1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh

121 565 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, hiện nay đang áp dụng các hình thức thi trắc nghiệm, với các bài tập trắc nghiệm đòi hỏi giải bài tập nhanh và chính xác, nên nhiều học sinh chỉ vận dụng một cách máy móc các b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

      NGUYỄN VĂN THIỆN

      XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” LỚP 12, NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC

SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

      NGUYỄN VĂN THIỆN

      XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” LỚP 12, NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH

CỰC, NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

( BỘ MÔN VẬT LÝ)

Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN NHÃ

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

 Trong  suốt  quá  trình  học  tập  hoàn  thành  khóa  học  và  thực  hiện  đề  tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của các quí thầy cô giáo, các cán bộ phụ trách, các em học sinh, bạn bè và những người thân của tôi. 

  Tôi  xin  chân  thành  cảm  ơn  các  thầy  cô  giáo  trong  Ban  giám  hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình tham gia giảng dạy và quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn 

  Đặc  biệt  tôi  xin  được bày  tỏ  lòng  biết  ơn  sâu  sắc  tới  người  thầy  đáng kính  PGS.TS.  Nguyễn  Văn  Nhã  người  đã  hết  lòng  giúp  đỡ,  hướng  dẫn  tận tình, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. 

  Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy  bộ  môn  Vật  lí  và  các  em  học  sinh  trường  THPT  Thanh  Liêm  A-Huyện Thanh  Liêm  -Tỉnh  Hà  Nam  nơi  tôi  đã  tiến  hành  thực  nghiệm  sư  phạm.  Các thầy cô và các em học sinh đã cộng tác, động viên giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều trong thời gian thực nghiệm sư phạm tại trường. 

  Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè tôi 

đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn. 

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Văn Thiện 

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn  i 

Danh mục viết tắt  ii 

Mục lục  iii 

Danh mục các bảng  vi 

Danh mục các hình  vii 

MỎ ĐẦU  1 

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  7 

1.1. Bài tập vật lí, vai trò và mục đích sử dụng trong dạy  học vật lí  7  1.1.1. Bài tập vật lí  7 

1.1.2. Mục đích sử dụng bài tập vật lí  8 

1.1.3. Vai trò của bài tập vật lí trong dạy và học  9 

1.2. Các dạng bài tập vật lí  11 

1.2.1. Phân loại theo phương pháp giải  12 

1.2.2. Phân loại theo nội dung  14 

1.2.3. Phân loại theo mục đích lý luận dạy học  15 

1.2.4. Phân loại theo hình thức làm bài  15 

1.3. Phương pháp giải bài tập Vật  16 

1.3.1. Các bước giải bài tập Vật lí  16 

1.3.2. Một số điểm lưu ý khi học sinh bài tập và bài thi Vật lí   19 

1.4. Sử dụng hệ thống bài tập vật lý nhằm phát triển tư duy, năng  lực sáng tạo của học sinh  20 

1.4.1. Tư duy sáng tạo  20 

1.4.2.  Xây  dựng  hệ  thống  bài  tập  vật  lý,  nhằm  phát  triển  tư  duy  sáng tạo của học sinh  21 

1.4.3.Sử dụng hệ thống bài tập  22 

1.5. Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy và học bài tập vật lý  23 

1.5.1.Vai trò của giáo viên  23 

1.5.2. Vai trò của học sinh  25 

1.6. Thực trạng về dạy học bài tập vật lý ở trường phổ thông hiện nay  26 

Trang 6

1.6.1. Tình hình học tập của học sinh  26 

1.6.2. Tình hình giảng dạy của giáo viên  27 

1.6.3. Nguyên nhân và hướng khắc phục  28 

1.7.  Các  biện  pháp  phát  triển  tư  duy,  năng  lực  sáng  tạo  của  học  sinh khi dạy bài tập vật lý   30 

1.8. Kết luận Chương 1  31 

Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ ĐƯA RA PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG ‘‘DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU’’ VẬT LÝ 12, THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA HỌC SINH  33 

2.1. Vị trí, cấu trúc chương “Dòng điện xoay chiều”  33 

2.1.1 Vị trí và vai trò của chương “Dòng điện xoay chiều”  33 

2.1.2. Cấu trúc nội dung chương “Dòng diện xoay chiều”  33 

2.2. Thang năng lực nhận thức của BLOOM”  35 

2.3. Những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng giải bài tập  36 

2.3.1. Về nội dung kiến thức, trình độ nhận thức  36 

2.3.2. Về kỹ năng  40 

2.4. Các chủ đề bài tập của chương ‘‘Dòng điện xoay chiều’’ vật lý 12  41 

2.4.1. Bài tập viết phương trình và tính các đại lượng tức thời  42 

2.4.2. Tìm tổng trở, các giá trị hiệu dụng U, I, P và độ lệch pha của  các đại lượng xoay chiều của mạch R, L, C  47 

2.4.3. Phương pháp dùng giản đồ vectơ quay  56 

2.4.4. Bài tập về các đại lượng R, L C , biến thiên  62 

2.4.5. Dạng bài tính công suất của dòng điện  68 

2.4.6. Dạng bài tính điện lượng  72 

2.4.7. Bài tập về hộp đen  73 

2.4.8. Bài tập về máy biến thế và truyền tải điện năng  78 

2.5. Kết luận Chương 2  83 

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM  84 

3.1. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp của TNSP  84 

3.1.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm  84 

3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm  84 

3.1.3. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm  84 

Trang 7

3.2. Phân tích, đánh giá và xử lí kết quả TNSP  86 

3.2.1. Xây dựng tiêu chí để đánh giá  86 

3.2.2. Phân tích các kết quả về mặt định tính  86 

3.2.3. Phân tích các kết quả về mặt định lượng   87 

3.3. Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm   94 

3.4. Kết luận Chương 3  95 

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  96 

TÀI LIỆU THAM KHẢO  98 

PHỤ LỤC  100 

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng phân phối chương trình của chương “Dòng điện xoay 

chiều” vật lý 12-cơ bản  35 Bảng 3.1: Thông tin về các lớp học sinh tham gia trong quá trình 

TNSP  85 Bảng  3.2:  Bảng  phân  phối  tần  số,  tần  suất  và  tần  suất  tích  lũy  bài 

kiểm tra số 1 

 

   89 Bảng 3.3: Bảng xếp loại học tập lần 1  90 Bảng  3.4:  Bảng  phân  phối  tần  số,  tần  suất  và  tần  suất  tích  lũy  bài 

kiểm tra số 2  91 Bảng 3.5: Bảng xếp loại học tập lần 2     92 Bảng 3.6: Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng sau 2 bài kiểm tra   93 

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Chu trình sáng tạo  21 

Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương  34 

Hình 3.1: Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 1của các lớp ĐC và TN 90 

Hình 3.2: Biểu đồ xếp loại học tập lần 1  90 

Hình 3.3: Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 2 của các lớp ĐC và TN  91 

Hình 3.4 : Biểu đồ xếp loại học tập lần 2  92 

 

   

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

 Ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà động lực chủ yếu để phát triển kinh tế, xã hội là tri thức. Trong nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI, nền giáo dục phải đào tạo ra những con người có trí tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo và nhân văn. Ở nước ta Đảng và Nhà nước đã xác định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Điều này đã được xác định trong nghị quyết trung ương 

4 khoá VII, nghị quyết trung ương 2 khoá VIII, được thể chế trong luật giáo 

dục  (2005).  Luật  giáo  dục,  điều  28.2  đã  ghi  “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hướng thú và trách nhiệm học tập của học sinh”. Như vậy, quá trình dạy học không chỉ nhằm  mục đích trang bị 

kiến thức mà cần hướng đến phát huy hết tiềm năng của người học. Người học luôn tích cực, chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức, đặc biệt họ được tự do sáng tạo, tự do tư duy dưới sự định hướng của người thầy. Từ đó họ có thể phát huy khả năng tự học và duy trì việc học lâu dài, tính tích cực trong học tập là tích cực  trong  nhận  thức,  được  thể  hiện  bằng  động  cơ,  hứng  thú  học  tập,  tiền  đề 

của tự giác, độc lập và sáng tạo. Để người học tích cực chủ động trong học tập 

thì người thầy cần có phương pháp dạy học tích cực, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy  và  có  sự  phối  hợp  nhịp  nhàng  hoạt  động  dạy  với  hoạt  động  học  thì  mới thành công.  

