Khác với các hình tượng khác, tính cách của người trần thuật bộc lộ không phải chỉ qua việc trực tiếp tham gia vào hành động trong tác phẩm, hay qua những lời giãi bày tâm sự về chính mì
Trang 1TRẦN THỊ BAN MAI
NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG
VĂN XUÔI ĐẶNG THÂN – TỪ MA NET ĐẾN
3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN]
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2014
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Gia Thế
HÀ NỘI, 2014
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Phùng Gia Thế - người đã hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến
Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Học viên
Trần Thị Ban Mai
Trang 4Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo,
TS Phùng Gia Thế Tôi xin cam đoan:
- Luận văn là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi
- Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực
- Những gì được triển khai trong luận văn không trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu của các tác giả nào đã được công bố trước đó
Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Học viên
Trần Thị Ban Mai
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Dự kiến đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TRẦN THUẬTVÀ HÀNH TRÌNH VĂN HỌC CỦA ĐẶNG THÂN 9
1.1 Khái quát về người trần thuật 9
1.1.1 Khái niệm về người trần thuật 9
1.1.2 Chức năng của người trần thuật 14
1.1.3 Các dạng thức người trần thuật 16
1.1.4 Mối quan hệ giữa người trần thuật và tác giả 23
1.2 Hành trình văn học của Đặng Thân 26
1.2.1 Thơ 26
1.2.2 Tiểu luận 27
1.2.3 Truyện ngắn, tiểu thuyết 28
CHƯƠNG 2 NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN CỦA NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI ĐẶNG THÂN 30
2.1 Ngôi kể của người trần thuật 30
2.1.1 Cuộc đua tranh giữa người trần thuật với cái tôi tự thuật 30
2.1.2 Sàn diễn đa thoại của những người trần thuật bất định 39
2.2 Điểm nhìn của người trần thuật 43
2.2.1 Trao điểm nhìn cho nhân vật 44
Trang 6TRONG VĂN XUÔI ĐẶNG THÂN 62
3.1 Ngôn ngữ của người trần thuật 62
3.1.1 Ngôn ngữ mạng 62
3.1.2 Ngôn ngữ thông tục, suồng sã 68
3.1.3 Ngôn ngữ nhại 71
3.1.4 Ngôn ngữ pha tạp 77
3.2 Giọng điệu của người trần thuật 82
3.2.1 Giọng giễu nhại, trào lộng 83
3.2.2 Giọng điệu bỗ bã, dung tục 90
3.2.3 Giọng điệu hoài nghi, chất vấn 91
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Người trần thuật (người kể chuyện) là khái niệm trung tâm của tự
sự học, cũng là một vấn đề đang được giới nghiên cứu quan tâm Mỗi câu chuyện đều có người trần thuật Người trần thuật dù xuất hiện ở hình thức, giọng điệu nào cũng đảm nhiệm vai trò dẫn dắt và kể lại toàn bộ câu chuyện, giúp bạn đọc cảm thụ và đi sâu tìm hiểu tác phẩm văn học
Thực tiễn cho thấy, việc thiết tạo hình tượng người trần thuật trong tác phẩm là biểu hiện quan trọng thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và sức sáng tạo của nhà văn Người trần thuật trong tác phẩm tự sự cũng góp phần khẳng định tên tuổi của tác giả và sức sống của tác phẩm Nghiên cứu hình tượng người trần thuật, do đó, được xem là một cửa ngõ đặc biệt quan trọng để khám phá đặc tính của chủ thể nghệ sĩ
1.2 Văn học Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt là từ sau 1986 được
xem là cuộc bứt phá ngoạn mục trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc Ý thức đổi mới diễn ra trên nhiều lĩnh vực phong phú: cảm hứng chủ đạo, quan niệm nghệ thuật về con người và các phương thức thể hiện Trong cao trào đó
đã nổi lên những gương mặt tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài… Gần đây, văn học ghi nhận những cách tân táo bạo gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Đặng Thân… Trong số này, Đặng Thân
được đánh giá là “điển hình của văn học hậu đổi mới” (Đỗ Lai Thúy) Từ điển Wikipedia viết: “Đặng Thân là nhà thơ song ngữ, nhà văn nổi tiếng về
tiểu thuyết hư cấu, truyện ngắn và tiểu luận Ông có nhiều sáng tác bằng tiếng Anh đã được xuất bản tại Hoa Kỳ trong các tuyển tập thơ The Colors of
Life, Eternal Portraits và The Internaltional Who’s Who in Poetry Nhiều tác
Trang 8phẩm của ông được in trên các tạp chí văn học Wordbridge, The Writers
Post, Beehive, Blank Verse” [33]
Trong lĩnh vực văn xuôi, Đặng Thân có nhiều sáng tác gây ảnh hưởng
Tập truyện ngắn Ma net của anh gồm 12 truyện chính thức ra mắt độc giả vào
tháng 12 năm 2008 Tuy nhiên, một số tác phẩm nằm trong tập truyện này được nhà văn đưa lên các trang mạng và blog trước khi xuất bản đã thu hút được sự chú ý của độc giả và gây ra nhiều luồng ý kiến trái chiều nhau trong
giới phê bình Ma net tạo ra ấn tượng nhờ lối viết độc đáo và đánh dấu một
phong cách nổi loạn Tiếp theo đó là sự ra đời của tác phẩm quan trọng
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] (2011) Tác phẩm này được giới nghiên cứu,
phê bình xem là bước ngoặt quyết đoán của văn học hậu hiện đại Việt Nam Từ
khi ra đời cho đến nay, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] đã trở thành một chất
liệu quan trọng của các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại
Có thể nhận thấy, hình tượng người trần thuật là nhân tố quan trọng tạo nên sức sống trong hầu hết các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Đặng Thân Việc tìm hiểu những vận động của tư duy nghệ thuật trong văn xuôi Đặng Thân không thể không chú ý đến những chuyển dịch trong cấu trúc đặc điểm của
hình tượng người trần thuật từ Ma net đến 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
Với tất cả những lí do trên, tác giả luận văn quyết định lựa chọn nghiên
cứu đề tài: Người trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân - Từ Ma net đến
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
2 Lịch sử vấn đề
Đăng Thân là một nhà văn thuộc khuynh hướng văn học hậu hiện đại Độc giả biết đến anh với cương vị là một nhà thơ, một nhà văn song ngữ Khi
nhắc đến tên tuổi Đặng Thân, người đọc không thể không nhớ đến Thơ phụ
âm (Alliteration), TỪ ĐIỂN THI X/X LOẠI [chúng sinh], đặc biệt là tập
truyện ngắn Ma net và tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] Ma net và
Trang 9tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là hai cuốn sách đã thu hút được sự
quan tâm, chú ý của độc giả và giới nghiên cứu phê bình bởi một phong cách mới lạ, giọng văn độc đáo Chính sự táo bạo trong cách tân văn học, những đổi mới trong lối viết khiến Đặng Thân nhận được nhiều sự ủng hộ và cả những ý kiến phản biện của những người trong giới cầm bút
Qua khảo sát, chúng tôi đã tập hợp được những bài viết nghiên cứu về Đặng Thân và các tác phẩm của anh ở các mức độ khác nhau:
Trong bài "Bung phá sáng tạo và vượt thoát" (Tiền phong cuối tuần, số
ra ngày 17/12/2008), nhà văn Lê Anh Hoài chỉ rõ: “Cái độc đáo nằm sâu bên
trong văn của Đặng Thân là cách nhìn Vẫn chính là mọi sự của đời sống với
đi học, đi làm, vui chơi, tán tỉnh, yêu đương, có cả chiến tranh, sống chết nhưng được nhìn theo cách không quan trọng bình thường thôi” [15]
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên khi đề cập về tập truyện ngắn Ma
net trong Văn học Việt Nam 2008 đã viết: “Những truyện ngắn trong tập này được viết có tính chất hậu hiện đại khá rõ, cho thấy văn chương còn nhiều lối
đi mở, nhưng cũng đòi hỏi người đọc phải thích nghi với cách viết khác để có cách đọc khác” [19]
Mặc dù còn có một số ý kiến trái chiều nhau song tựu trung, giới
nghiên cứu đều coi trọng tài năng Đặng Thân Về tập Ma net, GS TS Trần Ngọc Vương khẳng định “Ma net chắc chắn mang đến một sự hoang mang
tích cực cho độc giả” Nhà lí luận phê bình, TS Hoàng Ngọc Hiến dành một
vị trí khá cao cho Đặng Thân trên tiến trình của văn học hậu đổi mới khi ông
cho rằng: “Về tính hài hước, Đặng Thân còn vượt cả Nguyễn Huy Thiệp”
Cùng quan điểm với ông, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong buổi tọa đàm về
tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội, chiều ngày 7/1/2012 nhận định: “Như một cuộc chạy tiếp sức lịch sử,
chính ở chỗ mà Thiệp dừng chân (thì) Thân bước tiếp”
Trang 10Trong quá trình tìm kiếm tư liệu về Đặng Thân, chúng tôi tìm thấy nhiều gợi ý từ những phân tích đánh giá của giới nghiên cứu Nhà văn, dịch
giả Nguyễn Hồng Nhung ghi nhận sau khi đọc Ma net: “Bằng cái giọng viết
đặc sệt chất Hà thành: ngông nghênh mà lịch lãm, du côn nhưng biết điều, giữ khoảng cách nhưng sát ngôn từ không thương tiếc, Đặng Thân khiến ta ngơ ngẩn bởi không biết nên trở thành cái gì đây cái hiện thực ngồn ngộn thông tin tự thân cắn xé này” [20]
Trong buổi “Trình diễn đa thoại về tiểu thuyết 3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần] của Đặng Thân” diễn ra tai viện Goethe, nhà phê bình La Khắc Hòa
khẳng định: “Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam chúng ta thấy giai đoạn nào
cũng có những tác giả, tác phẩm xuất sắc, thế nhưng không phải giai đoạn nào cũng có tác giả tạo ra được bước ngoặt trong lịch sử văn học dân tộc Văn chương sau Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và Nguyễn Tuân dường như một thời gian rất dài không có gì thay đổi, Mãi đến khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, theo tôi, nó đã tạo ra một cái sự khác, và đến khi Đặng Thân xuất hiện với những tác phẩm như Ma net, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] thì ta lại bắt gặp một bước ngoặt khác Bước ngoặt mà Đặng Thân tạo ra chính là bước ngoặt của văn học hậu hiện đại bằng cách tạo ra những không gian trò diễn kiểu khác, những chủ đề với những cấu trúc khác Đặng Thân thực sự đã tạo
ra một tác phẩm đa thanh phức điệu, Xây dựng được một khung truyện kể giản đơn để tạo ra ở bên trên một cấu trúc ngữ nghĩa vô cùng phong phú phức tạp Với ý nghĩa ấy thì tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một
sự kiện cực kì quan trọng trong đời sống văn học của chúng ta” [12]
Trong bài viết: “Đặng Thân: điển hình của văn học hậu – Đổi mới”,
trên tạp chí Da màu, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy viết: “Tiểu thuyết 3.3.3.9
[những mảnh hồn trần] của Đặng Thân là điển hình của văn chương hậu-Đổi
mới Nó có đầy đủ những đặc điểm của tiểu thuyết hậu-hiện đại Ở đây, tôi
Trang 11chỉ xin nêu ra hai đặc điểm: sự phân mảnh và tính diễu nhại Sự phân mảnh này làm cho cái Một, cái Duy nhất trở thành cái nhiều, chứ không phải cái- không-có-gì Một câu truyện, mà thường là “chuyện lớn”, trở thành nhiều câu chuyện, một trung tâm trở thành nhiều trung tâm, một tư tưởng trở thành nhiều tư tưởng Mà câu chuyện nào, trung tâm nào, tư tưởng nào cũng đều quan trọng như nhau cả, nếu có hơn kém là tùy ở hệ quy chiếu của người đọc Nhân vật của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] cũng vậy, thực ảo lẫn lộn Trong đó, tác giả không phải chỉ là kẻ dẫn chuyện, mà là một nhân vật trong truyện, như các nhân vật khác Có thể, vị thế “chân trong chân ngoài”, hoặc hoàn toàn là “người trong cuộc” này làm cho tính diễu nhại Đặng Thân trở thành tự diễu nhại Người đọc cũng tự diễu nhại Biết nhìn mình như một kẻ khác, nhất là có thái độ với mình vừa nghiêm túc vừa hài hước,bao dung là bước đầu của sự thức tỉnh Tiểu thuyết Đặng Thân, tuy là một cuốn sách in để đọc, nhưng lại có kết cấu như thể của một tiểu thuyết mạng Câu chuyện trôi chảy tự nhiên, nhiều khi phụ thuộc vào những nhân vật chen ngang Đó là một tác phẩm mở ” [30]
Tác giả Phùng Gia Thế trong bài viết “Siêu thị chữ của Đặng Thân”
cũng khẳng định: “Đặng Thân là kiểu nghệ sĩ nổi loạn Anh viết nhiều nhưng
sung sức và vạm vỡ nhất ở các sáng tác mang phong cách hậu hiện đại Ở thời điểm hiện nay, Đặng Thân là chất liệu phong phú bậc nhất cho những người quan tâm nghiên cứu văn xuôi hậu Đổi mới ở nước ta Người nghiên cứu có thể tìm thấy trong sáng tác của Đặng Thân nhiều vấn đề có ý nghĩa lịch sử và lí thuyết liên quan tới việc vẽ bản đồ văn học, nguồn gốc của một hiện tượng văn học, cách viết và cách đọc một tác phẩm văn học.” [29]
Trong bài viết: “Đặc trưng ngoại biên hóa trong văn học hậu hiện đại –
nhìn từ trường hợp của Đặng Thân” được đăng tải trên Yume.vn, tác giả Phan
Tuấn Anh đã khai thác cấu trúc và văn phong hậu hiện đại kiểu mạng, bàn
Trang 12phím máy tính dựa trên nguyên tắc thẩm mĩ Facebook và lối đọc status –
entry trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần].v.v… [1]
Tóm lại, qua việc phân tích các bài viết, công trình nghiên cứu nói trên, chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu, phê bình đã thừa nhận và chỉ ra
những phương diện cách tân về thi pháp trong tập truyện ngắn Ma net và tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân Tuy nhiên, tính đến
nay, theo quan sát của chúng tôi thì vẫn chưa có công trình nào tìm hiểu về người trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân một cách trọn vẹn Chính vì vậy, trên cơ sở kết qủa nghiên cứu của những người đi trước, luận văn của chúng tôi tập trung tìm hiểu đặc điểm hình tượng người trần thuật trong văn xuôi
Đặng Thân và những chuyển dịch của nó từ Ma net đến 3.3.3.9 [những mảnh
hồn trần] với mong muốn tìm hiểu sâu hơn và bổ sung một vấn đề còn đang
bỏ ngỏ về hiện tượng nghệ thuật độc đáo này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục tiêu tìm hiểu những nét đặc sắc của hình tượng người
trần thuật văn xuôi Đặng Thân cùng những chuyển dịch của nó từ Manet đến
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] nhằm ghi nhận những sáng tạo, tìm tòi trong
nghệ thuật tự sự của nhà văn Đây cũng là cơ sở để khẳng định vai trò của Đặng Thân trong tiến trình văn xuôi Việt Nam đương đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm vững và vận dụng lí thuyết về người trần thuật để phân tích những nét độc đáo của hình tượng người trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân
- Phân tích sự vận động của hình tượng người trần thuật trong văn xuôi
Đặng Thân từ Ma net đến 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] để thấy được những
chuyển dịch trong tư duy nghệ thuật của nhà văn
Trang 13- So sánh Đặng Thân với một số cây bút văn xuôi tiêu biểu khác để thấy được những sáng tạo độc đáo của anh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Người trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân từ Ma net đến 3.3.3.9
[những mảnh hồn trần]
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tập truyện ngắn Ma net, Nhà xuất bản Văn học, 2008;
- Tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], Nhà xuất bản Hội Nhà
văn, 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả nghiên cứu luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống;
- Phương pháp lịch sử;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp loại hình
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những kiến thức về người trần thuật với tư cách một thuật ngữ khoa học;
- Phân tích đặc điểm và chỉ ra những chuyển dịch của hình tượng người
trần thuật của Đặng Thân từ Ma net đến 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần];
- Khẳng định vai trò quan trọng của việc thiết tạo người trần thuật đối với việc hình thành tư duy và cá tính sáng tạo ở Đặng Thân
Trang 147 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của đề tài được triển khai cụ thể thành ba chương Cụ thể bao gồm:
Chương 1: Khái quát về người trần thuật và hành trình văn học của
Trang 15NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TRẦN THUẬT
VÀ HÀNH TRÌNH VĂN HỌC CỦA ĐẶNG THÂN
1.1 Khái quát về người trần thuật
1.1.1 Khái niệm về người trần thuật
Từ đầu thế kỷ XX vấn đề người trần thuật hay cách gọi khác là người
kể chuyện đã được các nhà hình thức chủ nghĩa Nga và nhóm các nhà nghiên cứu Bắc Âu viết bằng tiếng Đức đặc biệt quan tâm đến Nhưng phải đến công trình của những nhà nghiên cứu thế hệ sau: P Lubbock, N Friedman, Iu Lotman, G Genette, B Uspenski,… khái niệm người trần thuật mới có được nhận thức tương đối rõ ràng Ở đây, chúng tôi xin dẫn ra quan niệm của một
