luận, tổng hợp các chỉ tiêu ứngdụng trong tuyển chọn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của tiêu chuẩn cũngnhư trong thành tích thể thao sau này Các tài liệu nghiên cứu của thư viện trườngĐại học TDTT Bắc Ninh Tư liệu trong bộ môn Bóng rổ Các tài liệu tham khảođược chúng tôi trình bày trong phần “tài liệu tham khảo”.

2.1.2 Phương pháp quan sát sư phạm.

Là phương pháp sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu kiểm nghiệmcác chỉ tiêu thể lực trong thực tiễn tuyển chọn Các thông số quan sát sư phạm màchúng tôi quan tâm là: Độ chuẩn khi thực hiện kỹ thuật, khả năng cảm nhận tìnhhuống với các bài tập chiến thuật, phản ứng cả cơ thể dưới sự tác động của bài tậpphối hợp

2.1.3 Phương pháp phỏng vấn.

Đối tượng phỏng vấn của chúng tôi là các giáo viên, huấn luyện viên,chuyên gia làm công tác huấn luyện tuyển chọn VĐV Bóng rổ tại các trung tâmhuấn luyện VĐV năng khiếu Bóng rổ mạnh trên toàn quốc như : Hà Nội , TP.HCM, Yên Bái,… giảng viên trường đại học TDTT Bắc Ninh Kết quả của việc sửdụng phương pháp này được chúng tôi trình bày ở phần kết quả nghiên cứu củaluận văn

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm.

Phương pháp này nhằm mục đích kiểm tra đánh giá công tác tuyển chọn thểlực cho nữ VĐV Bóng rổ trẻ tỉnh Cao Bằng một cách khách quan và chính xácthông qua các test đã lựa chọn Trên cơ cở đó những nhận xét, kết luận và hiệu quảcác tiêu chuẩn đã lựa chọn trong việc tuyển chọn cho đối tượng nghiên cứu.Phương pháp này được tiến hành định kỳ trong suốt quá trình nghiên cứu nhằmxác định mức độ tăng trưởng và hiệu quả của các chỉ tiêu tuyển chọn cho nữ VĐVBóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh Cao Bằng

Trang 17

2.1.5 Phương pháp toán học thống kê.

Là phương pháp được chúng tôi sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu đãthu thập được của quá trình nghiên cứu Các tham số đặc trưng mà chúng tôi quantâm, sử dụng là x t, , x, , w.r và được tính theo công thức:

i

x x

n n

b a

n n

x x t

2 2

2 2 2

2 1 1 2

x x x

6 1 ( 1)

i

d r

Trang 18

- Tính hệ số tương quan cặp theo công thức Braw-Pirxon để đánh giá độ tin cậy của test bằng cách xem xét mối quan hệ về kết quả giữa hai lần lập test trong cùng một điều kiện

(

) )(

(

y y x

x

y y x x r

Trong đó: - xi và yi là giá trị của từng cặp dãy số

- xy là giá trị trung bình của từng tập hợp mẫu.

v 1 : Là kết quả kiểm tra lần trước của các chỉ tiêu.

v 2 : Là kết quả kiểm tra lần sau của các chỉ tiêu.

- Giai đoạn 3: Từ tháng 12/2010 đến tháng 05/2011 phân tích các kết quảnghiên cứu, viết và hoàn thiện đề tài nghiên cứu, chuẩn bị bảo vệ kết quảnghiên cứu trước hội đồng khoa học

Trang 19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Xây dựng tiêu chuẩn thể lực trong công tác tuyển chọn nữ VĐV Bóng Rổ trẻ lứa tuổi 13-14 tỉnh Cao Bằng.

3.1.1 Cơ sở lý luận của việc tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 14

13-Tuyển chọn và đào tào VĐV trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọngcủa công tác chuẩn bị lực lượng kế cận cho nền bóng rổ đỉnh cao Có thể nói rằngtrình độ nền Bóng rổ đỉnh cao được quyết định bởi quá trình này

Trang 20

Thông qua công việc tập luyện chuyên nghiệp của Bóng rổ ở nước ta bắt đầu

từ độ tuổi 13 – 14 đó là độ tuổi thích hợp với công việc tập luyện có hệ thống vàmang tính chuyên môn cao đồng thời sau một thời gian 5 – 6 năm thì VĐV này cóthể đạt tới độ “chín” về trình độ chuyên môn

