1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK

100 729 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kỹ thuật bón phân komix nhằm tăng năng suất cho vườn cây cà phê robusta tại huyện Krông Ana tỉnh Đaklak
Tác giả Phạm Xuân Vinh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây cà phê được phát hiện và trồng ở Châu Phi từ rất lâu, song mãi đến thế kỷ 15 – 16, nhờ sự hấp dẫn của mùi vị đặc biệt, cũng như tác dụng kích thích làm sảng khoái tinh thần đã làm cho người uống cà phê dần dần trở nên nghiện i.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I

-

-PHẠM XUÂN VINH

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA

TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT

Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KIM THANH

Trang 2

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đượccám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phạm Xuân Vinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thanh, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp

đỡ với tinh thần trách nhiệm cao và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận án này.

Các Thầy Cô giáo khoa Nông học trường Đại Học Nông Nghiệp I đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua.

Các Thầy Cô giáo khoa Nông Lâm trường Đại Học Tây Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận án.

Tôi cũng chân thành biết ơn PGS.TS Phan Quốc Sủng, các bạn đồng nghiệp cũng như người thân đã giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành đề tài.

ĐakLak, ngày 20 tháng 11 năm 2007

Tác giả luận văn

Phạm Xuân Vinh

Trang 5

2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ cà phê trên thế giới và

2.5 Một số kết quả nghiên cứu phân bón đối với cây cà phê vối 19

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30

Trang 6

4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc komix 6.4.6

đến khả năng ra hoa đậu quả và năng suất cà phê robusta trồng

4.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến khả

năng ra hoa, đậu quả của cây cà phê Robusta trồng tại huyện

4.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến khả

năng giữ quả của cây cà phê Robusta trồng tại huyện Krông Ana

4.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến sự

tăng trưởng đường kính quả cà phê ở các thời kỳ theo dõi 414.1.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến các

yếu tố cấu thành năng suất cà phê Robusta trồng tại huyện

4.1.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến

năng suất của cây cà phê Robusta trồng tại huyện Krông Ana

khả năng ra hoa đậu quả và năng suất cà phê robusta trồng tại

4.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá KOMIX - CF đến khả năng

Trang 7

4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá KOMIX - CF đến khả năng

giữ quả của cây cà phê Robusta trồng tại huyện Krông Ana tỉnh

4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX - CF đến động thái tăng

4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX - CF đến các yếu tố cấu

thành năng suất của cây cà phê Robusta 564.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX - CF đến năng suất của cây

cà phê Robusta trồng tại huyện Krông Ana tỉnh ĐakLak 584.2.6.Hiệu quả kinh tế ở các công thức với nồng độ phân bón lá

4.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX – CF đến chiều dài và số

đốt của cành dự trữ trên cây cà phê Robusta 614.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân

bón lá komix - cf đến khả năng ra hoa đậu quả và năng suất cà

phê robusta trồng tại huyện Krông Ana tỉnh ĐakLak 634.3.1 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

KOMIX - CF đến khả năng ra hoa đậu quả của cây cà phê

4.3.2 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

KOMIX - CF đến động thái giữ quả của cây cà phê Robusta 654.3.3 Ảnh hưởng của thời gian giữa hai lần phun phân bón lá KOMIX

– CF đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà phê Robusta

674.3.4 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

KOMIX – CF đến năng suất của cây cà phê Robusta 69

Trang 8

4.3.5 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

KOMIX – CF đến chiều dài cành dự trữ và số đốt của cây cà phê

Trang 9

4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân KOMIX 6.4.6 khác nhau

đến khả năng giữ quả ở các thời kỳ theo dõi 40

4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX đến động

4.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến

4.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân KOMIX bón gốc đến năng

4.9 Khả năng giữ quả ở các công thức thí nghiệm 51

4.10 Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX -CF đến động thái tăng

Trang 10

4.11 Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX –CF các yếu tố cấu

4.15 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

4.16 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

4.17 Ảnh hưởng của khảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

KOMIX –CF đến các yếu tố cấu thành năng suất. 68

4.18 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần phun phân bón lá

4.19 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa hai lần phun phân bón lá

KOMIX –CF đến sinh trưởng phát triển cành và đốt dự trữ.

72

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

4.1 Tỷ lệ đậu quả ở các công thức thí nghiệm 384.2 Tỷ lệ giữ quả ở các công thức thí nghiệm 414.3 Tỷ lệ nhân/quả khô ở các công thức liều lượng bón KOMIX 454.4 Tỷ lệ đậu quả ở các công thức nồng độ phun phân KOMIX-CF

Trang 12

1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở nước ta cây cà phê chiếm một vị trí quan trọng trong các loại câycông nghiệp dài ngày Chính vì vậy mà diện tích cũng như sản lượng cà phêkhông ngừng tăng lên Tính đến nay diện tích cà phê của Việt Nam đã tăng từ13.400 ha vào năm 1975 lên tới trên 500.000 ha vào cuối năm 2007 Sảnlượng từ trên 10.000 tấn vào năm 1975 thì đến nay hàng năm đạt sản lượng từ

700 đến trên 800 ngàn tấn đứng ở vị trí thứ 2 chỉ sau Brazin

Diện tích và sản lượng cà phê của tỉnh Đăk Lăk đến cuối năm 2007 đã

có tới 170.000 ha và sản lượng trên 400.000 tấn, chiếm khoảng 50% sảnlượng cà phê của cả nước, giá trị xuất khẩu của năm 2007 đã thu được gần

400 triệu USD Đặc biệt là sau khi nước ta là thành viên của tổ chức cà phêthế giới (ICO - International coffee Organization) và gia nhập WTO thì vị thếcây cà phê của nước ta có thêm những thời cơ và thuận lợi mới

Việc phát triển cây cà phê là hướng đi đúng cho các địa phương có điềukiện tự nhiên phù hợp Nó mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước (trong 8tháng đầu năm 2007 xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD), dự kiến vụ cà phê niên vụ2007-2008 sẽ có khả năng đạt 1,5 tỷ USD Đây là nguồn lực có ý nghĩa to lớnđóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Chính vì vậy, việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất cây cà phê nhằm tăng năng suất và chất lượng cà phê Việt Nam ngày càngđược quan tâm Đặc biệt là các biện pháp kỹ thuật sản xuất cà phê theo hướngbền vững , tức là đảm bảo hiệu quả tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường

Trong đó, kỹ thuật bón phân hợp lý cho cây cà phê theo hướng bềnvững luôn được quan tâm nghiên cứu Bón phân cho cây cà phê ngoài tácdụng cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để cây sinh trưởng phát triển tốt

Trang 13

thì còn cần đảm bảo cho sự ổn định độ phì của đất Đặc biệt là các tính chấthoá học, vật lý, chất mùn hữu cơ, hệ sinh vật trong đất … Do đó việc sử dụngcác loại phân có nguồn gốc hữu cơ là hết sức quan trọng trong việc sản xuấtnông nghiệp nói chung và cây cà phê nói riêng, nhất là cây cà phê trồng trênđất hạn, đất dốc.

Trong thực tế người sản xuất cà phê thường có thói quen là chỉ dùngphân hoá học để tăng năng suất cà phê Trong thời kỳ kinh doanh hầu nhưphân hữu cơ không được bón Do vậy đã dẫn tới hậu quả: đất trở nên chua,cấu tượng bị phá vỡ, không có điều kiện để duy trì và phát triển hệ vi sinh vật

có ích trong đất đảm bảo sự cân bằng sinh học và giúp cho cây cà phê sinhtrưởng thuận lợi Trong nhiều năm qua, do người trồng cà phê có thói quenbón phân hoá học liên tục và với liều lượng cao đã làm cho hàng chục ngànhéc ta cà phê tại ĐakLak có hội chứng vàng lá, sinh trưởng kém, năng suấtgiảm

Trước tình hình đó, cần thiết phải có chế độ dinh dưỡng và sử dụngphân bón một cách thích hợp, đặc biệt cần tăng cường việc sử dụng các lọaichế phẩm phân hữu cơ sinh học và các loại phân bón có nguồn gốc hữu cơ,nhằm cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây đồng thời có tác dụng cải tạo đất,

để đảm bảo môi trường sinh thái bền vững Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành

đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật bón phân KOMIX nhằm tăng năng suất cho

cây cà phê Robusta tại Huyện Krông Ana tỉnh ĐakLak”.

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

- Xác định kỹ thuật sử dụng phân KOMIX 6.4.6 bón gốc và phânKOMIX – CF bón lá thích hợp, cả về liều lượng phân bón gốc, về nồng độphân bón lá cũng như về phương thức phun phân bón lá KOMIX Trên cơ sở

Trang 14

đó khuyến cáo cho người Nông dân sử dụng phân hữu cơ sinh học KOMIX.

