1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)

75 489 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng cây bóng mát, từ đó đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc, nhằm giữ cân bằng sinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN HOÀNG OANH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÂY BÓNG MÁT TẠI PHƯỜNG XUÂN HÕA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2014

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN HOÀNG OANH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÂY BÓNG MÁT TẠI PHƯỜNG XUÂN HÕA

Chuyên ngành: Sinh thái học

Trang 3

Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Văn phòng thống kê - Ủy ban nhân dân phường Xuân Hòa – Thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tận tình trong thời gian tôi nghiên cứu đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình, đồng nghiệp và bạn bè của tôi đã hết lòng chia sẻ, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Học viên

Nguyễn Hoàng Oanh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác; mọi thông tin trích dẫn trong luận văn

đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Lý do chọn đề tài 1

Mục đích nghiên cứu 2

Ý nghĩa của đề tài 2

Đóng góp mới của đề tài 2

Bố cục của luận văn 2

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.2 Ở Việt Nam 7

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

2.2 Thời gian nghiên cứu 14

2.3 Nội dung nghiên cứu 14

2.4 Phương pháp nghiên cứu 14

2.4.1 Nghiên cứu tài liệu 14

2.4.2 Nghiên cứu thực địa 14

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI PHƯỜNG XUÂN HÒA 19

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 19

3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới hành chính 19

3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng [34] 19

3.1.3 Khí hậu [35] 21

3.1.4 Thủy văn [34] 23

3.2 Tình hình dân sinh kinh tế 24

3.2.1 Dân số [32, 33] 24

3.2.2 Kinh tế - Xã hội [32] 24

Trang 6

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Hiện trạng cây bóng mát tại phường Xuân Hòa 25

4.1.1 Đặc điểm thành phần loài 25

4.1.2 Dạng thân 29

4.1.3 Đặc điểm tổ thành loài 32

4.1.4 Giá trị tài nguyên 33

4.1.5 Chất lượng cây trồng 36

4.1.6 Diện tích xanh 43

4.2 Đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại Xuân Hòa 49

4.2.1.Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chuẩn cây trồng 49

4.2.2 Nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn cây trồng 50

4.2.3 Hệ thống tiêu chuẩn cây trồng 51

4.2.4 Lựa chọn và đề xuất loài cây trồng 52

4.2.5 Giải pháp trồng, chăm sóc và bảo vệ 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC

Trang 7

BẢNG CHÖ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT

nnk : Những người khác

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Nxb : Nhà xuất bản

KH & KT : Khoa học và kĩ thuật

KHTN & CN : Khoa học tự nhiên và công nghệ

TBNN : Trung bình nhiều năm

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Mẫu điều tra hiện trạng cây xanh

Bảng 3.1 Lượng mưa trung bình các tháng tỉnh Vĩnh Phúc

Bảng 3.2 Số giờ nắng của các tháng trong năm 2007

Bảng 3.3 Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm

Bảng 4.1 Danh lục các loài cây bóng mát tại phường Xuân Hòa

Bảng 4.2 Dạng thân của các loài cây bóng mát tại phường Xuân Hòa

Bảng 4.3 Các nhóm dạng thân của cây bóng mát phường Xuân Hòa

Bảng 4.4 Tổ thành loài cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa

Bảng 4.5 Giá trị sử dụng của các loài cây tại khu vực nghiên cứu

Bảng 4.6 Chất lượng cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa

Bảng 4.7 Diện tích tán cây trên đường Nguyễn Văn Linh từ vòng tròn một đến

vòng tròn hai

Bảng 4.8 Diện tích tán cây trên đường Nguyễn Văn Linh từ vòng tròn hai đến

đoạn giao với đường Vành đai

Bảng 4.9 Diện tích tán cây trên Phố Lê Xoay

Bảng 4.10 Diện tích tán cây trên phố Kim Đồng

Bảng 4.11 Diện tích tán cây trên đường Phạm Văn Đồng

Bảng 4.12 Diện tích tán cây trên phố Võ Thị Sáu

Bảng 4.13 Độ che phủ của cây bóng mát trên các tuyến đường thuộc Phường

Xuân Hòa

Bảng 4.14 Đề xuất tập đoàn cây theo điều kiện hè phố

Trang 9

DANH MỤC ẢNH, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Chất lượng cây bóng mát phường Xuân Hòa

Ảnh 1 Rễ cây ăn ngang phá hỏng mặt đường

Ảnh 2 Cây bị tỉa trơ làm mất dáng vẻ của cây

Ảnh 3 Cây bóng mát ảnh hưởng tới an toàn giao thông

Ảnh 4 Ảnh hưởng của các hoạt động xây dựng lên sự phát triển của cây

Ảnh 5 Tán cây phát triển sát vào ban công, thân cây đổ nghiêng ra mặt đường

Ảnh 6 Cây cao trên 3m bị ảnh hưởng bởi hệ thống cột điện và đường dây điện Ảnh 7 Cây bóng mát trên đường Nguyễn Văn Linh

Ảnh 8 Hàng cây trồng trên đường Vành đai

Ảnh 9 Cây bóng mát trên đường Phạm Văn Đồng

Ảnh 10 Cây bóng mát trên phố Võ Thị Sáu

Ảnh 11 Cây bóng mát ở phố Kim Đồng

Ảnh 12 Cây bóng mát bị vướng hệ thống dây điện

Trang 10

Bên cạnh những lợi ích mang lại, việc đô thị hóa cũng gây ra những ảnh hưởng có hại đối với môi trường Vì vậy việc xây dựng, phát triển các đô thị xanh trở thành nhu cầu cấp bách của cả nhân loại Trong đó không thể phủ nhận được vai trò của cây xanh đối với con người và cảnh quan đô thị Hệ thống cây xanh từ lâu được coi như lá phổi, nó có tác dụng cải thiện và bảo vệ môi trường, môi sinh Cây xanh bóng mát lại càng quan trọng hơn đối với những thành phố lớn, có mật độ dân số đông và hoạt động công nghiệp phát triển mạnh Cây xanh, mặt nước có vai trò quan trọng trong không gian đô thị,

có tác dụng tạo bộ mặt cho cảnh quan đô thị, cải thiện môi trường đô thị

Phường Xuân Hòa (thị trấn Xuân Hòa cũ) thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập năm 2004 với diện tích khoảng 4,24 km2

là nơi tập trung các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nhiều nhà máy lớn nhỏ đang hoạt động sản xuất kinh doanh với đủ các ngành nghề khác nhau Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá ở Phường Xuân Hòa cũng diễn ra nhanh chóng, bộ mặt