Trong  quá  trình dạy  học nói  chung, dạy học  môn  vật  lý nói riêng, có  rất nhiều  phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất lượng trong học tập, phát triển năng lực tư duy độc lập, nâng cao hiệu quả tự học của học sinh. Trong số 

đó, phương pháp sử dụng hệ thống bài tập là một phương pháp phổ biến, được 

sử  dụng  thường  xuyên  và  mang  lại  hiệu  quả  cao.  Đặc  biệt,  môn  Vật  lí  là  một 

Trang 11

Hiện nay, tài liệu về hệ thống bài tập môn Vật lí ở trường phổ thông rất phong phú đa dạng, mặt khác trong phân phối chương trình số tiết dạy bài tập lại ít hơn so với nhu cầu cần củng cố kiến thức của học sinh. Đặc biệt, hiện nay đang áp dụng các hình thức thi trắc nghiệm, với các bài tập trắc nghiệm đòi hỏi giải bài tập nhanh và chính xác, nên nhiều học sinh chỉ vận dụng một cách máy móc các bước giải bài tập, nhận dạng bài tập, áp dụng công thức và 

sử dụng máy tính để tính toán với tốc độ nhanh và chính xác, do vậy việc phát triển tư duy và sự sáng tạo của học sinh trong việc giải bài tập vật lí còn hạn chế. Một vấn đề đặt ra là người giáo viên  cần phân loại các dạng bài tập và 

có các phương pháp giải bài tập, hướng dẫn học sinh giải bài tập với tốc độ nhanh, chính xác, đồng thời giúp học sinh phát triển tính tư duy, sáng tạo. Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng 

hệ thống và hướng dẫn giải bài tập sao cho phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh. Với kinh nghiệm qua một số năm tham gia giảng dạy ở trường THPT, tôi chọn chương “Dòng điện xoay chiều” trong chương trình Vật lí 12 là đề tài nghiên cứu. Đối với học sinh phổ thông đây là nội dung kiến thức rất quan trọng, với khối lượng khá lớn và trừu tượng, có nhiều vấn đề liên quan đến thực tế đời sống,  đặc  biệt  là  lượng  kiến  thức  chiếm  một  phần  không  nhỏ  trong  các  đề  thi quốc gia. Chính vì vậy xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tác giả chọn đề tài:  “Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương “Dòng điện xoay chiều” lớp 12, nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh” sẽ giúp học sinh có một hệ thống bài tập, có phương pháp giải cụ thể của từng dạng với hướng dẫn giải chi tiết  một số bài.  Từ đó  giúp học sinh  có thể  hiểu rõ hơn về chương dòng điện  xoay  chiều.  Đồng  thời  thông  qua  việc  giải  bài  tập,  học  sinh  được  rèn 

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu 

  Dựa trên nhu cầu thực tiễn hiện nay, đề tài đã tập trung xây dựng một hệ thống bài tập vật lý theo từng dạng, và hướng dẫn phương pháp giải các dạng bài tập của chương “Dòng điện xoay chiều”. Từ đó vạch ra tiến trình hướng dẫn hoạt động dạy học, (gồm hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh), nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức về chương này. Trên cơ sở đó học sinh có thể tự lực vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để giải các bài tập cùng dạng ở các chương khác theo phương pháp đã đưa ra. 

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

-  Nghiên  cứu  cơ  sở  lý  luận  của  đề  tài.  Trong  phần  này,  đề  tài  sẽ  hệ thống  hóa  cơ  sở  lý  luận  và  thực  tiễn  về  việc  dạy  bài  tập  vật  lý  ở  trong  các trường phổ thông hiện nay

-  Nghiên  cứu  nội  dung  chương  “Dòng  điện  xoay  chiều”  chương  trình sách giáo khoa vật lý 12 cơ bản, nhằm xác định nội dung kiến thức cơ bản học sinh cần nắm vững, và các kĩ năng giải bài tập cơ bản học sinh cần rèn luyện. 

-  Soạn  thảo  hệ  thống  bài  tập  về  nội  dung  kiến  thức  phần  Dòng  điện xoay  chiều,  phù  hợp  với  đặc  trưng  lớp  theo  từng  dạng,  rồi  đưa  ra  phương pháp giải theo từng dạng theo hướng phát huy tính sáng tạo của học sinh, đề xuất tiến trình hướng dẫn học sinh giải bài tập trong hệ thống bài tập này. 

- Thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả của các phương pháp  đã đưa ra. 

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy và học môn vật lý 12 THPT và chương “Dòng điện xoay chiều ” Vật lý lớp12 của giáo viên và học sinh. 

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu, xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện xoay chiều” Vật  lý  lớp  12  theo  từng  dạng  nhằm  gúp  học  sinh  có  một  phương  pháp  tổng 

Trang 13

5 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài này tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau : 

-Vai trò của bài tập, và việc giải bài tập trong quá trình dạy và học môn vật lý như thế nào ? 

-  Lý luận về bài tập trong dạy  học vật lí và phương pháp sử  dụng bài tập trong dạy học tích cực 

sử dụng hệ thống bài tập đó theo một chiến lược hợp lý, phù hợp với năng lực nhận thức của HS thì sẽ phát huy được tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề của HS. 

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn học sinh giải các  bài tập của chương ‘‘ Dòng điện xoay chiều ’’ lớp  12  chương  trình  cơ  bản,  theo  hướng  phát  huy  tính    tư  duy  sáng  tạo  của người học. 

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận của đề tài :

Trong phạm vi của đề tài này sẽ cung cấp một hệ thống cơ sỏ lý luận của bài tập vật lý và tác dụng của việc giải bài tập vật lý trong dạy và học. 

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :

Việc  xây dựng  hệ  thống các dạng  bài tập, và đưa  ra các phương pháp giải theo hướng phát huy tính tự học và tính sáng tạo của người học được áp dụng rộng rãi vào các trường phổ thông hiện nay. 

Trang 14

9 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

9.1 Nghiên cứu lí luận

 - Nghiên cứu cơ sở  lí luận về dạy học bài tập vật lý, để làm sáng tỏ vai trò của nó trong dạy và học. 

 -  Nghiên  cứu  chương  trình  vật  lí  phổ  thông,  các  giáo  trình,  tài  liệu hướng dẫn về học phần này, nội dung sách giáo khoa và những tài liệu tham khảo có liên quan để xác định mức độ nội dung và yêu cầu cần nắm vững. 

-  Xây  dựng  hệ  thống  các  bài  tập,  và  hướng  dẫn  giải  các  bài  tập  của chương ‘‘Dòng điện xoay chiều’’ vật lý 12. 

9.2 Nghiên cứu thực tiễn

-Khảo sát  thực tiễn về việc dạy bài tập vật lý ở các trường phổ thông trong địa bàn tỉnh Hà Nam. 

- Điều tra, phỏng vấn về việc phân loại các dạng bài tập và hướng dẫn giải các bài tập của chương ‘‘Dòng điện xoay chiều’’ ở trường phổ thông hiện nay.  

- Trao đổi ý kiến với các GV có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy môn Vật lí về nội dung, số lượng, hình thức của các loại bài tập, đề thi tự luận và trắc nghiệm khách quan, đồng thời xem xét bài giảng và phương pháp 

Trang 15

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương: 

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. 

Chương 2: Xây dựng hệ thống các bài tập và đưa ra các phương pháp giải bài tập  của  chương  ‘‘Dòng  điện  xoay  chiều’’  lớp  12  chương  trình  cơ  bản,  theo hướng phát huy tính tự học, sáng tạo của học sinh. 

Trang 16

‘‘bài toán’’,  ‘‘bài toán vật lý’’.  Trong  cuốn  Đại từ điển tiếng việt,  ‘‘bài tập” 

và “bài toán” được định nghĩa khác hẳn nhau. Bài tập là các  bài ra để luyện tập, vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề. Còn “bài toán” là vấn đề cần giải quyết, tìm ra lời giải bằng các định luật, quy tắc mới [13, tr.25]. Cũng như vậy, một số ý kiến cho rằng cần phân biệt hai thuật ngữ “ bài tập vật lý” 

và  “bài  toán  vật  lý”.  Bài  tập  vật  lý  có  ý  nghĩa  là  vận  dụng  các  kiến  thức  lý thuyết đã học về vật lý vào trong những trường hợp cụ thể để giải quyết. Còn bài toán vật lý được sử dụng để hình thành những kiến thức mới trong khi giải quyết vấn đề được đặt ra chưa có câu trả lời, hoặc đề ra một phương pháp giải quyết mới.  