số tác giả tiêu biểu
Tz Todorov tuyên bố: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc
kiến tạo thế giới tưởng tượng… không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt”
[dẫn theo 23, tr.116-117]
Theo Tz Todorov, người trần thuật là một “yếu tố tích cực” góp phần
tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm Câu chuyện mà tác giả gửi gắm tư tưởng nghệ thuật về cuộc sống, con người được người trần thuật kể lại bằng những hình thức và giọng điệu nhất định
Bàn về người trần thuật trong bài viết “Vấn đề người kể chuyện trong
thi pháp tự sự hiện đại” [23, tr.116-125], tác giả Đỗ Hải Phong đã khẳng
định: “Người kể chuyện cũng có thể có tính cách như nội dung của hình
Trang 16tượng Khác với các hình tượng khác, tính cách của người trần thuật bộc lộ không phải chỉ qua việc trực tiếp tham gia vào hành động trong tác phẩm, hay qua những lời giãi bày tâm sự về chính mình mà chủ yếu qua thái độ đối với thế giới câu chuyện được kể lại Phần nào đây là một “hình tượng - thái độ” [23 - tr.119] Người trần thuật luôn bày tỏ thái độ của mình trước câu
chuyện được kể thông qua cách kể, giọng điệu kể Tính cách của người trần thuật cũng nổi bật như các nhân vật xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện
L.I Timofeev cho rằng: “Hình tượng người kể chuyện tức người mang
những đặc điểm ngôn ngữ cá nhân không gắn liền với các nhân vật của tác phẩm, có một tầm quan trọng hết sức to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi
vì cách quan niệm biến cố xảy ra, cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể chuyện” [31, tr.44]
Như vậy với L.I Timofeev, người trần thuật là người đứng ra kể lại, dẫn dắt lại, trần thuật lại một câu chuyện nào đó cho người khác biết, có đặc điểm cá nhân riêng biệt và qua câu chuyện kể lại, người trần thuật thể hiện quan điểm, cách đánh giá của mình đối với vấn đề được nói tới trong câu chuyện
Trong bài viết: “Người kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng
trong tác phẩm tự sự” [24, tr.196-208], tác giả Nguyễn Thị Hải Phương đã
dẫn ra quan niệm về người kể chuyện của các tác giả tiêu biểu như: G.N Pospelov, W Kayser
Theo G.N Pospelov thì người trần thuật là “người môi giới giữa các
hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [dẫn theo 24, tr.196]
Trong quan niệm của W Kayser, người trần thuật lại là một khái niệm
mang tính chất hình thức “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về
toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học Ở nghệ thuật kể, không bao giờ người kể
Trang 17chuyện là vị tác giả đã hay chưa nổi danh nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra
và chấp nhận” [dẫn theo 24, tr.196]
Trong bài viết này, tác giả Nguyễn Thị Hải Phương đã đưa ra khái niệm
người trần thuật thể hiện ở các điểm cơ bản: “Người kể chuyện là một công cụ
do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện” [24, tr.197], là “một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự” [24, tr.198] Tác giả khẳng định sự khác biệt giữa
người trần thuật thực tế trong đời sống với người trần thuật trong tác phẩm tự
sự Nếu người trần thuật thực tế trong đời sống là những con người cụ thể, có hình hài, điệu bộ… thì người trần thuật trong tác phẩm tự sự lại không hiện hữu cụ thể, không có hình hài, giọng nói, điệu bộ mà ẩn mình vào những dòng chữ, vào những ký hiệu ngôn từ của văn bản và chỉ hiện lên trong liên tưởng, tưởng tượng của bạn đọc Hai kiểu người trần thuật này đã lựa chọn cách trần thuật khác nhau Với người trần thuật thực tế trong đời sống thường kể lại câu chuyện theo trật tự tuyến tính, có thể điều chỉnh câu chuyện theo phản ứng của người nghe, bởi người trần thuật và người nghe đang đối diện nhau Ngược lại, người trần thuật trong tác phẩm tự sự không thể thay đổi, điều chỉnh câu chuyện theo phản ứng của người nghe, bởi câu chuyện chỉ đến với người nghe khi nó được người trần thuật hoàn tất Điều đặc biệt là câu chuyện
có thể được kể theo thời gian tuyến tính, cũng có thể đảo tuyến hoặc đan xen giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Người trần thuật trong tác phẩm tự sự không chỉ là một nhân vật tham gia trong tác phẩm như các nhân vật khác mà còn có chức năng tổ chức các nhân vật khác, đánh giá các nhân vật khác Nói
như L.I Timofeev: “Người kể chuyện bắt tất cả các đặc điểm ngôn ngữ của
nhân vật mà họ nhắc tới phải lệ thuộc vào mình ngay cả khi người kể chuyện cho một sự độc lập đầy đủ về mặt ngôn ngữ” [dẫn theo 24, tr.198] Vị trí của
người trần thuật trong tác phẩm có sự thay đổi linh hoạt đáp ứng mục đích của sáng tác văn chương: mỗi nhà văn đều muốn thể hiện quan điểm, tư tưởng nghệ thuật của mình qua tác phẩm sáng tạo ra
Trang 18Từ điển thuật ngữ văn học cũng có mục từ nói về người trần thuật
Theo đó, người trần thuật là “hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác
phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả…, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra…, có thể là một người biết một câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện Hình tượng người trần thuật đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh” [10, tr.221]
Còn theo nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập thì người trần thuật có vai trò
như một “kẻ mang thông điệp” chuyển tải những thông điệp từ người phát
ngôn đến người nhận: “Các thông điệp của một văn bản bao giờ cũng được chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên (speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một người sĩ quan ra mệnh lệnh, người kể chuyện trong tiểu thuyết, hay các đối tác ký vào hợp đồng hợp tác kinh doanh…Những kẻ mang thông điệp có thể có thật hoặc
hư cấu” [18, tr.178] Với một quan điểm rộng dựa trên nền của lý thuyết hội
thoại, tác giả của Văn chương như là quá trình dụng điển đã xác định được
vai trò quan trọng của người trần thuật trong tác phẩm tự sự: cầu nối trung gian giữa tác giả, tác phẩm và người đọc Thêm vào đó ông còn nhấn mạnh
“chính đặc điểm và mối quan hệ giữa thông điệp và kẻ mang thông điệp là cái quyết định tính chất của văn bản” [18, tr.178] và “trong truyện, thông điệp mang tính chất khái quát, và kẻ mang thông điệp là những nhân vật hư cấu” [18, tr.180] Quan điểm này khá thống nhất với các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã nói trên
Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người
trần thuật trong trần thuật tự sự: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi
Trang 19được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [3, tr.360] Trong định nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai
trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người trần thuật trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến và giải thích của hình tượng này Đây
là những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện người trần thuật trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay
Tác giả Lê Ngọc Trà đưa ra một quan niệm ngắn gọn hơn về người trần thuật, dựa trên mối quan hệ giữa chủ thể trần thuật và lời kể trong tác phẩm tự
sự: “Người kể chuyện là chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong
tác phẩm văn học” [32, tr.89] Ở đây, định nghĩa đã nêu bật được vai trò đặc
trưng mang tính chức năng của người trần thuật
Với cách nhìn nhận đặt trong tương quan giữa người trần thuật và kết
cấu tác phẩm, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương khẳng định: “Khái niệm
hình tượng tác giả (người kể chuyện – NV) nói lên bản chất của tác phẩm nghệ thuật và là nơi tập trung sự thống nhất về tư tưởng, kết cấu, hình tượng
và ngôn từ của tác phẩm Đó là phạm trù thi pháp cao nhất quyết định đặc điểm và nội dung của cấu trúc tác phẩm, quyết định cả tính khuynh hướng và
sự triển khai tác phẩm đó” [9, tr.215] Có nghĩa là, người trần thuật giữ vai
trò định hướng và quyết định đối với việc tổ chức các yếu tố trong cấu trúc của một văn bản tự sự