đô thị được cải thiện, đổi mới từng ngày Ngày 21/01/2013, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ra Quyết định số 93/QĐ-BXD về việc công nhận thị xã Phúc Yên trong đó có phường Xuân Hòa là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Phường Xuân Hòa với dân số năm 2008 là 21.396 người, mật độ dân số

là 5.046 người/km² Hàng năm có hơn 13000 sinh viên học tập tại các trường

Trang 11

2

Đại học, cao đẳng, trung cấp, trung tâm Giáo dục Quốc phòng thuộc khu vực phường Xuân Hòa Tác động của con người đến môi trường đang ngày càng tăng về quy mô, vấn đề về ô nhiễm môi trường đô thị trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Làm sao để môi trường đô thị xanh, sạch, đẹp? Đây là một nhiệm

vụ hết sức quan trọng đối với tất cả các cấp các ngành, các cấp và người dân

Từ thực tế nêu trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và

đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường Xuân Hòa”

Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng cây bóng mát, từ đó đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc, nhằm giữ cân bằng sinh thái, tạo cảnh quan và phát triển kinh tế địa phương

Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung vốn kiến thức cho chuyên ngành Sinh thái học và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về hệ thống cây xanh

đô thị, tài nguyên thực vật, đa dạng sinh học

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp việc phát triển

hệ thống cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa

Đóng góp mới của đề tài: Cung cấp một số thông tin về hệ thống cây bóng mát tại phường Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Bố cục của luận văn: Gồm 65 trang, 12 ảnh, 14 bảng, 1 biểu đồ được

chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang); chương 1 Tổng quan tài liệu (12 trang); chương 2 Đối tượng, phạm vi, thời gian, nội dung và phương pháp nghiên cứu (6 trang); chương 3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội phường Xuân Hòa (7 trang); chương 4 Kết quả nghiên cứu (32 trang); Kết luận và kiến nghị (2 trang), Tài liệu tham khảo (4 trang); ngoài ra còn có phần Phụ lục (không đánh số trang)

Trang 12

đã trình bày khá chi tiết về cách chăm sóc cây [41]

Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, đô thị dần dần được hình thành và không ngừng phát triển Cùng với sự phát triển của đô thị là hệ thống cây xanh Vì cây xanh là một bộ phận quan trọng của các công trình kiến trúc, nhất là đối với các công trình kiến trúc đô thị

Trước đây, việc trồng cây xanh chủ yếu là để trang trí và kiến trúc cảnh quan Vì vậy, trồng cây gì, ở đâu và trồng như thế nào thì hầu như phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà kiến trúc, sự yêu thích thiên nhiên của các nhà quí tộc, sự ham mê của những người làm vườn Về phương diện bảo vệ môi trường có thể nói là chưa được chú ý, nếu có thì chỉ mang tính cục bộ đối với một ngôi nhà, một vùng hay một khu vực nào đó

Đến giữa thế kỷ XX, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự gia tăng của các phương tiện giao thông làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Cho nên, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và

Trang 13

4

giải quyết các vấn đề môi sinh Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì

sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thập kỷ 60 vấn đề này mới được nghiên cứu một cách hệ thống

Để nghiên cứu cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều thuật ngữ để mô tả như: phức hợp rừng, lâm nghiệp vành đai xanh, kỹ nghệ xanh, lâm nghiệp tiện ích, lâm nghiệp đô thị

Trong số các thuật ngữ đó thì lâm nghiệp đô thị là thuật ngữ được nhiều người chú ý và sử dụng Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu tại trường Đại học Torondo (Canađa) vào năm 1965 Tuy nhiên, phải sau đó 5 năm, Jogensen (1970) mới đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này Theo ông thì lâm nghiệp đô thị không chỉ liên hệ đến cây xanh đô thị hay quản lý các cây cá lẻ

mà còn quản lý cây xanh trên toàn bộ diện tích chịu ảnh hưởng và sử dụng bởi quần thể cư dân đô thị Sau đó, được các nhà nghiên cứu khác bổ sung thêm và thống nhất: Lâm nghiệp đô thị là trồng và tạo lập, bảo vệ và quản lý cây xanh và các thực vật kết hợp dưới dạng cá thể, nhóm nhỏ hay dưới hoàn cảnh rừng trong các thành phố, ngoại ô của thành phố và nông thôn ngoại thành Theo định nghĩa này thì phạm vi và chức năng hoạt động của lâm nghiệp đô thị khá rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực: lâm nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, kiến trúc, dịch vụ và thương mại [37]

Như vậy, vai trò của cây xanh đã có sự thay đổi cơ bản về chức năng trong hệ sinh thái đô thị: trước đây, cây xanh chủ yếu là trang trí và kiến trúc cảnh quan thì nay là điều hoà khí hậu và bảo vệ môi trường Cây xanh đô thị

đã trở thành một chuyên ngành khoa học thực sự - chuyên ngành lâm nghiệp

đô thị Với quan điểm này đòi hỏi phải xây dựng một loạt các giải pháp khoa học công nghệ từ việc qui hoạch đến việc chọn loài cây trồng, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cây trồng, các kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và quản lý

Trang 14

5

Xu hướng phát triển cây xanh các nước trên thế giới rất đa dạng Các quốc gia phát triển rất sớm không gian xanh cho các đô thị, trước hết là cây xanh đường phố, cây xanh công viên, cây xanh khu chung cư, trong cơ quan, trường học, bệnh viện… Các quốc gia đều quan tâm đến chỉ số m2/người Chỉ tiêu này càng lớn thì không gian xanh của đô thị càng hoàn hảo Trong công trình của Charles W Harris và Nicholas T Dines (1987) [38], hai giáo sư về kiến trúc cảnh quan tại Mỹ đã đưa ra các vấn đề về nghệ thuật thiết kế cảnh quan, xây dựng các tiêu chuẩn thiết kế, các hệ thống trong đô thị đặc biệt là các chi tiết cây đường phố đô thị Trong đó tác giả tập trung đưa ra các tiêu chuẩn cây trồng, đánh giá thảm thực vật hiện tại, kế hoạch trồng và chiến lược quản lí cây trồng đô thị

Garrett Eckbo (2002) [39] đặc biệt lưu ý đến việc thiết kế cảnh quan phù hợp với cuộc sống của người dân, nhất là người dân trong các đô thị Tác giả đã mô tả các kỹ thuật và đưa ra phương pháp xây dựng các vườn (cảnh quan) không chỉ trên qui mô là vườn hoa hay công viên phục vụ chung cho cộng đồng, mà còn đưa ra các mô hình cho các hộ gia đình để tạo nên không gian xanh cho căn hộ hay khu vườn của gia đình

Boo Chih Min, Kartini Omar-Hor & Ou-Yang Chow Lin (2006) [37]

đã mô tả hệ thống các vườn thực vật ở Singapore, trong đó có nêu lên vai trò của các cảnh quan, đặc điểm của các loài cây trong việc thiết kế cảnh quan và

kỹ thuật làm vườn Trong công trình này, tác giả đã đưa ra các nguyên tắc để phân loại cây xanh đô thị như sau:

- Theo nguồn gốc: gồm có cây trồng nhân tạo và cây tự nhiên

- Theo dạng sống thực vật:

+ Theo hình thái lá có: cây lá rộng, cây lá kim

+ Theo mùa: cây rụng lá, bán rụng lá, cây thường xanh

+ Theo hình dạng tán lá: cây tán rộng, cây tán hẹp; cây tán dày, cây tán thưa; tán hình chóp, hình trứng, hình dù

Trang 15

6

+ Theo kích thước: cây gỗ, cây bụi, cây thảo và dây leo Trong nhóm cây

gỗ lại có thể phân chia thành cây gỗ lớn có H>20m, cây gỗ trung bình có H=15-20m, cây gỗ nhỡ H=10-15m và cây gỗ nhỏ H=6-10m Cây bụi có chiều cao H<6m

- Theo mục đích sử dụng: gồm có cây che bóng, cây phủ xanh, cây trang trí

- Theo tuổi thọ: cây lâu năm, cây một năm; cây có đời sống dài, cây có đời sống ngắn; cây dài ngày, cây ngắn ngày

- Kết hợp dạng sống và chức năng sử dụng có thể phân chia thành các nhóm: cây đại mộc, cây rào che, cây rào chắn, cây dạng bụi, dây leo, cỏ, cây che phủ nền và hoa ngắn ngày

- Phân chia theo qui hoạch môi trường đô thị có [30], [37]:

+ Cây xanh tập trung: là rừng trồng hỗn giao hay thuần loại tạo thành vành đai xanh có tác dụng phòng hộ bảo vệ môi trường và phục vụ các nhu cầu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi của các tầng lớp nhân dân Ngoài ra còn có tác dụng phục phụ cho công tác học tập và nghiên cứu khoa học

+ Cây xanh đường phố: chức năng chính là che bóng, trang trí và bảo vệ môi trường

+ Cây xanh công viên và vườn hoa: bảo vệ môi trường, điều hoà khí hậu, trang trí cảnh quan phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi của nhân dân

+ Cây xanh chuyên dụng: bảo vệ các công trình kiến trúc văn hoá, các khu di tích lịch sử

+ Cây xanh khu chức năng: là hệ thống cây xanh trong các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, nhà máy có chức năng chính là ngăn cản khí độc, bụi, điều hoà khí hậu

+ Cây xanh trường học và công sở: chủ yếu là che bóng, điều hoà khí hậu, phục vụ công tác giáo dục và học tập

Trang 16

1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc trồng cây xanh đô thị đã được tiến hành từ hàng trăm năm Nhưng việc nghiên cứu về vấn đề này thì mới được thực hiện khoảng vài chục năm gần đây Điều đáng chú ý là các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở hai Thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Quan niệm về vấn

đề cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu trong nước đều khẳng định: hệ thống cây xanh đô thị có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan Hệ thống cây xanh đô thị của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan Tỷ lệ diện tích cây xanh quá ít, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý Chúng ta vẫn còn thiếu một giải pháp đồng bộ cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị

Phần lớn cây xanh trên hè phố, trong các công viên, các vườn của các dinh thự Hà Nội mới trồng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Theo Đại Nam nhất thống chí: Hà Nội là kinh đô xưa có 36 phố phường, năm (1875) có 21 phố:

Hà Khẩu, Việt Đông, Hàng Mắm, Hàng Mã, Báo Thiên, Nam Hoa, Hàng Bồ, Hàng bạc, Hàng Thiếc, Hồng Lam, Đồng Xuân, Thanh Hà sang đầu thế kỷ

20 phố xá ở rộng ra phía đông và phía nam như hiện nay Như vậy thảm cây xanh Hà Nội chỉ được trồng sau khi phố xá hình thành khoảng một trăm năm

Hồ Gươm trước đây khá rộng, nhà dân ở ra sát mép hồ Tháng 11 năm

1885 giải toả các hộ dân sống chung quanh hồ và khởi công đổ đất cạp hồ và cho san lấp những vùng trũng thấp Đến đầu năm 1893, con đường nhựa chạy quanh Hồ Gươm được khánh thành Thảm cây xanh quanh Hồ Gươm cũng

Trang 17

8

được trồng từ đấy với nhiều loài cây được đưa từ nhiều miền của đất nước Vì vậy thảm cây xanh ở đây hoàn toàn là cây nội địa, khác với thảm cây khu vực Bách Thảo Có thể nói đây là thảm cây xanh quý nhất của thủ đô Hà Nội và ít chịu tác động nhất bởi quá trình đô thị hóa

Các công viên và vườn hoa khác của thành phố như: Chí Linh, Diên Hồng, Tao Đàn, Pát-xtơ, Thủ Lệ được trồng cùng thời gian với các hàng cây trên hè phố theo quy hoạch đô thị thời đó Nhưng cây cối trên các đường phố thuộc khu vực Hồ Tây, Ba Đình được trồng sớm hơn khu vực phía nam Hồ Gươm Nhưng nói chung thảm cây xanh Hà Nội có tuổi trên 100 năm đã tạo nên màu xanh tô thêm vẻ đẹp tự nhiên cho thành phố

Nhiều đường phố trồng thuần một loại cây đặc trưng như Xà cừ trên đường Hoàng Diệu và đường Bà Triệu, Phượng vĩ trên đường Lý Thường Kiệt, cây Bằng lăng trên đường hàng Bông Thợ Nhuộm, cây Sao đen trên đường Lò Đúc, cây Sấu trên đường Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng và Điện Biên Phủ, cây Sữa trên đường Nguyễn Du đã để lại những dấu ấn khó quên không chỉ đối với những người đã từng sống ở đây mà còn được ghi nhận của nhiều người trên những trang thơ, câu hát về Hà Nội

Cây xanh không thể thiếu vắng trong cân bằng sinh thái và môi trường Cây xanh đô thị lại càng có vai trò to lớn hơn Nó đã hấp thụ một lượng lớn khí cacbonic do con người và các nhà máy thải ra, bổ xung nguồn ôxy đáng

kể cho con người sử dụng, làm dịu đi cái oi nóng mùa hè, chắn đỡ những nguồn gió bấc lạnh lẽo mùa đông, giảm bớt tiếng ồn của hàng vạn xe có động

cơ qua lại hằng ngày Sau ngày làm việc căng thẳng đi dạo hay ngồi dưới vòm cây, tâm hồn sẽ trở nên thư thái Cây Đa, cây Đề, cây Muỗng, cây Xoài, cây Đại trồng trong các đình chùa mang lại ý nghĩa tâm linh

Những nghiên cứu về cây xanh đô thị ở Việt Nam theo các hướng sau:

Về vai trò của cây xanh: có công trình của Lê Đồng Tấn (2003) [22]