Hiện nay, do quan niệm bài tập chỉ đơn thuần là vận dụng kiến thức đã biết  nên  nhiều  giáo  viên  đã  sử  dụng  bài  tập  để  rèn  luyện  kỹ  năng  vận  dụng kiến thức cũ mà coi nhẹ chức năng tìm kiếm kiến thức mới, giải quyết vấn đề mới. Theo quan điểm hiện đại việc tìm  kiếm  kiến  thức  mới cũng  là  một bài tập cho học sinh, trong quá trình tìm kiếm kiến thức mới học sinh không phải thụ  động tiếp thu cách giải  quyết  vấn đề một  cách  máy  móc. Học sinh cũng phải  tập  các hành động, các phương pháp  để  chiếm lĩnh  kiến thức  mới như: quan sát, phân tích hiện tượng, đo lường, so sánh, khái quát hóa, tìm mối quan 

hệ nhân quả giữa các hiện tượng, Điều đó có nghĩa là học sinh phải chủ động chiếm  lĩnh  kiến  thức  mới  thông qua  các hoạt  động  của  chính mình,  dưới  sự hướng dẫn của giáo viên. 

Trong  tài liệu  SGK  cũng như  các tài  liệu  bộ  môn[3],  người  ta  thường hiểu các bài tập luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ 

Trang 17

yếu, là nghiên cứu các hiện tượng, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy vật lý của học sinh và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Về bản  chất  mỗi  vấn  đề  xuất  hiện  khi  nghiên  cứu  trong  các  tài  liệu  giáo  khoa trong các bài học vật lý đều có thể coi là một bài tập đối với HS. Định nghĩa 

“bài  tập  vật  lý’’  như  trên  được  nhiều  nhà  lý  luận  dạy  học,  và  các  giáo  viên giảng dạy tán thành, chấp nhận. Theo định nghĩa đó, bài tập vật lý có hai chức năng chính đó là vận dụng kiến thức cũ để giải quyết vấn đề và tìm kiếm kiến thức mới. Chính vì vậy, theo nhóm tác giả không nên phận biệt hai khái niệm 

“bài tập vật lý” và “bài toán vật lý” mà gọi chung cả hai khai niệm này là “bài tập vật lý”. 

1.1.2 Mục đích sử dụng bài tập vật lí

Bài  tập  vật  lí  có  vai  trò  quan  trọng  trong  vận  dụng  kiến  thức  và  hình thành kiến thức mới. Do đó, bài tập vật lí với tư cách là một phương pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy học vật lí ở nhà trường phổ thông.Việc giải các BTVL là rèn luyện tư duy định hướng học sinh một cách tích cực. 

Bài tập Vật lí có thể được sử dụng như là: 

-    Phương  tiện  nghiên  cứu  tài  liệu  mới,  đảm  bảo  cho  học  sinh  lĩnh  hội  kiến thức một cách vững chắc.  

-  Phương tiện rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, liên hệ lý thuyết với thực tế, học tập với đời sống.  

- Rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh.  

- Phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức cho học sinh một cách sinh động và 

có hiệu quả.  

- Rèn luyện những đức tính: tự lập, cẩn thận, kiên trì, tinh thần vượt khó cho học sinh.  

- Phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng của học sinh. 

Quá trình giải một bài tập vật lý là quá trình tìm hiểu các điều kiện của bài toán, xem xét các hiện tượng vật lý được đề cập, dựa vào kiến thức vật lý 

Trang 18

và giải quyết vấn đề một cách chính xác. Muốn giải tốt các bài tập vật lý, học sinh cần phải biết vận dụng linh hoạt các thao tác tư duy, phân tích, tổng hợp, 

so sánh khái quát hóa,…để xác định được bản chất của vật lý. Vận dụng các kiến thức của vật lý để giải quyết các nhiệm vụ của học tập, và những vấn đề thực tế của đời sống. Đó chính là thước đo chính xác nhất mức độ hiểu biết của học sinh. 

1.1.3 Vai trò của bài tập vật lí trong dạy và học

Trước hết, vật lý là một môn khoa học giúp học sinh nắm được quy luật vận động của thế giới vật chất và bài tập vật lý giúp học sinh hiểu rõ những qui luật ấy, biết phân tích và vận dụng những qui luật ấy vào thực tiễn. Trong nhiều trường hợp, mặc dù người giáo viên có trình bày tài liệu một cách mạch lạc,  hợp  logic,  phát  biểu  định  luật  chính  xác,  làm  thí  nghiệm  đúng  yêu  cầu, qui tắc và có kết quả chính xác thì đó chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để học sinh hiểu và nắm sâu sắc kiến thức. Chỉ thông qua việc giải các bài tập vật lý dưới hình thức này hay hình thức khác nhằm tạo điều kiện cho học sinh vận dụng  kiến  thức  đã  học  để  giải  quyết  các  tình  huống  cụ  thể  thì  kiến  thức  đó mới trở nên sâu sắc và hoàn thiện, và trở thành vốn riêng của người học. Qua 

đó học sinh còn có thể hình thành thói quen, kĩ năng, kĩ xảo khi vận dụng kiến thức đã học vào  cuộc sống.  Không những thế,  thông qua dạy học về bài tập vật lí, người  học có thể nắm  vững  một  cách  chính xác,  sâu sắc  và toàn diện hơn những quy luật vật lí, những hiện tượng vật lí… biết cách phân tích, ứng dụng vào thực tiễn, có thói quen vận dụng kiến thức khái quát, giúp học sinh làm việc với tinh thần tự lực cao, đồng thời phát triển tư duy sáng tạo của học sinh. Vai trò của bài tập vật lí trong dạy học như sau: 

- Giải bài tập vật lý giúp cho học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức

Trang 19

và  tổng hợp kiến thức trong một chương hoặc một phần của chương trình. Nó được thực hiện qua các bài kiểm tra một tiết, kiểm tra định kì. Kết quả của bài kiểm tra giúp giáo viên biết người học học được gì, nắm kiến thức vững đến đâu để từ đó người giáo viên kịp thời sửa chữa sai lầm của người học và điều chỉnh cách dạy của mình.  

        Giải  bài  tập  vật  lí  là  thước  đo  chính  xác  để  giáo  viên  có  thể  thường xuyên theo dõi thành tích và tinh thần học tập của học sinh cùng với hiệu quả công tác giáo dục, giáo dưỡng của  mình, để từ đó có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học, giúp quá trình dạy học đạt hiệu quả cao. 

- Giải bài tập vật lí giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập với đời sống.  

   Có thể xây dựng nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức lý thuyết đê giải quyết. Khi giải các bài tập như vậy, 

sẽ giúp học sinh hiểu kiến thức sâu sắc hơn, đồng thời tập cho học sinh biết cách liên hệ giữa lí thuyết và thực tế, vận dụng kiến thức được học vào cuộc sống hàng ngày. 

Thí dụ : Sau khi học  xong bài “Máy biến áp-Truyền tải điện năng đi xa” học sinh  có  thể  giải  thích  được,  vì  sao  trước  khi  truyền  tải  đi  xa  người  ta  phải dùng  máy  biến  áp  để  tăng  điện  áp,  từ  đó  giải  thích  cho  những  người  xung quanh cùng hiểu.  

- Bài tập dùng để dẫn dắt kiến thức mới

Ở  những  lớp  bậc  THPT  thì  trình  độ  về  toán  học  của  HS  đã  khá  phát triển, vì vậy nhiều khi các bài tập được giáo viên sử dụng một cách khéo léo 

để có thể dẫn dắt học sinh tìm hiểu về một kiến thức mới, hiện tượng mới. Thí dụ:  Sau khi  học phần độ lệch pha trong bài “Mạch R,L,C mắc  nối tiếp” 

GV  cho  một  ví  dụ  trong  đó  ZL=Zc  khi  đó  u  và  i  cùng  pha  với  nhau  và  hiện tượng cộng hưởng xảy ra. Giáo Viên nói về hiện tượng cộng hưởng điện. 

Trang 20

- Giải bài tập vật lý góp phần làm phát triển tư duy, sáng tạo của học sinh

Khi giải quyết các tình huống cụ thể do bài tập đề ra HS phải phân tích 

đề bài, xem đề bài cho gì, cần gì, học sinh phải tái hiện kiến thức, vận dụng kiến thức, vận dụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng  hóa,  khái  quát  hóa….để  xác  lập  mối  quan  hệ  giữa  các  đại  lượng,  lập luận, tính toán , có khi phải tiến hành làm thí nghiệm, đo đạc kiểm tra kết luận. 

Vì thế bài tập vật lí sẽ là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, óc sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú học tập và khả năng nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khi phải khám phá ra bản chất của hiện tượng vật lí được trình bày dưới dạng tình huống có vấn đề. 

- Bài tập vật lí có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp.   

        Các  bài tập  vật lí  có  thể  đề  cập  đến các  lĩnh vực  khác  nhau  trong  cuộc sống, khoa học, kĩ thuật, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, sản suất công nghiệp….Các bài tập này là phương tiện thuận lợi để học sinh liên hệ giữa lí thuyết và thực hành, học tập với đời sống, vận dụng kiến thức đã học vào thực 

tế sản xuất và cuộc sống.  

