Dạng sống của các loài trong hệ thực vật phường Đồng Xuân Bảng 4.5.. Mục tiêu nghiên cứu Nắm được đa dạng thực vật của phường Đồng Xuân về các mặt: Đa dạng các taxon, đa dạng dạng sống
Trang 3Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TSKH Trần Đình Lý – người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh
nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành được luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN, Phòng sau Đại Học, Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ủy ban nhân dân phường Đồng Xuân và toàn thể nhân dân trong vùng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp
đỡ tôi trong thời gian học Cao học
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Hường
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Hường
Trang 51 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đóng góp mới của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 4
1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam 5
1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật 6
1.3.1 Khái niệm về thảm thực vật 7
1.3.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 7
1.3.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 8
1.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống 9
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 9
1.4.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 12
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 14
2.1 Điều kiện tự nhiên 14
2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới hành chính 14
2.1.2 Địa hình 15
2.1.3 Thổ nhưỡng 15
3.1.4 Khí hậu 16
2.1.5 Thủy văn 17
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 17
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
Trang 63.3 Phương pháp nghiên cứu 19
3.3.1 Phương pháp tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn 19
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 20
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lí mẫu thực vật 20
3.3.4 Phương pháp kế thừa 22
3.3.5 Phương pháp điều tra trong nhân dân 22
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm thảm thực vật 23
4.1.1 Rừng tự nhiên thứ sinh 23
4.1.2 Thảm cây bụi 25
4.1.3 Thảm cỏ 26
4.1.4 Rừng trồng 26
4.1.5 Thảm cây trồng khác 27
4.2 Đa dạng về thành phần thực vật 27
4.2.1 Đa dạng ở mức độ ngành 28
4.2.2 Đa dạng ở mức độ họ 29
4.2.3 Đa dạng ở mức độ chi 31
4.3 Đa dạng về dạng sống 32
4.4 Đa dạng về giá trị sử dụng 34
4.5 Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển và cải tạo hệ thống thực vật tại phường Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc 35
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC
Trang 7Chữ viết tăt Chữ đầy đủ
UNESCO United Natitons Educational, Scientific and
Cultural Organization – Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc
N Cây cho nhựa, sợi, tinh dầu, sơn, thuốc nhuộm
Vl + S Cây cho nguyên vật liệu thủ công mỹ nghệ
Trang 8Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên thế giới
Bảng 4.1 Thành phần thực vật bậc cao ở hệ thực vật phường Đồng Xuân Bảng 4.2 Bảng thống kê các họ có nhiều loài xuất hiện ở hệ thực vật phường
Đồng Xuân
Bảng 4.3 Thống kê các chi đa dạng nhất trong hệ thực vật phường Đồng
Xuân
Bảng 4.4 Dạng sống của các loài trong hệ thực vật phường Đồng Xuân
Bảng 4.5 Phân loại thực vật theo giá trị sử dụng của hệ thực vật phường
Đồng Xuân
Trang 9Hình 4.1 Biểu đồ phân bố của taxon trong ngành của hệ thực vật phường
Đồng Xuân
Hình 4.2 Biểu đồ dạng sống cơ bản của hệ thực vật phường Đồng Xuân Hình 4.3 Biểu đồ phân loại thực vật theo giá trị sử dụng của hệ thực vật
phường Đồng Xuân
Trang 10Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới Nhưng do nhiều nguyên nhân, sự đa dạng sinh học của Việt Nam bị suy giảm nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây Đến nay, đã có hơn 360 loài thực vật và 350 loài động vật được đưa vào sách đỏ của Việt Nam và thế giới Trong đó có 139 loài động vật, 52 loài thực vật quí hiếm và nguy cấp được bảo vệ nghiêm ngặt theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, do
số lượng cá thể của chúng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng
Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập với quốc tế, quá trình
đô thị hóa diễn ra một cách nhanh chóng, một diện tích đất rừng không nhỏ đã được sử dụng để xây dựng các công trình nhà cửa, xí nghiệp, đường xá…… Bên cạnh đó nạn phá rừng làm rẫy, khai thác gỗ củi và các nguồn tài nguyên khác vẫn thường xuyên xảy ra, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, lâm tặc ngày càng lộng hành tàn phá thiên nhiên… Nếu không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời thì trong những năm tới, nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ bị cạn kiệt hoàn toàn
Phường Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc tập trung nhiều đơn vị,nhà máy, xí nghiệp Hiện tại môi trường, cảnh quan làng xóm đẹp,
Trang 11sạch sẽ mang nét đặc trưng cổ xưa kết hợp với sự phát triển công nghiệp, dịch
vụ Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vấn
đề môi trường và suy giảm đáng kể tính đa dạng sinh học
Ở Đồng Xuân hiện chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống và
đầy đủ về đa dạng thực vật ở vùng này
Để góp phần nhỏ vào chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học của vùng và
của đất nước, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đa dạng thực vật ở phường Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nắm được đa dạng thực vật của phường Đồng Xuân về các mặt: Đa dạng các taxon, đa dạng dạng sống, đa dạng môi trường sống, đa dạng về giá trị sử dụng, đa dạng về các kiểu thân thực vật
Đề xuất giải pháp bảo vệ đa dạng thực vật ở phường Đồng Xuân
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần các loài thực vật có mạch ở phường Đồng Xuân Nghiên cứu các dạng sống của từng loài
Nghiên cứu giá trị sử dụng của các loài
Nghiên cứu tính đa dạng của các quần xã thực vật khác nhau, thảm cây bụi, thảm cỏ
Đánh giá về tính đa dạng thực vật và bước đầu đề xuất một số biện pháp bảo vệ đa dạng thực vật ở phường Đồng Xuân
4 Đóng góp mới của đề tài
Lần đầu tiên đa dạng thực vật ở phường Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc được nghiên cứu tỷ mỷ và chi tiết
Ở đây đã có 348 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 4 ngành và 84 họ
Có 4 kiểu thảm thực vật chủ yếu là: Rừng tự nhiên thứ sinh, thảm cây bụi, thảm cỏ và rừng trồng
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Engler (1882) đưa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật thế giới
là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 155.000 – 160.000 loài, thực vật không có hoa 30.000 – 135.000 loài Riêng thực vật có hoa trên thế giới, Vanlop (1940) đưa ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300.000 loài Hai vùng giàu có nhất thế giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45.000 loài Hệ thực vật giàu loài liên quan không chỉ có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi mà còn phụ thuộc vào các nhân tố lịch sử Trung Âu có 3500 loài, 800 chi, 120 họ trong khi đó ở Trung Trung Hoa có 2900 loài 936 chi và
155 họ (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [30]
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999-2003)[16], hệ thực vật trên thế giới như sau: Pháp có khoảng 4.800 loài, Châu Âu 11.000 loài, Ấn Độ khoảng 12.000-14.000 loài, Canada có khoảng 4.500 loài kể cả loài du nhập, cả Bắc Mỹ có trên 14.000 loài, Malaysia và Indonesia có khoảng 25.000 loài
Lê Trần Chấn và cộng sự (1999) [7], đưa ra con số về số lượng loài thực vật ở các cùng như sau: vùng hàn đới (đất mới: 208 loài); vùng ôn đới (Litva: 1439 loài) Cận nhiệt đới (Palextin: 2334 loài); vùng nhiệt đới ẩm và nhiệt đới gió mùa (Philippin:8099 loài, Bắc Việt Nam: 5609 loài)
Vườn quốc gia Doi Suthep- Pui ở miền Bắc Thái Lan, với diện tích 261km2 có 2.220 loài Trong đó, rừng thường xanh có độ phong phú về loài cây có mạch cao nhất (930 loài) so với các loại rừng khác: Rừng rụng lá-tre nứa có 740 loài, rừng hỗn giao có 755 loài, rừng nửa rụng lá-Sồi, có 533 loài, rừng thường xanh-Thông có 540 loài.(Maxwell and Elliott,2001) [38]
Trang 13Vị trí của hệ thực vật Đông ương trong tổng thể của hệ thực vật toàn thế giới đã được Takhtajan (1978)[39] và nhiều tác giả đề cập tới
Theo ê Trần Chấn và cộng sự (1999)[7], trong phạm vi bắc bán cầu,
tỷ lệ 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật giảm dần từ vùng bắc cực đến vùng xích đạo (từ gần 75 đến khoảng 40 ) Trong khi đó số họ chiếm vị trí nổi bật trong 10 họ giàu loài nhất tăng dần từ vùng nhiệt đới (10 ) đến vùng ôn đới, nhất là hàn đới
Lecointre và Guyader (2001) (Dẫn theo giáo trình Đa dạng sinh học của Đại học Huế, 2007)[19] đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả % số loài đã
1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Để phục vụ công tác khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật, ộ âm nghiệp đã công bố 07 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971-1988)[4], đến năm 1996 công trình này đã được Vũ Văn ũng dịch sang tiếng nh Trần Đình ý (1995) đã công bố 1900 cây có ích ở Việt Nam [25]; V Văn Chi (1996) đã công bố Từ điển cây thuốc Việt Nam [8] với 3105 loài cây sử dụng làm thuốc
Trang 14Trong cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ( agnoliophyta, ngiospermae) ở Việt Nam , Nguyễn Tiến ân (1997)[2] đã giới thiệu 265 họ, khoảng 2300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta Trong cuốn sách, vị trí và khối lượng các họ được thừa nhận theo hệ thống Takhtajan –
1973, một hệ thống tương đối được biết nhiều ở Việt Nam
Theo hướng kiểm kê thành phần loài và mô tả đặc điểm các loài có công trình: “Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003)[16] Trong
đó, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được số loài thực vật hiện có ở Việt Nam tới 11.611 loài, gần đạt 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học
Trong tài liệu về Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, Trần Hợp (2000)[20],
đã mô tả đặc điểm nhận biết, phân bố và giá trị sử dụng của 1566 loài cây gỗ phổ biến từ ắc vào Nam Trong đó các loài được xắp xếp theo hệ thống tiến hóa của rmen Takhtajan về các ngành uyết thực vật, ngành thực vật Hạt trần (1986), ngành thực vật Hạt kín (1987)
ộ sách đầy đủ góp phần cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam, nhiều tên khoa học mới được cập nhật và chỉnh lý, đó là anh lục các loài thực vật ở Việt Nam tập I (2001)[33], tập II (2003)[3], tập III (2005)[3], trong tài liệu này, các tác giả thống kê được 368 loài vi khuẩn lam, 2.200 loài Nấm, 2.176 loài Tảo, 481 loài êu, 1 loài uyết lá thông, 53 loài Thông đất, 2 loài Cỏ tháp bút, 691 loài dương xỉ, 69 loài thực vật Hạt trần và 13.000 loài thực vật Hạt kín, đưa tổng số loài thực vật ở Việt Nam lên đến gần 20.000 loài
Trên cơ cở tổng kết các tài liệu đã công bố, Nguyễn Nghĩa Thìn (2008)[30] đã thống kê số taxon của hệ thực vật bậc cao của Việt Nam có 11.080 loài thuộc 2.428 chi và 395 họ
Theo Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học, 2011 [5] Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao về các loài động thực vật
Trang 15Trong đó, tính đến năm 2011 đã ghi nhận được 13.766 loài thực vật (2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch)
Theo Nguyễn Khắc Khôi và cộng sự (2011)[21], trong tổng số khoảng
25 ngành, 560 họ, 3400 chi với 18.000 loài thực vật có ở hệ thực vật Việt Nam đã có 7 ngành (28 ), 111 họ (19,65 ), 175 chi (4,8 ), với 448 loài (2,5 ) được đánh giá có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ở Việt Nam Trong đó nhóm thực vật bậc cao có mạch gồm 4 ngành (67,15 ),
99 họ (82,2 ), 160 chi (91,43 ) với 429 loài (95,75 ) Về dạng sống chủ yếu là cây gỗ với 126 loài chiếm 28,13
1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật
1.3.1 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetatinon) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo J.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [34] cho rằng thảm thực vật là quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình ý (1998) [26] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ r đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
1.3.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Sự khác nhau về điều kiện khí hậu và đất đai tạo ra các kiểu rừng có thành phần, cấu trúc và giá trị kinh tế rất khác nhau Các nhân tố quan trọng nhất trong việc phân hóa các kiểu thảm thực vật rừng nhiệt đới là lượng mưa, nhiệt độ gắn liền với đai độ cao
Trang 16Thảm thực vật rừng hay lớp phủ cây cỏ trên mặt trái đất, gồm các quần thể thực vật thân gỗ, không những cung cấp lâm sản phục vụ cho đời sống của con người, mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế tác hại của thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão lốc,… (Thái Văn Trừng 1978,1999) [34][35] Phân loại thảm thực vật là một nội dung quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Thảm thực vật được hình thành, tồn tại, phát triển trên nhiều điều kiện khác nhau Vì vậy, sắp xếp và phân loại chúng là vấn đề rất khó và đã có nhiều hệ thống phân loại khác nhau
UNESCO (1973) [40] đưa ra khung phân loại chung cho thảm thực vật thế giới mà có thể thể hiện trên bản đồ 1:1.000.000 và nhỏ hơn Khung phân loại này không dựa h n vào một nguyên tắc hay hệ thống đac có mà nó kết hợp các nguyên tắc lại ở những mức độ khác nhau Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc, ngoại mạo ậc phân loại cao nhất của hệ thống này là lớp quần hệ, bậc thấp nhất ở dưới phân quần hệ (dưới quần hệ phụ)
1.3.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Ở miền ắc có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả người nước ngoài như: Chevalier với việc đưa ra bảng xếp loại thảm thực vật rừng ắc ộ thành 10 kiểu aurand P (1943)[41] đã chia Đông ương thành 3 vùng và 8 kiểu quần thể thực vật ương Hàm Hy (1956) đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng miền ắc Việt Nam Ở miền Nam, Maurand P (1953)[42] đã tổng kết những công trình nghiên cứu ollet , ý Văn Hội và Neang sam il đưa ra một bảng xếp loại các quần thể thực vật Nghiêm uân Tiếp cũng đưa ra một bảng phân loại những kiểu rừng ở Việt Nam dựa trên cơ sỏ tổng hợp bảng phân loại của aurand P và ương Hàm
Hy (Hoàng Chung, 2005)[10]
Trần Ngũ Phương (1970) [27] xây dựng bảng phân loại rừng miền ắc Việt Nam gồm các đai rừng và kiểu rừng Nhưng do không đứng trên quan
Trang 17điểm sinh thái phát sinh nên bảng phân loại này cũng chỉ là một bảng kể tên các kiểu quần hệ và xã hợp, ưu hợp thực vật đã điều tra được mà không làm nổi bật được quan hệ nhân quả giữa thảm thực vật và các điều kiện của môi trường ặt khác do không nghiên cứu vùng phân bố, lịch sử và thành phần của hệ thực vật Việt Nam, nên không lý giải được vì sao ở vùng này lại có kiểu phụ này, ở vùng khác, độ cao khác lại có loại hình khác, kiểu phụ khác
Thái Văn Trừng (1978,1999) [34,35] đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Tư tưởng học thuật của quan điểm này là trong một môi trường sinh thái cụ thể chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định Trong môi trường sinh thái đó có 5 nhân tố sinh thái phát sinh ảnh hưởng quyết định đến
tổ thành loài cây rừng, hình thái, cấu trúc và hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tương ứng Trên cơ sở đó Thái Văn Trừng đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật có trên đất lâm nghiệp
1.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài cây có tanin thuộc họ Trinh
nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tanin [24]
Hoàng Chung (1980) [9] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông ương [1]
Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác ( dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn [17]
Lê Mộng Chân (1994) điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn
Trang 18Quốc Gia a Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thựcvật bậc cao có mạch trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên [6]
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có hầu hết ở các tỉnh nước ta [23]
Trần Đình Đại (2001) căn cứ vào kêt quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây Bắc Bộ ( ai Châu, ào Cai, Sơn a) gồm 226 họ, 1050 chi và 3074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch [15]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [12]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn Quốc Gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: ương xỉ , Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu
về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong
tổng số 425 loài của họ thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng [29]
Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ [13]
Thái Văn Trừng (1999) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây
bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ cà phê – Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào – Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem – Myrsinaceae) [35]
Trang 19Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hóa để tái ổn định [14]
ê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn a đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoài hóa đất ảnh hưởng đến mật độ,
số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi 10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài [28]
Đặng Kim Vui (2002) [37] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1-2 tuổi thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ, trong đó họ Hòa thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến là họ Thầu dẩu ……; giai đoạn 3-5 tuổi có
65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5- 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 11 – 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ
Nguyễn Thế Hưng (2003) đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch [18]
Phạm Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh
tự nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa hình, thoái hóa đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11- 25 loài, trên đất xấu 8-12 loài [32]
Trang 20Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn a
đã thu được 452 loài thuộc 326 chi,153 họ [22]
1.4.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [9]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [11]
Đặng KimVui (2002) [37] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào các hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây có chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có
43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% [18]
Trang 21Về thành phần dạng sống: khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tùy từng tác giả
Trang 22Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIấN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
VÙNG NGHIấN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiờn
Phường Đồng Xuõn nằm trong vựng khớ hậu đụng bắc bộ đặc trưng của khớ hậu nhiệt đới giú mựa, được chia ra hai mựa rừ rệt là mựa Đụng và mựa
Hố, ngoài ra cũn cú hai mựa chuyển tiếp là mựa Xuõn và mựa Thu với thời gian khụng dài
Phường Đồng Xuõn nằm trong vựng khớ hậu nhiệt đới giú mựa, thuận lợi cho việc bố trớ cơ cấu cõy trồng bờn cạnh đú kộo theo mầm mống sõu bệnh, và do đặc điểm riờng biệt của phường là vào mựa mưa, nước mưa từ nhiều nơi chảy về gõy lờn ngập ỳng gõy khú khăn cho sản xuất nụng nghiệp của người dõn
Trờn địa bàn phường Đồng Xuõn bao gồm hệ thống sụng ngũi, kờnh mương rất thuận lợi cho phỏt triển nụng nghiệp như: sụng Cà Lồ, sụng Đại Lạn bắt nguồn từ hồ Đại Lải và một số kờnh mương nhỏ từ đú cú thể chủ động tưới tiờu, chủ động bố trớ cõy trồng một cỏch phự hợp Ngoài ra phường
cú cỏc ao hồ lớn nhỏ khỏc nằm rải rỏc làm tăng tớnh đa dạng của mụi trường sinh thỏi và là nơi dự trữ nguồn nước cho sản xuất nụng nghiệp và nuụi trồng thủy sản
2.1.1 Vị trớ địa lý, ranh giới hành chớnh
Theo Nghị định 39/2008/NĐ-CP ngày 04/4/2008 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chớnh phường uõn Hũa và chia tỏch phường uõn Hũa thành 02 phường (Đồng uõn, uõn Hũa ) Tổng diện tớch đất tự nhiờn của ph-ờng Đồng Xuõn là 339,76 ha, tiếp giáp nh- sau:
- Phớa Đụng giỏp với xó Minh Trớ – huyện Súc Sơn – Thành Phố Hà Nội
- Phớa Tõy giỏp với phường Xuõn Hũa
Trang 23- Phớa Bắc giỏp với xó Ngọc Thanh
- Phớa Nam giỏp với xó Tõn Dõn – Huyện Súc Sơn – Thành Phố Hà Nội Phường Đồng Xuõn tuy khụng phải là trung tõm Chớnh trị - Văn húa –
Xó hội của thị xó Phỳc Yờn, nhưng đúng vai trũ quan trọng trong chiến lược phỏt triển kinh tế của thị xó
Đ-ợc sự lónh đạo, chỉ đạo sát sao của thị uỷ- HĐND- UBND thị xã, sự quan tâm giúp đỡ của các ban ngành đoàn thể của thị xã, cỏc đơn vị, xớ nghiệp, trường học đúng trờn địa bàn phường Chính vì vậy mà tỡnh hỡnh kinh
tế xó hội phường Đồng uõn tương đối ổn định và phỏt triển, cụng tỏc an ninh chớnh trị, trật tự xó hội được giữ vững và phỏt huy tốt
2.1.2 Địa hỡnh
Phường Đồng Xuõn thuộc vựng đất đồi nỳi bỏn sơn địa, vỡ vậy mang đặc trưng chung của vựng, đất đồi nỳi chủ yếu ở vựng này là đất đỏ ong trờn
bề mặt, tầng đất dưới là lớp đỏ xanh Những vựng đõt thấp chủ yếu ven sụng,
ao hồ cú địa hỡnh bằng ph ng hơn, thành phần cơ giới nhẹ cú lẫn nhiều sỏi và
đỏ răm
Phường Đồng uõn cú địa hỡnh tương đối phức tạp do hệ thống nỳi đồi xen lẫn cựng với sụng rạch ao chuụm nằm rải rỏc, khu vực phớa Đụng ắc và Tõy Nam thấp hơn khu trung tõm
Thổ nhưỡng: đất đai tương đối màu mỡ phỡ nhiờu, hàm lượng cỏt pha trong đất ở mức trung bỡnh, thuận lợi cho sản xuất hàng húa và rau màu Ngoài ra cũn một số ao, hồ, nhỏ cũng là nơi dự trữ và tiờu nước cho sản xuất khi cần thiết
Trang 24Diện tích đất nông nghiệp khoảng 163,82 ha chiếm 48,22% tổng diện tích đất tự nhiên, so với các xã, phường của thị xã thì diện tích đất nông nghiệp còn tương đối nhiều, trong đó đất trồng cây hàng năm với chủ yếu là đất trồng lúa (65,62 ha) Mặt khác phường đã chú trọng đầu tư trong sản xuất nông nghiệp nên hiệu quả sử dụng đất khá cao
Tổng diện tích đất phi nông nghiệp là 166,31 ha chiếm 48,95% tổng diện tích đất tự nhiên, phân ra từng loại đất cụ thể sau:
+Nhiệt độ: Trung bình trong nhiều năm 230C, cao nhất 41,60C , thấp nhất là 3,10 C
Trang 25- ùa Đông: Gió mùa đông bắc thịnh hành thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau
+Số giờ nắng trong năm là 1645 giờ Cao điểm nhất là vào tháng 7 với
số giờ nắng là 195 giờ
Phường Đồng Xuân nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho việc bố trí cơ cấu cây trồng bên cạnh đó kéo theo mầm mống sâu bệnh, và do đặc điểm riêng biệt của phường là vào mùa mưa, nước mưa từ nhiều nơi chảy về gây nên ngập úng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp của người dân
2.1.5 Thủy văn
Trên địa bàn phường Đồng Xuân bao gồm hệ thống sông ngòi, kênh mương rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp như: sông Cà ồ, sông Đại Lạn bắt nguồn từ hồ Đại Lải và một số kênh mương nhỏ từ đó có thể chủ động tưới tiêu, chủ động bố trí cây trồng một cách phù hợp Ngoài ra phường còn
có các ao hồ lớn nhỏ khác nằm rải rác làm tăng tính đa dạng của môi trường sinh thái và là nơi dự trữ nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản
Nước sinh hoạt trong các khu dân cư của phường chủ yếu vẫn lấy từ giếng khơi, giếng khoan và một phần là nước máy – nguồn nước này dồi dào và có chất lượng tương đối tốt, thuận lợi cho đời sống và sức khỏe nhân dân trong phường
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Phường Đồng Xuân có 10 tổ dân phố (03 tổ dân phố nông nghiệp và 07
tổ dân phố phi nông nghiệp) và các cơ quan, đơn vị, trường học nằm trên địa bàn với các thành phần kinh tế khác nhau
Về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng cả năm là 77,5 ha, trong đó diện tích trồng cây lương thực đạt 63,5 ha với tổng sản lượng đạt 263,79 tấn ; diện
Trang 26tích gieo trồng cây hàng hóa đạt 14 ha, tổng giá trị cây hàng hóa đạt 712.690.000đ
Ngành chăn nuôi: U N phường đã chủ động tổ chức phòng chống dịch bệnh ngăn chặn kịp thời không để dịch bệnh xảy ra gây thiệt hại cho đàn chăn nuôi.Nhất là trong những trận mưa lớn kéo dài cuối tháng 10, đầu tháng
11 Hiện nay đàn gia súc gia cầm của phường phát triển tăng lên cả về số lượng và chất lượng Tính trên địa bàn phường hiện có 8.375 con gia súc, gia cầm (trong đó có 270 con trâu bò, 2.605 con lợn và 5.500 con gia cầm), diện tích nuôi trồng thủy sản hiện còn 5,8 ha Tổng giá trị sản xuất chăn nuôi đạt 6.686.000.000đ
ao động trong phường chủ yếu là lao dộng phi nông nghiệp điều này
đã gây áp lực rất lớn đối với đất đai ân số tăng cùng với sự phát triển của đô thị dẫn đến nhu cầu về sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích đất ở tăng, đất chuyên dùng tăng lên theo, theo dự tính những năm tới diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm mạnh
Đội ngũ cán bộ của phường đã đi sâu và bám sát tới quần chúng nhân dân và đã định hướng được đường lối phát triển của phường và xác định cơ cấu kinh tế thương nghiệp và dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp là thành phần kinh tế chủ yếu
Trang 27Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các loài thực vật có mạch và các kiểu thảm thực vật hiện có tại phường Đồng Xuân – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
3.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài của tôi được nghiên cứu tại phường Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nội dung mà đề tài đã đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
3.3.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC)
Chúng tôi sử dụng phương pháp của Hoàng Chung (2008) [11] như sau:
- Tuyến điều tra: trước hết là xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào bản đồ của khu vực lập các TĐT TĐT đầu tiên hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Chiều rộng quan sát của TĐT là 4m Khoảng cách giữa các tuyến là 50 – 100m tùy vào địa hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí TC và (2x2m) để thu thập số liệu OTC
- Lập tuyến điều tra theo các con đường lớn nhỏ trong các làng bản của vùng nghiên cứu và tiến hành thu mẫu vật
- Đối với ao, hồ: Thu mẫu tất cả các loài ở ven hồ và ở mặt hồ
- Ô tiêu chuẩn: để thu thập số liệu thảm thực vật, chúng tôi áp dụng OTC là 400m2 (20m x 20m) cho các trạng thái rừng và cây bụi Ô dạng bản
Trang 28( ) được bố trí trên các đường chéo, đường vuông góc và các cạnh của OTC
Tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích OTC Với thảm
cỏ dùng diện tích 2x2m Ngoài ra dọc hai bên tuyến điều tra cũng đặt thêm các ODB phụ để thu thập số liệu bổ sung Trong các OTC, chúng tôi tiến hành xác định tên khoa học (các loài chưa biết tên thì thu thập mẫu về định loại), dạng sống và đo chiều cao của cây để xác định cấu trúc phân tầng của các trạng thái thảm thực vật
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Trên TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếu tất cả các thông tin về các loài đã gặp như: tên Latinh (hoặc tên địa phương), màu sắc của hoa, đặc điểm nơi sống, dạng sống (thân gỗ, thân bụi, thân thảo, thân leo) Những loài chưa biết tên lấy mẫu về để định loại
- Trong OTC, tiến hành thu thập mẫu trong các ô nhỏ (ODB), cách thu mẫu cũng giống như tuyến điều tra
- Thu thập số liệu về giá trị sử dụng của cây được thu mẫu
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lí mẫu thực vật
- ác định tên khoa học, tên địa phương của các loài cây theo các tài liệu của Nguyễn Tiến Bân (1997) [2], Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) [16], chỉnh lý tên khoa học theo Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam [36]
- ác định thành phần dạng sống theo, tiêu chuẩn Raunkiaer (1934) [11] Theo cách phân loại này, dạng sống gồm các kiểu chính sau:
1 Chồi trên mặt đất (Phanerophytes), chồi tạo thành ở những cây cây này phải nằm trên độ cao nào đó (từ 25cm trở lên), thuộc vào nhóm này gồm các cây gỗ, cây bụi
Trang 292 Chồi mặt đất (Chamaetophytes), chồi hình thành ở độ cao không lớn
so với mặt đất (dưới 25cm) Thuộc nhóm này có các cây bụi nhỏ, cây nửa bụi, những cây dạng gối, rêu sống trên mặt đất
3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), chồi được tạo thành nằm sát mặt đất, thuộc nhóm này gồm nhiều cây thảo sống lâu năm
4 Cây chồi ẩn (Crytophytes), chồi được hình thành nằm dưới đất, thuộc nhóm thực vật địa sinh (cây thân hành, thân củ, thân rễ) hoặc cây mọc
từ đáy ao hồ
5 Cây một năm (Therophytes), trong mùa bất lợi nó tồn tại ở dạng hạt, thuộc nhóm cây một năm
Mẫu thu được xử lý theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [31]
- Nguyên tắc thu mẫu:
+ Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận nhất là cành, lá cùng với hoa quả + Mỗi cây thu từ 3-5 mẫu để vừa nghiên cứu các biến dạng của các loài
và để trao đổi
+ Các mẫu thu được trên cùng 1 cây thì đánh cùng một số hiệu Đề tài
sử dụng cách đánh số theo năm tháng, không phụ thuộc vào các đợt thu mẫu trước đó
+ Khi thu ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên nhất là các đặc điểm dễ mất khi khô ví dụ như mầu sắc của hoa, quả,
+ Thu và ghi chép xong cho vào túi polyetylen to mang về nhà mới làm mẫu
- Xử lý và bảo quản mẫu: Hàng ngày các mẫu thu được cần đeo nhãn ngay Trên mỗi nhãn cần ghi chép:
+ Số hiệu mẫu của tác giả
+ Địa điểm và nơi lấy mẫu
+ Ngày lấy mẫu
Trang 30+ Đặc điểm quan trọng: dạng cây, độ cao, đường kính, màu lá, hoa hay quả,
+ Người lấy mẫu
Sau mỗi ngày thu thập, các mẫu mang về được xử lý ngay Đề tài áp dụng phương pháp xử lý mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008 [31], xử lý mẫu khô:
Sau khi đã đeo nhãn, mỗi mẫu đặt gọn gàng trong 1 tờ báo cỡ lớn gập 4 với kích thước 30x40 cm, vuốt ngay ngắn nhưng trên mẫu phải có lá sấp, lá ngửa để quan sát dễ dàng cả 2 mặt Sau đó xếp nhiều mẫu thành chồng cứ 5-7 mẫu để 1 tấm nhôm lượn sóng để thông thoáng và giữ nhiệt giúp cho mẫu chóng khô và không phải thay giấy báo hàng ngày và sau đó dùng đôi cặp ô vuông để ốp ngoài ép chặt mẫu và bó lại, giữa các mẫu chèn càng nhiều báo càng tốt Bó mẫu đem phơi nắng hoặc sấy trên bếp than hay tủ sấy
3.3.4 Phương pháp kế thừa
Kế thừa các công trình nghiên cứu khoa học đi trước, và các tài liệu sách
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài trên nguyên tắc có chọn lọc
3.3.5 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trực tiếp phỏng vấn người dân, hoặc chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (Chi cục kiểm lâm, Uỷ ban nhân dân xã ….) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật đến hệ thực vật theo các tiêu chí trong phiếu điều tra
Trang 31Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Sau một thời gian nghiên cứu tại Phường Đồng Xuân – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc nơi trước kia được che phủ bởi hệ sinh thái rừng nhiệt đới thường xanh Tuy nhiên, do lịch sử lâu đời, qua sự khai thác sử dụng của nhiều thế hệ, với nhiều phương thức khác nhau nên hệ sinh thái này đã bị phá hủy hoàn toàn, thay thế vào đó là các kiểu thảm thực vật khác nhau , với thời gian và phương thức sử dụng cũng khác nhau Kết quả điều tra cho thấy trong vùng nghiên cứu có các kiểu thảm thực vật sau:
4.1 Đặc điểm thảm thực vật
Căn cứ theo tính chất khí hậu và thổ nhưỡng thì ở phường Đồng Xuân nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung trước đây đã tồn tại kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới Đó là kiểu rừng nguyên sinh phổ biến ở Bắc Việt Nam cách đây 60 – 70 năm
Tuy nhiên, do tác động tiêu cực mạnh mẽ và thường xuyên của con người như khai thác gỗ quá mức, chặt và đốt rừng trồng cây lương thực, nên rừng ở đây đã kiệt quệ, suy thoái nặng nề Hiện nay ở Phường Đồng Xuân không còn rừng nguyên sinh – loại rừng phong phú, đa dạng, gồm nhiều loại
gỗ quý như ngày xưa, mà chỉ còn lại một số ít khoảnh rừng tự nhiên thứ sinh, các trảng cây bụi, các thảm cỏ, một số rừng trồng và một số thảm thực vật thủy sinh trong các ao hồ Độ che phủ của rừng dưới 30 , không đảm bảo về mặt sinh thái, năng suất rừng rất thấp, chất lượng rừng kém, tính đa dạng sinh học thấp
4.1.1 Rừng tự nhiên thứ sinh
Đây là loại rừng tự nhiên được phục hồi sau khi khai thác kiệt và chặt đốt rừng trồng cây nông nghiệp rồi bỏ hóa Loại rừng này hiện nay còn rất ít,
Trang 32gồm những khoảnh nhỏ và được phân bố rải rác ở một số đồi trong phường do người dân bảo vệ
Thành phần và cấu trúc khá đơn giản, nghèo nàn Rừng thường có 3 tầng:
- Tầng cây gỗ (tầng ưu thế sinh thái) có chiều cao trung bình từ 10 –
15 mét, ít khi cao đến 20 mét.Ở đây không có loài ưu thế mà là tập hợp của một số loài thuộc các họ khác nhau như : Trám trắng (Canarium album) thuộc
họ Trám (Burseraceae), Núc nác (Oroxylum indium) thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae), Bứa (Garania oblongifolia) thuộc họ ăng cụt (Clusiaceas), Vải (Lichi chinensis) thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae), Sấu (Dracontomelon duperreanum) thuộc họ Xoài (Anacardiaceae)…
- Tầng cây bụi gồm các loài thân gỗ có độ cao từ 1 – 4 mét, đôi khi là
5 mét, tầng này gồm các loài chủ yếu sau: Ba chạc (Euodia lepta) thuộc họ Cam (Rutaceae), Mua bà (Melastoma sanguineum) thuộc họ Mua (Melastomataceae) ,Ba bét (Mallotusbarbatus), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa),
Me rừng (Phyllanthus emblia) thuộc họ Thẩu dầu (Euphorbiaceae), Ngái (Ficus hispida), Vú bò (Ficus heterophylla), Duối (Streblus asper) thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), Ngọc nữ (Clerodendrum colebrookianum) thuộc họ Cỏ roi ngựa ( Verbenaceae), Mẫu đơn (Ixora coccinea)
- Ở tầng này còn có dây leo, dây bụi trườn như ơ bông (Psy chotriarubra) thuộc họ cà phê (Rubiaceae) Nhài dây (Jusmimum funale) thuộc họ Nhài (Oleaceae )
- Tầng cỏ quyết (tầng thảm tươi) gồm những loài thân thảo dạng lúa
và không dạng lúa như Cỏ lá gừng (Axonopus compressus) thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), Sẹ (Alpinia globosa), Riềng (Alpinia galanga) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)
- Lá lốt (Piper lolot), Càng cua (Peperomia pellucida) thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae), Cúc tần (Pluchea indica), Cỏ chỉ thiên (Elephantopus scaber),
Trang 33Cỏ lào (Chromolaena odorata), Rau tàu bay (Crassocepphanlum crepidioides),
Cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides) thuộc họ Cúc (Astereraceae) Ở tầng này còn gặp một số loài thuộc nhóm ương xỉ như uyển bá (Selaginella tamariscina), Cỏ quản bút (Equisetum ramosissimum)
- Điều đáng lưu ý là kiểu rừng tự nhiên tái sinh này đang trong quá trình phục hồi tiến dần đến kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, là một kiểu đặc trưng của thảm thực vật Bắc Việt Nam, do đó trong thành phần thảm thực vật gồm cả cây ưa sáng lẫn cây ưa bóng, ưa ẩm trong tất cả các tầng Với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở thị xã Phúc Yên thì kiểu rừng này cũng khó được tồn tại nếu không có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt
Ở đây cần có giải pháp quy hoạch phát triển đô thị hợp lý, đảm bảo sự phát triển bền vững
4.1.2 Thảm cây bụi
Cũng như rừng tự nhiên thứ sinh, thảm cây bụi ở đây được hình thành
do rừng bị khai thác kiệt quệ và lặp đi lặp lại nhiều lần và do đốt rừng trồng cây lương thực trong thời gian dài rồi bỏ hóa, mất nguồn gieo giống của cây
gỗ nên không có khả năng phục hồi rừng Do yêu cầu về đất đai cần sử dụng trong quá trình đô thị hóa nên các thảm cây bụi cũng giảm đi nhanh chóng Hiện nay chỉ còn lại một số khoảnh nhỏ rải rác ở vùng rìa của phường Đồng Xuân Thành phần, cấu trúc của thảm cây bụi cũng đơn giản Nó chỉ gồm 2 tầng: tầng cây bụi cao 1- 5 mét và tầng cỏ sát đất
- Các cây bụi ở đây bao gồm những loài thuộc các họ khác nhau, chủ yếu là cây ưa sáng, chịu hạn như Thàu táu (Aporosa dioica), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Me rừng (Phyllanthus emblica) Ba bét (Mallotus barbatus) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), Dâu tằm (Moruts alba), ướng (Broussonetia papyrifera ), Ngái (Ficus hispida), Duối (Streblus asper) thuộc
họ Dâu tằm (Moraceae), Sim (Rhodomyrtus tomentosa) thuộc họ Sim
Trang 34(Myrtaceae), Ba chạc (Euodia lepta) thuộc họ Cam (Rutaceae), Ngọc nữ (Clerodendrum colebrookianum), Bọ mảy (Clerodendrum cyrtophyllum), thuộc họ Cỏ roi ngựa(Verbenaceae),…
- Ở tầng này còn có các dây leo, cây bụi trườn hoặc một số phụ sinh như
Hà thủ ô nam (Streptocaulon junventas) thuộc họ Thiên lý (Asclepiadaceae), Nhài dây (Jasminum funale) thuộc họ Nhài (Oleaceae),……
4.1.3 Thảm cỏ
Thảm cỏ ở đây được hình thành trên các khoảnh đất bỏ hoang sau trồng trọt, số lượng cây bụi rất ít Đây là thảm cỏ tạm thời, không tồn tại lâu, thành phần là các cây cỏ dạng lúa như Cỏ may (Chrysopogon aciculatus), Cỏ rác (Microstegiumvagans), Cỏ mật (Chloris barbata), Cỏ chân nhện (Digitaria furcescens) thuộc họ Hòa thảo (Poaceae),………
Ở đây cũng có nhiều cây thảo không dạng lúa như cỏ cứt lợn(Ageratum conyzoides) , Ngải cứu (Artemisia vulgaris), Cúc chỉ thiên (Elephantopus scabe ), Cúc vàng (Chrysanthemum coronarium), Đơn buốt (Bidens pilosa) thuộc họ Cúc (Asteraceae), Cỏ sữa lá lớn (Euphorbia hirta), Cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolia) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), ……
4.1.4 Rừng trồng
Là một phường thuộc thị xã với diện tích tự nhiên chỉ khoảng 340 ha, nên diện tích rừng trồng cũng không nhiều Rừng được trồng khoảng 10 – 15 năm trở lại đây Thành phần chủ yếu gồm Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lưỡi liềm (Acacia confusa), Bạch đàn trắng (Eucalyptus alba), Bạch đàn
đỏ (Eucalyptus robuta) Ngoài ra còn trồng xen một số Lát hoa (Chukrasia tabularis), Xoan (Melia azedarach) thuộc họ Xoan (Meliaceae) Rừng trồng ở đây thuộc một số hộ gia đình để sử dụng gỗ gia dụng, góp phần nhỏ vào việc bảo vệ môi trường