Theo tác giả, khác với các hệ sinh thái tự nhiên khác, ngoài hai thành phần cơ

Trang 18

cư càng đông thì nguy cơ thay đổi về môi trường càng lớn Vùng ngoại thành được coi như là vùng đệm chuyển tiếp từ hệ sinh thái tự nhiên sang hệ sinh thái nhân tạo Do tập trung dân cư đông và công nghiệp phát triển dẫn đến ô nhiễm môi trường ngày càng tăng Nguồn gây ô nhiễm chính là: các phương tiện giao thông, các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất và rác thải sinh hoạt hàng ngày Các chất gây ô nhiễm là: bụi, khói, khí độc, các chất thải, tiếng ồn Đối tượng dễ bị ô nhiễm nhất là không khí và nguồn nước Để bảo

vệ môi trường, ngoài các biện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng vì hệ thống cây xanh có những chức năng sau:

Trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả năng ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước, kiểm soát gió và lưu thông gió

Cây xanh có tác dụng bảo vệ môi trường: cây xanh có thể giảm thiểu các chất độc hại trong không khí (CO2, SO2, CO…) và dưới đất (Chì, Sắt, Kẽm…) giảm nồng độ bụi, hạn chế tiếng ồn, giảm nhiệt, tạo đối lưu không khí, sinh nguồn gió mát, tăng lượng oxy…Ví dụ cây Hoè hoa vàng rất phù hợp trồng trên đường phố, mỗi năm 1 cây Hoè có thể giữ được 2156 tấn bụi trên lá và bụi trên bãi cỏ dưới cây có thể lưu lại 1/6 đến 1/3 so với bình thường

Trang 19

10

Cây xanh có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan Những tính chất của cây xanh như: hình dạng (tán lá, thân cây), màu sắc (lá, hoa, thân cây, trạng mùa của lá ) là những yếu tố trang trí làm tăng giá trị thẩm mỹ của công trình kiến trúc cũng như cảnh quan chung

Ngoài chức năng trang trí, tăng thêm vẻ đẹp thẩm mỹ cây xanh còn có tác dụng kiểm soát giao thông và phòng hộ an toàn Việc kiểm soát giao thông bao gồm cả xe cơ giới và người đi bộ Các bụi thấp, bờ dậu, đường viền cây xanh trong vườn hoa công viên vừa có tác dụng trang trí vừa có tác dụng định hướng cho người đi bộ Ví dụ: hàng cây bên đường có tác dụng định hướng nhờ các gốc cây được sơn vôi trắng là những tín hiệu chỉ dẫn cho người đi đường

Số lượng cành nhánh chặt tỉa và đốn hạ những cây già cỗi không còn tác dụng là nguồn cung cấp gỗ củi cho dân dụng

Như vậy, ngoài chức năng là sinh vật sản xuất như trong các hệ sinh thái khác (hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông nghiệp ) cây xanh trong hệ sinh thái đô thị còn có chức năng quan trọng hơn đó là bảo vệ môi trường và trang trí cảnh quan

Về đặc điểm môi trường sinh trưởng của cây xanh đô thị: Theo Lê Đồng

Tấn (2003) [22]

Môi trường sống bị ô nhiễm do vật liệu xây dựng, khói bụi do các phương tiện giao thông thải ra Sau khi trồng, luôn luôn bị tác động do việc xây dựng cải tạo các công trình có liên quan, do các hoạt động của con người hàng ngày Không gian sinh trưởng bị hạn chế do chiều cao của các công trình xây dựng Nhiều nơi thường bị ngập nước vào mùa mưa do hệ thống thoát nước kém

Trang 20

11

Về tiêu chuẩn cây xanh đô thị: Có các công trình của Đỗ Hữu Thư và

cộng sự [27], Lê Đồng Tấn (2003) [22] Các tác giả đã nghiên cứu và đề xuất tiêu chuẩn hình thái sinh thái cho các loại hình cây xanh đô thị trong đó có loại hình cây xanh đường phố như sau:

+ Về kích thước: cây trưởng thành có kích thước là cây gỗ lớn, trung bình hay gỗ nhỏ

+ Về yêu cầu sinh thái: cây ưa sáng, có khả năng sống sót và sinh trưởng tốt trong môi trường không khí bị ô nhiễm nặng (khói, bụi, tiếng ồn), đất đai bị biến dạng, điều kiện lập địa thấp, thoát nước kém

+ Về mùa: cây lá rộng thường xanh, có rụng lá thì chỉ từng phần

+ Về hình dáng: có dáng đẹp, tán lá cân đối, tỉa cành cao; hoa lá có màu sắc xinh tươi, đẹp

+ Các tiêu chuẩn khác: Hạn chế cây có mủ độc Không có cành nhánh giòn dễ gẫy, ít hay không có gai Rễ ăn sâu để có khả năng đứng vững khi gió bão, không có rễ ăn ngang phá hỏng mặt đường và các công trình ngầm

Lá không quá nhỏ, nhưng dày mập có nhiều lông tơ để giữ các hạt bụi càng tốt Hoa lá có khả năng tiết các chất thơm càng tốt Ít hoặc không sâu bệnh

Về các nguyên tắc bố trí cây trồng: Ngoài chức năng điều hoà khí hậu,

bảo vệ môi trường thì cây xanh còn là một yếu tố quan trọng trong kiến trúc cảnh quan Vì vậy, trong các công trình xây dựng người ta thường sử dụng cây xanh để trang trí cảnh quan Những nguyên tắc chính trong bố trí cây trồng đã được một số tác giả nghiên cứu [8], [20], [23] Cụ thể với cây xanh bóng mát đường phố cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

- Đơn giản: trên một đường phố (đoạn phố) nên trồng một loại cây

- Thay đổi: Nên kết hợp hình dạng màu sắc và kết cấu để tạo nên sự thay đổi, tăng tính đa dạng sinh học, khắc phục sự đơn giản, tẻ nhạt của việc trồng thuần loại Trên một đường phố, nhất là đối với những đường phố dài,

có thể chia thành nhiều đoạn, mỗi đoạn trồng một loại cây

Trang 21

12

- Cân bằng: Cân bằng là sự cần thiết cho việc đối với một công trình kiến trúc Nó được thể hiện ở cách bố trí hàng cây ở hai bên đường sao cho hình dạng của hàng cây bên này là hình ảnh của hàng cây bên kia và ngược lại hàng cây bên kia là hình ảnh của hàng cây bên này

- Liên tục: Cây trồng đường phố phải tạo thành dải liên tục, đều, không đứt quãng

- Cân đối: Tuỳ theo đường phố rộng hẹp, các công trình kiến trúc hai bên đường phố mà chọn loài cây trồng sao cho thích hợp với không gian