   Khi  giải  bài  tập  vật  lí,  đòi  hỏi  HS  tích  cực  vận  dụng  tổng  hợp  những kiến thức, kinh nghiệm đã có để tìm lời giải. Khi giải thành công một bài tập 

sẽ đem đến cho học sinh niềm phấn khởi sáng tạo, sẵn sàng đón nhận bài tập mới ở mức độ cao hơn. Tuy nhiên, không phải cứ cho học sinh làm bài tập là chúng ta đạt ngay được các  yêu cầu mong  muốn. Bài tập vật lí chỉ phát huy tác dụng to lớn của nó trong những điều kiện sư phạm nhất định. Kết quả rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không 

có một hệ thống bài tập được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với mục đích dạy học, với yêu cầu rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho người học.  

1.2 Các dạng bài tập vật lí

Có nhiều cách để phân dạng bài tập vật lí, tùy thuộc vào  mục đích và yêu cầu. 

 

Trang 21

1.2.1 Phân loại theo phương pháp giải

a Bài tập định tính

Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải học sinh không cần phải tính toán phức tạp mà chủ yếu dựa vào các suy luận logic đơn giản để giải. Để làm được các bài tập loại này học sinh cần phải hiểu rõ, hiểu sâu bản chất các kiến thức vật lí, hiện tượng vật lí, các định luật vật lí, các thuyết vật lí….Đa 

số bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng vật lí nào đó xảy ra trong điều kiện xác định. 

Thí  dụ:  Khi  ta  mắc  một  bếp  điện  nối  tiếp  vào  một  Ampe    kế,  sau  một  thời gian bếp điện có độ nóng ổn định ta thổi vào bếp  một lồng khí lạnh. Hỏi số chỉ của Ampe kế có thay đổi không? 

Bài tập định tính thường dùng để vận dụng các kiến thức vật lí vào đời sống,  sản  xuất.  Nó  thường  được  đưa  ra  dưới  dạng  câu  hỏi  ‘Vì  sao?’,  ‘Tại sao?’. Bài tập định tính  thường được sử dụng nhiều trong quá trình dạy học vật lí nhất là khi xây dựng hình thành kiến thức mới, dùng làm bài tập nghiên cứu tài liệu mới. Chính vì điều này bài tập định tính giúp học sinh nắm rõ bản chất  các  hiện  tượng vật lí, những  quy  luật của  chúng,  dạy  cho  học sinh  biết cách  áp  dụng  lí  thuyết  vào  thực  tiễn.  Bài  tập  định  tính  luôn  mang  lại  cho người  học  sự  hứng  thú,  say  mê  môn  học,  rèn  luyện  tư  duy,  khả  năng  phán đoán, khả năng quan sát nhằm phát triển tư duy cho học sinh. 

b Bài tập vật lý tính toán

Là loại bài tập có dữ liệu cụ thể, muốn giải chúng ta phải thực hiện một loạt các phép tính và kết quả của nó là một đáp số định lượng như một công 

thức, một giá trị bằng số…

Bài tập tính toán có thể chia làm hai loại: bài tập tính toán tập dượt và bài tập tính toán tổng hợp [11]. 

   Bài tập tính toán tập dượt là các bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ 

đề cập đến một hiện tượng hay một định luật vật lí và chỉ cần sử dụng một vài phép toán đơn giản. Bài tập này có tác dụng củng cố các kiến thức vừa học, 

Trang 22

  Thí dụ: Sau khi học xong bài học “ Mạch điện R.L.C mắc nối tiếp” giáo viên  cho  một  bài  tập  “  Cho  mạch  điện  xoay  chiều  R,L,C  mắc  nối  tiếp  có 

phương  trình  điện  áp  u= 200 cos(100 t)  V.  có  R=30  ,  L= 0, 5H

c Bài tập thí nghiệm

Bàì tập thí nghiệm là loại bài tập đòi hỏi người giải phải làm thí nghiệm 

để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập. Những thí nghiệm loại này thường là những thí nghiệm đợn giản, học sinh dễ hiểu, dễ làm. Bài tập thí nghiệm có thể là những bài tập định tính hoặc định lượng. 

Bài  tập  thí  nghiệm  có  tác  dụng  về  các  mặt  giáo  dưỡng,  giáo  dục,  và giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt là giúp cho người học làm sáng tỏ được mối quan hệ giữa lý thuyết và thực nghiệm. 

Thí dụ: Sau khi học xong bài “Mạch R,L,C mắc nối tiếp” GV có thể cho một bài tập thí nghiệm: Cho các dụng cụ như sau: 

- Một máy phát tần số của của dòng điện xoay chiều.  

- Một điện trở thuần R, cuộn dây thuần cảm có độ tự cảm L và tụ điện có điện dung. 

- Một số dây nối, bảng lắp giáp mạch. 

Trang 23

Yêu cầu HS hãy trình bày và giải thích một phương án thí nghiệm, để xác định tần của dòng điện để xảy ra hiện tượng cộng hưởng điện. 

d Bài tập đồ thị

Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị. 

Để giải được bài tập loại này học sinh cần hiểu rõ được ý nghĩa của đồ thị, qua đồ thị có thể cho ta thấy rõ được mối quan hệ giữa hai đại lượng vật 

lý. Trong thực nghiệm nếu biểu diễn các số liệu đo được trên đồ thị một cách chính xác, sẽ giúp ta xây dựng các các định luật vật lí mới. Chính vì vậy, mà bài tập sử dụng đồ thị ngày càng quan trọng trong quá trình dạy học vật lí.  

1.2.2 Phân loại theo nội dung

Theo nội dung người ta phân loại những bài tập có nội dung trìu tượng, những bài tập có nội dung cụ thể. Bài tập có nội dung thực tế, bài tập có nội dung vui. 

- Bài tập có nội dung trừu tượng: Là loại bài tập mà trong các điều kiện của 

đầu bài, bản chất vật lý được nêu nổi bật. Những chi tiết không bản chất được lược bỏ đi. 

- Bài tập có nội dung cụ thể: là loại bài tập có tác dụng rèn luyện cho học sinh 

phân tích các hiện tượng vật lý cụ thể để làm rõ bản chất vật lý. Loại bài tập này học sinh chỉ áp dụng lý thuyết đã học thì dễ dàng giải quyết. 

- Bài tập có nội dung thực tế:  Là  loại  bài  tập  có  nội  dung  liên  quan  tới  đời 

sống  thực  tiễn,  sản  xuất.  Loại  bài  tập  này  có  tác  dụng  rất  lớn  về  mặt  hình thành kỹ thuật hướng nghiệp, tổng hợp. 

- Bài tập có nội dung vui: Là loại bài tập giảm bớt sự khô khan, mệt mỏi, ức 

chế khi học môn vật lý của học sinh. Đồng thời nó cũng đem lại sự hứng thú, đam mê cho người học. 

 

Trang 24

1.2.3 Phân loại theo mục đích lý luận dạy học

Trong  quá  trình  dạy  học,  giáo  viên  có  thể  phân  loại  bài  tập  theo  mục đích dạy học. Theo cách phân loại này, giáo viên có thể phân loại bài tập theo hai dạng: Bài tập luyện tập, và bài tập sáng tạo. 

-  Bài tập luyện tập:  Là  loại  bài  tập  giải  chúng  không  đòi  hỏi  nhiều  tư  duy, 

sáng tạo của học sinh. Học sinh chỉ vận dụng kiến thức lý thuyết đã được học thì có thể dễ dàng làm được. Loại bài tập này chỉ yêu cầu học sinh cách giải một loại bài tập nhất định đã được hướng dẫn. 

-  Bài tập sáng tạo: Trong loại bài tập này, ngoài việc phải vận dụng  một số 

kiến thức đã học, học sinh bắt bộc phải có kiến thức độc lập, mới mẻ. Loại bài tập này giúp cho học sinh hình thành các kỹ năng, so sánh, tổng hợp, và khái quát hóa kiến thức. Giúp cho người học có thể giải quyết vấn đề một cách độc lập, sáng tạo. 

1.2.4 Phân loại theo hình thức làm bài

Giáo viên có thể phân loại bài tập theo hình thức, tự luận, và hình thức trắc nghiệm khách quan. 

- Chọn đúng-sai: Câu hỏi là  một phát biểu, câu trả lời là chọn một trong hai đáp án đúng hoặc sai. 

- Câu có nhiều lựa chọn: Một câu hỏi có nhiều đáp án. Học sinh phải lựa chọn một đáp án đúng nhất. 

- Câu điền khuyết: Nội dung trong câu bị bỏ lửng, yêu cầu học sinh phải điền nội dung vào chỗ còn khuyết thiếu. 