- Đề xuất trong cơ cấu bón phân cho cây cà phê tại ĐakLak cần có phânbón hữu cơ để bổ sung chất hữu cơ cho đất Hướng tới làm thay đổi tập quáncủa người trồng cà phê là chỉ sử dụng phân bón khoáng mà không quan tâmđến loại phân hữu cơ

 Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất kỹ thuật bón phân cho cây cà phêmột cách hợp lý trong điều kiện sản xuất cà phê ở Tây Nguyên Đây cũng

là tài liệu khoa học để tham khảo cho các nghiên cứu và giảng dạy về phânbón cho cây cà phê

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 15

Sử dụng phân bón sinh hoá hữu cơ KOMIX 6.4.6 dạng bột dùng bóngốc và phân KOMIX – CF dạng lỏng dùng phun qua lá sẽ giúp cải thiệnnhanh tình trạng dinh dưỡng cho cây cà phê và góp phần đảm bảo độ phìnhiêu cho đất trồng cà phê, đặc biệt cho các vườn cà phê đã nhiều năm chỉquen sử dụng phân vô cơ, nhằm góp phần tăng năng suất và chất lượng càphê, tăng thu nhập cho người trồng cà phê và đảm bảo cho sản xuất cà phêbền vững.

1.4 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

 Đề tài tiến hành trên giống cà phê vối Robusta 10 năm tuổi

 Địa điểm thực hiện tại huyện Krông Ana tỉnh Đaklak

 Thời gian thực hiện các thí nghiệm từ 20/12/2006 – 30/10/2007

Trang 16

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu cây cà phê

Cây cà phê thuộc bộ cà phê (Rubiales), họ cà phê (Rubiaceae), chi cà phê (Coffea) Các loài cà phê chính có vai trò lớn trong nền sản xuất trên thế

giới là:

2.1.1 Cà phê chè (Coffea arabica L.)

Cà phê chè có nguồn gốc từ cao nguyên của Ethiopia và cao nguyên

Boma của Sudan [26] Cà phê chè Arabica được Linnaeus mô tả lần đầu tiên vào năm 1753 và hơn 100 năm sau đó, cây cà phê chè Arabica đã theo chân

những nhà truyền giáo, những người lính viễn chinh vào Việt Nam [22] Càphê chè Arabica là cây tự thụ phấn, ưa khí hậu mát mẻ, ánh sáng nhẹ, tán xạ.Cây thuộc dạng bụi, cao từ 3 - 4 m Trong điều kiện thích hợp có thể cao tới 6– 7 m Thân cây bé, vỏ mỏng, ít chồi vượt Cành cơ bản, nhỏ yếu và có nhiềucành thứ cấp Lá cà phê có màu xanh sáng, mọc đối nhau, dạng hình bầuthuôn dài, cuống ngắn và mép hơi gợn sóng Lá nhỏ có chiều dài từ 10 – 15

cm, chiều rộng từ 4 – 6 cm và trên mỗi lá từ 9 - 12 cặp gân Hoa cà phê chèthuộc loại tự thụ phấn Quả có dạng hình trứng, thuôn dài, khi chín có màu đỏtươi hoặc màu vàng, thường có 2 nhân Khối lượng trung bình 100 hạt biếnđộng từ 13 – 18 g Hàm lượng cafein trong hạt từ 0,8 – 2 %

Theo Đoàn Triệu Nhạn ở nước ta cà phê chè được trồng ở nhiều nơi,nhất là từ phía Bắc từ vĩ tuyến 190 vĩ bắc trở lên Tuy nhiên cà phê chè vẫnkhông phát triển tốt được, đó không phải vì điều kiện sinh thái mà do bệnh gỉsắt phá hoại Đến tận những năm cuối tập kỷ 80 của thế kỷ XX khi có giống

cà phê chè chống bệnh gỉ sắt Catimor (giống lai giữa Caturra và Hybrido de

Timor) ra đời, giống này có khả năng kháng hầu hết các nòi (tiểu chủng sinh

lý) của nấm gỉ sắt (Hemileiva vastatrix) Cà phê chè mới được phát triển trên

Trang 17

diện rộng [22] Cà phê chè là giống cà phê được trồng lâu đời nhất và cũngchiếm vị trí quan trọng nhất chiếm 70% sản lượng cà phê toàn thế giới Cácchủng cà phê chè được trồng nhiều trên thế giới và Việt Nam là:

Coffea arabica var typyca.

Coffea arabica var bourbon.

Coffea arabica var amarella Chev.

Coffea arabica var Mundo - Novo.

Coffea arabica var caturra.

Coffea arabica var catuai.

Coffea arabica var catimor.

2.1.2 Cà phê vối (Coffea canephora Pierre)

Cà phê vối (C canephora Pierre) có nguồn gốc ở vùng Trung Phi, phân

bố rải rác dưới các tán rừng thưa, thấp thuộc vùng châu thổ sông Côngôkhoảng giữa 100 vĩ bắc và 100 vĩ nam

Cà phê vối thuộc loại cây nhỡ, trong điều kiện tự nhiên có thể cao từ 8– 12 m và có rất nhiều thân do khả năng phát sinh chồi vượt nhanh Cành cơbản to, khoẻ, vươn dài nhưng khả năng phát sinh cành thứ cấp ít hơn so với càphê chè Phiến lá to, hình bầu dục hoặc hình mũi mác có màu xanh sáng hoặcđậm, đuôi lá nhọn, mép lá thường gợn sóng, chiều rộng từ 10 – 15 cm, dài từ

20 – 30 cm Hoa mọc trên các nách lá ở cành ngang thành từng cụm khoảng

từ 1 – 5 cụm, mỗi cụm có từ 1 – 5 hoa, thuộc loại tự bất thụ Thời gian từ lúc

ra hoa cho tới khi quả chín kéo dài từ 9 – 10 tháng Quả hình tròn hoặc hìnhtrứng Khối luợng trung bình 100 hạt ở ẩm độ 12 % là từ 13 – 16 g Tỷ lệ quảtươi / nhân biến động từ 4 – 6 tuỳ theo giống, vùng trồng và điều kiện chămsóc

Hai giống cà phê vối được trồng phổ biến nhất là giống Robusta (C

canephora var Robusta) và giống Kouilou (C canephora var Kouilou)

Trang 18

- Giống cà phê vối Robusta được trồng nhiều nhất ở các nước châu Phi,

Indonesia, Ấn độ , Việt Nam chiếm trên 90% tổng diện tích trồng cà phê vốicủa thế giới Đặc trưng của giống này là cây to khoẻ, tán thưa, lá to, đốt dài, ítcành thứ cấp, quả, hạt to, chín muộn và cho năng suất cao, kháng chịu tốt vớicác loại sâu bệnh

- Giống cà phê vối Kuoilou được trồng với diện tích không lớn

Cà phê được trồng ở Việt Nam, tập trung ở Tây nguyên và các tỉnh phía

Nam là giống cà phê vối Robusta [22] Gồm có ba chủng được trồng phổ biến

sau:

- Coffea canephora var robusta.

- Coffea canephora var kouilou.

- Coffea canephora var iaoulf.

2.1.3 Cà phê mít (Coffea excelxa Chev)

Có 2 dạng là được trồng phổ biến là giống cà phê mít (C liberica var Exelsa) và cà phê dâu da (C liberica var liberica)

- Cà phê mít có nguồn gốc ở Trung Phi được phát hiện đầu tiên năm 1902 tại

xứ Ubagui – Chari nên còn được gọi là cà phê Chari Đặc điểm cây nhỡ cao

từ 15 – 20 m thân to, khoẻ Lá to, dày, rộng từ 15 – 20 cm, dài từ 30 – 40 cm,dạng hình trứng hoặc mũi mác, đầu lá ngắn, có từ 6 – 9 cặp gân lá nổi ở mặtdưới Hoa mọc thành chùm trên nách lá cành ngang, có từ 1 – 5 xim hoa, mỗixim có từ 2 – 4 hoa, thuộc loại tự bất thụ Thời gian từ lúc ra hoa đến khi quảchín kéo dài từ 11 – 12 tháng Quả to, hình trứng, hơi dẹt, núm quả lồi ra Lúcquả chín có màu đỏ sẫm Khối lượng 100 hạt biến động từ 15 – 20 g Hàm lựongcaffein thấp từ 1,02 – 1,15 % Cây cà phê mít có khả năng chịu hạn rất tốt

2.2 Giá trị cây cà phê

Cà phê là cây công nghiệp đặc sản của vùng nhiệt đới Hạt cà phê là

Trang 19

một thức uống được sử dụng rộng rãi hầu hết ở các nước trên thế giới, chủyếu là ở các nước vùng ôn đới.

Hoạt chất chủ yếu chứa trong hạt là cafein chiếm 0,8 - 3% trọng lượngcác chất khô của hạt, có tác dụng kích thích thần kinh và tăng hoạt động của

tế bào não, tăng cường độ làm việc của hoạt động trí óc, hoạt động của hệtuần hoàn, hệ bài tiết, nâng cao phản ứng của hệ thông cơ bắp, nhạy và bềnhơn Do vậy sau khi uống cà phê, con người làm việc sáng suốt và có hiệuquả hơn

Ngoài ra trong hạt cà phê còn có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiếtcho cơ thể con người như: đường saccarô (5,30 - 7,95%) đường khử (0.30 -0,44%) prôtein hoà tan (5,23 - 5,25%), các loại prôtein không hoà tan (5,02 -6,04%)

Các chất sinh tố nhóm B (B1, B2 , B6 ….), và sinh tố PP Đó là những chấtcần thiết cho nhu cầu sinh lý của cơ thể con người Đồng thời cà phê còn cómột hương vị độc đáo, nên tập tục uống cà phê đã trở thành nhu cầu tâm lýcủa con người Mức tiêu thụ cà phê trên thế giới ngày càng cao, cả nhữngnước trước đây có tập quán uống trà thì nay mức tiêu thụ cà phê cũng tăngđáng kể như: Anh, Nhật ……

Các nước đang phát triển mức tiêu thụ cà phê ngày càng tăng, ở ViệtNam trước đây uống cà phê chỉ ở thành phố (phía nam là chủ yếu) đến nayviệc uống cà phê đã lan rộng khắp cả nước, không những ở thành thị mà cònlan rộng ở cả nông thôn

Cà phê là nguyên liệu cho một ngành công nghiệp phát triển như:Bánh, kẹo, rượu và cà phê

Cà phê là một ngành mang lại thu nhập lớn cho đất nước Tổng giá trịkim ngạch xuất khẩu cà phê trên thế giới hàng năm trên 10 tỷ USD

Sản xuất cà phê thu hút được nhiều lao động Cứ 1 ha cà phê thu hút 1

Trang 20

-1,5 lao động (3-4 nhân khẩu), góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân laođộng Ở nước ta hiện nay có khoảng 500.000 ha thì ít nhất cần trên 500.000ngàn lao động trực tiếp tham gia trong lĩnh vực sản xuất cà phê.

Cà phê có thể thay đổi địa bàn sản xuất cây thuốc phiện, góp phần giảiquyết chính sách xoá đói giảm nghèo và tệ nạn xã hội

Sản xuất cà phê làm quan hệ hợp tác quốc tế, thương mại được củng cố

và phát triển

Trồng cà phê cón có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái

Trồng cà phê để tăng cường giữ ẩm, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất, bảo

vệ được nguồn nước, bảo vệ độ che phủ mặt đất tối ưu, đảm bảo an toàn sinhthái, bảo vệ cho năng xuất cây trồng cao và ổn định [27]

2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ cà phê trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Trên thế giới

Cây cà phê được phát hiện và trồng ở Châu Phi từ rất lâu, song mãi đếnthế kỷ 15 – 16, nhờ sự hấp dẫn của mùi vị đặc biệt, cũng như tác dụng kíchthích làm sảng khoái tinh thần đã làm cho người uống cà phê dần dần trở nênnghiện và việc uống cà phê đã trở thành nhu cầu của nhiều người Do vậy màsản phẩm cà phê đã nhanh chóng thâm nhập và phát triển ở nhiều thị trường,lãnh thổ của hầu hết các châu lục Mỹ, Úc, Á, Âu,

Ngày nay, trên toàn thế giới có khoảng 80 nước trồng cà phê với tổngdiện tích trên 10 triệu ha Theo tổ chức cà phê thế giới (ICO)[23] sản lượng càphê thế giới niên vụ 2001 là 108,33 triệu bao và niên vụ 2006 là 123,82 triệubao Trong số số các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thì Brazil là nước

có sản lượng lớn nhất chiếm khoảng 30% sản lượng cà phê thế giới và ViệtNam đứng thứ 2 chiếm khoảng 12%

Theo Phan Quốc Sủng [26] thì diện tích, năng suất và sản lượng cà phê

Trang 21

ở các vùng chủ yếu trên thế giới được phân bố như sau:

Trang 22

Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê các vùng trên thế giới

(1000 ha)

Sản lượng(1000 tấn)

Năng suất(Kg/ha)

Ấn độ, Philipin, Indonexia

Trong những nước có nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn là Mỹ(1.140.000 tấn), Đức (606.000 tấn), Pháp (319.800 tấn), Italy (246.000 tấn),Tân Ban Nha (168.000 tấn) và Hà Lan (156.000 tấn).(Nguyễn Sĩ Nghị, 1992)[19]

Nhu cầu tiêu thụ cà phê của các nước trên thế giới không chỉ về sốlượng mà còn đòi hỏi về chất lượng ngày càng tăng

Theo Phan Quốc Sủng,(1999)[26] trong các giống cà phê đang đượctrồng hiện nay trên thế giới: cà phê chè (Coffea arabica), cà phê vối (Coffeacanephora var robusta L), cà phê mít (Coffea excelsa) thì cà phê chè được ưachuộng nhất trên thị trường nhờ hương thơm, vị dịu Do đó mà giá cà phê chècao hơn cà phê vối từ 30 - 50% và sản lượng cà phê chè trên thế giới cũng

Trang 23

hơn hẳn cà phê vối rất nhiều.

Niên vụ 1990 - 1991 sản lượng cà phê chè (C.arabica) thế giới cao gấp 2,3 lần sản lượng cà phê vối (C.robusta) Đến niên vụ 1991 - 1992 thì gấp 3,2

lần sản lượng cà phê vối Điều này nói lên nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thế giớikhông ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Các nước có nhu cầucao đối với cà phê ngày càng đòi hỏi càng nhiều cà phê chè hơn cà phê vối

2.3.2 Tại Việt Nam

2.3.2.1 lịch sử phát triển cà phê ở Việt Nam

Việt Nam năm ở trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có chế độnhiệt, ẩm và ánh sáng ở nhiều vùng rất thuận lợi cho việc trồng cà phê Chính

vì lẽ đó mà cây cà phê được nhập nội vào trồng ở Việt Nam đã trên 100 Nămnay Năm 1857, những cây cà phê được trồng ở Bố Trạch (Quảng Bình) donhững người truyền đạo pháp mang sang Đến đầu thế kỷ 20 thực dân phápbắt đầu chính thức lập các đồn điền trồng cà phê ở Chi Nê (Hà Sơn Bình), Ba

Vì (Hà Tây), Đồng Giao (Ninh Bình), Phủ quỳ (Nghệ An) và Tây Nguyên bắtđầu trồng từ sau năm 1920, cà phê được chính thức nhập vào Việt Nam đểtrồng trên quy mô của sản xuất bắt đầu từ năm 1888 Tính từ thời gian đó chođến nay cây cà phê đã phát triển rộng hơn trên nhiều vùng sinh thái của nước

ta Cùng với những biến cố của lịch sử đã diễn ra trên đất nước ta từ hơn mộtthế kỷ qua, sản xuất cà phê đã trải qua những thời kỳ phát triển, xen giữa cácthời kỳ giảm sút và cho đến nay cà phê vẫn đứng vững với thời gian, đãkhẳng định được vị trí kinh tế quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân

2.3.2.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam

Nghề trồng cà phê ở nước ta phát triển rất mạnh Diện tích trồng cà phêtăng nhiều lần so với năm 1930 Năng suất, chất lượng cà phê ngày càng tăng.Năng suất cà phê trung bình không chỉ ở mức 8 tạ mà còn tăng lên 10 - 15 tạnhân / ha, thậm chí như ở ĐăkLăk nhờ thâm canh tốt, có nơi năng suất cà phê

Trang 24

đạt 30 -40 tạ nhân/ha trên diện tích hàng trăm ha [22] Nhiều chủ hộ nhậnkhoán, nhiều vườn cà phê tư nhân đạt năng suất từ 40 - 60 tạ nhân/ ha Cá biệt

có một số điển hình đạt từ 80 100 tạ nhân /ha [27] Chỉ tính từ năm 1985

-1990, diện tích cà phê ở nước ta đã tăng lên gần 3 lần, sản lượng tặng hơn 5lần Nếu lấy năm 2007 so với năm 1975 thì diện tích từ 13.400 ha tăng lên500.000 ha, diện tích đã tăng lên 37 lần; còn sản lượng từ 10.000 tấn lên800.000 tấn, sản lượng tăng 80 lần [26]

Từ một nước vốn không ai biết trên thị trường cà phê thế giới thì đếnnay Việt Nam đã đứng vào hàng thứ hai của thế giới về sản lượng xuất khẩu.Năm 1995, cà phê xuất khẩu đã đạt kim nghạch 560 triệu USD sánh ngangtầm với nhiều mặt hàng truyền thống như gạo, hàng may mặc…Niên vụ càphê năm 2006 – 2007 đã xuất khẩu đạt giá trị trên 1 tỷ đôla

Theo Phan Quốc Sủng,(1999)[26] sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Namkhông ngừng tăng lên

Sự kiện các tập đoàn cà phê nổi tiếng của thế giới hầu hết đã có mặt tạiViệt Nam và đặt quan hệ buôn bán với các doanh nghiệp trong nước như:Neuman, Nestlé, E.Dand F.Man … như càng khẳng định thêm uy tín của Việt