- Nhấn mạnh: Để tạo nét độc đáo, tránh sự đơn giản tẻ nhạt Tính chất này được thể hiện ở việc bố trí những loài cây tương phản với các loài cây khác trên cùng một đường phố Nó có thể là một khóm cây, một hàng cây, thậm chí chỉ một cây

Về qui hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý môi trường đô thị, kiến trúc cảnh quan: Có các công trình của Lê Phương Thảo

(1980) [23], Hàn Tất Ngạn (1996) [20], Chế Đình Lý (1997) [14], Nguyễn Thị Thanh Thủy (1997) [26],…Trong các công trình này, các tác giả đều cho rằng cây xanh là thành phần hữu cơ trong cấu thành kiến trúc đô thị, một bộ phận không thể tách rời của cảnh quan thiên nhiên Bên cạnh đó các công trình này còn giới thiệu nhiều chủng loại cây trồng kèm theo đặc điểm sinh thái loài đã và đang được trồng ở các đô thị lớn

Về hệ thống cây xanh tại địa phương: Trần Viết Mĩ (2001) [19] đã

Tường Thị Tuyết Mai (2010) [18] đã phân loại và xác định các loại hình cây xanh đồng thời đánh giá sự sinh trưởng, phát triển và chất lượng của cây bóng mát tại thành phố Thái Nguyên Nguyễn Thị Mai (2010) [17], tác giả đã nghiên cứu hiện trạng cây xanh, các đặc điểm sinh trưởng và các giải pháp

Trang 22

13

phát triển cây xanh tại Thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn Long (2011) [12] cũng đã đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố, làm rõ tác dụng bảo vệ môi trường và đề xuất qui hoạch hệ thống cây xanh trên các tuyến đường ở thành phố Thanh Hóa

Trong phạm vi phường Xuân Hòa, Hà Minh Tâm (2012) [21] đã tiến hành nghiên cứu xây dựng danh lục các loài cây được trồng trong khuôn viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và cung cấp tóm tắt các thông tin về nguồn gốc, sinh thái, giá trị tài nguyên … cho các loài trong phạm vi nghiên cứu của đề tài Ngoài công trình này, cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cây bóng mát tại phường Xuân Hòa Vì vậy công trình của chúng tôi là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ trực tiếp cho việc phát triển hệ thống cây bóng mát phường Xuân Hòa - Thị

xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc

Trang 23

14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa

- Phạm vi nghiên cứu: Phường Xuân Hòa và phụ cận, gồm các trục đường chính là đường Nguyễn Văn Linh, đường Trường Chinh, đường Phạm Văn Đồng, đường Vành đai, phố Võ Thị Sáu, phố Kim Đồng, phố Lê Xoay

2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 06/ 2013- 06/2014

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng cây bóng mát tại khu vực nghiên cứu:

Nghiên cứu đặc điểm thành phần loài

Đánh giá phổ dạng sống, đặc điểm tổ thành loài, giá trị tài nguyên Đánh giá chất lượng cây trồng

Xác định diện tích xanh (độ che phủ)

- Xây dựng tiêu chuẩn, lựa chọn và đề xuất tập đoàn cây trồng

- Đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến hiện nay, cụ thể như sau:

2.4.1 Nghiên cứu tài liệu

Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về lĩnh vực nghiên cứu thuộc đề tài Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, các bản đồ chuyên dùng về khu vực nghiên cứu

2.4.2 Nghiên cứu thực địa

Thu thập số liệu:

Điều tra thu thập số liệu đánh giá hiện trạng được hiện theo các tuyến là các trục đường chính của phường Xuân Hòa, gồm đường Nguyễn Văn Linh,

Trang 24

15

đường Phạm Văn Đồng, đường Vành đai, đường Trường Chinh, phố Võ Thị Sáu, phố Kim Đồng, Phố Lê Xoay Để điều tra nghiên cứu, chúng tôi dựa vào phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997 và 2007)[24], [25]

Các số liệu thu thập gồm: chiều cao vút ngọn, đường kính tán:

+ Đo chiều cao cây (chiều cao vút ngọn): Đối với cây có chiều cao dưới 4,0 m (h< 4,0 m) đo trực tiếp bằng sào có chia vạch đến 0,10 m Đối với cây cao trên 4,0m (h> 4,0m) đo bằng thước SUNNTO 627124 có chỉnh lý theo phương pháp đo cao trực tiếp

+ Đường kính tán được đo theo hình chiếu của tán trên mặt đất bằng cách đo theo hai chiều vuông góc hình chiếu, cộng chia đôi và lấy giá trị trung bình, thời gian đo từ 11 giờ đến 13 giờ

Đánh giá chất lượng cây ngoài thực địa dựa vào hình thái của thân và trạng thái tán lá Phân chia thành 4 cấp chất lượng như sau:

+ Cây tốt: có tán lá đầy đủ, đều, thân cây thẳng, không sâu bệnh, vỏ nhẵn, màu sắc lá tươi tốt (đối với cây thường xanh), cây đâm chồi nảy lộc tốt (đối với cây rụng lá) Cây có bạnh vè và rễ nổi nhưng không ảnh hưởng đến đường giao thông và các công trình khác lân cận

+ Cây trung bình: có thể bị cắt tỉa một số cành nhưng tán còn tròn đều,

lá có màu sắc tươi tốt, thân không bị sâu bệnh, có u mấu nhưng không ảnh hưởng đến hình dạng thân cây Gốc cây có bạnh vè và nổi đã bắt đầu ảnh hưởng đến các công trình khác: đường giao thông, tường nhà, hàng rào…

+ Cây xấu: cành nhánh bị cắt tỉa nhiều, tán không đều nhưng vẫn còn tác dụng che bóng, thân cong, sâu bệnh, thân bị biến dạng do có nhiều u mấu Bạnh vè và rễ nổi đã ảnh hưởng đến các công trình xây dựng, làm nứt mặt đường, hè phố nhưng chưa nghiêm trọng, có thể khắc phục để đảm bảo an toàn được

+ Cây rất xấu: cành bị gẫy hay cắt tỉa nhiều, tán lá bị vỡ không tác dụng che bóng; thân bị biến dạng do sâu bệnh và u mấu phát triển, cây rỗng

Trang 25

16

ruột, thối rễ có nguy cơ bị đổ khi có gió to Bạnh vè và rễ nổi ảnh hưởng nghiêm trọng đến hè đường và các công trình khác, có nguy cơ đe dọa đến an toàn của công trình, rất khó hoặc không thể khắc phục Cây thuộc loại này cần phải loại bỏ để đảm bảo an toàn

Số liệu được ghi riêng cho từng loài theo mẫu sau:

Bảng2.1 Mẫu điều tra hiện trạng cây xanh

Tuyến điều tra:……… Người điều tra: …… Ngày điều tra: ……

STT Tên cây

Ghi chú Hvn

(m)