Trang 25

1.3 Phương pháp giải bài tập Vật lí

1.3.1 Các bước giải bài tập Vật lí

Việc rèn luyện cho học sinh, biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo đi đến một kết quả chính xác, là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết của người giáo viên. Nó không những giúp cho học sinh, nắm vững kiến thức, mà còn  rèn  luyện  kỹ  năng  suy  luận  logic,  làm  việc  một  cách  khoa  học,  có  kế hoạch. Người giáo viên cần phải biết cách thể hiện bài tập vật lý để cho học sinh dễ dàng tìm ra lời giải cho bài tập. Cách thể hiện bài tập vật lý có thể là: 

a Tìm hiểu đầu bài, tóm tắt các dữ kiện 

- Đọc kỹ đầu bài, tìm hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ qua trọng, phân biệt được đâu là ẩn số, đâu là dữ kiện.  

- Dùng các ký hiệu để tóm tắt đầu bài để xác định đầu bài cho gì, bắt tính gì? 

- Dùng hình vẽ mô tả lại tình hống, cần thiết phải minh họa lại nếu cần. Trong nhiều  trường  hợp,  ngôn  ngữ  dùng  trong  đề  bài  không  hoàn  toàn  trùng  với ngôn ngữ dùng trong lời phát biểu của các định nghĩa, định luật, các quy tắc 

VL thì phải chuyển chúng sang ngôn ngữ VL tương ứng để thấy rõ được mối liên quan giữa hiện tượng đã nêu trong đề bài với nội dung các kiến thức VL tương ứng. 

Trang 26

b Phân tích hiện tượng 

- Nhận biết những giữ kiện đã cho trong đề bài có liên quan đến những kiến thức nào, khái niệm nào, hiện tượng nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật lý. 

- Xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đề bài, khảo sát xem  mỗi giai đoạn, diễn biến đó bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào   Hình dung toàn bộ diễn biến của hiện tượng và các định luật, quy tắc chi phối nó. Có như vậy, học sinh mới hiểu rõ được bản chất của hiện tượng, tránh 

sự áp dụng máy móc công thức mà không hiểu được bản chất của vấn đề. 

- Để giúp HS tìm ra đường lối giải GV nên đưa ra những câu hỏi gợi ý. Sau khi  nắm  vững  hiện  tượng  HS  có  thể  vận  dụng  các  định  nghĩa,  định  luật, công  thức  để  thiết  lập  các  phương  trình  cho  phép  tìm  các  đại  lượng  chưa biết trong đầu bài.  

c Xây dựng lập luận

Thực chất của bước này là tìm mối quan hệ giữa ẩn số phải tìm và các 

dữ kiện mà đầu bài đã cho. Đối chiếu các dữ kiện của đầu bài cho và cái phải tìm có mối liên hệ như thế nào, qua công thức, định luật nào để xác lập mối quan hệ. Thành lập các phương trình nếu cần, phải chú ý là có bao nhiêu ẩn số, thì có bấy nhiêu phương trình. 

* Đối với những bài tập tính toán, phức tạp, tổng hợp: có hai phương pháp xây 

dựng lập luận để giải: Đó là phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp. 

- Phương pháp phân tích: Là phương pháp xuất phát từ ẩn số của bài tập, tìm 

ra mối quan hệ giữa ẩn đó với một đại lượng nào đó của một định luật đã xác định, diễn đạt bằng công thức, tiếp tục phát triển lập luận hoặc biến đổi cuối cùng tìm được một công thức chỉ chứa mối quan hệ giữa ẩn số và các dữ kiện 

đã cho.  

- Phương pháp tổng hợp: Việc giải bài tập bắt đầu từ những đại lượng đã cho, 

dựa  vào  các  định  luật,  qui  tắc  vật  lí,  ta  phải  tìm  những  công  thức  chứa  đại lượng  đã  cho  với  đại  lượng  trung  gian  mà  ta  dự  kiến  có  liên  quan  đến  đại lượng ta cần tìm. Cuối cùng, ta tìm được một công thức trong đó chỉ chứa một 

Trang 27

* Đối với những bài tập định tính: Ta không cần tính toán nhiều, mà chủ yếu 

sử dụng lập luận, suy luận logic dựa vào hiện tượng vật lý để giải thích hiện tượng,  hoặc  dự  đoán  hiện  tượng  xảy  ra.  Giải  thích  hiện  tượng,  thực  chất  là cho biết một hiện tượng VL và yêu cầu được giải thích vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế, tức là giải thích nguyên nhân của hiện tượng. Trong khi đó, dự đoán hiện tượng là quá trình ngược lại, HS phải căn cứ vào những điều kiện 

cụ thể của đề bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng, từ đó dự đoán hiện tượng gì sẽ xảy ra và xảy ra như thế nào. 

– Đối với loại câu hỏi giải thích hiện tượng: Phải thiết lập được mối quan hệ 

giữa một hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hay định luật VL. Tức là phải thực hiện được phép suy luận lôgic, trong đó cơ sở kiến thức phải 

là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật VL có tính tổng quát áp dụng vào điều kiện cụ thể của đề bài mà kết quả cuối cùng chính là hiện tượng đã được nêu ra trong đề bài. 

Những hiện tượng thực tế thường rất phức tạp, trong khi đó các định luật 

VL lại khá đơn giản, nên thoạt nhìn thì khó có thể phát hiện ngay được  mối quan hệ giữa hiện tượng đã cho với những định luật VL đã biết. Trong những trường hợp như thế, cần phân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện tượng đơn giản,  sao  cho  mỗi  hiện  tượng  đơn  giản  chỉ  tuân  theo  một  định  luật  hay  một quy tắc nhất định. 

– Đối với loại câu hỏi dự đoán hiện tượng: Trước hết cần phải “khoanh vùng” 

kiến  thức  bằng  cách  căn  cứ  vào  những  dấu  hiệu  ban  đầu  (các  dụng  cụ  thí nghiệm,  dạng  đồ  thị,  cấu  tạo  vật  thể,  trạng  thái  ban  đầu  của  hệ  )  để  liên tưởng, phán đoán chúng có thể liên quan đến những quy tắc nào, định luật VL nào  đã  biết.  Kết  quả  của  việc  “khoanh  vùng” ban  đầu  là  hết  sức quan trọng bởi lẽ nếu “khoanh vùng” quá rộng thì quá trình giải sẽ càng thêm phức tạp, 

Trang 28

còn  nếu sai  lầm  ở  khâu  này  thì  chắc  chắn  sẽ  dẫn  đến những dự  đoán  sai về bản chất của hiện tượng. 

* Đối với những bài tập trắc nghiệm khách quan: Cần nắm thật vững kiến thức 

trong SGK, nếu không sẽ không thể lựa chọn được phương án đúng. Để làm tốt bài trắc nghiệm ta nên chia quỹ thời gian, sao cho phù hợp với thời gian làm bài. Đọc lướt qua các câu hỏi trắc nghiệm một lượt, câu nào làm được chính xác thì làm ngay, và làm bài theo nguyên tắc dễ làm trước, khó làm sau. Không nên dừng lại tìm lời giải cho một câu quá lâu. Cần lưu ý không được bỏ trống bất kỳ câu nào trong đề bài vì xác suất trả lời đúng cho các câu là 25%. 

d Kiểm tra, xác nhận kết quả, và biện luận 

Phân tích kết quả cuối cùng, để loại bỏ những kết quả không phù hợp với điều kiện bài tập hoặc không phù hợp thực tế. Việc lập luận này, cũng là một cách để kiểm tra sự đúng đắn của quá trình lập luận. Đôi khi nhờ sự lập luận mà học sinh có thể phát hiện ra được những sai lầm trong quá trình lập luận, do sự vô lý của kết quả thu được. 

1.3.2 Một số điểm lưu ý khi học sinh bài tập và bài thi Vật lí

Trong quá trình học sinh làm bài tập VL để hạn chế các lỗi sai. HS cần chú ý một  số điểm nhỏ sau đây. 

- Phải ghi rõ đơn vị ở kết quả sau cùng: Mỗi một đại lượng VL  gắn với một 

đơn vị tương ứng. Không có đơn vị thì đại lượng không có ý nghĩa.  

- Cần phân biệt các loại đơn vị khác nhau. Một số sai lầm phổ biến hiện nay 

là  :  không  phân  biệt  kW  (công  suất)  và  kWh  (công),  MeV  (năng  lượng)  và MeV/c2(khối lượng). 

 -  Tập  thói  quen  biến  đổi  rad  ra  độ  hoặc  ngược  lại.  Biến  đổi  các  đơn  vị  đo chiều dài, diện tích, thể tích. Chú ý tên gọi của các bội số hay các ước số của đơn vị như như micrô (), nanô (), picô (p), kilô (k), mêga (M)   

- Tập thói quen kiểm tra giá trị của các đại lượng sao cho có nghĩa và phù hợp 

trong thực tế. Nhiều thí sinh thường hay hoảng hốt nếu con số ra quá lớn hay quá nhỏ. Vấn đề là giá trị ấy có phù hợp trong thực tế hay không.  