Qua khảo sát nêu trên, chúng tôi nhận thấy khái niệm về người trần thuật khá phong phú, thậm chí có cả sự khác nhau Tuy nhiên, các quan niệm
ấy đều mang những điểm chung và cơ bản nhất thể hiện đúng bản chất cũng như vai trò của người trần thuật trong tác phẩm tự sự Có thể nói một cách ngắn gọn: người trần thuật chính là người do nhà văn sáng tạo ra để thực hiện hành vi kể, xây dựng tác phẩm nghệ thuật thể hiện tư tưởng, quan điểm, thái
Trang 20độ của mình về thế giới và con người Chính người trần thuật đã làm nên nét độc đáo trong cá tính sáng tạo của nhà văn
1.1.2 Chức năng của người trần thuật
Mỗi khái niệm về người trần thuật được nêu ra đã bao hàm cả chức năng của người trần thuật Người trần thuật có vai trò đặc biệt quan trọng, thực hiện nhiều chức năng trong tác phẩm tự sự
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, người trần thuật thực hiện năm chức năng: “1, chức năng kể chuyện, trần thuật; 2, chức năng truyền đạt, đóng vai
một yếu tố của tổ chức tự sự; 3, chức năng chỉ dẫn, thuộc phương pháp trần thuật; 4, chức năng bình luận; 5, chức năng nhân vật hóa” [10, tr.223] Vì
vậy, việc xây dựng người trần thuật có vai trò quyết định đến giá trị cũng như
sự thành công của tác phẩm Việc nắm vững thực chất chức năng của người trần thuật sẽ giúp người phân tích nghệ thuật tự sự được khoa học hơn, tránh những ngộ nhận không cần thiết
Người trần thuật là một sản phẩm của sự sáng tạo nghệ thuật Trong tác phẩm của mình, nhà văn xây dựng hình tượng người trần thuật để kể lại toàn
bộ câu chuyện Việc tác giả lựa chọn người trần thuật nào để kể hoàn toàn không phải là một sự ngẫu nhiên mà nó mang tính quan niệm nhằm mục đích chuyển tải tư tưởng, nội dung một cách hiệu quả nhất Tác giả Nguyễn Thị
Hải Phương trong bài viết: “Người kể chuyện – nhân vật mang tính chức
năng trong tác phẩm tự sự” [24, tr.196-208] đã khẳng định:“Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là một nhân vật mang tính chức năng,… là nhân vật trung gian nối liền giữa nhà văn, tác phẩm và bạn đọc” [24, tr.202]
Tác giả chỉ ra ba chức năng cơ bản của người trần thuật
Một là, người trần thuật có chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, tìm ra một kết cấu tối ưu làm cho câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn được người đọc
Truyện ngắn Anh hùng bĩ vận của Nguyễn Khải là một ví dụ tiêu biểu cho sự
Trang 21nối kết tài hoa và khéo léo của người kể chuyện Tác phẩm gồm những câu chuyện khác nhau, tưởng như không liên quan đến nhau: chuyện của một xã tiếng tăm giờ rơi vào khủng hoảng, chuyện của nghề viết văn trong thời kinh
tế thị trường, chuyện của cuộc đời ông Cậy - chủ một gia đình làm ăn phát đạt, bây giờ sa sút, thua lỗ, con cái tha hương khắp nơi Những sự kiện riêng
rẽ ấy qua lời kể của người kể chuyện đã trở nên liền mạch, thống nhất
Hai là, người trần thuật có chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật, giúp người đọc hiểu rõ hơn, sâu hơn về nhân vật, hướng họ cùng suy nghĩ, chia sẻ và đồng cảm với những chiêm nghiệm,
những suy nghĩ của mình về cuộc đời Trong nhiều trường hợp, “người kể
chuyện còn tiến hành đối thoại, tranh luận với người đọc để cùng nhau kiếm tìm, khám phá chân lý cuộc sống… lôi kéo người đọc cùng tham gia vào câu chuyện, buộc họ phải phản ứng” [24, tr.205] Trong Anh hùng bĩ vận, lời kể
mang tính khiêu khích người đọc:
“Này các bạn trẻ, các bạn chớ có vội cười, các bạn chớ có nghĩ một cách tự phụ rằng chỉ có lứa tuổi các bạn mới biết mãnh lực tình yêu Không nên chủ quan như thế! Các bà nội cũng vẫn có, nếu như cái ma lực ấy các cụ không tiêu xài quá phung phí lúc thiếu thời” [dẫn theo 24, tr.205-206]
Với lời kể này, người trần thuật hướng tới đối tượng là các bạn trẻ, buộc những bạn trẻ nào đọc tác phẩm đều phải tỏ rõ thái độ của mình: đồng tình hay phản đối Đây là một chức năng, vai trò to lớn mà người trần thuật mang lại cho mỗi tác phẩm tự sự
Ba là, người trần thuật thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật Khác các nhà tư tưởng, các nhà văn không trình bày tư tưởng của mình bằng những lời phát biểu trực tiếp mà trình bày một cách nghệ thuật thông qua các hình tượng do mình hư cấu nên trong đó có hình tượng người trần thuật
Trang 22Trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, người trần thuật xưng
“tôi” - nhân vật Thuần đã bày tỏ quan điểm của mình về bản chất của sự sáng
tạo nghệ thuật Thuần “cứ mơ hồ cảm thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những
con người cô đơn khủng khiếp” Hay trong Đất kinh kì, Nguyễn Khải cũng
gửi gắm một quan niệm khá sâu sắc về văn chương qua lời người trần thuật:
“Văn chương đâu là thứ để dành được, ướp lạnh được, không dùng trước thì dùng sau hoặc dùng dần Nó là sự sống mà lại là phần thiêng liêng mong manh dễ vỡ nhất của sự sống”
Người trần thuật là một điểm tất yếu phải có, mang ý nghĩa khá quan trọng trong tác phẩm tự sự Người trần thuật tổ chức kết cấu tác phẩm, dẫn dắt định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại, tranh luận của người đọc, là điểm tựa để tác giả bộc lộ quan điểm của mình về cuộc sống, nghệ thuật Đặc biệt, người trần thuật còn nhìn nhận và thấu hiểu các cung bậc cảm xúc của nhân vật: niềm vui, hạnh phúc, nỗi buồn… Tất cả được người trần thuật tái hiện trong tác phẩm qua câu chuyện kể của mình Chính vì chức năng này của
người trần thuật mà nhà lí luận Mỹ Jonathan Culler đã cho rằng: “Bất cứ trần
thuật nào đều phải có người trần thuật (người kể chuyện), bất kể người trần thuật ấy có được xác nhận rõ ràng hay không” [dẫn theo 22, tr.180]
Với những chức năng cũng như tầm quan trọng của người trần thuật, mỗi nhà văn khi sáng tạo nghệ thuật đều phải chú ý xây dựng hình tượng người trần thuật Người trần thuật chính là một yếu tố góp phần khẳng định thành công của tác phẩm cũng như cá tính sáng tạo của nhà văn
1.1.3 Các dạng thức người trần thuật
Trong tác phẩm tự sự, người trần thuật cũng được xây dựng dưới nhiều dạng thức khác nhau, từ đó tạo nên các kiểu người trần thuật tương ứng Thông thường hình thức người kể chuyện gắn liền với ngôi kể Người kể chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba
Trang 231.1.3.1 Người trần thuật ngôi thứ nhất
Hình thức người trần thuật ngôi thứ nhất xuất hiện muộn, ở châu Âu xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX Đây là hình thức mà người trần thuật xưng
“tôi”, là một nhân vật trong truyện, chứng kiến các sự kiện và đứng ra kể lại Ngoài ra còn có trường hợp người trần thuật theo ngôi thứ nhất xưng “chúng
tôi” nhưng rất ít Tiêu biểu như các tác phẩm: 26 người đàn ông và một cô gái của M Gorki hay Hoa hồng cho Emily của W Faulkner Ở trường hợp này,
tính cá thể hóa của người kể chuyện bị hạn chế
Người trần thuật theo ngôi thứ nhất là hình thức lộ diện, là người kể chuyện tham gia vào truyện chứ không đứng ngoài như người trần thuật ngôi thứ ba Trong hình thức này, người trần thuật có điều kiện tham dự vào cuộc đàm thoại, được nhận xét trực tiếp về các sự kiện và các nhân vật, được nói tiếng nói riêng của mình Từ đó, bạn đọc nhận ra tính cá biệt hóa của người trần thuật với các nhân vật trong truyện cả trên phương diện xã hội và thẩm
mĩ, góp phần tạo ra cái nhìn nghệ thuật cho tác phẩm
Nói về người trần thuật ngôi thứ nhất, nhà bác học Nga M Bakhtin đã
từng khẳng định: “Trần thuật từ ngôi thứ nhất là tương tự với sự trần thuật
của người kể chuyện Đôi khi, hình thức này do dụng ý dựa trên lời kể của kẻ khác quy định, đôi khi như lối kể của Tuôcghênhiep, nó có thể tiếp cận và cuối cùng là hòa nhập với lời trực tiếp của tác giả, tức là hoạt động với lời một giọng của ngôi thứ hai” [dẫn theo 23, tr.380]
Nhà văn Nguyễn Công Hoan - một bậc thầy truyện ngắn Việt Nam, cũng nêu quan điểm của mình về hình thức trần thuật theo ngôi thứ nhất:
“Ngoài hình thức kể chuyện mà tác giả làm như một người ngoài truyện còn
có một hình thức khác nữa, là tác giả làm như chính mình là người trong truyện Tác giả vờ đóng vai chủ động để kể chuyện mình, xưng với độc giả là tôi… khi một truyện diễn ra từ đầu đến cuối bằng nhiều cảnh, nhiều việc thì
Trang 24tác giả nên đóng vai người ngoài đã nhìn thấy những cảnh, những việc ấy mà
kể lại cho độc giả nghe… Nhưng khi một tiểu thuyết chỉ dựa vào cảnh, vào việc để nói lên sự diễn biến của tâm lý, tư tưởng thì người viết dùng hình thức
kể chuyện cũng không sao Nhưng tốt hơn là nên dùng hình thức mình kể chuyện mình, mình nói tâm lý, tư tưởng mình thì nếu vai trò chủ động là một người có tâm lý xấu hoặc có nhiều ý nghĩ ngốc nghếch, dại dột, đáng buồn cười thì chi bằng tác giả nhận phăng ấy là vai mình Mình kể chuyện mình xưng là tôi thì dù ai cũng xấu, ngốc dại như người trong truyện có bị chạm nọc, họ cũng không giận tác giả đã lật tẩy họ” [dẫn theo 23, tr.381-382]
Người trần thuật ngôi thứ nhất cũng mang những ưu điểm và hạn chế nhất định Với kiểu người trần thuật này, câu chuyện gây được cảm giác đáng tin cậy hơn người trần thuật ở ngôi thứ ba vì người trần thuật không phải ai đó
xa lạ, đứng ở tận đâu đâu, trên cao, ngoài xa phóng tầm mắt quan sát mọi chuyện mà hòa mình trực tiếp, tham gia vào các biến cố, nhất là khi người trần thuật đóng vai nhân vật chính Sử dụng người trần thuật ở ngôi thứ nhất giúp cho câu chuyện có tính khách quan Người trần thuật có điều kiện bày tỏ quan điểm của mình, tuy nhiên dung lượng phản ánh hiện thực lại bị hạn chế
Dù vậy, số tác giả viết truyện sử dụng hình thức người trần thuật này vẫn chiếm số lượng lớn Mỗi hình tượng người trần thuật được các nhà văn xây
dựng đều có nét riêng biệt Có thể kể đến Nam Cao với: Lão Hạc, Những
cánh hoa tàn, Cái mặt không chơi được, Những truyện không muốn viết…,
Nguyễn Công Hoan với: Mánh khóe, Nhân tài, Tôi chủ báo, nó chủ báo… hay Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu…
Trong số các tác giả đương đại, Nguyễn Huy Thiệp khá thành công với
những truyện ngắn viết ở ngôi thứ nhất: Tướng về hưu, Chảy đi sông ơi,
Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Chuyện tình kể trong đêm mưa… Người kể chuyện ngôi thứ
Trang 25nhất trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết là kiểu người kể chuyện thuộc dạng cố định Người kể chuyện xưng “tôi” trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không phải là cái “tôi” mang tính chất tự truyện mà là cái “tôi” đội lốt trong nhiều con người với nhiều vị trí khác nhau trong xã hội cho phép chúng ta cảm nhận và cùng trải nghiệm cuộc sống với nhiều cái nhìn phong phú và đa dạng Điều đó dường như là bức thông điệp mà truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp muốn mang tới cho người đọc: tôi mang tới cho bạn cuộc sống hiện thực như nó đang tồn tại chứ không phải là cái nhìn cuộc sống hay là những trải nghiệm của riêng tôi
Như vậy, người trần thuật ở ngôi thứ nhất là một hình thức trần thuật phổ biến và quen thuộc Với việc sử dụng thành công hình thức người trần thuật này, nhà văn đã tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị đóng góp
cho sự phát triển của tiến trình văn học nói chung và văn xuôi tự sự nói riêng
1.1.3.2 Người trần thuật ngôi thứ hai
Người trần thuật ngôi thứ hai là hình thức kể chuyện ít được sử dụng Trong tác phẩm, người trần thuật ngôi thứ hai thường xưng “bạn”, “mi”, cũng mang cái tôi của người kể song nó tạo ra được một không gian gián cách, một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra chứ không phải một cái tôi tự kể như ngôi thứ nhất Bạn đọc sẽ bắt gặp hình thức người trần thuật ngôi thứ hai trong một
số tác phẩm như: Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Không khóc ở Cali của Nguyễn Huy Thiệp, Niềm vui sướng của Mạc Ngôn, hay Thay đổi của M Butor, một số đoạn trong Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh…
Nói về vai trò của người trần thuật ngôi thứ hai, M Butor đã từng
khẳng định: “Nếu nhân vật hoàn toàn biết rõ chuyện của y, sẵn sàng đem kể
ra hoặc tự kể với mình thì sử dụng ngôi thứ nhất là thích hợp Nhưng khi người ta muốn miêu tả một sự tiến triển thật sự của ý thức, khi vấn đề là làm sao cho nhân vật nói ra được thì sử dụng ngôi thứ hai lại có hiệu quả hơn”
Trang 26Trong một cuộc phỏng vấn về vấn đề trần thuật ở ngôi thứ hai trong
tiểu thuyết Thay đổi, M Butor đã nói: “Nhất thiết là truyện phải được kể từ
điểm nhìn của một nhân vật Nhưng vì đây là việc băn khoăn chọn lựa phải theo bề nào, do đó không nên để nhân vật xưng “tôi” Tôi cần đến một độc thoại nội tâm dưới tầm ngôn từ của chính nhân vật, ở dạng trung gian giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Cái ngôi thứ hai ấy giúp tôi miêu tả được tình huống của nhân vật và cái cách ngôn từ nảy sinh ở anh ta”
Nếu ở các nhà văn khác, việc sử dụng người trần thuật thứ hai rải rác
trong tác phẩm thì trong Thay đổi của M Butor trừ một vài đoạn hiếm hoi,
ông đã sử dụng phổ biến từ đầu đến cuối hình thức người kể chuyện này
Như vậy, giống với người trần thuật ngôi thứ nhất và người trần thuật ngôi thứ ba, hình thức người trần thuật ngôi thứ hai cũng đem đến cho tác phẩm những ý nghĩa riêng Người trần thuật vẫn là hình tượng nghệ thuật có thể thay mặt tác giả thể hiện quan niệm, tư tưởng nghệ thuật về cuộc sống và con người
1.1.3.3 Người trần thuật ngôi thứ ba
Người trần thuật ngôi thứ ba là hình thức trần thuật ngự trị trong văn học cổ trung đại Hình thức kể này cho phép người kể có thể kể tất cả những
gì họ biết Cùng với hình thức người trần thuật ngôi thứ nhất, người trần thuật ngôi thứ ba cũng là hình thức kể chuyện quen thuộc và phổ biến được các nhà văn sử dụng khi viết các tác phẩm tự sự Đây là hình thức người trần thuật giấu mặt, đứng ở một vị trí nào đó trong không gian, thời gian bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra trọn vẹn và thuật lại với chúng ta Dù người trần thuật không xuất hiện, ta không biết tên tuổi, hình hài, tư cách ra sao nhưng ngầm hiểu trước sau vẫn một người ấy
Bàn về người trần thuật ngôi thứ ba, tác giả Nguyễn Thái Hòa nhận xét:
“Ở lối kể này, người kể đứng ở vị trí khách quan “giả vờ” không dính líu đến
Trang 27câu chuyện Nói cách khác, là giữ một khoảng cách giữa người kể và nhân vật, cốt truyện để rộng đường hư cấu và đảm bảo tính khách quan của hiện thực, làm người thư ký của thời đại” [13, tr.54] Trong văn học Việt Nam, đã
xuất hiện rất nhiều tác phẩm thành công và có giá trị sâu sắc khi sử dụng hình
thức người kể chuyện ngôi thứ ba Chúng ta có thể kể đến: Chí Phèo của Nam Cao, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, hay Tắt đèn của Ngô Tất Tố…
Người trần thuật ngôi thứ ba đứng bên ngoài tác phẩm, không tham gia vào câu chuyện nên tạo ra phạm vi hiện thực rộng lớn Câu chuyện được kể khách quan hơn, tạo ra sự tự do vô tận trong sáng tạo Đây là ưu điểm vượt trội của hình thức người trần thuật ngôi thứ ba mà hai hình thức trần thuật theo ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai không có được Chúng ta cũng không nên ngộ nhận: trần thuật theo hình thức nào, ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba thì câu chuyện sẽ hay hơn bởi mỗi hình thức đều có những tiềm thể và sức hấp dẫn riêng biệt
Như vậy, nếu phân chia các hình thức người trần thuật gắn với ngôi kể
sẽ có ba hình thức như trên Trong đó, hình thức người trần thuật ngôi thứ nhất và người trần thuật ngôi thứ ba là phổ biến hơn cả Với các dạng thức người trần thuật này, mỗi nhà văn khi sử dụng lại có những sáng tạo và đổi mới, đặc biệt là các nhà văn hiện đại, làm cho hình thức trần thuật trong tác phẩm tự sự trở nên phong phú và hấp dẫn, thu hút sự chú ý của độc giả
Ngoài các thuật ngữ quen thuộc về hình thức người trần thuật như: người trần thuật ngôi thứ nhất, người trần thuật ngôi thứ hai và người trần thuật ngôi thứ ba, người trần thuật còn có thể phân chia thành: người trần thuật “tham gia vào truyện” và người trần thuật “bàng quan” đứng ngoài hay chúng ta có thể gọi bằng thuật ngữ: người kể chuyện đồng sự và người kể chuyện dị sự M Jahn cho rằng: có thể lấy hai khái niệm này để thay thế thuật
Trang 28ngữ “ngôi thứ nhất” và “ngôi thứ ba” Dù vậy nhưng sự phân loại chỉ mang
tính chất tương đối, vẫn có những trường hợp đặc biệt xảy ra: “Người kể
chuyện dị sự có lúc nói về mình ở ngôi thứ nhất và trường hợp hiếm hoi hơn, lại là người kể chuyện đồng sự nói đến mình ở ngôi thứ ba” [24, tr.177]
Khi bàn về người trần thuật cần chú ý đến người trần thuật đáng tin và
không đáng tin Từ điển thuật ngữ văn học cũng giới thiệu một mục từ về
“người trần thuật đáng / không đáng tin cậy” Đây là một vấn đề không dễ
xác định bởi vì bản thân việc giải thích ý nghĩa đã là không ổn định, thậm chí cùng một người đọc mà ở vào các trường hợp khác nhau cũng đã lí giải khác nhau rồi
Theo các tác giả từ điển, người trần thuật đáng tin cậy là “người thống
nhất được hệ giá trị trong tác phẩm, dù có được cải biên như thế nào, sự đánh giá không hề thay đổi” [10, tr.224] Chúng ta sẽ gặp hình thức người
trần thuật này trong tác phẩm cổ điển như Thủy hử Khác với người trần thuật đáng tin cậy, người trần thuật không đáng tin cậy là người trần thuật “hoặc
không bày tỏ thái độ đánh giá sự kiện hoặc cố ý im lặng không nói rõ các mối quan hệ nhân quả khiến cho việc lí giải bị mơ hồ, hoặc cố tình bỏ sót một số chi tiết, hoặc kể những điều không liên quan tới sự việc chính hoặc sử dụng một giọng điệu không phù hợp, hoặc tỏ ra hoàn toàn không hiểu” [10, tr.224]
Hình thức người kể chuyện này xuất hiện trong các tác phẩm như Kẻ sát nhân của Hêminguê hay các tác phẩm Lâu đài, Vụ án… của F Kapka
Cũng đề cập đến người trần thuật đáng tin và không đáng tin, nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định: “Lời của người trần thuật (người kể
chuyện) nhiều khi không nhất trí với khuynh hướng yêu ghét của tác phẩm tạo thành người trần thuật không đáng tin cậy Ví như người trần thuật của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Còn ngược lại, nếu lời của người trần thuật nhất trí với nhân vật, với tác giả hàm ẩn trong tác phẩm
Trang 29thì người trần thuật là đáng tin cậy, ví như người trần thuật trong Truyện Kiều” [22, tr.181]
Trên đây là những dạng thức trần thuật trong tác phẩm tự sự thường được sử dụng và mang lại thành công cho các tác giả Qua đây, chúng tôi cũng nhận thấy người trần thuật là một vấn đề còn tồn tại nhiều quan niệm, các thuật ngữ cũng như sự phân loại người kể chuyện còn chưa có sự thống nhất Dù vậy, những công trình, bài viết về người trần thuật nói chung đều có những đóng góp nhất định, giúp mở rộng sự hiểu biết về người kể chuyện, từ đó giúp bạn đọc tiếp nhận các vấn đề liên quan một cách dễ dàng và đạt hiệu quả
1.1.4 Mối quan hệ giữa người trần thuật và tác giả
Người trần thuật và tác giả là hai thuật ngữ được xác định bởi những thành tố đặc thù riêng biệt song quy định lẫn nhau Người trần thuật là người
do tác giả sáng tạo ra để thực hiện hành vi kể, xây dựng kết cấu tác phẩm, bày
tỏ quan điểm, tư tưởng nghệ thuật của tác giả về cuộc sống cũng như con người Trong khi đó tác giả là chủ thể sáng tạo Do vậy, người trần thuật ít nhiều sẽ mang dấu ấn của tác giả
Trên thực tế vẫn còn tồn tại những quan niệm khác nhau về mối quan
hệ giữa người trần thuật và tác giả Nhiều nhà nghiên cứu đã đồng nhất người
kể chuyện với tác giả, còn một số nhà nghiên cứu lại tách biệt người kể
chuyện với tác giả W Kayser chỉ ra: “Trong nghệ thuật kể, người kể chuyện
không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng được biết đến, mà là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định” Đến R Barthes và Tz Todorov thì mối quan hệ mật thiết giữa người kể chuyện và tác giả được xem như đã bị cắt đứt: “Người kể chuyện và những nhân vật của anh ta bản chất là những
“thực thể trên mặt giấy”, tác giả (thực tế) của văn bản không có điểm gì chung với người kể chuyện” [23, tr.117] Việc đồng nhất hoặc tách biệt hoàn
toàn hai yếu tố này sẽ là không thỏa đáng, hạn chế khả năng hiểu sâu các vấn
Trang 30đề đặt ra trong quá trình giải mã tác phẩm Khảo sát thực tế ở các tác phẩm tự
sự, chúng tôi nhận thấy giữa người trần thuật và tác giả có nhiều điểm thống nhất nhưng không hoàn toàn đồng nhất
Tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần của tác giả, mang đầy đủ dấu
ấn phẩm chất cũng như giới hạn của kẻ đã sáng tạo ra nó Mỗi hình tượng được xây dựng trong tác phẩm đều thể hiện dụng ý của tác giả Người trần thuật là một hình tượng nghệ thuật có khả năng đảm nhiệm vai trò đó Mọi nội dung tư tưởng, ý đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra nhưng anh ta không trực tiếp đứng ra kể lại mà sáng tạo ra một người trần thuật để thay mình làm việc đó Khi sáng tác, nhà văn giống như người chép hộ lời lẽ của người trần
thuật do mình tạo ra M Butor từng nói: “Người kể chuyện trong tiểu thuyết
không phải là ngôi thứ nhất thuần túy Người đó chẳng bao giờ là chính bản thân tác giả”
Trong mối quan hệ này, tác giả có vai trò tối cao, tạo ra người trần
thuật và cấp cho nó quyền kiểm soát và chi phối “Ta đoán định âm sắc tác
giả qua đối tượng câu chuyện kể cũng như qua chính câu chuyện và hình tượng người kể chuyện bộc lộ trong quá trình kể” [24, tr.199] Quan điểm của
tác giả phần nào được thể hiện thông qua người trần thuật và thái độ của người trần thuật đối với thế giới câu chuyện được kể lại cũng có phần trùng với quan điểm của tác giả nhưng không bao giờ trùng khít hoàn toàn, bởi quan điểm của tác giả bao giờ cũng rộng hơn, không thể được thể hiện một cách toàn diện qua bất kỳ một chủ thể lời nói riêng biệt nào trong tác phẩm Nếu chúng ta chỉ dựa vào người trần thuật để đánh giá, phán xét tác giả thì sẽ
là cực đoan, phiến diện
Ngay cả trong các tác phẩm có tính tự truyện, sự thống nhất giữa người trần thuật và tác giả là rất lớn nhưng vẫn có những nét khác biệt Tự truyện là một thể loại văn học đặc biệt trong loại tự sự Tác giả viết về mình, lấy chính
Trang 31cuộc đời mình để sáng tạo nghệ thuật Qua cái tôi của người trần thuật trong tác phẩm, chúng ta thấy hiện lên khá rõ nét cái tôi của tác giả ở ngoài đời Nhưng rõ ràng, thế giới tồn tại của người trần thuật và tác giả là khác nhau: khác nhau về thời gian, không gian và cả cảm xúc, tư tưởng
Chẳng hạn, qua lời kể của nhân vật “tôi” trong bộ ba tự truyện: Thời
thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi, chúng ta phần nào thấy
được cuộc đời cơ cực, gian khổ và những nỗ lực không ngừng vươn tới đỉnh cao văn hóa của tác giả M Gorki Nhưng người trần thuật tức nhân vật xưng
“tôi” trong tác phẩm không hoàn toàn đồng nhất với M Gorki Trải qua thời gian, không ai dám đảm bảo mình nhớ chính xác đến từng chi tiết nhỏ mọi chuyện xảy ra trong cuộc đời Nếu có nhớ thì chỉ là những hành động, sự kiện còn tình cảm, cảm xúc thì rất khó lặp lại đúng với những cung bậc như lúc sự việc xảy ra
Người trần thuật chịu sự chi phối của tác giả, là sản phẩm do tác giả sáng tạo ra nhưng vẫn có cuộc sống tương đối độc lập trong cấu trúc tác phẩm và đôi khi vượt khỏi mong muốn và ý định của người cầm bút Nói như M Bakhtin:
“Người ta không thể bịa đặt ra hình tượng nghệ thuật dù nó như thế nào bởi vì bản thân nó có lôgic nghệ thuật, có quy luật riêng của nó” [21, tr.56]
Người trần thuật đặt trong mối quan hệ này, chính là người đại diện cho tác giả Nhưng ở mỗi tác phẩm thì sự đại diện lại thể hiện ở mức độ khác nhau Cùng với đó, hình tượng người trần thuật còn đóng vai trò trung gian giữa chủ thể sáng tạo và tác phẩm với thế giới được miêu tả V Vinogradov
từng nói: “Truyện, như một hình thức trần thuật của nghệ thuật văn chương
được thực hiện nhờ người trần thuật trung gian giữa tác giả và thực tại được miêu tả” [dẫn theo 23, tr.121]
Như vậy, giữa người trần thuật và tác giả có mối quan hệ gắn bó mật thiết nhưng vẫn có khoảng cách nhất định Chúng ta không nên đồng nhất
Trang 32cũng không nên tách biệt hoàn toàn người trần thuật và tác giả vì phần nào trong truyện cũng có bóng dáng của người kể và chút ít cuộc đời tác giả Hiểu được mối quan hệ này là điều kiện thuận lợi để chúng ta phân tích tác phẩm, phát hiện những giá trị nghệ thuật sâu sắc mà tác giả gửi gắm qua lời của người kể chuyện, từ đó khẳng định sự thành công của tác phẩm cũng như tài năng văn chương của tác giả
Khái quát về người trần thuật là cơ sở, yêu cầu để nghiên cứu các hiện tượng văn học, cụ thể nhất là nghiên cứu người trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân Những vấn đề lí thuyết về người trần thuật được trình bày trên đây giúp tác giả khóa luận đi sâu triển khai đề tài ở những chương sau Cho
dù không phải tất cả các lý thuyết này đều được ứng dụng vào việc tìm hiểu người trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân song các lí thuyết này vẫn có tác dụng quan trọng trong việc cung cấp cho tác giả luận văn cái nhìn khái quát
về người trần thuật và chỉ ra điểm độc đáo của người trần thuật một cách dễ dàng hơn
1.2 Hành trình văn học của Đặng Thân
Đặng Thân là nhà thơ song ngữ, nhà văn chuyên về tiểu thuyết hư
cấu, truyện ngắn và tiểu luận Được đánh giá là “điển hình của văn học hậu
đổi mới” [33] Đặng Thân là một con người đa tài và có bản lĩnh Hành trình
văn học của Đặng Thân in dấu ấn trên nhiều thể loại văn học, nổi bật nhất là thơ, tiểu luận, truyện ngắn và tiểu thuyết
Trang 33 [phô] phố: Đêm Đê , Đêm Sương Mù Trên Phố, Raped in Vietnam,
Sao Em Chỉ Uống Cà Phê Chiều , Tháp Bút, Quá Nguyên tiêu, 1 ngày nghỉ,
7 ngày ngân 7 nốt, Phố âm u ngày Đông, Một vì sao, Nước Mắt trên Sa Mạc, ngái em, Cơn Sóng Đầu Tiên Năm Mới Đến, Mưa '68', cô đơn em, Khóc cạn sông Hồng
Xem: A, B1 & B2, C1 & C2, D, G1 & G2, J, L1 & L2, M, N, P1 & P2,
S1 & S2, V trên Tiền Vệ
Thơ phụ âm (Alliteration): Phụ âm [ân đạo hệ / Khoa lão mẫu thân
từ], Xao xuyến & Sung sướng, 6i +Hi i - ii - iii - iv - v - vi
hài ku[l] - Xem: i, ii trên Da Màu
TAO'S POETRY - or the Poetic Pursuit of the Truest-self
Qua những tác phẩm thơ của Đặng Thân, ta thấy được một làn gió mới đang được thổi vào thi ca Việt Nam mang theo sự cách tân lớn và sự sáng tạo táo bạo Điều này là những biểu chuyển mình hội nhập với thế giới của thơ Việt Nam
1.2.2 Tiểu luận
Nói đến tiểu luận, phê bình của Đặng Thân ta không thể không nhắc
đến cuốn sách Dị-nghị-luận Đồng-chân-dung (NXB Hội Nhà Văn, 2013)
Cuốn sách bao gồm: Mộc Dục Luận (về cái sự tắm rửa), Kẻ Sỹ: Cội nguồn cảm hứng sáng tạo & Xuất xử, Mơ, [Ngồ] ngộ Ngôn Sư, Đọc Bình Ngô đại cáo [nhân ngày nhà giáo], Tú Xương chỉ có "xướng" và "tu"?, Vai diễn & Số phận, Bán[h], Về [đại] dịch [ma] thuật, "Tỉu Nuận", Thơ phụ âm (alliteration)
[& tôi], "Hình như" Từ Chi, Hình như có người "cởi áo" trên Cửa Cấm (về
Dư Thị Hoàn), Tiếng ngựa hoang (về Lê Anh Hoài), V[i]ết mật ngôn trên
d[r]a (về Nguyễn Viện), Và đã "phải lòng" (về Đặng Thiều Quang), Quite connects (về "Thơ đến từ đâu" của Nguyễn Đức Tùng), Mai Văn Phấn& công
Trang 34nghệ cách tân thơ, Trường-ca ca (về thơ Đỗ Quyên), Những mùa thu ám ảnh trong cõi lửng lơ (về thơ Dương Kiều Minh), Người buông lưới dệt ánh sáng từ hố thẳm(về thơ Nguyễn Quang Thiều), Cần thêm một dấu hỏi cho độc giả Việt? (về "Mùa mưa ở Singapore" của Linh Lê), Những góc nhìn luễnh
loãng Đông & Tây khi đọc Đỗ Minh Tuấn bên Nabokov & Trang Tử &
Muhammad & v.v (về "Thần thánh & Bươm bướm" của Đỗ Minh
Tuấn), Đoàn tầu 'Thống Nhất'(hay là 'quân tử dĩ hậu đức tải vật') (về Đỗ Lai Thúy), Nỗi đau[đáu] của trực giác (hay là tiếng gầm của sư tử) (về Hoàng Ngọc Hiến), Kỷ niệm đầu tiên và lưu niệm cuối cùng với dịch giả Chu Trung
Can, Nhớ Phạm Công Thiện|Quên Henry Miller, James Joyce: vầng hồng từ đồng cỏ Ireland, Bài học tiếng Việt mới || Phụ lục - Dị-chân-dung: A Lịch Sơn Đại Đế, Bờm, Bùi Giáng, Đặng Đình Hưng, Đặng Mậu Lân, Einstein, Gabriel Garciá Márquez, Gao Xingjian
Bên cạnh đó ta cũng phải kể đến những bài viết: Hình như "khói" (về
Châu Diên), Hình như là "cởi quần" (về Nguyễn Huy Thiệp), Những
chuồ/trường đại học (ĐH) d/ranh já/tiếng nhất thế jới vs ĐH "R", Tú Xương
& những con giòi [bò trong tủy], Gustav Mahler - lời tiên tri của chủ nghĩa hiện đại & chủ nghĩa hậu-hiện đại, Julius Caesar (Xê-da) [vs "Xê-ra"], "Nước
mắt trên sa mạc"(về "Không khóc ở Kuala Lumpur" của Linh Lê), Còn lũ nào
ác như phát xít? (về "Có được là người" của Primo Levi), Hành trình cỏ
cây xuyên tâm l[iên/inh] (đọc dọc Thơ tuyển Mai Văn Phấn)
1.2.3 Truyện ngắn, tiểu thuyết
Thành công với những tác phẩm đầu tay đã khẳng định tên tuổi Đặng Thân trên văn đàn Có thể thấy điều này qua một số tác phẩm: tập truyện
ngắn Ma net (2008) ra đời với 12 truyện ngắn lối viết “phi thực”, thể hiện
“không gian đa chiều” và được ví với “cách nhìn của đại bàng” [33] Đặc
biệt, cuốn tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], ngay lập tức làm chao
Trang 35đảo văn đàn, với cái mới và cái lạ nổi rõ, cái hay khi ẩn khi hiện Nó làm
“thay đổi cả thế giới tư duy lẫn nhận thức” [33], “nó khơi mở định nghĩa, xác lập cái bản chất của đời sống, bản chất của xã hội chúng ta đang sống” [33],
thậm chí còn được gọi là một “thoát giun luận” [33] cho dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa Có nhà phê bình khẳng định, với 3.3.3.9 [những mảnh hồn
trần] sẽ chỉ có những ý kiến “cực khen hoặc cực chê” [33] và cho rằng: “tiểu thuyết của Đặng Thân đáng có một số phận như vậy” [33] Đặng Thân được
coi là “đã tạo ra một thế giới nghệ thuật đi xa hơn những gì nhiều nhà văn
hàng đầu khác đã làm” [33]
Với những đóng góp của Đặng Thân giới phê bình đã đưa ra thuật ngữ
“Tiểu - thuyết - Đặng - Thân” nhằm khẳng định vai trò của anh trên văn đàn và phong cách mới trong tiểu thuyết Và giải thưởng của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội là phần thưởng xứng đáng cho sự nỗ lực của Đặng Thân
Nhận định “Đặng Thân là điển hình của văn chương Hậu- Đổi mới” cùng bài giới thiệu trên báo Văn nghệ số 53 (31/12/2011) mang tiêu đề: Cuộc
chạy tiếp sức lịch sử (Đặng Thân nhìn từ Nguyễn Huy Thiệp) với câu
nói:“Nói từ Nguyễn Huy Thiệp đến Đặng Thân là nói từ (chủ nghĩa) hiện đại
đến hậu hiện đại” của nhà lý luận - phê bình Đỗ Lai Thúy đã khẳng định tên
tuổi của tác giả trong nền văn học Việt Nam đương đại Hi vọng rằng rồi đây văn chương Việt Nam sẽ có nhiều khởi sắc với những đóng góp của những cây bút như Đặng Thân và “ngoài” Đặng Thân cho văn đàn
Trang 36CHƯƠNG 2
NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN CỦA NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI ĐẶNG THÂN
2.1 Ngôi kể của người trần thuật
2.1.1 Cuộc đua tranh giữa người trần thuật với cái tôi tự thuật
Từ sau 1986, văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng có những biến đổi trên nhiều phương diện, nhiều thể loại Đặng Thân đã mang đến trong văn xuôi một lối tư duy mới, một cách viết mới và đòi hỏi người đọc cũng phải tiếp nhận tác phẩm của anh với một tâm thế mới
Tập truyện ngắn Ma net và tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
của Đặng Thân đã mang đến một kiểu cấu trúc lạ, một cách viết mới trên tinh thần phản biện lối viết truyền thống Trước hết đó là những đổi mới trong việc lựa chọn người trần thuật
Người trần thuật và ngôi kể là hai yếu tố không thể tách rời Câu
chuyện bao giờ cũng được kể bởi người trần thuật Tập truyện ngắn Ma net là
tập hợp những lát cắt của cuộc sống Mỗi câu chuyện trong đây là một khía cạnh của đời sống, có đi học, vui chơi, đi làm, tán tỉnh, yêu đương, có sống chết và chiến tranh Tất cả đều được nhìn nhận một cách bình thường không
hề lãng mạn cũng chẳng hề được bi kịch hoá, đặc biệt ở mỗi câu chuyện trong truyện ngắn có những sự đặc sắc riêng trong lối trần thuật
Trong nửa đầu của tập truyện ngắn Ma net, ta bắt gặp một lối viết vẫn
còn mang hơi hướng của văn học hiện đại, cách kể chuyện của Đặng Thân vẫn còn mang âm hưởng, dấu ấn của truyền thống Những truyện ở nửa đầu
tập Ma net như: Vào rừng mơ, Thùng thuốc nổ, Đã 20 mùa thu “người Hà
Nội” Dù cách kể trong đây tuân theo trật tự tuyến tính mang tính truyền
thống nhưng những câu chuyện trong đây đã có dấu hiệu cách tân mới mẻ Ở
Trang 37đó ta bắt gặp phần nào một sự đua tranh giữa người trần thuật với những cái tôi tự thuật
Trong truyện ngắn Vào rừng mơ (Phần I Cú hých) không chỉ xuất hiện
một người trần thuật mà có sự gặp gỡ của ba cái tôi trần thuật ứng với ba nhân vật: hai chàng trai và một cô gái kể về câu chuyện tình yêu của mình và họ có mối liên hệ với nhau Ở đây cái tôi tự thuật đã được biến hóa theo cách xưng
hô của chủ thể đối với vấn đề được nói tới Đây là lời nhân vật cô gái xưng
“em”: “Anh ở đâu ra mà lạ vậy Em những tưởng những người như anh chỉ có
ở trong tiểu thuyết chứ cõi đời này thì làm gì có” [26, tr.9] Cái tôi tự thuật ấy
của cô gái có sự biến hoá từ “tôi” sang “em” rồi lại chuyển sang “mình”:
“Còn mình thì khác quá Cuộc đời êm ấm trong nhung lụa Lúc nào mình cũng sống trong niềm vui Nhà cửa đầy tiện nghi Bạn bè vui vầy cười cợt suốt ngày Giai theo cả đống” [26, tr.9-10] Cái tôi tự thuật thứ hai – chàng
thầy giáo – người mà cô gái ấn tượng ngay khi anh bước vào lớp với cái mặt chưa nếm tình đời Anh chàng cũng giới thiệu về bản thân với gia cảnh nghèo khó Sự giới thiệu cũng mang nét riêng khi cái tôi tự thuật được biến thể từ
“tôi” sang “ta”: “Cuộc đời sao mà vô lý vậy Thành phố có biết bao ngôi nhà
to lớn mà sao ta lại không nhà Kiếp trước ta ăn ở thế nào mà kiếp này cay cực vậy” [26, tr.12] Tiếp đó, ta lại bắt gặp thêm một cái tôi tự thuật nữa đó là
anh chàng tình đầu của cô gái Anh ta xuất hiện với sự nhận xét không hề dễ
nghe về cô gái anh đang theo đuổi: “Con dở hơi này trông xí xớn cong cớn
mà khó cưa thế không biết Mẹ mày nữa chứ, cành cao vừa vừa thôi Nhưng
mà trông em ngon quá em ơi Phải đi hỏi thêm mánh của các đại ca cao thủ mới được” [26, tr.13]
Trong truyện ngắn Vào rừng mơ, các nhân vật cũng đua nhau tự thuật về
câu chuyện tình yêu của chính mình Sự chạy đua này khiến người đọc phải căng mắt, phải chú ý đến từng chi tiết, phải bám sát câu chuyện mới có thể hiểu được đó là lời kể của nhân vật nào, cách nhìn, cách nghĩ của họ ra sao
Trang 38Trong truyện ngắn Thùng thuốc nổ, ta bắt gặp lời trần thuật của người dẫn chuyện dẫn dắt người đọc đến với biệt danh “thùng thuốc nổ”: “Trận cầu
đinh đang vào hồi quyết liệt Trận derby thủ đô nước Anh, Arsenal gặp Chelsea, nhưng lại trên đấu trường châu lục "Thùng thuốc nổ" - "Kho thuốc súng" của thành phố gặp "Làng nghệ sỹ" Luân Đôn” [26, tr.23] và đưa người
đọc lần lượt đi vào từng câu chuyện nhỏ: “Thùng thuốc nổ” thứ nhất, “Thùng
thuốc nổ” thứ hai, “Thùng thuốc nổ” thứ ba Bên cạnh người trần thuật ấy lại
xuất hiện một cái tôi tự thuật – thùng thuốc nổ: “Thùng thuốc nổ" là biệt hiệu
mà tất cả mọi người đã gặp đều dùng để gọi tôi như các bạn đã nghe Nó như chính là một học hàm cho thực lực con người tôi, như một logo cho tình yêu bóng đá của tôi Tên thật của tôi cũng đồng âm nhưng nghịch nghĩa với đội bóng mà tôi yêu hết mình - An Sơn, Trần Nữ An Sơn” [26, tr.29-30] Người
trần thuật và cái tôi tự thuật trong truyện ngắn đan xen nhau tạo nên tính đua tranh và làm cho người đọc khó nắm bắt vấn đề Muốn hiểu được người trần thuật và nhân vật tự thuật đang nói điều gì người đọc buộc phải quan sát và suy ngẫm
Truyện ngắn Đã 20 mùa thu “người Hà Nội” lại cho ta thấy sự xen cài
giữa người trần thuật với những cái “tôi” tự thuật Mở đầu truyện ngắn ta bắt gặp một người trần thuật đang giới thiệu cho người đọc về nhân vật có tên
Bình khi lần đầu tiên anh này được đặt chân đến thủ đô Hà Nội: “Một ngày
thu năm 1984 Bình vừa tròn 17 tuổi Bình đến với Hà Nội lần đầu tiên trong đời trai với cái Giấy gọi đại học trong tay” [26, tr.37] Ngay sau lời giới thiệu
ấy là lời tự thuật của chính nhân vật Bình: “Thế là tôi sắp trở thành sinh viên
ở một trường ngay giữa thủ đô vì Giấy gọi đại học đã đến nhà tôi trước Giấy gọi nhập ngũ hai ngày” [26, tr.37] Bình thuật lại câu chuyện cuộc đời mình
từ lúc nhận giấy gọi đại học, quãng đường đến với Hà Nội, giờ phút nhập học
và những ấn tượng về Hà Nội mà Bình được tận mắt chứng kiến Đan xen với
Trang 39lời tự thuật của Bình xuất hiện lời tự thuật của hai nhân vật khác là Vĩnh và Ngọc Yến Lời trần thuật của nhân vật Vĩnh xuất hiện khi anh bị “tuột xích”
và bị trả về địa phương vì kết quả học tập kém Đoạn tự thuật của Vĩnh là từ
biệt của anh đối với Hà Nội mà anh đã gắn bó trong suốt mấy năm qua: “Hãy
cố mà cười! Đời buồn lắm Chẳng lẽ thế là hết cả rồi sao Hà Nội ơi, dù sao ta vẫn yêu người bằng nguyên cả trái tim” [26, tr.48] Trong đoạn tự thuật của
Ngọc Yến – cô gái gốc Hà Thành học cùng khoa với Bình, cái tôi tự thuật đã
biến thể sang “ta”: “Ta phải kiểm tra trái tim hắn xem nó có "cái đó" không
Rồi nhà ngươi sẽ biết thế nào là Ngọc Yến” [26, tr.52] Người trần thuật cùng
những cái tôi tự thuật tiếp tục đan xen, chạy đua để nói lên những ý kiến của mình tạo nên những cái nhìn đa chiều về vấn đề đang được bàn đến
Truyện ngắn Người thầy của em đậm chất văn chương học trò cũng
xuất hiện sự đan xen của những cái tôi trần thuật Đó là sự đan xen lời tự thuật của nhân vật Cát Tường, bà nội Cát Tường, và Điệp – bạn của cô Cát Tường xuất hiện với cái tôi tự thuật biến thể xưng “em” Cô kể về tuổi thơ của mình, giới thiệu về bản thân và những hồi ức tuổi học trò:
“Bà em là một thi sĩ
Em lớn lên mà không biết mình xinh đẹp
Em ngốc nghếch quá phải không?
Thôi em kể chuyện tuổi thơ em nghe nhé
Thực ra thì tuổi thơ của em cũng chẳng có chuyện gì mà kể Em tên là Cát Tường Em đi học từ năm lên sáu Mà công nhận tuổi thơ thì thích thật, thảo nào ai cũng khao khát có một lần về lại những ngày xưa thân ái Những năm tiểu học em cứ thấy mình xấu xí thế nào ấy” [26, tr.67] Sự tự thuật của
nhân vật người bà cũng đã biến thể từ “tôi” chuyển sang “mình” và “ta”:
“Con bé thật quen mà thật lạ Hình như nó giống mình khi xưa Cuộc sống
này đầy biến động mà sao có những điều lại cứ còn lại mãi Ta đã sống đến
Trang 40ngần này tuổi mà sao lúc nào cũng thấy đời như mới” [26, tr.71] Trong lời tự
thuật của Điệp – cô bạn thân của Cát Tường, ngôi trần thuật biến thể sang
“mình”: “Hay là mình sắp chết? Thế là mình sắp từ giã cõi đời này thật
sao?” [26, tr.76] Trong truyện Người thầy của em, tần suất đua tranh đã bắt
đầu tăng lên với nhịp độ mạnh hơn những truyện trước Điều này cho ta thấy
sự vận động và phát triển của người trần thuật trong truyện ngắn Đặng Thân
Sang đến Phần II Ma net, tính chất đua tranh giữa người trần thuật với những cái tối tự thuật trở nên gay gắt hơn Truyện ngắn Đêm trắng của Nam
Việt Vương – một truyện ngắn có kết cấu truyện lồng truyện thể hiện rất rõ đặc
điểm này Người trần thuật ở đây xưng “tôi” dẫn dắt truyện và cũng trở thành
một cái tôi tự thuật của truyện: “Chuyến đi kỳ vĩ đã cho tôi cơ hội viết được
một cuốn nhật ký để đời, nhưng tôi nhất quyết chỉ cho nó được xuất bản sau khi tôi qua đời, vì không muốn chia sẻ những điều tuyệt vời nhất đời ấy với người khác một khi còn sống Dám mong không ai cho là quá vị kỷ” [26, tr.113]
Chạy đua với người trần thuật xưng tôi ở xã hội hiện đại là cái tôi tự thuật của
Nam Việt Vương – một nhân vật lịch sử trong quá khứ: “Ta sinh ra với một
khối mâu thuẫn lớn Làm gì cho đời hay làm gì cho mình? Sau này ta hiểu khối mâu thuẫn ấy thực ra rất thống nhất: ta muốn làm vua Mà ai muốn làm vua thì cứ về với đất phương Nam này Đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng hiệu là "vương"; Âu Lạc dân chưa biết ăn mặc, cũng xưng là
"vương" Ta nhớ đến nao lòng những ngày xưa Ôn văn Luyện võ Tứ thư, ngũ kinh Bách gia chư tử Thập bát ban võ nghệ Binh pháp họ Tôn Nhâm, cầm, độn, số Cha ta không tiếc cả núi vàng cho ta ăn học chỉ hòng mong ta được nên công nghiệp” [26, tr.121] Hai câu chuyện song hành nhau, chạy đua
nhau, sự đan xen giữa hai cốt truyện, giữa hai khoảng thời gian càng làm cho cuộc đua giữa người trần thuật và cái tôi tự thuật giằng co hơn, gay gắt hơn