Tán (m) Tốt Trung

bình Xấu Rất

xấu

Trong quá trình điều tra, xác định tên khoa học và tên Việt Nam thường gọi Những cây chưa xác định được tên, thu mẫu tiêu bản để giám định tại phòng thí nghiệm Các số liệu thu thập được ghi riêng cho từng loài

Trong quá trình điều tra, kết hợp phỏng vấn người dân và một số cán

bộ đang thực hiện việc quản lý hệ thống cây xanh để tìm hiểu các thông tin về tuổi cây trồng (thời gian trồng cây), các tiện ích và bất lợi của cây xanh, nhu cầu của người dân về cây xanh trong đô thị, giải pháp cho việc quản lý và phát triển cây xanh…

Xử lý số liệu:

- Để tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) [1]

và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [24]

- Để xác định tên khoa học các loài, chúng tôi căn cứ vào Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) [10] Nếu vẫn còn nghi ngờ kết quả,

Trang 26

[ 6], [9], [13], [15] và thực tế điều tra trong nhân dân

- Việc đánh giá chất lượng cây xanh đô thị theo cấp chất lượng (tốt, trung bình, xấu, rất xấu), được tiến hành trên cơ sở thống kê số lượng cây theo từng cấp chất lượng, rồi tính % trong tổng số theo công thức:

N% là tỷ lệ phần trăm cây của một cấp chất lượng

n là số cây thực tế của cấp chất lượng

N là số cây của tất cả các cấp chất lượng

- Hệ số tổ thành loài cây được tính theo công thức:

Trang 27

S đ là diện tích con đường

- Diện tích tán cây được tính theo công thức:

- Các số liệu được tính toán bằng phần mềm Exell trên máy tính

- Đề xuất kích thước cây trồng dựa vào không gian sinh trưởng của cây xanh Theo đó, không gian sinh trưởng của cây xanh là diện tích đất tối thiểu dành cho cây xanh để khi cây trưởng thành có tán lá tự do không bị hạn chế các công trình xây dựng (nhà, hành lang điện), không che phủ tán lên nhau Đồng thời tán lá của cây khi trưởng thành không ảnh hưởng đến các công trình xây dựng và các hệ thống khác: biển báo chỉ đường, biển báo giao thông, hành lang điện, đường đi

- Xây dựng tiêu chuẩn cây trồng dựa vào hình thái sinh thái, điều kiện môi trường (lập địa), khả năng sống sót và tính chịu đựng của loài cây với môi trường sống đã bị thay đổi

Trang 28

19

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

PHƯỜNG XUÂN HÕA

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới hành chính

Thị xã Phúc Yên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong vùng đất có lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời của dân tộc Thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng, là một trong hai vùng sôi động nhất

cả nước, thị xã Phúc Yên là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng trong vùng,

có mối quan hệ chắt chẽ giữa vùng với cả nước và quốc tế Thị xã Phúc Yên

là một trong những đô thị lớn, nằm sát với Thủ đô Hà Nội, là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, thể dục thể thao và đào tạo quốc gia, là trung tâm kinh tế công nghiệp - dịch vụ quan trọng của tỉnh và là một đầu mối giao thông của vùng phía Bắc và cả nước Theo đó địa giới hành chính của thị xã: Phía Đông giáp thành phố Hà Nội; Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên; Phía Nam giáp huyện Mê Linh (Hà Nội) và phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên[34]

Phường Xuân Hòa là một trong mười đơn vị hành chính của thị xã Phúc Yên Xuân Hòa nằm về phía Tây bắc của Thị xã Phúc Yên, cách trung tâm thị xã 7 km Địa giới hành chính của phường Xuân Hòa: Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh - Thị xã Phúc Yên; Phía nam giáp xã Nam Viêm - Thị xã Phúc Yên; Phía Tây giáp xã Cao Minh; Phía Đông giáp Phường Đồng Xuân - Thị

xã Phúc Yên[33]

3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng [34]

Thị xã Phúc Yên thuộc vùng trung du tiếp giáp vùng núi cao của tỉnh Vĩnh Phúc Địa hình của thị xã khá đa dạng, chia thành 2 vùng chính: là vùng đồng bằng và vùng đồi núi bán sơn địa Trong đó phường Xuân Hòa thuộc vùng đồi núi bán sơn địa

Theo báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, đất của thị xã Phúc Yên nói

Trang 29

- Đất Feralitic màu vàng hoặc đỏ phát triển trên phiến thạch sét Đây là loại đất rừng cho năng suất cao, ở những vùng đất dốc dưới 200

thích hợp cho phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và các loại đặc sản

- Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển đá Macma chua Đất chua, tầng đất mặt mỏng, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp

- Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển trên đá sa thạch quăczit cuội kết, dăm kết Đất xấu, đất bị trơ sỏi đá, cần được tích cực cải tạo

để phát triển rừng

- Đất Feralitic xói mòn mạnh, trơ sỏi đá Phân bố dọc theo quốc lộ 2 từ

Phúc Yên đi Vĩnh Yên, chủ yếu là các dải đất dốc thoải

Theo số liệu thống kê, tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã Phúc Yên có

12.029,55 ha, trong đó phân ra:

- Đất nông nghiệp: có trên 8.356 ha, chiếm tới 69,6% tổng diện tích của toàn thị xã Trong đó, đất để sản xuất nông nghiệp chiếm 29,7% diện tích (bằng 6,1% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh Vĩnh Phúc), đất lâm nghiệp có rừng chiếm 38,6% diện tích (bằng 14,1% toàn tỉnh), đất nuôi trồng thủy sản không lớn, chiếm 1,2% diện tích (bằng 5,8% toàn tỉnh)

- Đất phi nông nghiệp: có khoảng trên 3.470 ha, chiếm 28,9% tổng diện tích đất tự nhiên toàn thị xã Trong đó, đất để ở chiếm 6,8% (đất ở cho đô thị chiếm 3,2% và đất ở nông thôn chiếm 3,6%); đất chuyên dùng bao gồm đất trụ sở cơ quan, đất công trình sự nghiệp, đất an ninh, đất quốc phòng, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và đất công trình công cộng chiếm 16,2%; đất dành cho tín ngưỡng, tôn giáo và nghĩa trang, nghĩa địa chiếm khoảng 0,5%; đất sông suối và mặt nước chiếm khoảng 5,3%

Trang 30

21

- Đất chưa sử dụng: chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích đất tự nhiên Phường Xuân Hòa với diện tích đất tự nhiên là 423,9 ha Tổng diện tích gieo trồng toàn phường là 44,7 ha trong đó diện tích trồng lúa đạt 23 ha, còn lại là cây rau màu các loại Diện tích dành cho nuôi trồng thủy sản là 13,5

ha [31]

3.1.3 Khí hậu [35]

Phường Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Vĩnh phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đầy đủ các đặc điểm khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc: mùa đông thì lạnh, khô và ít mưa, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều Các số liệu về khí hậu của phường Xuân Hòa nói riêng và các vùng trung du của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng được đo tại Trạm Khí tượng Vĩnh Yên