Trang 29

Thí dụ: với mạch điện thông thường, dòng điện quá 30A là bất hợp lí nhưng với  động  cơ  điện  là  chấp  nhận  được.  Vận  tốc  các  vật  luôn  nhỏ  hơn  vận  tốc ánh sáng. Không có tụ điện có điện dung vài Fara…  

- Một điểm lưu ý nữa khi trình bày bài phải sáng sủa, sạch sẽ, khoa học. Nếu cần bổ xung thêm  hình vẽ, đồ thị để truyền đạt thông tin một cách ngắn gọn. 1.4 Sử dụng hệ thống bài tập vật lý nhằm phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của học sinh

1.4.1 Tư duy sáng tạo

Theo  Phan  Dũng[7,  tr.20].  Tư  duy  sáng  tạo  là  quá  trình  suy  nghĩ  đưa người giải : 

Ngoài ra, nếu nhìn theo góc độ thông tin, tâm lý thì tư duy sáng tạo là quá  trình  biến  đổi  thông  tin  thành  tri  thức,  biến  đổi  những  tri  thức  đã  biết thành những tri thức mới. 

Trang 30

ra phương án thực nghiệm, kiểm tra hệ quả suy ra từ lý thuyết. Trong hai con đường này, không có suy luận lôgic mà phải dựa vào trực giác. 

Sáng tạo và mong muốn được sáng tạo là nhu cầu của con người. Sáng tạo là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống con người, tạo nên sự phát triển toàn diện của xã hội, tạo nên sự thay đổi từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Trong các nhà trường phổ thông tư duy sáng tạo hầu hết còn bó hẹp đối với lợi ích của HS  mà thôi. Do vậy, việc dạy học nói chung, và dạy học môn vật lý nói riêng là phải giúp cho HS rèn luyện, nâng cao tư duy sáng tạo, 

để nhắm tới mục tiêu cao hơn là đào tạo ra những con người có khả năng sáng tạo ra những công trình có lợi ích cho nhân loại. 

1.4.2 Xây dựng hệ thống bài tập vật lý, nhằm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh

Trong  dạy  học  bất  cứ  một  đề  tài  nào,  giáo  viên  cần  lựa  chọn  một  hệ thống bài tập thỏa mãn các yêu cầu sau: 

-  Hệ  thống  bài  tập  góp  phần  thực  hiện  mục  tiêu  dạy  học:  Bài  tập  là  một phương tiện để tổ chức hoạt động của HS, nhằm khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống kiến thức đã học, hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản. 

Hình 1.1: Chu trình sáng tạo

Trang 31

- Hệ thống bài tập phải tính vừa sức cho HS có khả năng tự học. 

- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính kế thừa và tính liên thông. 

- Hệ thống bài tập cần phải đa dạng về thể loại bao gồm các dạng bài tập: giả tạo, thực tế, luyện tập, sáng tạo, ngụy biện. 

+  Bài tập  giả  tạo: Là bài tập  mà  nội dung  của  nó không sát với thực tế,  các quá trình tự nhiên được đơn giản hóa đi nhiều hoặc ngược lại, cố ý ghép nhiều yếu tố thành một đối tượng phức tạp để luyện tập, nghiên cứu.  

+ Bài tập luyện tập: Được dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng các kiến thức đã học để giải từng loại bài tập theo mẫu xác định. Việc giải những bài tập loại này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh mà chủ yếu cho học sinh luyện tập để nằm vững cách giải đối với từng loại bài tập nhất định. + Bài tập sáng tạo: Là bài tập mà các dữ kiện đã cho trong đầu bài không chỉ dẫn trực tiếp hay gián tiếp cách giải. Các bài tập sáng tạo có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tính tự lực và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức chính xác, sâu sắc và mềm dẻo. 

- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính tổng hợp kiến thức, kỹ năng. Mỗi bài tập 

là một mắt xích trong hệ thống bài tập nhằm củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức, góp phần phát huy tính tư duy sáng tạo của HS. 

Giáo viên phải dự kiến chi tiết kế hoạch sử dụng hệ thống bài tập. Sử dụng  ở  các  khâu  trong  quá  trình  dạy  học:  nêu  vấn  đề,  hình  thành  kiến  thức mới, củng cố, hệ thống hóa, kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS. Cần quan tâm cả đến số lượng bài tập cần giải, ở lớp, ở nhà hoặc làm thêm. 

1.4.3 Sử dụng hệ thống bài tập

    Các bài tập đã lựa chọn có thể sử dụng ở các khâu khác nhau của quá trình  dạy  học:  nêu  vấn  đề,  hình  thành  kiến  thức  mới  củng  cố  hệ  thống  hóa, kiểm tra và đánh giá kiến thức kĩ năng của học sinh. 

   Trong tiến trình dạy học một đề tài cụ thể, việc giải hệ thống bài tập mà giáo viên đã lựa chọn cho học  sinh thường bắt đầu  bằng những  bài tập  định 

Trang 32

tính.  Sau  đó,  HS  sẽ  giải  những  bài  tập  tính  toán,  bài  tập  đồ  thị,  bài  tập  thí nghiệm có nội dung phức tạp hơn. Việc giải những bài tập tính toán tổng hợp, những bài tập có nội dung kĩ thuật với dữ kiện không đầy đủ, những bài tập sáng tạo có thể coi là sự kết thúc việc giải hệ thống bài tập đã được lựa chọn cho đề tài. 

Cần chú ý cá biệt hóa học sinh trong việc giải bài tập vật lý, thông qua các biện pháp sau: 

+ Biến đổi mức độ yêu cầu của bài tập ra cho các loại đối tượng học sinh khác nhau,  thể  hiện ở mức độ  trừu tượng của đầu bài, loại vấn đề cần  giải quyết, phạm vi và tính phức hợp của các số liệu cần xử lý, loại và số lượng thao tác 

tư duy logic và các phép biến đổi toán học cần sử dụng, phạm vi và mức độ các kiến thức, kĩ năng cần huy động. 

+ Biến đổi mức độ yêu cầu về số lượng bài tập cần giải, về mức độ tự lực của học sinh trong quá trình giải bài tập. 

1.5 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy và học bài tập vật lý

1.5.1.Vai trò của giáo viên

Hiện nay, các giờ dạy bài tập trong các nhà trường phổ thông còn ít, mà BTVL lại vô cùng đa dạng. Chính vì vậy, GV cần lựa chọn  hệ thống bài tập sao cho phù hợp với năng lực nhận thức của  HS và đảm bảo được mục tiêu dạy học là rất cần thiết. 

Trong dạy BTVL ở các trường phổ thông hiện nay, GV có vai trò quan trọng  trong  việc  định  hướng  ban  đầu  để  học  sinh  giải  quyết  vấn  đề  đặt  ra. Việc  định  hướng  này  giúp  cho  HS  tránh  được  việc  phải  mò  mẫm,  mất  thời gian, và gây nên tâm lý chán nảm. Đồng thời, cùng với HS tháo gỡ những khó khăn mà HS gặp phải trong quá trình giải bài tập vật lý. Nếu học sinh không 

tự giải quyết được, giáo viên sẽ gợi ý thêm, cụ thể hóa hoặc chi tiết hóa thêm một bước để thu hẹp phạm vi tìm tòi giải quyết cho vừa sức học sinh. 

  Giáo viên có thể theo sát học sinh trong quá trình giải bài tập, để phát hiện được những thiếu sót hoặc sai lầm của học sinh để điều chỉnh và củng cố 

Trang 33

GV giúp cho HS biết vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề. Đồng thời giúp cho HS  rèn luyện tính tư duy, rèn luyện kỹ năng giải bài tập, khả năng 

-  Có những gợi ý  cho những  BT khó,  mới  mà  HS  chưa  được làm quen.  GV cho những  BT  yêu  cầu  HS phải đọc  lại lý thuyết  của  bài học.  Đến buổi  học  sau GV phải giải đáp những vướng mắc của HS trong quá trình làm BT ở nhà. Sẵn  sàng  giúp  đỡ  khi  HS  gặp  khó  khăn  hoặc  đưa  ra  các  điều  chỉnh  khi  cần thiết.  Đánh  giá  chính  xác  kết  quả  của  HS,  có  chính  sách  động  viên  khen thưởng đúng đắn, kịp thời. 

  Việc HS tự hoàn thiện bài học là rất quan trọng bởi đó chính là lúc HS biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, biến tri thức nhân loại thành tri thức của mình. 