3.1.1.1 Cơ sở lý luận khoa học

* Mục đích đào tạo

Sau thời gian 5 – 6 năm tập luyện một cách liên tục và có hệ thống thì các

em có thể trở thành các VĐV Bóng rổ có năng lực, trình độ chuyên môn cao, cókhả năng đáp ứng được yêu cầu thi đấu ở trình độ quốc gia và có thể thay thế dầnlực lượng VĐV trước

Muốn như vậy công tác tuyển chọn và đào tạo phải hết sức chính xác, khoahọc, nghiêm túc Phải có những cán bộ, HLV chuyên môn tốt say mê với nghề và

có đầy đủ những điều kiện cần thiết hỗ trợ công việc tuyển chọn và đào tạo

Về chuyên môn: phải phát triển tới mức tối đa về năng lực vận động có địnhhướng cho các em Để trở thành VĐV Bóng rổ chuyện nghiệp có trình độ caotrước hết các em phải phát triển toàn diện trên tất cả các mặt của năng lực thểchất: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động Đó là tiền đề, làđiều kiện cơ bản để trên cơ sở đó đi sâu vào huấn luyện chuyên môn một cách cóhiệu quả nhất

* Yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo

Phát triển năng lực chuyên môn

Song song với việc phát triển khả năng phối hợp vận động là trọng tâm pháttriển về sức nhanh, sức mạnh và sau đó là sức bền

- Các khả năng về kỹ thuật động tác

Trang 21

Để đào tạo các em có trình độ kỹ thuật cao: Có khả năng thực hiện một cáchthuần thục - chính xác các kỹ thuật đơn lẻ, biết phối hợp nhuần nhuyễn các kỹthuật trong vận động với tốc độ lớn, và trong va chạm mạnh mẽ.

Ở giai đoạn lứa tuổi 13 – 14 đã có đủ điều kiện để phát triển kỹ thuật lên tớimức độ cao Chính vì vậy mà ngay trong năm đầu tập luyện các em phải làm quenvới những kỹ thuật, động tác khó

- Các khả năng về chiến thuật

Trước hết các em phải thực hiện một cách thành thục các hành động chiếnthuật cá nhân và trong chiến thuật phối hợp nhóm Có khả năng đáp ứng với yêucầu chiến thuật hiện đại “tất cả cùng tấn công, tất cả cùng phòng thủ” Biết thựchiện các yêu cầu chiến thuật theo đội hình (cản phá trong phòng thủ, tấn công từmọi vị trí )

Có hiểu biết đầy đủ về nguyên lý chiến thuật Bóng rổ Nắm vững mối quan

hệ mật thiết giữa chiến thuật với điều luật và chiến thuật, sự bền bỉ trong thi đấu

3.1.1.3 Các nguyên tắc lựa chọn các test (tiêu chuẩn)

Căn cứ vào các luận điểm của quá trình đào tạo VĐV Bóng rổ trẻ mà chúngtôi đã thu thập và tổng hợp trên, chúng tôi lựa chọn test ứng dụng tuyển chọn nữVĐV năng khiếu Bóng rổ tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc 1: Các test lựa chọn phải đánh giá được toàn diện về mặt thểlực, tâm lý, y học, kỹ thuật chiến thuật, sự say mê hứng thú

- Nguyên tắc 2: Việc lựa chọn test phải đảm bảo độ tin cậy và mang tínhthông báo cần thiết của đối tượng nghiên cứu

Nói một cách khác việc lựa chọn nguyên tắc này là việc lựa chọn các testnhằm đến việc lựa chọn sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất trong tuyển chọnVĐV năng khiếu trẻ và thông thường các test được lựa chọn có độ tin cậy trongviệc đánh giá các tố chất thể lực, các tố chất tinh thần của những VĐV

- Nguyên tắc 3: Các test lựa chọn phải có chỉ tiêu đánh giá cụ thể, có hìnhthức tổ chức đơn giản phù hợp với điều kiện thực tiễn của công tác huấn luyệnVĐV Bóng rổ của Việt Nam

Trang 22

3.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc lựa chọn các test tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ lứa tuổi 13 – 14.

Qua các cơ sở lý luận và tham khảo các tài liệu chuyên môn của các tác giảtrong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: SVARS _ 1970,IGUACHEVA V.IA, PORTRO J.M _ 1996, Nguyễn Hùng Quân _ 1998, Bùi KimPhượng Đồng thời, qua tham khảo và tìm hiểu công tác tuyển chọn VĐV Bóng

rổ trẻ ở các trung tâm có đào tạo VĐV Bóng rổ như: Hà Nội, TP HCM, Yên Bái chúng tôi đã lựa chọn được 10 chỉ tiêu tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ lứa tuổi 13 –

14, các chỉ tiêu được lựa chọn đều đáp ứng được các tiêu chuẩn về góc độ sưphạm, các chỉ tiêu này cho phép xác định được năng lực chung và chuyên môn cầnthiết cấu thành trình độ tập luyện của VĐV Bóng rổ trẻ Các chỉ tiêu bao gồm:

Trang 23

Đối tượng phỏng vấn của chúng tôi là 20 HLV, chuyên gia, chuyên viên,giáo viên của các trung tâm Bóng rổ mạnh trên toàn quốc như: Trường Đại họcTDTT Bắc Ninh, TP.HCM, Hà Nội,… Những người trực tiếp làm công tác tuyểnchọn và đào tạo VĐV Bóng rổ.

Ngoài việc lựa chọn các test phù hợp với yêu cầu chuyên môn, chúng tôi còndựa trên các yêu cầu sau:

- Tính phức tạp của nhiệm vụ

- Tính chính xác khi thực hiện

- Thời gian thực hiện

Kết quả phỏng vấn thực tiễn việc tuyển chọn VĐV Bóng rổ trong quá trìnhhuấn luyện được trình bày ở bảng 3.1

Trang 24

Bảng 3.1: Kết quả đánh giá thực trạng sử dụng các test tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 (n=20)

Trang 25

Từ kết quả thu được ở bảng 3.1 cho thấy

1 Khi tiến hành tìm hiểu nhóm các chỉ tiêu thể lực sử dụng trong quá trìnhtuyển chọn VĐV Bóng rổ chúng tôi nhận thấy rằng đại đa số các huấn luyện viên(HLV) cho rằng việc tuyển chọn VĐV nên thông qua các chỉ tiêu thể lực Hầu hếtcác HLV đều cho rằng việc sử dụng các chỉ tiêu thể lực mang tính giá trị lớn trongviệc tuyển chọn và đào tạo VĐV

2 Với mục đích xây dựng các bài thử mang tính khả thi và tương ứng vớitrình độ cũng như điều kiện cơ sở vật chất của các trung tâm Bóng rổ trong cảnước Chúng tôi đã nêu vấn đề ở hai khía cạnh

- Thứ nhất: Các bài thử nào đã được áp dụng?

- Thứ hai: Nếu được hướng dẫn thì các bài thử nào sẽ được áp dụng?

Để tuyển chọn VĐV Bóng rổ trong quá trình đào tạo, huấn luyện đại đa sốcác đối tượng phỏng vấn đều lựa chọn các chỉ tiêu thể lực sau:

3.1.3 Bước đầu xác định hệ số tương quan của hệ thống test lựa chọn với khả năng thi đấu của đối tượng nghiên cứu

Trang 26

Nhằm xác định một cách chính xác độ tin cậy và tính thông báo của hệthống các tiêu chuẩn đã lựa chọn cho đối tượng nghiên cứu VĐV Bóng rổ lứa tuổi

13 – 14 đề tài tiến hành xác định mối tương quan của hệ thống tiêu chuẩn với khảnăng thi đấu của đối tượng nghiên cứu

Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu cho thấy, bóng rổ là môn thể thao mangtính tập thể, có hoạt động thi đấu rất đa dạng Đặc điểm thi đấu trong Bóng rổ là sựphối hợp giữa các cá nhân thuộc các vị trí thi đấu khác nhau, do đó vị trí riêng củamột VĐV nào đó mà chính xác là thành tích của cả đội bóng Do vậy, việc tuyểnchọn hay đánh giá trình độ tập luyện VĐV bóng rổ, thành tích thi đấu là vấn đềphức tạp Vì vậy, để giải quyết vấn đề này thì trong công việc nghiên cứu đề tàichúng tôi đã tiến hành giải pháp là xác định mối tương quan giữa các chỉ tiêu vớikhả năng thi đấu của VĐV trong một trận đấu Hiệu suất thi đấu của các VĐVđược xác định thông qua việc quan sát sư phạm và thống kê số liệu, qua đó xácđịnh tổng thời gian các VĐV có bóng, kiểm soát bóng, chuyền bóng, khống chếbóng, cũng như thời gian di chuyển hợp lý trên sân…

Hiệu suất của VĐV được tính bằng % hiệu quả thi đấu của VĐV trong trậnđấu, từ đó quy đổi theo thang điểm 100 Ví dụ: trong trận đấu quan sát 1 VĐV thiđấu và xác định hiệu suất thi đấu của VĐV đó là 80 điểm

Kết quả thu được sau khi quan sát và thống kê số liệu một trận thi đấu đượctrình bày ở bảng 3.2

Ngày đăng: 04/09/2015, 20:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.6. Hệ số di truyền về khả năng vận động - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 1.6. Hệ số di truyền về khả năng vận động (Trang 13)
Bảng 3.1: Kết quả đánh giá thực trạng sử dụng các test tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 (n=20) - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá thực trạng sử dụng các test tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 (n=20) (Trang 24)
Bảng 3.2. Hệ số tương quan của hệ thống test lựa chọn với khả năng thi đấu của VĐV Bóng R ổ nữ lứa tuổi 13  - 14 tỉnh Cao Bằng (n = 20) - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.2. Hệ số tương quan của hệ thống test lựa chọn với khả năng thi đấu của VĐV Bóng R ổ nữ lứa tuổi 13 - 14 tỉnh Cao Bằng (n = 20) (Trang 27)
Bảng 3.3. kết quả kiểm tra hệ thống test lựa chọn với VĐV Bóng rổ nữ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh Cao Bằng (n = 20). - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.3. kết quả kiểm tra hệ thống test lựa chọn với VĐV Bóng rổ nữ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh Cao Bằng (n = 20) (Trang 31)
Bảng 3.4. Hệ số tương quan của các test lựa chọn với khả năng thi đấu theo lứa tuổi của nữ VĐV Bóng Rổ  lứa tuổi 13 – 14, tỉnh cao Bằng. - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.4. Hệ số tương quan của các test lựa chọn với khả năng thi đấu theo lứa tuổi của nữ VĐV Bóng Rổ lứa tuổi 13 – 14, tỉnh cao Bằng (Trang 32)
Bảng 3.6. Diễn biến các tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 sau 12 tháng của tỉnh Cao Bằng (n=10)(t bảng =2,101) - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.6. Diễn biến các tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 sau 12 tháng của tỉnh Cao Bằng (n=10)(t bảng =2,101) (Trang 36)
Bảng 3.7. Diễn biến các tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 14 sau 12 tháng của - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.7. Diễn biến các tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ VĐV Bóng rổ trẻ lứa tuổi 14 sau 12 tháng của (Trang 37)
Bảng 3.8. Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp trong tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ lứa tuổi 13 tỉnh Cao Băng - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.8. Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp trong tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ lứa tuổi 13 tỉnh Cao Băng (Trang 40)
Bảng 3.9. Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp trong tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ lứa tuổi 14 tỉnh Cao Băng - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.9. Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp trong tuyển chọn nữ VĐV Bóng rổ lứa tuổi 14 tỉnh Cao Băng (Trang 41)
Bảng 3.10. Bảng điểm tổng hợp đánh giá các tiêu chuẩn chuyên môn đặc trưng của VĐV bóng rổ lứa tuổi 13 - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.10. Bảng điểm tổng hợp đánh giá các tiêu chuẩn chuyên môn đặc trưng của VĐV bóng rổ lứa tuổi 13 (Trang 44)
Bảng 3.11. Bảng điểm tổng hợp đánh giá các tiêu chuẩn chuyên môn đặc trưng của VĐV bóng rổ lứa tuổi 14 - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.11. Bảng điểm tổng hợp đánh giá các tiêu chuẩn chuyên môn đặc trưng của VĐV bóng rổ lứa tuổi 14 (Trang 45)
Bảng 3.12. Kết quả kiểm tra ngược thông qua các chỉ tiêu xây dựng được (trích dẫn) - Nghiên cứ xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nữ vđv bóng rổ trẻ lứa tuổi 13 – 14 tỉnh cao bằng
Bảng 3.12. Kết quả kiểm tra ngược thông qua các chỉ tiêu xây dựng được (trích dẫn) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w