Theo số liệu của Trung tâm khí tượng thuỷ văn Vĩnh Phúc, có các đặc trưng về khí hậu tỉnh Vĩnh Phúc như sau:

Nhiệt độ:

Nhiệt độ trung bình năm là 23,5 ÷ 25o

C, Nhiệt độ chênh lệch khá lớn: nhiệt độ cực đại tuyệt đối 41,6oC; trong khi nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối chỉ khoảng 3,1o

C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm ở khoảng 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%

Lƣợng mƣa:

Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.400 đến 1.600 mm, trong đó,

lượng mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du tại trạm Vĩnh Yên là 1.323,8 mm, vùng núi tại trạm Tam Đảo là 2.140 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm

- Lượng mưa trung bình nhiều năm (TBNN): 1.679 mm

- Lượng mưa năm cao nhất: 2.608 mm (năm 1978)

- Lượng mưa năm thấp nhất: 1.002 mm (năm 1977)

Trang 31

Tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 đến 1.800 giờ, trong

đó, tháng có nhiều giờ nắng trong năm nhất là tháng 6 và tháng 7, tháng có ít giờ nắng trong năm ít nhất là tháng 3

du được đo tại trạm khí tượng Vĩnh Yên

Trang 32

Thị xã Phúc Yên có hai sông lớn chảy qua:

- Sông Bá Hạ, bắt nguồn từ suối Nhảy Nhót giữa xã Trung Mỹ (huyện

Bình Xuyên) và xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên), chảy giữa xã Bá Hiến (huyện Bình Xuyên) và xã Cao Minh đến hết địa phận xã Bá Hiến đầu xã Sơn Lôi (huyện Bình Xuyên), chảy qua thị xã, sau đó nhập vào sông Cánh chảy về sông Cà Lồ

- Sông Cà Lồ, là một nhánh của sông Diệp Du, còn gọi là sông Nguyệt Đức

Là một nhánh sông Hồng tách ra từ xã Trung Hà (Yên Lạc), sông Cà Lồ chảy từ xã Vạn Yên (huyện Mê Linh) theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, giữa hai huyện Bình Xuyên, Mê Linh, vòng quanh thị xã Phúc Yên, qua hai huyện Kim Anh, Đa Phúc

cũ đổ vào sông Cầu ở thôn Lương Phúc xã Việt Long (nay thuộc huyện Sóc Sơn) Nguồn nước sông Cà Lồ ngày nay chủ yếu là nước của các sông, suối bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn, lưu lượng bình quân 30m3/giây Lưu lượng cao nhất về mùa mưa 286m3/giây Tác dụng chính là tiêu úng mùa mưa

Trang 33

24

Phường Xuân Hòa nằm bên cạnh sông Cà Lồ chảy qua Khu vực Phường Đồng Xuân và Xã Nam Viêm Đây là nguồn nước chủ yếu phuc vụ sản xuất nông nghiệp ở địa phương Ngoài ra Phường Xuân Hòa còn nằm gần

Hồ Đại Lải - hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh Vĩnh Phúc, thuộc địa bàn xã Ngọc

Thanh Bên cạnh lợi ích của một công trình đại thuỷ nông đối với sản xuất

nông nghiệp, hồ Đại Lải còn là một trọng điểm của cụm du lịch Đại Lải và phụ cận , một khu du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần hấp dẫn Hồ Đại Lải cùng với

một số đầm hồ khác là nguồn cung cấp nước mặt cho Thị Xã Phúc Yên

3.2 Tình hình dân sinh kinh tế

xã hội và dịch vụ

3.2.2 Kinh tế - Xã hội [32]

Tuy có diện tích không lớn, nhưng phường Xuân Hòa lại là nơi có nhiều cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện…Cơ cấu kinh tế của Phường Xuân Hòa được xác định là tiểu thủ công nghiệp - thương mại dịch

vụ và nông - lâm nghiệp Giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2013 ước đạt 89 tỉ đồng Phường có khoảng 500 hộ kinh doanh thương mại dịch vụ,

71 hộ buôn bán nhỏ lẻ Tổng doanh thu từ ngành thương mại dịch vụ ước tính đạt 224,5 tỉ đồng Tổng giá trị thu được từ ngành trồng trọt và chăn nuôi đạt hơn 1000 tỉ đồng

Trang 34

Bảng 4.1 Danh lục các loài cây bóng mát tại phường Xuân Hòa

STT

CÁ THỂ

2 Pinaceae Thông Pinus kesiya Royle ex Gordon Thông 3

6 Annonaceae Na Annona squamosa L Na 2

7 Apocynaceae Trúc

đào

Trang 35

26

STT

CÁ THỂ

12 Bombaceae Gạo Ceiba pentandra (L.) Gaertn Gòn 3

23 Lecythidaceae Lộc Barringtonia acutangula (L.) Lộc vừng 31

Trang 36

27

STT

CÁ THỂ

Khoa học Việt

Nam vừng Gaertn

24 Magnoliaceae Ngọc

25

Meliaceae Xoan

40 Sapindaceae Bồ hòn Dimocarpus longan L 1790 Nhãn 16

Trang 37

28

STT

CÁ THỂ

Bảng 4.1 cho thấy: cây bóng mát phường Xuân Hòa thuộc 2 ngành

Trong đó, ngành Thông (Pinophyta) có 2 họ, 2 chi, 2 loài với 2 cá thể; ngành

Ngọc lan (Magnoliophyta) có 22 họ, 34 chi, 39 loài với 1153 cá thể

Từ kết quả thu được chúng tôi có một số nhận xét sau:

Cây bóng mát ở khu vực Xuân Hòa chủ yếu được di nhập từ các vùng sinh thái khác nhau về trồng chủ yếu là cây gỗ, những loài như: Xà cừ - Khaya senegalensis (Desr) A Juss, Phượng vĩ - Delonix regia (W J Hook.) Raf., Sấu - Dracontomelum duperreanum Pierre, Bàng - Terminalia catappa L., Sữa - Alstonia scholaris (L.) R Br., Si - Ficus bejamica L, Bằng lăng- Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.,…Trong đó có nhiều loài được trồng từ lâu đời và trở thành điểm nhấn quan trọng cho một số tuyến phố như: Hàng cây Xà cừ - Khaya senegalensis (Desr.) A Juss., Long não - Cinnamomum camphora (L.) J.S trên

đường Nguyễn Văn Linh

Trên tuyến đường vành đai mới có những loài cây đặc trưng tạo được nét

riêng biệt cho con đường như: Bằng lăng - Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.,