Trang 34

1.5.2 Vai trò của học sinh

Học  sinh  là  đối  tượng  chính  của    hoạt  động  dạy  đồng  thời  là  chủ  thể của hoạt  động học. Do  đó,  học  sinh  là  người chủ  động,  tích  cực đi  tìm  kiến thức thông qua sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên. Lượng tri thức mà HS 

có  được  trong  quá  trình  học  tập  phần  lớn  là  do  cách  học  của  người  học  tạo nên.  Chính  vì  vậy  HS  đóng  vai  trò  then  chốt  trong  quá  trình  dạy  học  nói chung, và dạy BTVL nói riêng. 

Trong  mỗi  giờ  bài  tập  trên  lớp,  HS  cần  nắm  vững  được lý thuyết  của bài  học,  sau  đó  tự  mình  làm  các  bài  tập  định  tính  và  định  lượng  đơn  giản. Trong quá trình học yêu cầu HS phải vận động tư duy, tích cực tham gia vào hoạt động học dưới sự hướng dẫn của GV. Quá trình giải BT yêu cầu HS phải tập trung  tích cực để giải quyết, học sinh phải tự đặt mình vào các tình huống thực tế, trực tiếp quan sát, thảo luận, đôi khi phải làm thí nghiệm và giải quyết vấn đề đặt ra theo quan điểm và suy nghĩ của mình. Đó là cách học sinh tự rèn luyện kỹ năng, rèn luyện tư duy của mình ngày càng phát triển.  

  Học sinh phải tự giác, chủ động, độc lập trong học tập, có nhu cầu nhận thức  cao.  Nghĩa  là,  HS  phải  luôn  thực  hiện  tốt  nhiệm  vụ  học  tập  của  mình, hăng hái tìm  đọc thêm các tài liệu tham  khảo  của  môn  học, vui vẻ tham gia các hoạt động nội khóa, ngoại khóa để phục vụ cho học tập của mình. Chỉ tìm đến sự giúp đõ của thầy cô, bạn bè khi vấn đề cần giải quyết thực sự bế tắc. 

Học sinh phải có phải có động cơ học tập đúng đắn, học để chiếm lĩnh kiến thức, học để hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo của bản thân và nhân cách theo yêu cầu của xã hội. Chăm chú nghe thầy cô định hướng cách giải, đào sâu suy nghĩ, đặt ra nhiều giả thuyết cho một vấn đề để có cái nhìn tổng quan cho vấn 

đề.  Lật  lại  vấn  đề  nếu  như  những  kiến  thức  chưa  thấy  hài  lòng,  không  thụ động chấp nhận kiến thức một cách máy móc, thụ động. 

Học sinh phải có một kế hoạch cụ thể cho môn học theo từng tuần, từng tháng. Với bộ môn vật lý do lượng kiến thức phong phú, vì vậy HS cần dành nhiều thời gian tự học để nâng cao kiến thức, phát triển tư duy. Cuối cùng, HS 

Trang 35

phải  luôn  phải  biết  tự  kiểm  tra,  đánh  giá  năng  lực  học  tập  của  mình  để  có hướng phấn đầu, rèn luyện. 

1.6 Thực trạng về dạy học bài tập vật lý ở trường phổ thông hiện nay

Trong  phạm  vi  nghiên  cứu  của  đề  tài  này,  nhóm  tác  giả  đã  khảo  sát thực  trạng  dạy  học  VL  và  BTVL  ở  trường  THPT  Thanh  Liêm  A  -  Huyện Thanh Liêm, Tỉnh Hà Nam, với  mục đích như sau: 

- Điều tra về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học. 

- Tìm hiểu về đặc điểm của HS, chất lượng học tập nói chung, và chất lượng học môn vậy lý nói riêng. 

- Khảo sát các phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện phục vụ giảng dạy, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy. Từ đó phân tích những hạn chế, khó khăn, và tìm nguyên nhân, đề ra biện pháp khắc phục. 

- Đối tượng điều tra: HS lớp 11, lớp 12, giáo viên dạy bộ môn vật lý, lãnh đạo các nhà trường. 

-  Chất  lượng  học  của  HS  của  tất  cả  các  môn  nhìn  chung  còn  thấp  với  tỉ  lệ: 25% HS đạt tỉ lệ lực học khá và giỏi, 50% HS đạt tỉ lệ trung bình, 20% HS đạt 

tỉ lệ lực học yếu, 5% HS đạt tỉ lệ lực học kém. Trong đó các môn khoa học tự nhiên,  và  môn  ngoại  ngữ  có  tỉ  lệ  HS  khá,  giỏi  còn  thấp.  Đa  số  HS  còn  sợ những môn học này, đặc biệt là môn vật lý. 

- Về cụ thể tình hình học tập của HS đối với môn  vật lý: Đa số HS cho rằng đây  là  một  môn  học  khó,  trừu  tượng  nên  chất  lượng  học  của  HS  còn  thấp. 

Trang 36

Chất lượng học tập của HS qua các kỳ thi như sau: 15% tỉ lệ HS đạt lực học khá giỏi, 45% tỉ lệ HS đạt tỉ lệ trung bình, còn lại là tỉ lệ HS yếu, và kém. Qua tìm hiểu mức độ hứng thú học tập, tính tích cực, tự lực trong các giờ học có 20%  HS  chú  ý  nghe  giảng,  suy  nghĩ,  tích  cực  phát  biểu  xây  dựng  bài.  Có khoảng 65% HS chỉ nghe giảng mà không phát biểu đóng góp xây dựng bài, 

và có khoảng 15% HS không chú ý nghe giảng làm việc riêng. 

- Chỉ có 20% HS thích học môn vật lý, thích tìm hiểu ý nghĩa của kiến thức vật lý và vận dụng vào thực tiễn. Khoảng 25% HS không thích học môn vật lý, chưa bao giờ quan tâm tới việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Số còn lại thì  coi  môn  vật  lý  là  bình thường, thỉnh thoảng  quan  tâm  tới  việc  ứng  dụng vào thực tiễn. 

- Đa số HS ( khoảng 75%) chỉ học thuộc lòng những nội dung mà GV cho ghi trong các giờ dạy lý thuyết. Có khảng 20% HS tự giác làm các bài tập trong SGK, SBT và sách tham khảo. Có khoảng 60% HS chỉ làm được các bài tập đơn giản trong SGK, còn lại là những HS không tự làm được bất kỳ một bài tập nào. Có khoảng 35% HS làm bài tập ở nhà. Thời gian tự học môn vật lý ở nhà rất ít khoảng từ hai đến ba giờ mỗi tuần. Qua tìm hiểu về những khó khăn của HS khi giải bài tập cho thấy: 30% HS không hiểu và tóm tắt được đầu bài, 30%  HS  không  nhớ  lý  thuyết,  và  khoảng  40%  HS  không  biết  vận  dụng  lý thuyết  vào  để  giải  các  bài  tập,  30%  HS  gặp  khó  khăn  trong  việc  giải  các phương trình và tính toán. 

1.6.2 Tình hình giảng dạy của giáo viên

Qua điều tra, khảo sát cho thấy, số GV thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức cho HS. Đa số các GV vẫn sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống.  

- Tất cả các GV vật lý được hỏi ý kiến đều xác định  mục đích của việc giải bài tập là củng cố, khắc sâu kiến thức, và rèn luyện phương pháp giải bài tập. Hình thức tổ chức giải bài tập chủ yếu là GV nêu bài tập, tổ chức cho HS thảo luận, phân tích đề bài để giải toán. Các bài tập chủ yếu dưới dạng bài tập định 

Trang 37

-  Trong  các giờ  bài  tập, có 20%  GV  vật  lý được hỏi  cho  rằng HS khá hứng thú với giờ bài tập. Trong các giờ bài tập HS ít hứng thú và có tâm lý sợ kiểm tra bài cũ, kiểm tra việc làm bài tập ở nhà hoặc bị gọi lên bảng làm bài tập. 

1.6.3 Nguyên nhân và hướng khắc phục

- Những kết quả điều tra ở trên cho thấy nhiều HS chưa xác định được động 

cơ, mục đích học tập của mình. Không hứng thú với bộ môn vật lý, chưa có phương pháp học tập hiệu quả, thời gian tự học còn ít, năng lực nhận thức tích cực, tự lực còn thấp, nên chất lượng học tập chưa cao. Qua tìm hiểu nhóm tác giả  thấy  có  nhiều  nguyên  nhân,  trong  đó  có  cả  nguyên  nhân  chủ  quan,  và khách quan của cả phía GV và HS. 

* Về phía học sinh

- Nguyên nhân: Đối với HS phổ thông việc giải BTVL gặp rất nhiều khó khăn 

vì HS thường không nắm vững lý thuyết, kỹ năng vận dụng kiến thức vật lý. 

Vì vậy, các em thường giải BT một cách  mò mẫm, không có định hướng rõ ràng,  và  áp  dụng  một  cách  máy  móc  nhiều  khi  không  giải  được.  Có  nhiều 

nguyên nhân:

+HS chưa có phương pháp khoa học để giải BTVL . 

+ Chưa xác định được mục đích của việc giải BTVL là xem xét phân tích các hiện tượng để đi đến bản chất vật lý. Các em chưa có hiểu biết dúng đắn về vai  trò  thực  tiễn  của môn  vật  lý  trong  đời  sống.  Hiện  nay  một  nguyên  nhân 

Trang 38

khá  cơ  bản  ảnh  hưởng  tới  việc  hình  thành  nhân  cách  của  HS,  đó  là  sự  tác động  của  xã  hội,  gia  đình,  sự  phát  triển  ồ  ạt  không  kiểm  soát  của  các  quán điện tử, Internet. Các yếu tố này làm phân tán mạnh mẽ tư tưởng của HS nhất 

tế là rất hạn chế, tạo sức ỳ trong tâm lý tiếp nhận của HS. 

- Biện pháp khắc phục: Người GV cần phải tâm huyết với nghề hơn nữa, tích 

cực tự học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Nâng cao 

kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học, công nghệ thông tin trong dạy học, tăng cường các tài liệu tham khảo để tìm hiểu ý nghĩa thực tiễn, các ứng dụng của vật lý phổ thông vào đời sống, từ đó làm cho HS thấy rõ vai trò đích thực của môn vật lý. 

* Về phía nhà trường 

  Cần quan tâm hơn nữa tới việc bồi dưỡng GV về đổi mới phương pháp dạy học. Đầu tư thêm các trang thiết bị dạy học hiện đại, tổ chức các hội thảo khoa học về bài tập, khuyến khích các sáng kiến kinh nghiệm về dạy BTVL, thành  lập  các  câu  lạc  bộ  vật  lý  trong  đó  đưa  ra  các  bài  tập  hay  và  khuyến khích HS có lời giải hay và nhanh nhất. Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc dạy của GV và việc học của HS một cách hiệu quả. 

Trang 39

1.7 Các biện pháp phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của học sinh khi dạy bài tập vật lý

Để hình thành và phát triển tư duy, sáng tạo của HS nhóm tác giả xin đưa ra một số biện pháp để phát triển tính tích cực, tư duy sáng tạo của người học thông qua việc dạy BTVL. 

Biện pháp 1: Tạo nhu cầu hứng thú học tập, kích thích tìm tòi, ham hiểu biết của HS

Trong  các  giờ  bài  tập,  GV  khen  ngợi  các  em  khi  các  em  hoàn  thành nhiệm  vụ  mà  GV  yêu  cầu,  có hình thức  phù  hợp  để  thể  hiện các  BTVL  sao cho HS thấy được các hiện tượng vật lý xảy ra trong bài. Đưa ra các bài tập có tình hống lạ, tình huống bất ngờ để kích thích tư duy của các em. GV cần phải khuyến  khích  HS  tìm  tòi,  đưa  ra  những  ý  kiến  riêng,  không  nên  áp  đặt  HS phải suy nghĩ  hay diễn đạt giống mình. Nếu ý kiến của HS còn sai sót thì GV cần chỉnh sửa, bổ sung nhưng không làm mất đi sự hào hứng, tự tin của HS trong tiết bài tập. 

Biện pháp 2: Xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với từng nhóm đối tượng HS

GV cần xây dựng hệ thống bài tập cụ thể đối với từng đề tài, các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Các bài tập được sử dụng ở các khâu khác nhau của quá trình dạy học, như củng cố bài học, kiểm tra bài 

cũ, luyện tập  

Biện pháp 3: Rèn HS các kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy, những hành động phổ biến trong học BTVL 

  Trong từng tình huống dạy học có sử dụng BTVL, GV tổ chức các hoạt động sao cho tất cả HS phải tham gia thực hiện các thao tác tư duy ( phân tích, 

so  sánh, khái quát  hóa, ) bằng cách  GV đưa  ra  các câu hỏi  để định hướng cho HS trả lời qua đó HS rèn được kỹ năng tư suy hay phương pháp suy luận. 

GV yêu cầu các HS khác nhận xét, hay nêu ý kiến của mình về câu trả lời của bạn, đồng thời phân tích câu trả lời của HS chỉ ra những lỗi sai trong tư duy 

và giúp cho HS có cái nhìn một vấn đề đúng đắn hơn. 

Trang 40

Giải BTVL là một phần hợp thành của việc học môn vật lý, các BTVL sẽ lôi cuốn  HS  bằng  nội  dung,  bằng  phương  pháp  giải  hay,  cho  phép  ta  dự  đoán được các hiện tượng tự nhiên và bản chất vật lý. Bởi vậy trong các tiết học bài tập GV nên tổ chức các nhóm giải BTVL, thi đua giữa các nhóm, các nhóm tự đánh giá lẫn nhau tạo hứng thú trong học tập.  

Việc kiểm tra mức độ làm việc của HS, trong các giờ bài tập là rất quan trọng,  GV  cần  theo  dõi  tiến  trình  làm  việc  của  HS,  nhận  xét  bổ  sung  có  sự động viên kịp thời đối với sự làm việc tích cực của các em. 

Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động sáng tạo, giải các bài tập sáng tạo cho HS 

Cần  sáng  tạo  trong  việc  tổ  chức  hoạt  động  học  tập  có  sử  dụng  tới BTVL, như khai thác các tác dụng khác nhau của bài tập, sử dụng bài tập vào các  khâu  khác  nhau  của  quá  trình  dạy  học.  Trong  các  giờ  bài  tập,  GV  cần tránh biến thành tiết giảng lại lý thuyết đã học, nhưng GV cũng cần tránh lối hướng  dẫn  tách  rời  lý  thuyết, nó  sẽ  dẫn  tới  việc  HS  mò  mẫm,  hoặc tiếp  thu kiến thức một cách may  móc, cứng nhắc, không chắc chắn. Khi sử dụng bài tập  trước  hết  GV  cần  phải  nêu  được  mục  đích  của  việc  giải  bài  tập,  để  HS thấy  được  tầm  quan  trọng  và  sự  cần  thiết  phải  nắm  vững  những  mảng  kiến thức đó. Nếu có thời gian, GV có thể đưa ra một số bài tập vui, ngắn, phù hợp với nội dung của tiết học, tạo hứng thú cho HS.  

Biện pháp 5: Rèn luyện ngôn ngữ vật lý cho HS 

Ở trường nhóm tác giả khảo sát có đặc điểm là ngôn ngữ chuyên ngành vật  lý  của  HS  còn  yếu,  phần  lớn  HS  còn  nhút  nhát  ngại  giao  tiếp.  Chính  vì vậy, quá trình dạy BTVL, GV cần phân tích bài tập  một cách chi tiết để rèn luyện cho HS sử dụng các ngôn ngữ một cách phù hợp, tạo tâm lý thoải mái, hứng thú  trong các giờ học. 

1.8 Kết luận Chương 1

Trong phạm vi của chương này, nhóm tác giả đã trình bày cơ sở lý luận của việc phát triển tư duy sáng tạo của HS thông qua quá trình dạy BTVL.  

Ngày đăng: 04/09/2015, 17:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương (Trang 43)
Bảng 2.1: Bảng phân phối chương trình của chương - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Bảng 2.1 Bảng phân phối chương trình của chương (Trang 44)
Hình 2.12: Giản đồ vectơ mạch R, L, C theo qui tắc đa giác - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Hình 2.12 Giản đồ vectơ mạch R, L, C theo qui tắc đa giác (Trang 66)
Bảng 3.1: Thông tin về các lớp học sinh tham gia trong quá trình TNSP  Lớp  Tên lớp  Sĩ - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Bảng 3.1 Thông tin về các lớp học sinh tham gia trong quá trình TNSP Lớp Tên lớp Sĩ (Trang 94)
Bảng 3.3: Bảng xếp loại học tập lần 1 - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Bảng 3.3 Bảng xếp loại học tập lần 1 (Trang 99)
Hình 3.1: Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 1của các lớp ĐC và TN - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Hình 3.1 Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 1của các lớp ĐC và TN (Trang 99)
Hình 3.3: Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 2 của các lớp ĐC và TN - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Hình 3.3 Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 2 của các lớp ĐC và TN (Trang 100)
Bảng 3.4: Bảng phân phối tần số, tần suất và  tần suất tích lũy bài kiểm tra số 2 - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra số 2 (Trang 100)
Bảng 3.5: Bảng xếp loại học tập lần 2 - Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập vật lý chương dòng điện xoay chiều lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh
Bảng 3.5 Bảng xếp loại học tập lần 2 (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w