Nam, như một trong nước sản xuất Cà phê vối (robusta) hàng đầu thế giới 2.3.2.3 Khả năng phát triển cà phê Việt Nam

* Diện tích cà phê Việt Nam

Cà Phê là là cây công nghiệp có gia trị kinh tế cao, yêu cầu xuất khẩulớn Nước ta có điều kiện để phát triển cà phê trên quy mô lớn Hai triệu hatrên đất đỏ Bazan trải dài trên nhiều vĩ tuyến có các loại hình khí hậu nhiệtđới khác nhau là những điều kiện thiên nhiên thuận lợi để phát triển các loại

cà phê khác nhau Việc đẩy mạnh diện tích Cà Phê của các đơn vị quốcdoanh, cùng với việc đẩy mạnh diện tích Cà Phê nhân dân (doanh nghiệp tưnhân và hộ gia đình) là một chủ trương rất đúng đắn Hiện nay phong trào

Trang 25

trồng cà phê đã lan ra các tỉnh Nghệ An, Quảng Trị, Thanh Hoá, Hoà Bình,Sơn La, Bắc Thái, Lai Châu, Tuyên Quang, Vĩnh Phú …trong đó Tây Nguyên(theo ước lượng của tổng công ty Cà Phê Việt Nam) khoảng 80% lượng càphê việt nam xuất khẩu là do bốn tỉnh Tây Nguyên cung cấp từ tổng diện tích

Cà Phê 180.000 ha, trong đó có 100.000 ha đang khai thác Đaklak 113.500,Lâm Đồng 36.500 ha, Gia Lai 20.000 ha , Kom Tum 10.000 ha [12]

* Những khó khăn chủ yếu hạn chế việc sản xuất Cà Phê ở Việt Nam

Nhà nước chưa có những đầu tư thích đáng vào việc xây dựng các cơ

sở vật chất trong các vùng trồng cà phê như khai hoang, làm đường xá, thuỷlợi việc cung cấp các mặt hàng phục vụ cho trồng cà phê như phân bón,thuốc trừ sâu, giống… không đầy đủ, kịp thời nên không chủ động trong sảnxuất Ví dụ như hạn hán ở Tây Nguyên năm 1994 - 1995 đã làm giảm sảnlượng nghiêm trọng của cà phê là do thiếu chủ động trong việc cung cấpnguồn nước tưới [5]

Do thiếu vốn nên đầu tư thâm canh tăng năng suất còn hạn chế Nhànước chưa có chính sách trợ giá khi giá xuống thấp nên nông dân chưa yêntâm sản xuất

Việc quản lý xuất khẩu cà phê trong thời gian qua phần nào còn lỏnglẻo và có qúa nhiều đầu mối Ơ nước ta có tới 60 đơn vị tham gia xuất khẩu

Cà Phê, do vậy gây tình trạng lộn xộn trong việc mua bán cà phê Nông dân bị

ép phẩm cấp, ép giá trong khi đó các cơ quan xuất khẩu vẫn phải mua giá cao

vì tư thương mua bán vòng vèo Đồng thời khách hàng nước ngoài cũng cóđiều kiện ép giá

Chất lượng xuất khẩu cà phê của nước ta chưa ổn định, một số lô hàngchất lượng thấp vẫn được giao cho khách hàng Từ đó ảnh hưởng đến uy tínxuất khẩu của nước ta Trong năm 2007 đã có tới 1 triệu bao càphê(60kg/bao) của Việt Nam đã bị trả lại tại một số cảng ở Châu Âu vì chất

Trang 26

lượng không đảm bảo, chiếm 82% số lượng cà phê bị trả lại của thế giới Ởcác tỉnh miền núi Phía Bắc, bắt đầu có sản phẩm, nhưng khó tiêu thụ vì nộitiêu thì không hết, còn xuất khẩu thì lượng quá nhỏ, vì vậy nông dân chưa thậtyên tâm trồng mới cà phê

*Phương hướng phát triển Cà Phê trong những năm tới

Theo dự thảo báo cáo của bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn về

“Định hướng phát triển nông nghiệp và công nghiệp chế biến 5 năm 1996 2000” thì hướng phát triển cà phê trong 5 năm tới là:

-Tiếp tục thâm canh cao độ diện tích hiện có

Huy động nguồn vốn của dân nhà nước hỗ trợ cho vay khoảng 50%nhu cầu và kêu gọi vốn đầu tư của nước ngoài Tiếp tục đầu tư trồng mới 5 - 6vạn ha cà phê,trong đó 4 - 5 vạn ha cà phê chè (C arabica) trồng ở các tỉnhmiền núi Phía Bắc, trồng mới bổ sung 1- 2 vạn ha cho liền vùng, liền khoảnh

cà phê vối (C robusta) ở Tây Nguyên

Đầu tư xây dựng thêm các cơ sở chế biến theo công nghệ mới: tách vỏ,chọn hạt, đánh bóng, rang xay đảm bảo công xuất chế biến năm 2000 đạt200.000 tấn/ năm trên các địa bàn Tây Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh vàNha Trang Ở các tỉnh Phía Bắc tạm thời sử dụng một số cơ sở chế biến nhỏ(do sản phẩm thu hái còn ít)

2.4 Yêu cầu sinh thái của cây cà phê

2.4.1 Khí hậu

Các yếu tố khí hậu chính:

- Nhiệt độ: Cây cà phê sống trong điều kiện nhiệt độ từ 5-35oC nhưng nếunhiệt độ > 35oC thì cây ngừng quang hợp Nếu nhiệt độ xuống dưới 5oC thìcây ngừng sinh trưởng và phát triển Khả năng chịu rét của cây cà phê rất kém(khả năng chịu rét của cây cà phê vối kém hơn cà phê chè) Ơ nhiệt độ 7oCcây đã ngừng sinh trưởng và từ 5oC trở xuống cây bắt đầu bị gây hại nghiêm

Trang 27

trọng Nhiệt độ thích hợp cho cây cà phê vối sinh trưởng và phát triển tốt là24-26oC Do đó những vùng thường xuyên bị sương muối thì không nên trồng

cà phê Song phạm vi nhiệt độ phù hợp đối với từng giống cà phê có khácnhau

+ Cà phê chè ưa nơi mát và hơi lạnh Phạm vi thích hợp từ 18 – 250C,thích hợp nhất từ 20 – 220C

+ Cà phê vối thích hợp với nơi nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp từ 22 – 260C,thích hợp nhất từ 24 – 260C Nhiệt độ giảm xuống tới 00C làm thui cháy cácngọn non, nếu kéo dài làm cháy cả lá già đặc biệt là vùng hay xuất hiện sươngmuối Gió rét và giá nóng đều bất lợi đối với sinh trưởng cà phê

Sự chênh lệch về nhiệt độ giữa các tháng trong năm cũng như biên độnhiệt độ giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, đặc biệt làhương vị của hạt cà phê Ở những vùng vào giai đoạn hạt cà phê được hìnhthành và tích luỹ chất khô, nhiệt độ càng xuống thấp và chênh lệch biên độgiữa ngày và đêm càng cao thì chất lượng cà phê càng cao [31] Độ chênhlệch này cao thì phẩm chất cà phê thơm ngon vì ban ngày nhiệt độ cao thúcđẩy quá trình quang hợp, tích luỹ chất khô và ban đêm nhiệt độ xuống thấp sẽhạn chế sự tiêu hao các chất đã được tích luỹ [9]

- Lượng mưa: Cây cà phê cần một lượng mưa cả năm khá cao và phân bốtương đối đồng đều giữa các tháng trong năm nhưng phải có một thời giankhô hạn tối thiểu từ 2 – 3 tháng Thời gian khô hạn này chính là yếu tố quyếtđịnh đến quá trình phân hoá mầm hoa ở cây cà phê Tuy nhiên nếu thời giankhô hạn kéo dài, cây sẽ bị khô chết do thiếu nước, nên bắt buộc phải tướinước trong mùa khô

+ Đối với cà phê chè yêu cầu lượng mưa từ 1.300 mm- 1.900 mm Càphê chè cần có một khoảng thời gian khô hạn từ 2 – 3 tháng để tạo điều kiệnthuận lợi cho quá trình phân hoá mầm hoa Cà phê chè có khả năng chịu được

Trang 28

hạn tốt hơn cà phê vối Tại một số vùng như Đăk H’lấp (Đak Nông) hoặcvùng Đà lạt (Lâm Đồng) ở đây mùa khô không kéo dài và khốc liệt, cà phêchè chỉ cần tưới một đến hai lần thậm chí có hộ không tưới nước nhưng vẫncho năng suất cao [31].

+ Cà phê vối cần một lượng mưa từ 1.300-2.500 mm Yêu cầu thời giankhô hạn cho quá trình phân hoá mầm hoa ít nhất là từ 2 – 3 tháng sau giai thuhoạch, giai đoạn nở hoa thời tiết phải khô ráo, không có mưa, mưa phùn hoặcsương mù nhiều, để quá trình thụ phấn được thuận lợi Trong điều kiện ở TâyNguyên và một số tỉnh phía Nam do có một mùa khô hạn kéo dài tới 5 – 6tháng vì vậy để cho cây sinh trưởng và cho năng suất cao trong những thángkhô hạn ở đây phải tưới từ 3 – 5 lần với lượng nước trung bình cho mỗi lầntưới là từ 500 – 600 m3/ha

+ Cà phê mít có yêu cầu về nhiệt độ và lượng mưa tương tự như cà phêvối Song cà phê mít có bộ rễ ăn sâu, vì vậy có thể trồng ở những nơi cólượng mưa ít hơn

- Ẩm độ không khí: Ẩm độ không khí có liên quan trực tiếp đến quá trìnhbốc thoát hơi nước của cây vì vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinhtrưởng của cây trồng Đối với cây cà phê ẩm độ không khí phải trên 70% mớithuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây Đặc biệt là giai đoạn cà phê

nở hoa cần phải có ẩm độ cao, do đó tưới nước bằng biện pháp phun mưa rấtthích hợp cho quá trình nở hoa của cà phê Tuy nhiên nếu độ ẩm không khíquá cao cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều đối tượng sâu bệnh hại pháttriển Ngược lại nếu ẩm độ quá thấp cộng với điều kiện khô hạn, nhiệt độ caolàm cho quá trình bốc thoát hơi nước tăng lên mạnh mẽ hậu quả là cây bịthiếu nước, các mầm, nụ hoa bị thui, quả non bị rụng

- Ánh sáng: Cà phê thích ánh sáng tán xạ, ánh sáng trực xạ làm cây bị kíchthích ra hoa quá độ dẫn tới hiện tượng khô cành, khô quả, vườn cây xuống

Trang 29

dốc nhanh Ánh sáng tán xạ có tác dụng điều hoà sự ra hoa, phù hợp với cơchế quang hợp tạo thành và tích luỹ chất hữu cơ có lợi cho cà phê, giữ chovườn cây lâu bền, năng suất ổn định Để điều tiết được ánh sáng phù hợp yêucầu sinh trưởng của từng loại cà phê trên các vùng sinh thái khác nhau người

ta có thể trồng cây che bóng cho cà phê, đặc biệt ở những vùng có cao độthấp, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào rất cần cây che bóng

Theo Hoàng Thanh Tiệm, cây che bóng ở vùng này không chỉ có tác dụngđiều hoà nhiệt độ trong vườn, giảm quá trình bốc thoát hơi nước mà còn làmhạn chế khả năng phát dục của cây, tránh cho cây bị kiệt sức dẫn đến khôcành, khô quả do năng suất quá cao và quá sớm Bên cạnh đó cây che bóngcòn có tác dụng làm cho thời gian quả chín chậm lại, đủ thời gian để cho hạttích luỹ các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các hợp chất thơm làm cho chấtlượng tăng lên [31]

- Gió: Gió lạnh, gió nóng, gió khô đều có hại đến sinh trưởng của cây càphê Gió quá mạnh làm các lá bị rách, rụng lá, các lá non bị thui đen, gió nónglàm cho lá bị khô héo Gió làm tăng nhanh quá trình bốc thoát hơi nước củacây và của đất đặc biệt là trong mùa khô Vì vậy cần có đai rừng để chắn gió

và cây che bóng cho cây cà phê, ngoài ra còn để hạn chế sự hình thành và táchại của sương muối

2.4.2 Đất đai

Đất trồng cây cà phê không có sự khắt khe về nguồn gốc địa chất, nó cóthể phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng trênBazan, Đất đỏ vàng trên phiến sét hoặc đất xám trên Granite… Trong đó, vớiđất nâu đỏ trên Bazan, cà phê thường sinh trưởng tốt và cho năng suất cao.Cây cà phê đòi hỏi ở đất đặc tính vật lý nhiều hơn đặc tính hoá học

Về mặt lý tính hai đặc tính quan trọng nhất là tầng đất sâu và cấu tượngđất tơi xốp là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát

Trang 30

triển và năng suất.Tuy nhiên, trên loại đất có tầng đất sâu và đất có kết cấuviên thể đoàn lạp bền vững cây cà phê sinh trưởng phát triển tốt hơn cả.Yêucầu cơ bản đối với đất trồng cà phê là đất phải có tầng sâu từ 70 cm trở lên,

có độ thoát nước tốt (không bị úng lầy) [25] Nhận định về tính chất vật lý củađất trồng cà phê Hoàng Thanh Tiệm cũng cho rằng, đất bazan rất thích hợp đểtrồng cà phê, đất bazan thường có cấu tượng đoàn lạp thể bền vững, độ tơixốp cao (60 – 65 %), dung trọng thấp (08 – 1,0), thoát nước nhanh, thoángkhí, khả năng giữ ẩm tốt [31]

Theo số liệu điều tra của Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh ĐăkLăk trên địa bàntỉnh có tới 1.645 ha cà phê do trồng trên các loại đất sỏi, tầng canh tác mỏng,mạch nước ngầm cao nên bị bệnh vàng lá do thối rễ hoặc bộ rễ kém phát triêngây nên [6]

René Coste cũng cho rằng ở Brazil, tại những vùng đất có độ màu mỡdưới trung bình nhưng có lý tính đất tốt cây cà phê đã phát triển rất mạnh bộ

rễ Ở những vùng đất chắc và nông, rễ cọc bị ngắn, các rễ khác chỉ lan rộngtrong các tầng đất mặt và không dày quá 30 cm [48]

Ở Việt Nam trên các vùng cao nguyên như granit, sa phiến thạch, phù sa

cổ, gneiss, đá vôi, dốc tụ đều trồng được cà phê Ở cà phê vườn có khả năngtrồng được ở cả nơi đá lộ đầu, ở những nơi đất dốc vẫn trồng được cà phê nếulàm tốt công trình chống xói mòn Dù trồng ở trên loại đất nào nhưng vai tròcủa con người có tính quyết định trong việc duy trì, bảo vệ nâng cao độ phìnhiêu đất [48]

Như vậy có thể thấy rằng yếu tố khí hậu và đất đai đều rất quan trọngđối với sinh trưởng và phát triển của cây cà phê, tuy nhiên, đất đai là yếu tốkhông khắt quá khe như yếu tố khí hâu, vì vậy khi đã xác định được vùng khíhậu thích hợp để trồng cà phê, với yếu tố đất đai chúng ta có thể dùng nhiềubiện pháp kỹ thuật để để duy trì, cải tạo tính chất đất bằng cách bón phân,

Trang 31

che phủ đất chống xói mòn, tưới tiêu để có thể tạo ra năng suất như mongmuốn Đặc biệt là việc sử dụng phân bón lá và phân hữu cơ cho cà phê có thểkhắc phục được một số nhược điểm của đất

2.5 Một số kết quả nghiên cứu phân bón đối với cây cà phê vối

2.5.1 Các loại phân hữu cơ sử dụng trong sản xuất cà phê tại Tây Nguyên.

Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [38]: Phân hữu cơ là các loại chất hữu cơkhi vùi vào đất sau khi phân giải có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng chocây Quan trọng hơn nữa là phân hữu cơ có khả năng cải tạo đất lớn

Và theo Bùi Huy Hiền (2005) [12]: Phân chuồng nói riêng và phân hữu cơnói chung có ưu điểm là luôn luôn chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng: đạm,lân, kali, canxi, magiê, natri, silic, các nguyên tố vi lượng như: đồng, kẽm,mangan, coban, bo, molipden, tuy hàm lượng không cao Đó là điều mà khôngmột loại phân bón vô cơ nào có được Ngoài ra phân hữu cơ cung cấp chất mùnlàm kết cấu đất tốt lên, tơi xốp hơn tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh, hạnchế quá trình bốc hơi nước mặt đất, chống được hạn, chống xói mòn

Theo Phùng Quang Minh - Pol Deturek - Pieter Vervaeke (1999) [16]:

Từ rất lâu, người ta thừa nhận vai trò rất đặc biệt của chất hữu cơ đất (CHCĐ)đối với độ phì, vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến các tính chất khác nhau của đất

Sự đóng góp của CHCĐ đối với độ phì nhiêu của đất chính là quá trình phóngthích chất dinh dưỡng thông qua các hoạt động của vi sinh vật, đồng thờiCHCĐ cũng là nguồn năng lượng nuôi dưỡng các hoạt động của vi sinh vậtđất

Ở Tây Nguyên các loại phân hữu cơ thường được khuyến cáo và sửdụng để bón cho cà phê như: phân chuồng (gồm: phân trâu, bò, dê, ngựa, heo,

gà, ), phân xanh (thân lá các loại cây phân xanh họ đậu gieo trồng, một sốcây cỏ hoang dại, ), than bùn (phân trấp) và phân rác (chất thải hữu cơ đôthị, phụ phế phẩm nông nghiệp, ),

Trang 32

Nguyễn Thị Quý Mùi (2001) [17]: Ở các nước có nền nông nghiệp hóahọc phát triển thì phân chuồng vẫn được coi là loại phân quý, không chỉ làmtăng năng suất cây trồng mà còn làm tăng hiệu lực phân hóa học, đặc biệt làcải tạo đất vì phân chuồng chứa hầu hết các chất dinh dưỡng cho cây nhưđạm, lân, kali và cả các nguyên tố vi lượng như Bo, Mo, Cu, Mn, Zn, cáckích thích tố như auxin, heteroauxin và nhiều loại vitamin.

Phân chuồng thường được dùng để bón lót cho cà phê khi trồng mới vàbón bổ sung theo định kỳ 2-3 năm/lần trong giai đoạn kinh doanh với lượng10-20 tấn/ha

Nguyễn Tử Siêm - Thái Phiên (2002) [24]: Khối lượng dinh dưỡng dophân xanh đem lại là rất đáng kể, đặc biệt là đạm và kali Trung bình một haphân xanh trồng đông đặc có thể đưa lại 500 kg N và 500 kg K

Cây phân xanh thường được cắt tỉa vào giai đoạn ra hoa, là thời kỳ cókhối lượng chất xanh cũng như hàm lượng dinh dưỡng đạt mức cao nhất Saukhi cắt, toàn bộ phần thân lá tươi được chôn vùi (ép xanh) vào đất mà ít khihoặc không qua xử lý ủ như các loại phân hữu cơ khác

2.5.1.2 Than bùn

Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [38]: Than bùn được tạo thành do sự phângiải không hoàn toàn các cây đầm lầy khi độ ẩm cao và thiếu không khí

Trang 33

Thành phần, tính chất than bùn phụ thuộc vào loài thực vật và điều kiện hìnhthành.

Bùi Huy Hiền (2005) [12]: Các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng thanbùn như: pH, OC, N, P, K, S, Fe2+, Al3+; các kim loại nặng: Cu, Pb, Zn, Cd,

Theo Website Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn [5]: Trong than bùn hàm lượng chất vô cơ là 18 - 24%, phần còn lại làcác chất hữu cơ Trên thế giới, trữ lượng than bùn vào khoảng 300 tỷ tấn,chiếm 1.5% diện tích bề mặt quả đất Than bùn được sử dụng trong nhiềungành kinh tế khác nhau Trong nông nghiệp, than bùn được sử dụng để làmphân bón và tăng chất hữu cơ cho đất

Than bùn cho phản ứng chua Hàm lượng các chất dinh dưỡng trongthan bùn thay đổi tùy thuộc vào thành phần các loài thực vật và quá trình phânhủy các chất hữu cơ Số liệu phân tích than bùn ở một số địa điểm có than bùnmiền Đông Nam Bộ thu được như sau:

Bảng 2.2: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn

ở miền Đông Nam Bộ

2.5.1.3 Phân rác, phụ phẩm nông nghiệp

Nguyễn Thị Quý Mùi (2001) [17], Website Cục Trồng trọt - Bộ Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn [5]: Phân rác là loại phân hữu cơ được chếbiến từ rác, cỏ dại, thân lá cây xanh, bèo tây, rơm rạ, chất thải (hữu cơ) thành

Trang 34

phố v.v được ủ với một số phân men như phân chuồng, nước giải, lân, vôi,

… cho đến khi hoai mục

Phân rác có thành phần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng và thay đổitrong những giới hạn rất lớn tùy thuộc vào bản chất và thành phần của rác Nguyên liệu để làm phân rác có các loại sau đây:

- Rác các loại (các chất phế thải đã loại bỏ các tạp chất không phải làhữu cơ, các chất không hoai mục được)

- Tàn dư thực vật sau khi thu hoạch, chế biến như rơm rạ, thân lá cây,

vỏ trấu, lõi ngô,

- Các chất gây men và phụ trợ (phân chuồng hoai mục, vôi, nước tiểu,bùn, phân lân, tro bếp)

Theo Đào Châu Thu và cộng sự (2005) [29]: Phân hữu cơ được chếbiến từ nguồn rác thải hữu cơ sinh hoạt góp phần cung cấp thêm một lượngphân hữu cơ an toàn, có chất lượng cho sản xuất nông nghiệp Việc tậndụng rác thải sinh hoạt hữu cơ làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ có ýnghĩa đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hữu cơnói riêng, đây là nguồn phân hữu cơ bổ sung vào đất góp phần vào chươngtrình phát triển nông nghiệp bền vững và an toàn đang là những mục tiêuphấn đấu ở nước ta

Theo Bùi Huy Hiền (2005) [12]: Tùy theo nguyên liệu và kỹ thuật ủ,thành phần trung bình (%) của phân rác như sau: 0,5-0,6 N; 0,4-0,6 P2O5; 0,5-0,8 K2O; 3-6 CaO

Theo Lê Hồng Lịch - Trình Công Tư (2005) [14]: Nguồn tàn dư hữu cơtại chỗ của vườn cà phê kinh doanh bao gồm:

- Cành lá cây che bóng, chắn gió được rong tỉa và rụng hàng năm

- Cành lá cà phê vô hiệu (lá tự rụng và do tạo hình)

- Cỏ và cây hoang dại trên bờ, trong lô cà phê

Trang 35

Kết quả điều tra cho thấy nguồn sinh khối hữu cơ trên các lô cà phê cóthể làm phân bón là rất lớn

Bình quân hàng năm lượng tàn dư hữu cơ trên lô cà phê có thể thu được

25 tấn/ha đối với đất bazan và hơn 20 tấn đối với đất granit Khối lượng nàygấp 1,2-1,5 lần so với tổng sinh khối rơm, rạ tươi của một hecta ruộng lúanước (16-17 tấn rơm rạ/ha/năm)

Về chất lượng của các loại tàn dư hữu cơ thì không thua kém gì so vớicác loại hữu cơ đã được khuyến cáo sử dụng như cỏ lào, muồng hoa vàng, cốtkhí và chỉ kém phân chuồng chút ít (bảng 2.15)

Ngoài ra, lượng vỏ quả cà phê thu được qua chế biến hằng năm cũngkhá lớn và đây là nguồn hữu cơ cần khuyến khích sử dụng Ước tính trên toànvùng Tây Nguyên có khoảng 500 nghìn hecta cà phê các loại, với năng suấttrung bình 3 tấn nhân/ha thì hằng năm lượng vỏ cà phê khô thu được có thểlên đến một triệu tấn

Theo Bùi Tuấn (2005) [36]: Vỏ cà phê là nguồn hữu cơ quí cần được

sử dụng để bón cho cây trồng Bón vỏ cà phê không những cải tạo độ phì và cấu trúc đất, giảm lượng phân khoáng, mà còn hạn chế sự bốc thoát hơi nước trên vườn cà phê trong những tháng mùa khô

2.5.1.4 Các loại phân hữu cơ khác

Ngoài các loại phân hữu cơ trên, còn có một số loại phân hữu cơ kháccũng được sản xuất và khuyến cáo bón cho cà phê Nhìn chung thành phầncủa các loại phân này gồm: chất hữu cơ đã xử lý (thường là than bùn, phânrác và một ít phân chuồng) + men vi sinh vật (phân giải xenlulo, lân hay cốđịnh đạm, ) + phân vô cơ Tùy thành phần mà các loại phân này có các têngọi như: hữu cơ vi sinh, lân hữu cơ vi sinh, lân hữu cơ vi lượng, phân khoánghữu cơ, Do thành phần và tính chất chủ yếu là hữu cơ vi sinh nên thườngđược khuyến cáo bón theo chức năng xúc tác, kèm với các loại phân hữu cơ

Trang 36

sơ chế khác như phân chuồng, phân xanh, phân rác, phụ phế phẩm nôngnghiệp,

2.5.2 Kết quả nghiên cứu và sử dụng phân hữu cơ cho cà phê

Phân hữu cơ có đặc tính khác với phân hoá học là ngoài tác dụng cung cấpchất dinh dưỡng cho cây trồng nó còn có tác dụng duy trì và nâng cao độ phìđất Khi kết hợp bón với phân hoá học, phân hữu cơ có khả năng làm tănghiệu lực của phân hoá học Theo Trình Công Tư, Lương Đức Loan, TháiPhiên (1963) nếu chỉ bón N, P, K đơn thuần thì hệ số sử dụng phân thấp, đốivới N dưới 45 %, đối với P là 21 % và với kali là 46 %, nếu bón kết hợp NPKvới phân hữu cơ (10 tấn/ha) thì có thể nâng cao hệ số sử dụng N, P, K lần

lượt là 51 %, 21 % và 52 %

Tại Kenya trong thí nghiệm bón phân hữu cơ cho cà phê, việc đào rãnh vàbón 25 tấn phân chuồng/ha có tác dụng làm cho bộ rễ cà phê phát triển mạnh

so với việc bón trên mặt rồi lấp lại bằng cách xới xáo nhẹ [48]

Theo Lê Ngọc Báu lượng phân chuồng bón cho cà phê trồng mới là 20 m3

/ha, bón bổ sung định kỳ 3 năm một lần với lượng phân tương đương với bónlót [1] Khi điều tra trên 36 vườn cà phê ở địa bàn Đak Lak, Gia Lai, KonTum có năng suất 5 – 6 tấn nhân/ha tác giả còn cho rằng bón từ 300 – 400 kg

