1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO

104 312 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Đảng và Chính phủ đã đề ra mục tiêu tổng quát là “Phát triển ngành Dệt May trở thành m

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 4

1.1 Quá trình phát triển ngành Dệt May Việt Nam 4

1.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam 6

1.2.1 Tình hình sản xuất 6

1.2.1.1 Nguyên liệu 6

1.2.1.2 Công nghệ 9

1.2.1.3 Lao động 11

1.2.1.4 Nguồn vốn 13

1.2.1.5 Chính sách và pháp luật 15

1.2.2 Tình hình xuất khẩu 17

1.2.2.1 Qui mô xuất khẩu 17

1.2.2.2 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 20

1.2.2.3 Giá cả và chất lượng 23

1.2.2.4 Thị trường xuất khẩu 23

1.3 Môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp Dệt May xuất khẩu của Việt Nam theo qui định về Dệt May của WTO 25

1.3.1 Hiệp định ngắn hạn về hàng dệt và bông 25

1.3.2 Hiệp định dài hạn về hàng dệt và bông 25

1.3.3 Hiệp định đa sợi (MFA) 25

1.3.4 Hiệp định Dệt May (ATC) 26

1.4 Sự cần thiết phải phát triển Dệt May xuất khẩu Việt Nam hậu WTO 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ HẬU WTO 30

Trang 3

2.1 Tổng quan về thị trường Mỹ 30

2.1.1 Khái quát 30

2.1.2 Đặc điểm thị trường 31

2.1.2.1 Qui mô thị trường 31

2.1.2.2 Mức chi tiêu 32

2.1.2.3 Xu hướng tiêu dùng 34

2.1.3 Môi trường pháp lý 36

2.1.3.1 Hệ thống hài hòa thuế quan (HTS) 36

2.1.3.2 Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) 36

2.1.3.3 Luật bồi thường thương mại 37

2.1.4 Hệ thống phân phối 38

2.2 Thực trạng xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam vào thị trường Mỹ hậu WTO 39

2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu 39

2.2.2 Hình thức xuất khẩu 41

2.2.3 Phương thức xuất khẩu 41

2.3 Thuận lợi và khó khăn 42

2.3.1 Thuận lợi 42

2.3.1.1 Chủ quan 42

2.3.1.2 Khách quan 43

2.3.2 Khó khăn 48

2.3.2.1 Chủ quan 48

2.3.2.2 Khách quan 52

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ HẬU WTO 63

3.1 Định hướng phát triển Dệt May Việt Nam vào thị trường Mỹ hậu WTO 63

Trang 4

3.1.1 Giải pháp cho ngành dệt: 65

3.1.2 Giải pháp cho ngành may 67

3.2 Giải pháp phát triển Dệt May xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ 69

3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 69

3.2.1.1 Cải thiện hệ thống chính sách pháp luật Nhà nước 69

3.2.1.2 Hỗ trợ doanh nghiệp Dệt May xuất khẩu 72

3.2.1.3 Tăng cường vai trò của Hiệp hội Dệt May Việt Nam 73

3.2.2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp 76

3.2.2.1 Tăng cường biện pháp liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam 76

3.2.2.2 Tăng cường xúc tiến thương mại: 77

3.2.2.3 Xây dựng tiêu chuẩn an toàn sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn của Mỹ 82

3.2.2.4 Đảm bảo các yếu tố của quá trình sản xuất: nguyên phụ liệu – nguồn nhân lực – công nghệ 83

3.2.2.5 Giảm tỷ trọng hàng gia công, tăng dần tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp 86

3.2.2.6 Tham gia chuỗi giá trị Dệt May toàn cầu 86

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT TÊN TIẾNG ANH TÊN TIẾNG VIỆT

thế giới

Tariffs and Trade

Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch

Hiệp định ngắn hạn về hàng dệt và bông

LTA

Long-term agreement regarding international in cotton, textiles

Hiệp định dài hạn về

hàng dệt và bông

HTS Harmonized Tariff Schedule Hệ thống hài hòa

thuế quan

Trang 6

EU European Union Liên minh Châu Âu

Safety Commission

Ủy ban An toàn sản phẩm tiêu dùng Mỹ

Vinatex Vietnam National Textile

and Garment Corporation

Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1 Năng lực sản xuất của ngành Dệt May Việt Nam năm 2009 6