Bọ cạp nước - Cassia fistula L

Ngoài những cây bóng mát được trồng theo quy hoạch, còn có một số loài cây do người dân tự trồng để tăng thêm bóng mát hoặc làm đẹp cảnh quan trong khu vực nhà mình Các loài thường gặp gồm: Dâu da xoan -

Allospondias lakonensis (Pierre) Stapf., Bàng - Terminalia catappa L., Sấu - Dracontomelum duperreanum Pierre, Sữa - Alstonia scholaris (L.) R Br và Trứng cá - Muntingia calabura L.,…

Ngày đăng: 04/09/2015, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, 532 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
2. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk. (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II, 1203 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
3. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk. (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập III, 1248 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
4. Bộ khoa học và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần II. Thực vật, 412 tr., Nxb KHTN &amp; CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nxb KHTN & CN
Năm: 2007
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2010), Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn, Bộ NN&amp;PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Bộ NN&amp;PTNT
Năm: 2010
6. Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Tp Hồ Chí Minh 7. Hoàng Chung (2008), Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật, NxbGiáo dục.8. (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1997
9. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
10. Phạm Hoàng Hộ (1999-2003), Cây cỏ Việt Nam, Tập 1-3, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.11. (2000),2000, .12. Phạm Văn Long (2011), Nghiên cứu đề xuất qui hoạch cảnh quan và bảo vệmôi trường cho hệ thống cây xanh đường phố ở thành phố Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999-2003
13. Đỗ Tất Lợi (2003), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2003
16. Trần Đình Lý (2003), Giáo trình sinh thái thảm thực vật (chuyên đề sau đại học), Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh thái thảm thực vật (chuyên đề sau đại học)
Tác giả: Trần Đình Lý
Nhà XB: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Năm: 2003
17. Nguyễn Thị Mai (2010). Nghiên cứu hiện trạng cây xanh bóng mát các quận nội thành thành phố Hà Nội. Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp. Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng cây xanh bóng mát các quận nội thành thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2010
18. Tường Thị Tuyết Mai (2010). Nghiên cứu tính đa dạng cây xanh đô thị thành phố Thái Nguyên. Luận văn Thạc sỹ sinh học. Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.19. (2001),Minh. , 2001.20. (1996), , Nxb X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng cây xanh đô thị thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Tường Thị Tuyết Mai
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Năm: 2010
21. Hà Minh Tâm (2012), “Xây dựng danh lục các loài cây trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”, Đề tài cấp cơ sở (Mã số: C.10.61), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng danh lục các loài cây trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tác giả: Hà Minh Tâm
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Năm: 2012
22. Lê Đồng Tấn (2003), “Môi trường sinh trưởng và tiêu chuẩn cây trồng trong các loại hình cây xanh đô thị ở Hà Nội đến năm 2010”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 4, tr.459 - 462.23. (1980), 1, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường sinh trưởng và tiêu chuẩn cây trồng trong các loại hình cây xanh đô thị ở Hà Nội đến năm 2010
Tác giả: Lê Đồng Tấn
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2003
24. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, 223 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
25. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, 171 tr., Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
27. Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn (2001). Báo cáo chuyên đề " Các giải pháp khoa học kỹ thuật phát triển hệ thống cây xanh đô thị Hà Nội" đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020". Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề " Các giải pháp khoa học kỹ thuật phát triển hệ thống cây xanh đô thị Hà Nội" đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
28. Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Tập I, 1082 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
29. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam. Nxb KH&amp;KT, Hà Nội.30. (2002),năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nxb KH&KT
Năm: 1978
31. Nguyễn Văn Trương (1993), “Mấy vấn đề cơ sở sinh thái trong tái sinh rừng”, Tạp chí Lâm nghiệp (1), tr.2-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề cơ sở sinh thái trong tái sinh rừng
Tác giả: Nguyễn Văn Trương
Nhà XB: Tạp chí Lâm nghiệp
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Số giờ nắng của các tháng trong năm 2007 - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 3.2. Số giờ nắng của các tháng trong năm 2007 (Trang 31)
Bảng 4.1. Danh lục các loài cây bóng mát tại phường Xuân Hòa. - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.1. Danh lục các loài cây bóng mát tại phường Xuân Hòa (Trang 34)
Bảng  4.1  cho  thấy:  cây  bóng  mát  phường  Xuân  Hòa  thuộc  2  ngành.  Trong đó, ngành Thông (Pinophyta) có 2 họ, 2 chi, 2 loài với 2 cá thể; ngành  Ngọc lan (Magnoliophyta) có 22 họ, 34 chi, 39 loài với 1153 cá thể - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
ng 4.1 cho thấy: cây bóng mát phường Xuân Hòa thuộc 2 ngành. Trong đó, ngành Thông (Pinophyta) có 2 họ, 2 chi, 2 loài với 2 cá thể; ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có 22 họ, 34 chi, 39 loài với 1153 cá thể (Trang 37)
Bảng 4.2. Dạng thân của các loài cây bóng mát tại phường Xuân Hòa 1) - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.2. Dạng thân của các loài cây bóng mát tại phường Xuân Hòa 1) (Trang 38)
Bảng 4.3. Các nhóm dạng thân của cây bóng mát phường Xuân Hòa - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.3. Các nhóm dạng thân của cây bóng mát phường Xuân Hòa (Trang 41)
Bảng 4.5 . Giá trị sử dụng của các loài cây tại khu vực nghiên cứu 1) - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.5 Giá trị sử dụng của các loài cây tại khu vực nghiên cứu 1) (Trang 43)
Bảng 4.6. Chất lượng cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa. - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.6. Chất lượng cây bóng mát tại Phường Xuân Hòa (Trang 51)
Bảng 4.7. Diện tích tán cây trên đường Nguyễn Văn Linh - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.7. Diện tích tán cây trên đường Nguyễn Văn Linh (Trang 53)
Bảng 4.8. Diện tích tán cây trên đường Nguyễn Văn Linh từ vòng tròn hai - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.8. Diện tích tán cây trên đường Nguyễn Văn Linh từ vòng tròn hai (Trang 54)
Bảng 4.9. Diện tích tán cây trên Phố Lê Xoay - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.9. Diện tích tán cây trên Phố Lê Xoay (Trang 55)
Bảng 4.10. Diện tích tán cây trên phố Kim Đồng - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.10. Diện tích tán cây trên phố Kim Đồng (Trang 55)
Bảng 4.11. Diện tích tán cây trên đường Phạm Văn Đồng - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.11. Diện tích tán cây trên đường Phạm Văn Đồng (Trang 56)
Bảng 4.13. Độ che phủ của cây bóng mát trên các tuyến đường thuộc - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.13. Độ che phủ của cây bóng mát trên các tuyến đường thuộc (Trang 58)
Bảng 4.14. Đề xuất tập đoàn cây theo điều kiện hè phố - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại phường xuân hòa (LV1217)
Bảng 4.14. Đề xuất tập đoàn cây theo điều kiện hè phố (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm