1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 5 thông qua các bài tập tình huống thực tiễn

120 754 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua các bài tập thực tiễn trong dạy học môn Toán lớp 5 ở một số trường tiểu học .... ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHẠM VIỆT HÀ

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN LỚP 5 THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

\

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHẠM VIỆT HÀ

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN LỚP 5 THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đỗ Tiến Đạt người đã hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi rất nhiều trong tiến trình nghiên cứu và làm luận văn Với sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tâm huyết và có trách nhiệm cao, cùng với tài liệu hướng dẫn phong phú, có chất lượng của Thầy đã giúp chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Phòng Sau đại học - Trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô giáo của các trường đại học, các viện nghiên cứu và của Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã dạy học, chỉ bảo và hướng dẫn cho chúng tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Trân trọng !

Học viên

Phạm Việt Hà

Trang 4

Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo, PSG.TS Đỗ Tiến Đạt

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này

là thự tế, trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình !

Học viên

Phạm Việt Hà

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc của luận văn 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN 7

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 7

1.1.2 Các khái niệm cơ bản về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 9

1.1.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập với tư cách là phương pháp dạy học 14

1.1.4 Các tình huống sư phạm gặp phải trong khi tổ chức cho học sinh làm bài tập, kiểm tra 17

1.1.5 Kiểm tra, đánh giá định tính và định lượng 18

1.1.6 Mục đích, chức năng, nguyên tắc, yêu cầu, phương pháp, hình thức, quy trình trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở tiểu học 19

Trang 6

1.1.8 Bài toán, bài tập trong kiểm tra, đánh giá học sinh ở tiểu học 29 1.1.9 Vấn đề tình huống thực tiễn và toán học hóa tình huống thực tiễn

trong dạy học toán tiểu học 33

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 44

1.2.1 Đặc điểm, mục tiêu của chương trình và sách giáo khoa Toán lớp 5

44 1.2.2 Vấn đề toán học hóa tình huống thực tiễn trong chương trình Toán

lớp 5 47 1.2.3 Điều tra thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

thông qua các bài tập thực tiễn trong dạy học môn Toán lớp 5 ở một số trường tiểu học 49 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 57

CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN LỚP 5 THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN 58 2.1 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP

SƯ PHẠM 58

2.1.1 Yêu cầu khi rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải các bài tập thực

tiễn 58 2.1.2 Yêu cầu khi lựa chọn, sắp xếp, thiết kế các bài tập có tình huống

thực tiễn 60

2.2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN TOÁN LỚP 5 THÔNG QUA BÀI TẬP TÌNH HUỐNG

THỰC TIỄN 64

Trang 7

2.2.2 Biện pháp 2 Khai thác các bài tập toán có tình huống thực tiễn có

sẵn trong chương trình Toán 5 66

2.2.3 Biện pháp 3 Xây dựng hệ thống bài tập, bài kiểm tra tương tự bài toán trong sách giáo khoa nhưng thay đổi bộ phận của bài toán 68

2.2.4 Biện pháp 4: Kết hợp giữa bài tập có sẵn với phát triển thêm để kiểm tra, đánh giá về hình thành và phát triển năng lực ở học sinh 72

2.2.5 Biện pháp 5: Xây dựng bài tập mới có tình huống thực tiễn ……80

2.2.6 Giải pháp 6 Đề xuất một số bài tập mới có tình huống thực tiễn 82 2.2.7 Gải pháp 7 Đề xuất một số nội dung về kiểm tra học kỳ 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

3.1 Mô tả thực nghiệm sư phạm 88

3.1.1 Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá môn Toán lớp 5 88

3.2 Kết quả thực nghiệm 92

3.2.1 Đối với phiếu giao việc 92

3.2.2 Kết quả chung của hai phần Phiếu giao việc và Kiểm tra học kỳ1 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 103

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Kiểm tra, đánh giá (KT, ĐG) kết quả học tập là một khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học Giáo dục học cho rằng: Yêu cầu của dạy học hiện đại là phải “kiểm soát được [9]” tiến trình dạy học Theo tâm lý học dạy học, hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh (HS) Do đó, việc KT, ĐG kết quả học tập của người học có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi vì, nó là khâu “xác định chất lượng sản phẩm giáo dục và đào tạo” KT, ĐG có vai trò kiểm soát

và thúc đẩy sự tiến bộ của chất lượng sản phẩm học (Kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ, giá trị…) KT, ĐG cũng là điểm xuất phát tạo nên những mối liên hệ ngược chiều trong dạy học, giúp điều chỉnh hợp lý quá trình dạy học nhằm đạt hiệu quả cao Kết quả KT, ĐG là kết quả, là mục đích học tập mà

HS đạt được, do đó quyết định đến tinh thần thái độ học tập, đến việc khơi dậy và thúc đẩy tiềm năng trí tuệ, tính độc lập, sáng tạo và năng lực tư duy khoa học, năng lực thực hành của người học, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo

Lý luận và thực tiễn giáo dục đã chứng minh rằng: Do đặc điểm của nội dung dạy học môn toán tiểu học là các tri thức chủ yếu bắt nguồn từ thực tiễn, nhằm giải quyết các yêu cầu của thực tiễn nên xu hướng của dạy học môn toán hiện nay là “cho HS được tiếp cận với các tình huống thực tiễn đã được toán học hóa”[5], đồng thời trong khi triển khai nó thường phải đi đến việc “nêu ra và giải quyết các vấn đề toán học trong thực tiễn”[1] Tính thực tiễn của toán học thể hiện qua ứng dụng của toán học vào thực tiễn đời sống Dạy học thông qua các tình huống thực tiễn có tác dụng rất lớn trong việc hình thành, củng cố kiến thức, kỹ năng giải toán của HS tiểu học HS tiểu học

Trang 10

không hứng thú học tập nếu giáo viên (GV) dạy học chủ yếu theo cách giảng giải, nhưng rất hứng thú nếu được học tập thông qua giải quyết những tình huống thực tiễn Khai thác có ứng dụng trong bài giảng biến học toán thành môn dạy hấp dẫn, thích thú đối với HS, làm cho giờ toán không phải là một

“gánh nặng” đối với HS, mà là một nguồn vui, hấp dẫn, có thể giúp ích cho các em trong cuộc sống Điều này không những chỉ để nâng cao kiến thức của

HS mà còn nhằm thực hiện nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn nhà trường gắn liền với xã hội [7]”

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học ở tiểu học hiện nay, qua nghiên cứu cho thấy việc dạy học toán gắn với thực tiễn còn rất hạn chế Trong dạy học, GV chỉ chủ yếu trang bị kiến thức lý thuyết hàn lâm mà có lúc coi nhẹ thực hành, xem nhẹ việc ứng dụng các kiến thức toán học đã học để giải quyết các vấn đề của cuộc sống, “còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành [7]” Việc KT, ĐG vẫn chưa có bước phát triển, còn nhiều bất cập từ mục tiêu, phương pháp, quy trình và các kỹ thuật đánh giá, chủ yếu vẫn theo kinh nghiệm Cách đánh giá vẫn chưa hoàn toàn khách quan, chính xác Trong KT, ĐG kết quả học tập, chỉ chủ yếu kiểm tra đánh giá về kiến thức lý thuyết, mà HS thu được, chỉ chú trọng vào nội bộ môn học chứ chưa đánh giá được năng lực của HS, ít quan tâm đến năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn GV hầu như chưa được trang bị đầy đủ về phương pháp và kỹ thuật đánh giá Vì vậy việc đổi mới

KT, ĐG đang là vấn đề cấp bách đặt ra trong các trường tiểu học

Hiện nay ở Việt Nam, để đổi mới giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 29/NQTW lần thứ 8 (Khóa XI) năm 2013 của Đảng về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất” Nghị quyết nêu ra nhiệm vụ giải pháp cho kiểm tra, đánh giá là: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin

Trang 11

cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”

Trong dạy học môn Toán lớp 5, vấn đề đặt ra có tính thời sự và thực tiễn là đánh giá kết quả học tập của HS như thế nào để khơi dậy lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống đáp ứng được các yêu cầu trên Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay là chuyển từ dạy học theo tiếp cận nội dung sang dạy học theo tiếp cận năng lực thì việc KT, ĐG cũng phải chuyển đổi theo Nói cách khác, mục tiêu của KT, ĐG kết quả học tập của HS không chỉ là kiểm tra về kiến thức, kĩ năng học và giải toán thuần túy lý thuyết, mà còn phải kiểm tra cả năng lực học và giải toán của HS như thế nào, khả năng ứng dụng toán học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đơn giản, xung quang cuộc sống của HS ra sao Bài tập tình huống thực tiễn là các bài tập do GV xây dựng trên cơ sở các nội dung hoạt động thực tiễn của con người trong chương trình môn toán Bài tập tình huống thực tiễn trong dạy học môn toán tiểu học có vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập của HS Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS tiểu học thông qua các bài tập tình huống thực tiễn là một trong những nội dung quan trọng trong đổi mới quá trình dạy học

Để KT, ĐG kết quả học tập của HS cần nhiều phương pháp và đi liền với mỗi phương pháp là các bộ công cụ đánh giá Bộ công cụ kiểm tra, đánh giá rất phong phú, tuy nhiên, dưới góc độ lý luận dạy học thường bao gồm: kiểm tra miệng, kiểm tra viết, kiểm tra thực hành và bài tập Dạy học thông qua hệ thống bài tập là một trong những phương pháp dạy học hiệu quả, nhất

là đối với HS tiểu học Bài tập toán là một trong bộ công cụ hữu hiệu để kiểm

tra, đánh giá đối với HS tiểu học Do đó đề tài: “Đánh giá kết quả học tập

môn Toán lớp 5 thông qua các bài tập tình huống thực tiễn” có tính thời sự

và cấp thiết

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận nhằm tìm hiểu rõ hơn về mục tiêu, nội dung, phương pháp, nguyên tắc, quy trình của việc xây dựng một bài tập có tình huống thực tiễn theo tiếp cận năng lực để áp dụng vào kiểm tra, đánh giá

- Xây dựng được hệ thống các bài tập có tình huống thực tiễn trong môn Toán lớp 5 để KT, ĐG kết quả học tập của HS học theo hướng hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực HS, góp phần đổi mới dạy học ở tiểu học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu lí luận

- Lí luận về KT, ĐG: Khái niệm về đánh giá kết quả học tập, khái niệm

về kiểm tra: chức năng, vai trò, nguyên tắc, phương pháp, hình thức và quy trình KT, ĐG

- Lí luận về toán học hóa các tình huống thực tiễn trong dạy học toán ở tiểu học: Khái niệm về tình huống thực tiễn trong dạy học toán Khái niệm về bài toán, bài tập trong KT, ĐG

3.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Làm rõ các tình huống thực tiễn trong chương trình Toán 5

- Thực trạng KT, ĐG kết quả học tập của HS theo hướng toán học hóa các tình huống thực tiễn ở trường tiểu học

- Thiết kế được quy trình tổ chức KT, ĐG kết quả học tập của HS theo hướng toán học hóa các tình huống thực tiễn

- Nghiên cứu xây dựng các bộ câu hỏi, bài tập (dưới các hình thức Tự luận, TNKQ) theo các tình huống thực tiễn trong chương trình môn toán Lớp

5 để đánh giá KQHT của HS

- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm tổ chức KT, ĐG kết quả học tập của HS thông qua các tình huống thực tiễn

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống các bài tập có tình huống thực tiễn trong môn toán lớp 5 để đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Lĩnh vực Khoa học về đo lường và đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực HS

5 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế được hệ thống các bài tập và đề xuất được các biện pháp sư

phạm nhằm tổ chức KT, ĐG kết qủa học tập của HS thông qua các tình huống thực tiễn trong môn Toán lớp 5, thì sẽ giúp đánh gía chính xác trình độ năng lực

học tập môn Toán của HS tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu khoa học giáo dục để giải quyết nhiệm vụ của đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, nhằm giải quyết nhiệm vụ thực tiễn của đề tài

Dự giờ, trao đổi với GV bộ môn về kinh nghiệm ra đề kiểm tra phù hợp với thời gian, đối tượng HS Điều tra KT, ĐG tại Trường TH Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc; Trường TH Cổ Nhuế B, Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Trường TH Nam Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội

Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm ở khối lớp 5 Trường TH Nam Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội để xác định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm đã đề xuất

Trang 14

6.3 Phương pháp thống kê

Thống kê, phân tích số liệu thu được

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm: Phần mở đầu; Chương 1, 2 và 3; Kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục Nội dung chính của luận văn: Chương 1: Cơ

sở lí luận và thực tiễn của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua bài tập tình huống thực tiễn; Chương 2: Đề xuất một số biện pháp

sư phạm kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua bài tập tình huống thực tiễn; Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

đề cập là “toán học hóa”

Ở Việt Nam, nhìn chung vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học bắt đầu được nghiên cứu khá muộn so với các nước có nền giáo

Trang 16

dục phát triển, từ những năm 60 của thế kỷ XX Trong năm 2011, đã có 40 cơ

sở giáo dục thuộc 9 tỉnh thành trong cả nước tiến hành khảo sát thử nghiệm Chương trình PISA (theo yêu cầu của OECD) Bộ GD&ĐT đã thành lập Văn phòng PISA Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ này Trong đó có các hoạt động

ôn tập và luyện các đề thi và các phiếu câu hỏi [Nguồn VOV online] Trong văn bản số 2065 /BGDĐT-KTKĐCLGD ký ngày 11/4/2012 đã nêu rõ ở khoản (b): “Kiểm tra việc cung cấp các tài liệu PISA đến các trường và yêu cầu các Hiệu trưởng, GV, HS đọc, tổ chức thảo luận về cách đánh giá của PISA, các dạng đề thi và phiếu hỏi để HS làm quen với cách hỏi thi và cách đánh giá của PISA” Tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng, khi mà tình trạng giáo dục còn nhiều hạn chế, hệ thống sách giáo khoa lẫn chương trình học còn nhiều bất cập, chất lượng GV còn nhiều hạn chế thì kết quả đánh giá của PISA chưa chắc phản ánh đúng thực tế chất lượng giáo dục trong nước

Năm học 2012-2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) tại 1447 trường tiểu học (Nguồn Bộ GD&ĐT) Từ năm học 2013-2014 sẽ có thêm nhiều trường áp dụng VNEN Thực hiện chủ trương đổi mới đồng bộ về hình thức tổ chức, phương pháp và đánh giá giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc triển khai thí điểm đổi mới đánh giá HS tiểu học VNEN

Tuy nhiên để có cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc đánh giá kết quả học tập của HS một cách chính xác, khoa học thì cần phải có nhiều nghiên cứu trên phương diện khác nhau, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Từ năm học 2014-2015, Bộ GD&ĐT đã triển khai thực hiện Thông

tư 30 về đổi mới KT, ĐG [20] Theo đó, Bộ đã triển khai tập huấn cho GV và cán bộ quản lý Có nhiều ý kiến trái chiều về cách đánh giá, tuy nhiên đó chỉ

là sự khác nhau về nhận thức và phương pháp ghi nhận xét, còn về bản chất việc đánh giá, mục đích, mục tiêu đánh giá về cơ bản là không thay đổi Theo một số GV và nhà quản lý, việc triển khai đánh giá theo Thông tư 30 còn gặp khó khăn bước đầu [Nguồn http://vietnamnet.vn] Những vướng mắc nêu trên

Trang 17

hầu hết là do chưa hiểu đúng, chưa quyết tâm làm, chưa biết cách làm, chứ không phải về quan điểm, đường lối chưa đúng Vì vậy, Bộ đã, đang và sẽ tiếp tục truyền thông, giải thích, hướng dẫn các địa phương, chỉ đạo, giúp đỡ,

hỗ trợ GV về kỹ thuật để họ có thể hiểu đúng và làm tốt việc đánh giá HS theo tinh thần của Thông tư 30 Việc đổi mới đánh giá sẽ thường xuyên được trao đổi trong ngành

1.1.2 Các khái niệm cơ bản về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.1.2.1 Khái niệm kết quả học tập

Theo tác giả Nguyễn Thúy Hồng [13], liên quan đến kết quả học tập có nhiều khái niệm khác nhau: Kết quả học tập, thành tích học tập, chất lượng học tập, hiệu quả học tập…Tuy nhiên, với phạm vi nghiên cứu của đề tài này, kết quả học tập được xem xét dưới các góc độ sau đây

Nói đến kết quả học tập của HS là nói về thành tích học tập của HS (cả trên lớp và ngoài lớp) nhưng ở hiện trạng những gì đạt được trong mối quan hệ nhiều chiều với: Mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học và hình thức tổ chức dạy học, tức là nói về những cái mà

HS “học được [9]” ở nhà trường và xã hội

- Kết quả học tập được thể hiện qua những phương diện: Kiến thức, kĩ năng, thái độ, phương pháp giải quyết vấn đề trong khi học một môn học cụ thể nào đó, nó chi phối hình thức, phương tiện KT, ĐG Vì thế, khái niệm kết quả học tập luôn đi liền với khái niệm KT, ĐG (Ở đề tài này chỉ giới hạn trong việc KT, ĐG môn Toán lớp 5)

- Nói KT, ĐG kết quả học tập của HS theo định hướng năng lực, là nói đến việc đo lường xem việc hình thành và phát triển về các mặt: Kiến thức, kĩ năng, thái độ, phương pháp giải quyết vấn đề… như thế nào

Ví dụ: Khi cho HS làm một bài tập, một bài kiểm tra, GV có thể KT,

ĐG được về kiến thức, HS học được gì (nhớ lại và trình bày kiến thức…), về

kĩ năng, HS hình thành được gì (kĩ năng tính toán, đo đạc, so sánh, kĩ năng

Trang 18

giải toán…) và về thái độ, năng lực, HS có năng lực gì (Năng lực áp dục kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, năng lực giải quyết vấn đề…)

1.1.2.2 Khái niệm kiểm tra

Là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động GV sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của HS trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá [12]

Theo Từ điển Giáo dục học, kiểm tra là “Bộ phận hợp thành của quá

trình hoạt động dạy – học nhằm nắm được những thông tin về trạng thái và

kết quả học tập của HS, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp

tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy - học” [23] Kiểm tra là việc thu

thập những dữ liệu thông tin về một lĩnh vực nào đó làm cơ sở cho việc đánh giá Những dữ liệu về nhận thức, kỹ năng và thái độ trong các môn học đã được đưa ra từ mục tiêu của môn học Đây là những cơ sở để GV đưa ra những đánh giá Kiểm tra có nhiều hình thức khác nhau như: Kiểm tra định

kỳ, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra tổng kết

Đo lường là sử dụng mọi hình thức, phương tiện để tìm hiểu về một (hay nhiều) khía cạnh nào đó của một (hay nhiều) người Có nghĩa là đo lường cũng đề cập đến các phương thức, công cụ để đưa ra những căn cứ, cơ

sở cho đánh giá Theo Lê Đức Ngọc (2005), đo lường trong giáo dục là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng (số đo) về các đại lượng đặc trưng của quá trình giáo dục (nhận thức, tư duy, kỹ năng và phẩm chất nhân văn) Như vậy, khái niệm đo lường cũng gần giống với khái niệm kiểm tra Tuy nhiên, khái niệm đo lường rộng hơn khái niệm kiểm tra Kiểm tra chủ yếu đề cập đến các hình thức kiểm tra để cung cấp các dữ liệu, thông tin còn

đo lường không những đề cập đến các hình thức mà cả các phương tiện nữa

Các phương pháp kiểm tra: Các phương pháp kiểm tra bao gồm: Kiểm tra miệng; Kiểm tra viết và Kiểm tra thực hành [8]

Trang 19

1.1.2.3 Khái niệm đánh giá

Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phấm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra [12] Trong đề tài nghiên cứu này, đánh giá kết quả học tập được hiểu là đánh giá HS về học lực và hạnh kiểm thông qua quá trình học tập các môn học cũng như các hoạt động khác trong phạm vi nhà trường

Theo Giáo dục học: Đánh giá kết quả học tập là qúa trình nhận định, rút

ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ và phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin

đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra [12]

Nói ngắn gọn: Đánh giá kết quả học tập được hiểu là đánh giá HS về học lực và hạnh kiểm thông qua quá trình học tập các môn học cũng như các hoạt động khác trong phạm vi của nhà trường

Đo lường chỉ việc ghi nhận và mô tả kết quả làm bài kiểm tra của mỗi

HS bằng một số đo, dựa theo những quy tắc đã định [8]

Theo Đào Thái Lai, có nhiều mức để đánh giá HS Ví dụ, ở Úc đưa ra

ba mức để đánh giá, đó là: Mức dưới chuẩn quốc gia (Mức thấp nhất); Mức tối thiểu đạt chuẩn quốc gia (Mức trung bình) và Mức trên chuẩn tối thiểu (Mức cao nhất) Về thang đo, có 10 thang đo tương ứng với ba mức trên

Lượng giá là đưa ra những thông tin ước lượng trình độ kiến thức, kĩ năng của người học bằng cách dựa vào các số đo đã có Có hai hướng lượng giá: Lượng giá theo chuẩn: Đây là sự so sánh tương đối kết quả đo lường được với chuẩn chung của một tập hợp HS Lượng giá theo tiêu chí: Đây là sự đối chiếu kết quả đo lường được với những tiêu chí đã đề ra [8]

Trắc nghiệm là công cụ hoặc quy trình có tính hệ thống được dùng để

đo lường các hành vi học tập (ví dụ như: giải thích, tính toán )

Trang 20

1.1.2.4 Quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá

- Khâu kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá [12]

- Khâu đánh giá là dựa trên cơ sở các dữ liệu thu được khi kiểm tra, GV đưa ra những nhận định, phán đoán về thực chất trình độ của HS trước vấn đề được chọn để kiểm tra, đồng thời đề xuất những định hướng phát huy kết quả hoặc bổ sung những sai sót

- Về đánh giá bằng điểm số: GV không nên chỉ căn cứ vào kết quả tổng kết hoặc kiểm tra định kỳ để đánh giá HS mà còn phải kết hợp với kiểm tra thường xuyên, theo dõi hàng ngày mới đánh giá đúng thực chất trình độ của HS

Hình thức đánh gía bằng điểm số chỉ cho biết năng lực HS ở một thời điểm nào đó, không phải là đánh giá cả quá trình học tập Đánh giá bằng nhận xét kết hợp với cho điểm là phương thức đánh giá ưu điểm nhât trong giai đoạn hiện nay Đánh giá mà không qua kiểm tra thì chỉ là hình thức, thậm chí sai lệch

- Đánh giá trong môn toán: HS là đối tượng của giáo dục, là chủ thể của quá trình giáo dục, đồng thời thể hiện sản phẩm của giáo dục Đánh giá HS là nhiệm vụ của GV Thông qua các hoạt động toán học tiến hành trong giảng dạy toán hàng ngày, GV có thể phát hiện mức độ hiểu bài của cá nhân HS trong lớp Ngoài hoạt động trên, GV cần thiết kế các bài kiểm tra, câu đố vui trong giờ dạy toán nhằm phát triển tư duy và gây hứng thú học tập cho HS

Tất cả các hoạt động trên giúp GV đánh giá quá trình và thành tích học tập môn Toán của HS Khi đó đánh giá là tìm ra những điều HS có thể làm được và không thể làm được

- Giám sát trong môn Toán: Các hoạt động toán học hàng ngày ngoài việc giúp GV đánh giá HS, nó còn giúp GV phát hiện xem HS có hiểu những khái niệm mà mình đang dạy không Thông qua đó GV điều chỉnh cách dạy của mình nếu thấy điều đó là cần thiết Làm như vậy là GV đã tiến hành giám sát việc học toán của HS [12]

Trang 21

Việc đánh giá và giám sát trong học Toán thực chất là quá trình giúp

GV rà soát các biện pháp mà mình đã sử dụng để thu thập và ghi lại thông tin Thông tin này giúp GV nhận biết việc học tập và thành tích của HS trong học toán Đó đồng thời cũng là các bằng chứng về sự thành công hay thất bại của

HS trong quá trình học toán

Ngoài việc đánh giá sự tiến bộ trong hoạt động học tập của HS, các hoạt động thường ngày của môn Toán giúp GV điều chỉnh phương pháp dạy của mình cho thích hợp với HS

1.1.2.5 Bộ công cụ đánh giá

Theo khoa học về đo lường và đánh giá, kết quả học tập của HS là phạm trù “ẩn tàng” trong tâm lí học sinh Muốn KT, ĐG được thì phải đo lường bằng các công cụ đánh giá Trong mỗi loại công cụ phải có tiêu chuẩn đánh giá Trong mỗi tiêu chuẩn lại có các tiêu chí (hay còn gọi là các chỉ báo, minh chứng) đánh giá cụ thể

Ví dụ, muốn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học “diện tích hình thang” ở lớp 5, có thể nêu ra các tiêu chuẩn sau:

- Biết được cách tính diện tích hình thang với các thông số cho trước;

- Hiểu cách tính diện tích hình thang, phân biệt với cách tính diện tích các hình khác;

- Vận dụng công thức để tính toán với các thông số phức tạp hoặc cho ở dạng ẩn;

- Vận dụng công thức một cách sáng tạo

- Để KT, ĐG ở tiêu chuẩn “Hiểu cách tính diện tích hình thang”, GV có

thể nêu ra các tiêu chí:

+ Nêu lại công thức tính diện tích hình thang;

+ Viết lại công thức tính diện tích hình thang;

+ Áp dụng công thức để giải một bài tập cụ thể với các thông số cho trước; + Áp dụng kết hợp giữa công thức tính diện tích hình thang với các quy tắc toán học khác đã học…

Trang 22

Mỗi tiêu chí được minh chứng là các “chỉ báo” cụ thể, ví dụ, các bài làm của HS, bản vẽ, sơ đồ, hồ sơ học tập…

- Để KT, ĐG kết quả học tập của HS, có thể dùng nhiều bộ công cụ khác nhau Ví dụ; Bài tập, Bài thực hành, Phiếu học tập, Phiếu điều tra, Phiếu trả lời, Đề kiểm tra… Như vậy, một bài tập hoặc một đề kiểm tra chỉ là một trong các công cụ trong hệ thống bộ công cụ của KT, ĐG

Ở phạm vi của đề tài này, chỉ nghiên cứu các công cụ đo lường đó là: Các câu hỏi trên trực tiếp trên lớp, Bài tập toán, Bài kiểm tra toán, Đề kiểm tra toán học kỳ

1.1.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập với tư cách là phương pháp dạy học

1.1.3.1 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập góp phần điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học

Theo quan điểm tiếp cận hệ thống, giáo dục là một hệ thống cân bằng động, gồm nhiều thành tố tác động qua lại lẫn nhau dựa trên những quy luật nhất định Những thành tố đó là môi trường xã hội, môi trường nhà trường, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, người dạy, người học, phương pháp dạy và học, phương tiện dạy học, công tác kiểm tra đánh giá…

Ta có thể sơ đồ hóa mối quan hệ của KT, ĐG với các thành tố khác trong quá trình giáo dục như sau:

Trang 23

Công tác kiểm tra đánh giá cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo chuyển biến toàn diện về giáo dục và đào tạo Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, cần tác động vào hai chủ thể chính là GV - HS, làm tăng tính tích cực của chủ thể KT, ĐG kết quả học tập cũng như phương pháp học của HS là hai thành phần trong mối quan hệ giữa GV và SV có quan hệ tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau

KT, ĐG kết quả học tập là thành tố có mối liên hệ trực tiếp 5 thành tố của quá trình giáo dục Hay nói cách khác, KT, ĐG kết quả học tập phải căn

cứ vào: Mục tiêu dạy học; Nội dung dạy học; Phương pháp dạy học; Phương tiện dạy học; Hình thức tổ chức dạy học và các quy luật về kinh tế, xã hội, môi trường khoa học công nghệ Đây là cơ sở lý luận quan trọng trong việc thực hiện KT, ĐG kết quả học tập của HS

Theo tâm lý học dạy học, hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của HS Dạy học căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng Về phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện Sự điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng học tập trở thành tri thức bền vững cho mỗi

HS Việc kiểm tra chất lượng học tập sẽ giúp cho các nhà quản lý giáo dục, các GV và bản thân HS có những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình dạy học

Theo lý luận dạy học, xét theo phương diện điều khiển học, KT, ĐG là một dạng phương pháp dạy học Trong một chu trình dạy học, KT,ĐG là khâu cuối cùng của quá trình dạy học và nó có thể góp phần điều chỉnh nội dung và PPDH Đổi mới PPDH sẽ phải đổi mới cách thức kiểm tra và đánh giá Ngược lại, không đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá thì đổi mới PPDH chỉ là hình thức Yêu cầu của kiểm tra đánh giá cần phải dựa vào mục tiêu của bài

Trang 24

dạy, của chương trình dạy Cách kiểm tra đánh giá sẽ quy định cách dạy của thầy và cách học của trò Nếu quy trình đánh giá là đánh giá sự sáng tạo và đánh giá năng lực thì quá trình đánh giá không dừng ở cấp độ đánh giá sự tái hiện kiến thức đơn thuần Như vậy dạy học sẽ tránh nhồi nhét, GV và HS

“buộc phải” hình thành cho được những năng lực của trò Tóm lại, đánh giá mang tính tích cực sẽ dẫn đến dạy và học tích cực

KT, ĐG định kì là hoạt động của GV vào những thời điểm đã được quy định trong đề cương môn học, gắn các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn với những phương pháp kiểm tra - đánh giá tương ứng nhằm đánh giá, định hướng việc đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn tương ứng của HS Kết quả KT,

ĐG giá định kì được xem là kết quả học tập môn học của HS và là cơ sở để đánh giá chất lượng khi kết thúc môn học Vị trí, vai trò của KT, ĐG là không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình Đánh giá ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục KT, ĐG kết quả học tập của HS, thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập Không chỉ tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi cấp học, cần có quy trình đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV cho từng môn học và hoạt động giáo dục Như trên đã phân tích, kiểm KT, ĐG là một trong các nhóm phương pháp dạy học, là khâu cuối cùng của mỗi chu trình dạy học để

mở ra một chu trình khác

Theo lôgic của tiến trình dạy học, muốn dạy học HS một khái niệm (hoặc kỹ năng) nào đó, thì khái niệm này phải diễn ra qua giai đoạn lôgic (Diễn ra ở phía người dạy, thông qua hoạt động dạy) đến giai đoạn tâm lý (Diễn ra ở phía người học, thông qua hoạt động học ) Do đó, với tư cách là

Trang 25

một phương pháp dạy học, khi cho HS làm bài tập hoặc làm bài kiểm tra, cả

GV và HS cần tuân thủ các khâu như sau:

- Thiết kế (xây dựng) hệ thống bài tập, bài kiểm tra;

- Tổ chức cho HS giải bài tập hoặc làm bài kiểm tra;

- Liên hệ kiến thức trong bài tập hoặc bài kiểm tra với chuẩn kiến thức;

- Hệ thống hóa, củng cố kiến thức kỹ năng cho HS;

- Tùy vào các bước dạy học, các khâu trên diễn ra cả ở giai đoạn lôgic - Thầy giáo và giai đoạn tâm lý - HS;

- Trong dạy học giải quyết vấn đề, bài toán được đặt ra để tạo tình huống

có vấn đề là thành tố chính kết hợp với các phương pháp khác như: Thí nghiệm, quan sát, thuyết trình, làm việc với sách giáo khoa Do đó KT, ĐG rất quan trọng trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề - một trong những phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học

1.1.4 Các tình huống sư phạm gặp phải trong khi tổ chức cho học sinh làm bài tập, kiểm tra

Trong dạy học nói chung và trong KT,ĐG đối với HS tiểu học nói riêng, GV thường gặp phải các tình huống sư phạm Chẳng hạn khi cho HS làm bài tập, HS đưa ra cách giải khác nhau, thậm chí khác với đáp án của GV

Ví dụ: Tình huống khi hướng dẫn HS giải bài tập Toán lớp 5

Cuối năm 2012, dân số trung bình nước ta là 89.000.000 người Hỏi cuối năm 2014 dân số nước ta là bao nhiêu nếu tốc độ tăng dân số là 2% ?

Một HS giải như sau:

Từ năm 2012 đến năm 2014 là 2 năm

Trong 2 năm dân số nước ta tăng số phần trăm là: 2 x 2 = 4 (%)

Trong 2 năm đó dân số nước ta tăng được số dân là:

89.000.000:100x 4 = 35.600.000 (Người) Cuối năm 2014, dân số nước ta là:

89.000.000 + 35.600.000= 124.600.000 (Người)

Khi gặp phải những tình huống đó, GV phải bình tĩnh xử lý theo các bước:

Trang 26

Bước 1: Phát hiện vấn đề và nhận biết tình huống

Dựa trên cấu trúc của tình huống sư phạm, GV cần xem xét kỹ cái đã cho; Liên hệ với vốn tri thức (Về toán cơ bản và về phương pháp dạy học), để xác định rõ tình huống đã cho thuộc dạng nào; Chỉ rõ hoặc gọi tên những vấn

đề nảy sinh trong tình huống đó Nói cách khác, GV cần nắm rõ HS đã làm đúng hay chưa, nếu đúng thì đã tối ưu chưa, nếu sai thì có sai theo cách thường gặp không…?

Bước 2: Xử lí tình huống

Trên cơ sở bước 1 đã xác định được vấn đề cần xử lí và dạng của tình huống, cần suy nghĩ về tình huống xem có liên quan đến nguồn tri thức nào

Từ đó đề xuất một hoặc vài phương án giải quyết trong điều kiện cụ thể đã

nêu ở tình huống, chọn một phương án tối ưu để trình bày

1.1.5 Kiểm tra, đánh giá định tính và định lượng

Xét theo phương thức và công cụ thu thập thông tin để đánh giá kết quả học tập, hoạt động kiểm tra được thực hiện theo hai hướng: định lượng và định tính Dựa trên kết quả được ghi nhận theo hướng định tính hoặc định lượng, GV đưa ra những phán đoán, những kết luận, những quyết định về người học hoặc về việc dạy học [8]

1.1.5.1 Kiểm tra, đánh giá theo hướng định tính

Là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập và rèn luyện của

HS bằng cách quan sát và ghi nhận xét dựa theo các tiêu chí giáo dục đã định

1.1.5.2 Kiểm tra, đánh giá theo hướng định lượng

Là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập của HS bằng số như điểm số hoặc số lần thực hiện của những hoạt động nào đó Cách và phương tiện ghi nhận kết quả học tập của HS bằng điểm hay số lần thực hiện theo những quy tắc đã tính trong kiểm tra là mang tính chất định lượng Còn chính điểm số vẫn chỉ là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ học lực của mỗi HS mang ý nghĩa định tính Như vậy, bản thân điểm số không có ý nghĩa

Trang 27

về mặt định lượng; ví dụ trong thang điểm 10, không thể nói trình độ của HS đạt điểm 8 là cao gấp đôi HS đạt điểm 4 [8]

1.1.6 Mục đích, chức năng, nguyên tắc, yêu cầu, phương pháp, hình thức, quy trình trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở tiểu học

1.1.6.1 Mục đích kiểm tra, đánh giá

Mục tiêu dạy học là các kết quả học tập mà nhà trường trông mong người học đạt được sau khi học tập Xét theo mức độ của kết quả học tập mà người học đạt đến, mục tiêu dạy học được chia thành hai loại: mục tiêu thành thạo và mục tiêu phát triển (Theo Gronlund, 1985 & Dương Thiệu Tống, 1998)

- Mục tiêu thành thạo: Mục tiêu thành thạo là kết quả học tập ở trình độ tối thiểu mà mọi HS cần đạt một cách đồng loạt từ một khoá học hay một môn học,

là những kết quả học tập mà HS nhất thiết phải đạt nếu như họ muốn có thể học được ở cấp lớp kế tiếp Các mục tiêu này thường bao gồm những kiến thức đơn giản mà HS phải nắm vững vào cuối một giai đoạn học tập

Mục tiêu phát triển: Mục tiêu phát triển là kết quả học tập phức tạp hơn các mục tiêu thành thạo, chẳng hạn như khả năng hiểu, ứng dụng, tư duy phê phán, giải quyết vấn đề v.v Khi đã đạt được các kết quả học tập phát triển, người học có thể vận dụng chúng sang những tình huống học tập mới, phức tạp và đa dạng theo hướng tăng tiến liên tục về trình độ Vì vậy, mục tiêu phát triển còn được gọi là mục tiêu chuyển di và người học khó có thể đạt được một cách đầy đủ vào một thời điểm cụ thể

Trong thực tiễn dạy học, mục tiêu dạy học được xem là một tổ hợp gồm

ba loại kết quả học tập: kiến thức, kĩ năng và thái độ, chúng có mối quan hệ tương tác với nhau (Vũ Văn Tảo, 1995)

Trong dạy học GV phải KT, ĐG kết quả học tập vì những ý do sau đây: Kết quả học tập là cơ sở thiết kế các hoạt động dạy học và nội dung đánh giá kết quả học tập; Xác lập các kết quả học tập một cách rõ ràng và cụ thể sao cho có thể quan sát và đo lường được là cơ sở bảo đảm cho việc chọn lựa và xây dựng công cụ, kĩ thuật đánh giá thích hợp; Xem xét sự tương thích giữa

Trang 28

kết quả học tập cần đánh giá với kĩ thuật đánh giá là cơ sở bảo đảm hiệu quả

và giá trị của kết quả kiểm tra đánh giá

Giữa mục tiêu dạy học, các kết quả học tập cụ thể cần đánh giá với các

kĩ thuật đánh giá có quan hệ tương tác với nhau Do đó, sau khi thiết lập công

cụ đánh giá, GV cần xem lại nhiều lần các công cụ này để: Điều chỉnh, sửa chữa sai sót về nội dung, về cách diễn đạt, tránh những cách diễn đạt tối nghĩa hay vượt xa yêu cầu định kiểm tra Đặc biệt, xem xét mối liên hệ giữa mỗi câu trắc nghiệm với một kết quả học tập chuyên biệt đã định Thông tư số: 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: Đánh giá HS tiểu học là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS; tư vấn, hướng dẫn, động viên HS; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của HS tiểu học Như vậy, Thông tư này nói đánh giá là đã bao gồm cả kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS

Theo Thông tư, mục đích của kiểm tra, đánh giá là:

1) Giúp GV điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của HS

để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi HS để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học

2) Giúp HS có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ

1.1.6.2 Chức năng

Tuy có những cách gọi, cách diễn đạt khác nhau, nhưng các nhà giáo dục đều cho rằng KT, ĐG có các chức năng cơ bản như sau: Theo Trần Bá

Trang 29

Hoành (Đánh giá trong giáo dục 1995 trang 910), kiểm tra, đánh giá có các chức năng: Chức năng sư phạm: Làm sáng tỏ thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động dạy và học; Chức năng xã hội: Công khai hoá kết quả học tập của mỗi HS trong tập thể lớp, trường, báo cáo kết quả học tập, giảng dạy trước phụ huynh và các cấp quản lý giáo dục; Chức năng khoa học: Nhận định chính xác về một mặt nào đó thực trạng dạy và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến cải tiến nào đó trong dạy học [8]

a) Chức năng quản lí

Chức năng quản lí của đánh giá được thể hiện qua hai phương diện: Xếp loại hoặc tuyển chọn người học; Duy trì và phát triển chuẩn chất lượng (Chức năng khoa học) Kiểm soát và điều chỉnh hoạt động dạy và học (Chức năng sư phạm) Đối với GV và nhà trường, đánh giá nhằm kiểm soát các hoạt động ngay trong quá trình dạy và học, sau đó ra quyết định điều chỉnh, cải tiến dạy học là cơ chế đảm bảo cho việc phát triển chất lượng dạy học Đối với HS, thông tin kiểm tra đánh giá nhận được (điểm số, nhận xét) từ GV và

tự đánh giá của bản thân giúp người học kiểm soát, điều chỉnh việc học của mình (Chức năng sư phạm)

b) Chức năng giáo dục và phát triển người học

Quá trình đánh giá kết quả học tập được thực hiện một cách hiệu quả sẽ

có tác dụng phát triển động cơ học tập (lòng mong muốn học tập cho sự phát triển của bản thân) cho HS Do đó, kiểm tra, đánh giá góp phần phát triển toàn diện người học Ngoài các kĩ năng học tập, đánh giá cũng góp phần phát triển cho người học những kĩ năng và phẩm chất xã hội như: kĩ năng giao tiếp, làm việc hợp tác, ý thức cộng đồng, lòng tự trọng Đây là những nhân tố quan trọng đối với con người trong xã hội hiện nay, giúp cho HS biết cách sống, cách làm việc với những người xung quanh (Chức năng xã hội).Tuỳ mục đích đánh giá mà một hoặc một vài chức năng nào đó sẽ được đặt lên hàng đầu

Trang 30

1.1.6.3 Nguyên tắc và yêu cầu trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

a) Nguyên tắc: Trong giáo dục, một số nguyên tắc cần đảm bảo trong

kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bao gồm: Nguyên tắc khách quan Nguyên tắc công bằng Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện Nguyên tắc đảm bảo tính công khai Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển

+ Khách quan: Phải bảo đảm sự vô tư của người đánh giá, tránh tình cảm cá nhân, thiên vị; Phải bảo đảm tính trung thực của người được đánh giá, chống quay cóp, gian lận trong khi kiểm tra; Phải đánh giá sát với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học, tránh những nhận định chủ quan, áp đặt, thiếu căn cứ

+ Toàn diện: Một bài kiểm tra, một đợt đánh giá có thể nhằm vào một vài mục đích trọng tâm nào đó, nhưng toàn bộ hệ thống đánh giá phải đạt yêu cầu toàn diện, không chỉ về mặt kiến thức mà cả về kĩ năng, thái độ, tư duy

+ Hệ thống: Việc đánh giá phải được tiến hành theo kế hoạch, có hệ thống đánh giá thường xuyên, đánh giá sau khi học từng nội dung, đánh giá định kì, tổng kết cuối năm học, khoá học

+ Công khai: Đánh giá phải được tiến hành công khai, kết quả phải được công bố kịp thời để mỗi HS có thể tự đánh giá, xếp hạng trong tập thể,

để tập thể HS hiểu biết lẫn nhau, học tập giúp đỡ lẫn nhau

b) Yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá: Những yêu cầu sư phạm

trong việc đánh giá HS: Hoạt động kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên và thông tin làm căn cứ cho đánh giá phải đa dạng, cụ thể và khách quan Đánh giá HS ở tiểu học cần nhận thức sâu sắc về quan điểm giáo dục toàn diện Muốn cho việc đánh giá có thể góp phần phát triển toàn diện cho người học, những điều dưới đây cần được thực hiện một cách hệ thống và nhất quán: Đánh giá phải xác định được khối lượng học tập hợp lí cho HS để không đẩy các em vào thế học thuộc lòng, hay học đối phó, học chỉ để có điểm, chỉ để biết chứ không để hiếu và áp dụng Kết quả học tập cần được đánh giá một cách hiệu quả, đáng tin cậy để có tác dụng hướng dẫn và khuyến khích các phương pháp học tập tích cực, ủng hộ các thói quen học tập có giá

Trang 31

trị Phương pháp, công cụ kiểm tra cần đa dạng (trắc nghiệm, tự luận, học nhóm, trò chơi, bài tập giải quyết vấn đề ) để kích thích người học tự bổ sung, phát triển những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống

- Theo Thông tư số: 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014,

Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định:

1) Đánh giá vì sự tiến bộ của HS; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan 2) Đánh giá toàn diện HS thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một

số biểu hiện năng lực, phẩm chất của HS theo mục tiêu giáo dục tiểu học 3) Kết hợp đánh giá của GV, HS, cha mẹ HS, trong đó đánh giá của GV là quan trọng nhất 4) Đánh giá sự tiến bộ của HS, không so sánh HS này với HS khác, không tạo áp lực cho HS, GV và cha mẹ HS.5) Trong đánh giá, cần phải chuyển sự đánh giá của GV thành quá trình tự đánh giá của HS về kết quả học tập và rèn luyện của bản thân Cả thầy và trò cần đánh giá kết quả đạt được trong hoạt động của mình theo hệ mục tiêu đã đề ra

1.1.6.4 Cơ sở của kiểm ra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích học tập và mối quan hệ giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập

Mục tiêu của môn học là những gì HS cần phải đạt được sau khi học xong môn học, nó bao gồm các thành tố:

- Hệ thống các kiến thức khoa học gồm cả các phương pháp nhận thức;

- Hệ thông kỹ năng kỹ xảo;

- Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế;

- Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội

Mục đích học tập là những gì HS cần có được sau khi đã học xong một đơn vị kiến thức, một quy tắc nào đó Mục đích học tập có thể bao gồm các phần sau đây:

Trang 32

- Lĩnh hội tri thức của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhiên và xã hội;

- Trang bị kiến thức để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và nhu cầu cuộc sống;

- Thu thập những kinh nghiệm sáng tạo để có thể độc lập nghiên cứu và hoạt động sau này

Giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu mục tiêu của môn học và mục đích học tập được xác định đúng đắn thì chúng hỗ trợ cho nhau trong việc đánh giá, đạt được yêu cầu đề ra của công việc đánh giá kết quả học tập của HS Mục tiêu của môn học và mục đích học tập là cơ sở cho việc xác định nội dung chương trình, phương pháp và quy trình dạy học và học tập Đồng thời

nó cung là cơ sở để chọn phương pháp và quy trình đánh giá kết quả học tập của HS Đánh giá kết quả học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục

1.1.6.5 Quy trình của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn vì nó mang tính tổng hợp nhiều yếu tố Vì vậy để đánh giá chính xác một HS, một lớp, hay một khóa học, điều đầu tiên, GV phải làm là xây dựng quy trình, lựa chọn một phương pháp cũng như thu thập các thông tin cần thiết cho việc đánh giá

Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, nói chung gồm các bước:

Bước 1 Xác định mục đích kiểm tra, đánh giá

- Mục đích dạy học: Căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập

để xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá; Lượng hóa các mục tiêu dạy học để đặt ra các mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm xác định nội dung và các tiêu chí kiểm tra, đánh giá; Xác định kiến thức kỹ năng xuất phát

Trang 33

điểm của HS để dự đoán việc lĩnh hội các tri thứ mới Bước này nhằm điều chỉnh việc dạy của GV, diễn ra trong suốt quá trình dạy học

Khi đặt ra mục tiêu KT, ĐG, GV cần đề ra những dấu hiệu chứng tỏ HS đạt được yêu cầu của mình Phải biết chốt lại kết quả tối thiểu cần đạt được và nếu vượt qua được thì coi như đạt yêu cầu

- Mục đích giáo dục: Nếu đánh giá đúng thì nó trở thành phương tiện cho

HS củng cố niềm tin vào năng lực của mình, nhằm động viên HS tích cực học

tập Nếu đánh giá sai lệch sẽ tạo ra tiêu cực, cản trở sự lĩnh hội của HS

Bước 2 Xác định hệ thống tiêu chuẩn cơ bản để kiểm tra, đánh giá

GV phải đặt ra các đơn vị tri thức làm thành hệ thống tiêu chí KT, ĐG theo các mức độ tăng dần từ thấp đến cao Dựa vào thang năng lực nhận thức

Bloom: Biết => Hiểu => Ứng dụng => Phân tích => Tổng hợp => Đánh giá, GV có thể xây dựng các mức như sau:

- Hiểu, nhớ bài (Bằng lời, bằng viết, bằng việc thực hành…)

- Áp dụng được bài làm trong tình huống khác đã biến đổi

- Bài làm có tính sáng tạo

- Hình thức trình bày, sáng sủa, rõ ràng, lôgic

Bước 3 Xác định hình thức kiểm tra, đánh giá

- Lựa chọn phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung đã đề ra trên cơ sở các đặc điểm của đối tượng được đo

- Soạn thảo công cụ: Thu thập số liệu; Tổ chức, sắp xếp và phân loại số liệu; Phân tích số liệu; Rút ra các kết luận cần thiết Viết câu hỏi, đặt bài toán dựa trên mục tiêu đề ra và nội dung cần đánh giá; Sắp xếp câu hỏi, bài toán tù

dễ đến khó, chú ý đến tính tương đương của các đề (nếu có nhiều đề) và duyệt lại đáp án;

Bước 4 Xác định thước đo để kiểm tra, đánh giá

- Xác định được biểu điểm trên cơ sở hệ thống tiêu chuẩn KT, ĐG

- Xác định các mức độ làm bài để nhận xét

Trang 34

Bước 5 Tiến hành kiểm tra, đánh giá hặc tự kiểm tra, đánh giá và ra quyết định

- Cho HS làm bài theo từng hình thức sử dụng như: Kiểm tra miệng, phiếu học tập, kiểm tra học kỳ…

- Tiến hành đo lường;

- Phân tích kết quả, đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của bài tập;

- Nhận xét bài làm của HS khi làm bài tập hoặc kiểm tra

- Cho điểm đối với bài kiểm tra học kỳ (Đối với lớp 5)

- Điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện công cụ KT, ĐG

Sơ đồ quy trình đánh giá:

Trong đó:

M: Mục đích kiểm tra, đánh giá; TC: Tiêu chuẩn KT, ĐG; HT: Hình thức KT, ĐG; Barem: Thang kiểm tra, đánh giá; KTĐG: Tiến trình KT, ĐG; PTKH: Phân tích kết quả và Đ: Cho điểm

Như vậy, quy trình KT, ĐG nói chung gồm 5 bước như trên [14] Nếu thực hiện tốt sẽ giúp GV đánh giá HS một cách khách quan, chính xác Các bước của quy trình có mối liên hệ hữu cơ với nhau và tác động lẫn nhau, do

đó không được bỏ sót một bước nào Một số bước liên nhau có thể làm gộp nhưng khi thực hiện quy trình luôn phải tuân thủ mục tiêu, nguyên tắc đánh giá kết quả học tập của HS

1.1.6.6 Các hình thức kiểm tra, đánh giá

a) Đánh giá thường xuyên kết quả học tập: Đánh giá thường xuyên

là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện, của HS, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục khác, trong đó

bao gồm cả quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, xã hội

Trang 35

b) Đánh giá định kì kết quả học tập: Đánh giá định kì chủ yếu theo

hướng định lượng, bao gồm:

1) Đánh giá định kì kết quả học tập là việc đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học vào cuối học kì I và cuối năm học bằng bài kiểm tra định kì

2) Đề bài kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức độ nhận thức của HS:

- Mức 1: HS nhận biết hoặc nhớ, nhắc lại đúng kiến thức đã học; diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình và áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập;

- Mức 2: HS kết nối, sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết tình huống, vấn đề mới, tương tự tình huống, vấn đề đã học;

- Mức 3: HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn hay đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống

3) Bài kiểm tra định kì được GV sửa lỗi, nhận xét những ưu điểm và góp ý những hạn chế, cho điểm theo thang điểm 10 (mười), không cho điểm 0 (không) và điểm thập phân

Theo Thông tư 30, cuối học kì I, cuối năm học, HS được làm bài tra định kì môn Toán Căn cứ thực tế yêu cầu giáo dục của địa phương, hiệu trưởng chỉ đạo, tổ chức kiểm tra định kì vào cuối học kì I, cuối năm học Tỉ lệ

số câu, số điểm theo các mức và hình thức câu hỏi trong đề kiểm tra (trắc nghiệm khách quan, tự luận, hình thức khác) do Hiệu trưởng quyết định, đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng, phù hợp với đối tượng HS [20]

1.1.6.7 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

a) Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS có thể chia thành 3 phương pháp chính [14]:

Trang 36

- Kiểm tra vấn đáp: Thường được áp dụng thích hợp cho trẻ em và cũng

có ích khi nêu câu hỏi một cách tự phát trong tình huống cần kiểm tra

- Kiểm tra quan sát: Giúp HS xác định những thái độ, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức

- Kiểm tra viết: Trắc nghiệm tự luận kết hợp trắc nghiệm khách quan

b) Tự kiểm tra, đánh giá

Trong việc đánh giá kết quả học tập của HS, ý kiến của GV là quan trọng song GV không phải là người duy nhất đánh giá kết quả học tập của

HS, GV cần tạo điều kiện để các em tự đánh giá mình, đánh giá lẫn nhau GV cần tôn trọng năng lực, cá tính của HS, không áp đặt ý kiến của mình Việc

HS tự đánh giá không những góp phần đạt được mục tiêu đánh giá mà còn có

ý nghĩa giáo dục rất lớn Việc tự đánh giá giúp HS có ý thức trách nhiệm, tinh thần tự phê bình, khả năng tự đánh giá, tính độc lập, lòng tự tin và tính sáng tạo Việc HS tự đánh giá có thể diễn ra khi HS phải làm bài tập, trình diễn một hoạt động trước lớp hoặc tạo ra một sản phẩm học tập

Trong KT, ĐG, GV nên tổ chức các biện pháp để HS tự đánh giá kết quả học tập KQ thông qua các hình thức như sau:

- Thứ nhất: Khi chữa bài tập trên lớp, GV cho HS tự kiểm tra bài làm của mình, nêu câu hỏi để GV giải đáp

- Thứ hai: Sử dụng bảng con trong giờ luyện tập toán: Trong giờ luyện tập toán có thể dùng bảng con để kiểm tra bài làm của HS trên lớp, ôn tập kiến thức cũ hoặc kiểm tra từng HS Trong tiết thực hành luyện tập để kiểm tra kết quả làm bài của tất cả HS ngay trên lớp, GV yêu cầu HS đổi vở cho nhau, sau đó GV chữa bài trên bảng để HS kiểm tra bài của bạn và thông tin cho GV những sai lầm của bạn nếu có [14]

1.1.7 Vấn đề sử dụng chuẩn kiến thức và kĩ năng trong kiểm tra, đánh giá

Chuẩn kiến thức, kỹ năng từng môn học đã được Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT về chương trình giáo dục phổ thông, trong

đó có chương trình giáo dục tiểu học quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng từng môn học theo từng lớp Tuy nhiên, quy định này phân ra yêu cầu đạt được của

Trang 37

mỗi bài học mà chưa có một chuẩn kiến thức và kỹ năng tổng quan của từng môn học đó theo cấp độ Căn cứ vào bài học của HS đối chiếu với chuẩn kiến thức, kĩ năng, giữa bài làm của HS với mục tiêu dạy học để nhận xét, đánh giá

Trong Thông tư số: 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014,

Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: Chỉ kiểm tra học kỳ đối với lớp 5 Đề kiểm tra phải tuân thủ các nguyên tắc: đúng chuẩn; đủ dạng bài cơ bản nhất; dễ chấm và cộng điểm; phân loại chính xác HS; sắp xếp câu hỏi, bài tập theo thứ

tự từ dễ đến khó, HS có thể làm bài trong thời gian quy định nhưng không dễ dàng đạt điểm 10 Tuy nhiên, điểm số không phải là công cụ để đánh giá cả một quá trình học tập của HS nhưng nó vẫn có thể được dùng để cho biết về mặt lượng trong mỗi bước đi của cả quá trình hình thành năng lực cho HS Nội dung đánh giá phải toàn diện, gồm cả ba mức độ: nhận biết - hiểu- vận dụng các kiến thức và kĩ năng về số, đại lượng, giải toán có lời văn

Phối hợp kiểm tra thường xuyên và đinh kì, sử dụng hình thức đánh giá: kiểm tra viết, vấn đáp, làm quen với các bài tập trắc nghiệm, khuyến khích tự đánh giá HS

Do đó, để KT, ĐG HS thông qua các bài tập có tình huống thực tiễn, cần phải tuân thủ các bước như sau: Bước 1 Toán học hóa các nội dung kiến thức, kỹ năng trong nội dung dạy học Nói cách khác, trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng dạy học, GV khai thác các bài tập có tình huống thực tiễn có sẵn trong SGK và xây dựng thêm các bài tập loại này Bước 2 Hướng dẫn và cho HS giải bài tập hoặc làm bài kiểm tra định kỳ để thông qua đó HS củng

cố, nắm vững kiến thức, kĩ năng

1.1.8 Bài toán, bài tập trong kiểm tra, đánh giá học sinh ở tiểu học

1.1.8.1 Khái niệm bài toán

Theo Từ điển tiếng Việt, bài toán là vấn đề cần phải giải quyết tìm ra đáp số bằng quy tắc, định lí

Trang 38

Ví dụ: Ở lớp 5 Có tình hống: Một người thợ gò một cái thùng tôn

không nắp dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 6dm, chiều rộng 4dm và chiều cao 9dm Cần tính diện tích tôn dùng để làm thùng (không tính mép hàn)

Đây là vấn đề thực tiễn dẫn đến bài toán đặt ra là phải tìm ra công thức tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần hình hộp chữ nhật

S xq = Cđáy x Chiều cao (Cùng số đo) và Stp = Sxq + S 2 đáy (Cùng số đo)

- Lí luận dạy học coi bài toán là một phương pháp dạy học cụ thể Nó được áp dụng thường xuyên và phổ biến ở tất cả các cấp học và các loại trường học khác nhau Bài toán được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học: nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Bài toán còn là đề tài chính của phương pháp nghiên cứu

Đứng ở mức độ người giải bài toán có thể chia bài toán thành ba dạng sau: Bài toán tái hiện: Người giải chỉ tái hiện <Algorit> giải rồi chấp nhận nó; Bài toán tìm tòi hay bài toán nhận thức: Loại này người giải chưa có sẵn Algorit giải, phải tìm tòi, tự lực tìm ra nó Bài toán này là phương pháp chính yếu, chủ đạo của dạy học giải quyết vấn đề; Bài toán tái hiện - tìm tòi: Đứng trung gian giữa hai kiểu trên Đó là loại bài toán xuất phát từ bài toán quen biết đối với người giải nhưng đồng thời lại chứa đựng cái gì đó chưa biết [8]

1.1.8.2 Bài tập toán

Bài tập toán (Sau đây gọi tắt là bài tập) là bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học vào giải quyết một vấn đề chứa đựng nội dung toán học [14]

Ví dụ: Một người đi xe đạp với vận tốc 12km/giờ trong 2giờ 30 phút

Tính quãng đường ngưòi đó đã đi được

Muốn giải được bài tập này, HS vận dụng công thức đã học: S = V x T

Trong đó: S là quãng đường; V là vận tốc trung bình; T là thời gian đi xe Tuy nhiên, việc phân biệt bài toán và bài tập chỉ là tương đối

Ví dụ: Bài tập 2- Tr 94- Toán 5: Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn

120 m, đáy bé bằng 2/3 đáy lớn Đáy bé dài hơn chiều cao 5m Trung bình cứ

Trang 39

100 mét vuông thu hoạch được 64,5 kg thóc Tính số kg thóc thu được trên thửa ruộng đó?

Đây là bài tập chứa đựng nhiều kiến thức toán học của lớp 5 Muốn giải bài tập này, HS phải tìm được số đo của đáy lớn, đáy bé, và chiều cao để tìm diện tích thửa ruộng theo công thức tính diện tích hình thang Rồi từ số đo diện tích tìm số kg thóc thu được Như vậy HS đã phải qua nhiều bước tính, rồi mới áp dụng công thức tình diện tích có sẵn Do vậy, bài tập này có thể gọi là một bài toán

1.1.8.3 Vai trò, chức năng của bài tập toán trong dạy học

a) Chức năng dạy học: Bài tập toán có chức năng cơ bản: Làm chính

xác hóa các khái niệm toán Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được các kiến thức vào việc giải bài tập, HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc Việc lồng ghép các bài tập thực tiễn vào trong quá trình dạy và học, trước hết tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho HS sự hứng thú, hăng say trong học tập Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập, HS sẽ buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực tế cho thấy

HS chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập Rèn luyện cho HS các kĩ năng giải toán Nếu là bài tập thực hành trên hiện trường sẽ rèn luyện các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường

b) Chức năng phát triển: Phát triển ở HS kĩ năng sử dụng ngôn ngữ

toán học và các các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát độc lập, thông minh và sáng tạo; Hình thành cho HS những kĩ năng quan sát, thu nhập thông tin và phân tích thông tin, dần hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học; Giúp cho HS có được những hiểu biết về hệ tự nhiên và hoạt động của nó, tác động của nó đối với cuộc sống của con người

Trang 40

c) Chức năng giáo dục: Rèn luyện cho HS đức tính chính xác, kiên

nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học toán học Bài tập thực tiễn, thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có

kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc); Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống; Góp phần giáo dục phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm

1.1.8.4 Xu hướng xây dựng bài toán, bài tập theo định hướng tiếp cận năng lực

Trong những năm gần đây, nội dung giáo dục, đặc biệt là nội dung, cơ cấu sách giáo khoa tiểu học được thay đổi một cách hợp lý vừa đảm bảo được chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, có hệ thống vừa tạo điều kiện để phát triển năng lực của mỗi HS, nâng cao năng lực tư duy, kỹ năng thực hành, tăng tính thực tiễn Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống Để đáp ứng yêu cầu đó, trong quá trình dạy học các môn học nói chung và môn Toán tiểu học nói riêng cần xây dựng hệ thống bài tập một cách hợp lý, theo các hướng sau đây [24]:

- Xây dựng bài tập, bài kiểm tra theo hướng lấy kiến thức, kỹ năng, làm trọng tâm, có nội dung toán học cơ bản, thiết thực, phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng Loại bỏ những bài tập có nội dung toán học rườm rà, lắt léo, giả định rắc rối, phức tạp, xa rời hoặc phi thực tiễn toán học, phải cần đến những thuật toán phức tạp để giải

- Đa dạng hóa các loại hình bài tập như: Bài tập thực hành, bằng hình

vẽ, bài tập vẽ sơ đồ, biểu đồ

- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho HS năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thực tiễn trong tự nhiên và cuộc sống Chú ý chủ đề về bảo vệ môi trường và phòng chống ma túy

- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan

Ngày đăng: 04/09/2015, 10:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê về mức độ liên hệ  giữa hệ thống kiến thức, kỹ năng với các tình huống   thực tiễn xung quanh đời sống của học sinh - Đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 5 thông qua các bài tập tình huống thực tiễn
Bảng th ống kê về mức độ liên hệ giữa hệ thống kiến thức, kỹ năng với các tình huống thực tiễn xung quanh đời sống của học sinh (Trang 60)
BẢNG THỐNG KÊ CÁC BÀI TẬP - Đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 5 thông qua các bài tập tình huống thực tiễn
BẢNG THỐNG KÊ CÁC BÀI TẬP (Trang 111)
Chương 3. Hình học - Đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 5 thông qua các bài tập tình huống thực tiễn
h ương 3. Hình học (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w