N, 100 – 150 kg P2O5; 400 – 500 kg K2O và 15 – 20 tấn phân chuồng /ha cógiá trị thuyết phục cao nhất đối với các hộ trồng cà phê [2]

Theo Trình Công Tư trong thâm canh phải bón phân hữu cơ phối hợp vớiphân khoáng thì mới đem lại hiệu quả cao Kết quả thí nghiệm bón phân trên

cà phê vối cho thấy, nếu chỉ bón phân khoáng năng suất cà phê không thể đạttrên 3,5 tấn nhân/ha, song bón phân khoáng kết hợp với 10 tấn phânchuồng/ha năng suất có thể đạt trên 4 tấn/ha [37]

Trang 37

Trong vườn cà phê kinh doanh nhiều năm, lượng lá rụng và cành khô cắttỉa hàng năm khá lớn lên đến 5 – 7 tấn /ha, do dó có thể lợi dụng nguồn tàn dưthực vật có sẵn này tăng thêm lượng phân hữu cơ cho đất Bằng cách đào bồn

ép tàn dư thưc vật có sẵn này đã cải thiện được hàm lượng chất hữu cơ trongđất, làm cho đất tơi xốp hơn một cách có ý nghĩa [2] Trong trường hợp nàyviệc bón bổ sung thêm các chế phẩm vi sinh vật vào gốc, quá trình phân giảichất hữu cơ sẽ thuận lợi hơn, giải phóng ra nhiều chất dễ tiêu cung cấp chocây sử dụng, làm tăng thêm tác dụng phân của phân hữu cơ có trong đất

Cây cà phê là cây yêu cầu dinh dưỡng cao, nên đòi hỏi phân bón nhiều,nếu không cung cấp kịp thời và đầy đủ dinh dưỡng sẽ gây nên tình trạngkhủng hoảng và kiệt quệ cho cây cà phê

Để bón phân một cách khoa học cần căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡngtrong đất, hàm lượng dinh dưỡng mà cây cà phê đã lấy đi của đất qua từngvụ… các loại phân thông dụng thường bón cho cà phê:

Phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh và các tàn dư thực vật trên lô)đây là loại phân rất lý tưởng cho cây cà phê ngoài việc cung cấp những chấtdinh dưỡng cơ bản như N P K còn cung cấp các chất vi lượng như Bo, Cu,Mn… Các chất kích thích sinh trưởng các loại Vitamin, đồng thời cải tạo đấtgiúp cây cà phê phát triển bền vững Đối với cà phê kiến thiết cơ bản và thời

kỳ kinh doanh nếu đất tốt thì 3-4 năm bón phân chuồng 1 lần, nếu đất xấu thì

2 năm bón 1 lần với lượng khoảng 20m3/ha, tương đương 11-15tấn/ha

Nghiên cứu về vai trò của chất hữu cơ trong việc nâng cao độ phìnhiêu thực tế của đất Bazan trồng cà phê của Lương Đức Loan đã khẳng định:Lượng hữu cơ trong đất nếu bị giảm nghiêm trọng làm cho hàng loạt chỉ tiêuvật lý, hoá học của đất sụt giảm theo Bởi lẽ hữu cơ đất có mối quan hệ chậtchẽ với các chỉ tiêu vật lý và hoá học Do đó để ổn định và bảo vệ độ phìtrước hết là phải bảo vệ và ổn định hàm lượng hữu cơ đất Bón phân hữu cơ

Trang 38

vào đất không những cung cấp trực tiếp dinh dưỡng cho cây trồng mà cònđiều khiển độ phì nhiêu thực tế của đất: làm tăng cấu trúc đất, cải thiện cácchỉ tiêu vật lý đất theo hướng có lợi cho cây, giảm năng lực cố định lân, tănghàm lượng lân dễ tiêu, tăng hiệu lực bón phân hoá học, 80-90% trường hợpbón các loại phân hữu cơ vào đất đều bội thu.

Nghiên cứu về vai trò của phân hữu cơ vi sinh tổng hợp trong việcnâng cao năng suất và ổn định độ phì nhiêu đất trồng cà phê ở Đăk Lăk cáctác giả Hồ Công Trực, Nguyễn Tử Hải và Lương Đức Loan đã có những kếtluận: Bón phân hữu cơ vi sinh có chiều hướng làm thay đổi đặc tính của đấttheo chiều hướng có lợi, làm tăng số lượng vi sinh vật có ích sống ở trong đất,tăng hoạt động sinh học trong đất, giúp cây sinh trưởng tốt và năng suất cao.Tuy nhiên kết quả nghiên cứu trên cũng cho thấy nếu quá đề cao vai trò củaphân hữu cơ vi sinh mà giảm lượng phân khoáng xuống quá nhiều thì ảnhhưởng xấu đến sinh trưởng phát triển của cây trồng, làm năng suất cây trồngsụt giảm Bón 2667 kg phân HCVS tổng hợp kết hợp bón phân khoáng cho đủlượng dinh dưỡng 300 N-100P2O5-250K2O cho hiệu quả kinh tế và hệ số lãicao nhất Tuy nhiên nếu điều kiện không cho phép thì nên sử dụng 50% phânHCVS tổng hợp kết hợp 50% phân khoáng cũng cho hiệu quả kinh tế khá cao

Phân hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao độphì nhiêu đất Bazan thoái hoá Khối lượng hữu cơ vùi vào đất càng nhiều thì độphì nhiêu phục hồi càng nhanh, nghiên cứu về bón phân hữu cơ cho đất dốckhông những cung cấp trực tiếp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn ổn định độphì nhiêu thực tế của đất, cải thiện được tính chất vật lý có lợi cho cây, làmtăng cấu trúc đất, tăng các cấp hạt có giá trị nông học Tăng khả năng giữ ẩm,hạn chế sự khuyết tán của đất Đặc biệt nếu bón phân hữu cơ vào đất đồi dốc đãlàm tăng hàm lượng lân dễ tiêu, giảm quá trình cố định lân, tăng dung dịch hấpthụ là cơ sở để tăng hiệu lực của phân hoá học [15]

Trang 39

Về canh tác bền vững trên đất dốc nhiều tác giả đã khẳng định: Hữu cơ

là chỉ tiêu độ phì quan trọng của đồi núi Tây Nguyên, mỗi khi cải thiện đượctình trạng hữu cơ ở trong đất thì hàng loạt các chỉ tiêu độ phì khác thay đổitheo hướng có lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng nhờ vậy làmtăng đáng kể năng suất

Hiện nay với mục đích bảo vệ môi trường, ổn định độ phì nhiêu rấtnhiều chủng loại phân hữu cơ vi sinh ra đời và được ứng dụng vào sản xuất.Nghiên cứu hiệu lực của nhiều loại phân này đối với cây cà phê trên đất Badan cho thấy:Bón phân hữu cơ vi sinh có chiều hướng làm thay đổi đặc tínhđất trồng cà phê theo hướng có lợi, tăng số lượng vi sinh vật có ích ở trongđất, tăng hoạt động sinh học trong đất, giúp cây tăng trưởng tốt và năng suấtcao Song cũng cần cảnh báo rằng: bón phân vi sinh để cải tạo đất và tănghiệun lực phân bónkhoáng chứ không nên thay thế toàn bộ phân bón khoáng

vì như thế thì hiệu quả rất thấp

Theo Tiến sĩ Trương Hồng thì thì con đường bồi dưỡng chất dinhdưỡng cho đất bằng chất hữu cơ chủ yếu phải bằng phân chuồng Chất hữu cơcũng được bón vào với phân chuồng có ảnh hưởng tổng hợp và có lợi cho đất

và cây trồng, không chỉ cải thiện tính chất vật lý, hoá học của đất mà còn kíchthích sự phát triển của hệ động vật và vi sinh vật đất

Tác giả Bùi Tuấn trong bài: “Duy trì độ phì của đất để canh tác bềnvững trên đất dốc Tây Nguyên” có nêu: Với đặc trưng cơ bvản là địa hình đồinúi cao và dốc lớn, các loại đất ở Tây Nguyên có đặc điểm chung là có phảnứng chua, tích luỹ sắt nhôm mạnh, nghèo chất lân và kali , khoáng hoá nhanhlàm giảm nhanh lượng hữu cơ trong đất và nhấn mạnh:Nếu bón phân hoá họckết hợp với các loại phân hữu cơ hay tàn dư thực vật thì tác dụng bảo vệ và cảitạo đất càng tăng lên rõ rệt Tác giả cũng giải thích nguyên nhân làm giảm sứcsản xuất của đất là do đất dốc ở Tây Nguyên có sự khoáng hoá nhanh và xói

Trang 40

mòn bề mặt mạnh làm suy giảm lượng hữu cơ trong đất Xác định vai trò củachất hữu cơ trong đất giữ vai trò như là một vùng đệm sinh học trong việc duytrì sự cung cấp sự cân đối dinh dưỡng cho cây trồng và các dưỡng chất trongđất thành dạng dễ tiêu cung cấp cho cây trồng Do đó tái sử dụng tất cả tàn dưchất hữu cơ cho cây trồng luôn là điều kiện tiên quyết để duy trì độ phì đấtnâng cao hệ số sử dụng phân khoáng của cây trồng và cải thiện cấu trúc đất.

Ngày đăng: 16/04/2013, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Ngọc Báu (2001), Nghiên cứu mô hình thâm canh cà phê vối (Coffea canephora var. robusta) có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao ở Đak Lak, Luận án tiến sĩ khoa học, Trường Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình thâm canh cà phê vối (Coffeacanephora var. robusta) có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao ởĐak Lak
Tác giả: Lê Ngọc Báu
Năm: 2001
3. Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Trọng Thi, Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Chiến (2003), Bón phân cân đối cho cây trồng ở Việt Nam - Từ lý luận đến thực tiển, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối cho cây trồng ở Việt Nam - Từ lý luận đến thựctiển
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Trọng Thi, Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
4. Lê Văn Căn (1975), Sổ tay phân bón, Nhà xuất bản Giải phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phân bón
Tác giả: Lê Văn Căn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giải phóng
Năm: 1975
5. Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ phân bón, http//www.cuctrongtrot.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến bộ kỹ thuật và công nghệphân bón
6. Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Đăk Lăk (1997), Báo cáo khoa học: kết quả điều tra và xác định nguyên nhân gây ra bệnh vàng lá trên cây cà phê vối, Chi cục BVTV tỉnh Đăk Lăk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học: kết quảđiều tra và xác định nguyên nhân gây ra bệnh vàng lá trên cây cà phê vối
Tác giả: Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Đăk Lăk
Năm: 1997
8. Nguyễn Trí Chiêm và Phạm Châu (1995), “Chẩn đoán nhu cầu nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây cà phê để có cơ sở bón phân hợp lý”, Kỷ yếu 10 năm nghiên cứu khoa học (1983 – 1993), Viện nghiên cứu cà phê, tr.298 – 311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán nhu cầu nhu cầudinh dưỡng khoáng của cây cà phê để có cơ sở bón phân hợp lý”, "Kỷ yếu10 năm nghiên cứu khoa học (1983 – 1993)
Tác giả: Nguyễn Trí Chiêm và Phạm Châu
Năm: 1995
9. Bùi Thế Đạt và Vũ Khắc Nhượng, (1998), Kỹ Thuật gieo trồng và chế biến chè và cà phê, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ Thuật gieo trồng và chế biếnchè và cà phê
Tác giả: Bùi Thế Đạt và Vũ Khắc Nhượng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
10. Phan Thị Hồng Đạo (1984), “Một số kết quả bước đầu về loại tổ hợp phân bón khoáng và liều lượng phân lân đối với cà phê con trong giai đoạn vườn ương”, Thông tin Cà phê ca cao, Liên hiệp các xí nghiệp Cà phê - Viện nghiên cứu cà phê, (4), tr. 13 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả bước đầu về loại tổ hợp phânbón khoáng và liều lượng phân lân đối với cà phê con trong giai đoạnvườn ương”, "Thông tin Cà phê ca cao
Tác giả: Phan Thị Hồng Đạo
Năm: 1984
12. Bùi Huy Hiền (2005), Viện Thổ nhưỡng Nông hóa - Sổ tay phân bón, Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 38-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện Thổ nhưỡng Nông hóa - Sổ tay phân bón
Tác giả: Bùi Huy Hiền
Nhà XB: Nhàxuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
13. Trương Hồng (1995), “Tổng kết thí nghiệm tổ hợp NPK cho cà phê vối kinh doanh trên đất basalt tại nông trường 720 – Đăk Lăk”, Kỷ yếu kết quả 10 năm nghiên cứu khoa học (1983 – 1993), Viện nghiên cứu cà phê, tr.212 – 219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết thí nghiệm tổ hợp NPK cho cà phê vốikinh doanh trên đất basalt tại nông trường 720 – Đăk Lăk”, "Kỷ yếu kết quả10 năm nghiên cứu khoa học (1983 – 1993
Tác giả: Trương Hồng
Năm: 1995
14. Lê Hồng Lịch, Trình Công Tư (2005), Hiệu quả sử dụng nguồn tàn dư hữu cơ sẵn có trên lô bón cho cà phê vối ờ DakLak, Khoa học đất số 23/2005, trang 75-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng nguồn tàn dưhữu cơ sẵn có trên lô bón cho cà phê vối ờ DakLak
Tác giả: Lê Hồng Lịch, Trình Công Tư
Năm: 2005
17. Nguyễn Thị Quý Mùi (2001), Phân bón và cách sử dụng, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bón và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Thị Quý Mùi
Nhà XB: Nhà xuất bảnNông nghiệp
Năm: 2001
18. Tôn Nữ Tuấn Nam (1995), Kỷ yếu Kết quả 10 năm nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu cà phê, trang 243-253 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 10 năm nghiên cứu khoa học
Tác giả: Tôn Nữ Tuấn Nam
Năm: 1995
19. Tôn Nữ Tuấn Nam, Trương Hồng (1999), Cây cà phê ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 235-282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cà phê ở Việt Nam
Tác giả: Tôn Nữ Tuấn Nam, Trương Hồng
Nhà XB: Nhàxuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
21. Nguyễn Sỹ Nghị, Trần An Phong,….Cây cà phê Việt Nam, NXB NN, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cà phê Việt Nam
Nhà XB: NXB NN
22. Đoàn Triệu Nhạn (2004), Cơ sở khoa học của việc phân vùng cà phê Arabica ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc phân vùng cà phêArabica ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Triệu Nhạn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
24. Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (2002), Cây phủ đất ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây phủ đất ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên
Nhà XB: Nhà xuấtbản Nông nghiệp
Năm: 2002
25. Phan Quốc Sủng (1996), Kỹ thuất trồng, chăm sóc, chế biến cà phê, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuất trồng, chăm sóc, chế biến cà phê
Tác giả: Phan Quốc Sủng
Nhà XB: NXBNông nghiệp
Năm: 1996
26. Phan Quốc Sủng (1999), “Vị trí kinh tế của cây cà phê ở Việt Nam và trên thế giới”, Cây cà phê ở VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí kinh tế của cây cà phê ở Việt Nam vàtrên thế giới”
Tác giả: Phan Quốc Sủng
Năm: 1999
29. Đào Châu Thu và cộng sự (2005), Sản xuất phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch tại các khu dân cư nông thôn; Khoa học đất số 23/2005, trang 58-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất phân hữu cơ từ rác thải sinhhoạt hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch tại các khu dân cư nôngthôn
Tác giả: Đào Châu Thu và cộng sự
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn  ở miền Đông Nam Bộ - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 2.2 Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn ở miền Đông Nam Bộ (Trang 32)
Hình 4.1. Tỷ lệ đậu quả ở các công thức thí nghiệm - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Hình 4.1. Tỷ lệ đậu quả ở các công thức thí nghiệm (Trang 48)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân KOMIX  6.4.6. khác nhau đến khả năng giữ quả  ở cỏc thời kỳ theo dừi - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân KOMIX 6.4.6. khác nhau đến khả năng giữ quả ở cỏc thời kỳ theo dừi (Trang 50)
Hình 4.2. Tỷ lệ giữ quả ở các công thức thí nghiệm - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Hình 4.2. Tỷ lệ giữ quả ở các công thức thí nghiệm (Trang 51)
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX đến động thái tăng đường kính quả - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX đến động thái tăng đường kính quả (Trang 52)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6  đến các yếu tố cấu thành năng suất - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 54)
Hình 4.3. Tỷ lệ nhân/quả khô ở các công thức liều lượng bón KOMIX - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Hình 4.3. Tỷ lệ nhân/quả khô ở các công thức liều lượng bón KOMIX (Trang 55)
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của liều lượng phân KOMIX bón gốc đến năng suất cà phê - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân KOMIX bón gốc đến năng suất cà phê (Trang 56)
Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân KOMIX 6.4.6 Công thức Năng - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân KOMIX 6.4.6 Công thức Năng (Trang 57)
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến sinh trưởng phát triển cành dự trữ - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phân bón gốc KOMIX 6.4.6 đến sinh trưởng phát triển cành dự trữ (Trang 58)
Bảng 4.9: Khả năng giữ quả ở các công thức thí nghiệm - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.9 Khả năng giữ quả ở các công thức thí nghiệm (Trang 61)
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX –CF các yếu tố cấu thành năng suất - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phân bón lá KOMIX –CF các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 66)
Bảng 4.12:  Năng suất cà phê ở các công thức nồng độ KOMIX –CF  khác nhau - NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN KOMIX NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CHO VƯỜN CÂY CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐAKLAK
Bảng 4.12 Năng suất cà phê ở các công thức nồng độ KOMIX –CF khác nhau (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w