Bảng 1.2 Kim ngạch xuất khẩu của Dệt May Việt Nam theo thị trường 19

Bảng 1.3 Kim ngạch xuất khẩu Dệt May Việt Nam theo sản phẩm 20

Bảng 1.4 Chương trình nhất thể hóa hàng Dệt May 27

Bảng 2.1 Qui mô thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa của Mỹ 31

Bảng 2.2 Thay đổi trong đơn vị mua sắm hàng Dệt May ở Mỹ 34

Bảng 2.3 Tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng Internet để mua sắm quần áo 35

Bảng 2.4 Tỷ trọng chi phí do hạn ngạch gây ra trong tổng chi phí xuất khẩu 44

Bảng 2.5 Đầu tư nước ngoài vào ngành Dệt May theo năm 47

Bảng 2.6 Thuế suất hàng Dệt May vào Mỹ 48

Biểu đồ 1.1 Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu cho ngành Dệt May Việt Nam trong giai đoạn năm 2000 – 2009 7

Biểu đồ 1.2 FDI vào ngành Dệt May: số dự án và số vốn đầu tư trong 1988 - 2008 14

Biểu đồ 1.3 Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của Việt Nam qua các năm 18

Biểu đồ 1.4 Kim ngạch xuất khẩu Dệt May Việt Nam theo sản phẩm 22

Biểu đồ 2.1 Mức độ yêu thích mua sắm hàng may mặc và số lần mua sắm hàng may mặc một năm của người tiêu dùng trên thế giới, năm 2006 33

Biểu đồ 2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam sang Mỹ 39

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngành Dệt May luôn là một trong những ngành đi đầu, có vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Đảng và Chính phủ đã đề ra mục tiêu

tổng quát là “Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành

công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; và nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới” Hiện nay, triển vọng

của ngành Dệt May đang sáng dần, nhất là khi nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu khởi sắc sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Cuối năm 2007, lần đầu tiên Việt Nam lọt vào đứng thứ 10 trong số các nước xuất khẩu Dệt May lớn trên thế giới

Là một trong những thị trường xuất khẩu truyền thống của hàng Dệt May Việt Nam, Mỹ là thị trường tiềm năng nhất trong thời gian gần đây Hàng Dệt May Việt Nam đã có vị trí quan trọng tại Mỹ, nhưng kim ngạch xuất khẩu vào đây vẫn còn ít so với năng lực xuất khẩu của Việt Nam; đồng thời, Dệt May Việt Nam vẫn có nhiều khả năng gia tăng xuất khẩu vào thị trường lớn đã có nền móng và thế mạnh này Vì thế, việc đẩy mạnh xúc tiến vào thị trường Mỹ, tiếp cận với các nhà nhập khẩu vẫn là cần thiết với các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam hiện nay

Từ sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007, hàng Dệt May xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ được đối xử bình đẳng theo Qui chế Tối huệ quốc như những quốc gia thành viên xuất khẩu khác nên các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam có tiềm năng thâm nhập sâu rộng hơn vào Mỹ Tuy nhiên, Việt Nam cũng gặp không ít những trở ngại từ những rào cản pháp luật, kỹ thuật và những biện pháp tự vệ

Trang 9

mà Mỹ áp dụng Vì vậy, việc nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn của hàng Dệt May xuất khẩu nước ta vào thị trường lớn nhất thế giới này phải đặt lên hàng đầu, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể để phát triển hơn nữa mặt hàng này vào Mỹ

Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã chọn đề tài:

“Phát triển Dệt May xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ hậu WTO”

2 Mục tiêu của đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu tình hình nói chung về sản xuất và xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam vào Mỹ, đề tài đưa ra:

- Khái quát về sản xuất và xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam;

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn của hàng Dệt May xuất khẩu

Việt Nam vào thị trường Mỹ hậu WTO;

- Đề xuất những giải pháp để phát triển hàng Dệt May xuất khẩu Việt

Nam vào Mỹ trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu Dệt May Việt Nam vào thị

trường Mỹ hậu WTO

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Hoạt động xuất khẩu Dệt May Việt Nam

+ Thời gian: Từ sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của

WTO

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 10

Để thu thập thông tin nhằm đưa ra các giải pháp, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp

5 Kết cấu của đề tài:

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, mục lục và phụ lục,

đề tài được chia làm 3 chương:

- Chương 1 : Tổng quan về Dệt May xuất khẩu của Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng Dệt May xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ hậu WTO

- Chương 3: Giải pháp phát triển Dệt May xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ hậu WTO

Trong thời gian hoàn thành khóa luận, do những hạn chế về thời gian,

sự hiểu biết cũng như kinh nghiệm nghiên cứu nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, bạn bè và những người quan tâm để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn – PGS.TS Đỗ Thị Loan

đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

1.1 Quá trình phát triển ngành Dệt May Việt Nam

Là một trong những ngành nghề truyền thống lâu đời, lịch sử phát triển của ngành Dệt May gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội người Việt Quá trình phát triển từ sản xuất thủ công lên sản xuất công nghiệp chỉ diễn ra khi có sự chuyển giao công nghệ từ Châu Âu Ngành công nghiệp Dệt May nước ta bắt đầu phát triển với sự ra đời của nhà máy dệt Nam Định năm

1889 Kể từ đó, quá trình phát triển thành công ngành Dệt May cho đến khi ngành trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của cả nước như hiện nay

có thể được chia làm bốn giai đoạn như sau

Trước năm 1975, ngành sản xuất Dệt May có qui mô nhỏ bé trong nền kinh tế quốc dân Ngành chỉ sản xuất sản phẩm Dệt May phục vụ khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước theo chương trình kinh tế tập trung vào sản xuất hàng thiết yếu cho đời sống mà không phục vụ cho hoạt động xuất khẩu Thời gian này có một số nhà máy mới được xây dựng như nhà máy dệt 8-3, nhà máy dệt Vĩnh Phú, nhà máy may Thăng Long, nhà máy may Chiến Thắng và nhà máy may Đáp Cầu Các làng nghề truyền thống được khuyến khích phát triển

Từ năm 1975 đến năm 1991, ngành công nghiệp tiếp tục hướng vào mục tiêu chính là hàng tiêu dùng nội địa và sản xuất với công nghệ lạc hậu, máy móc trang thiết bị cũ Vào giữa những năm 80, ngành Dệt May cũng gặp phải một số vấn đề khó khăn như doanh nghiệp hoạt động trì trệ do chỉ sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch, chưa chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nên sản xuất nội địa khủng hoảng và thiếu hiệu quả Xuất khẩu sản phẩm Dệt May trong giai đoạn này chỉ đạt vài trăm triệu USD và được thực

Trang 12

hiện trong khuôn khổ các nghị định được ký kết với một số nước Đông Âu Sản phẩm Dệt May được xuất khẩu đầu tiên sang các nước thuộc khối kinh tế Comecon vào năm 1976 và xuất khẩu sang các nước Liên Xô cũ qua các hợp đồng gia công

Từ năm 1991 đến năm 2007, công cuộc đổi mới kinh tế đã mở ra thời

kỳ phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp Dệt May Tham gia vào ngành công nghiệp này không chỉ có các doanh nghiệp Nhà nước mà còn có các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, công nghệ được đổi mới tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại, thị trường xuất khẩu mở rộng như Mỹ, EU và Nhật Bản Trong giai đoạn này, ngành Dệt May đã khẳng định vị trí quan trọng trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và trở thành một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của cả nước

Từ năm 2007 đến nay, sự phát triển của ngành Dệt May nước ta đánh dấu bước ngoặt lớn với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Theo qui định của các cam kết quốc tế

mà Việt Nam đã ký kết, ngành Dệt May bước sang giai đoạn mới khi được tham gia vào thị trường thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa các nền kinh tế Sản phẩm Dệt May xuất khẩu được nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường nước ngoài do những thuận lợi mà hội nhập quốc tế mang lại, đồng thời, sản phẩm Dệt May nội địa gặp nhiều cạnh tranh gay gắt hơn từ các nước xuất khẩu khác Mặc dù không nằm ngoài những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2007, ngành Dệt May, đặc biệt là Dệt May xuất khẩu vẫn được chú trọng phát triển trở thành ngành xuất khẩu hàng đầu của cả nước trong thời gian tới

Như vậy, ngành công nghiệp Dệt May nước ta đã trải qua nhiều biến động để đạt được những thành quả như hiện nay Nhìn chung, sự thay đổi, phát triển ở mỗi giai đoạn đã bộc lộ những điểm mạnh, điểm yếu của toàn

Trang 13

ngành Đó là cơ sở để ta phân tích những thuận lợi, khó khăn khách quan và chủ quan của ngành công nghiệp Dệt May, đặc biệt là Dệt May xuất khẩu để

từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho ngành này cho những phát triển tiềm năng trong tương lai

1.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất

1.2.1.1 Nguyên liệu

Với tốc độ tăng trưởng trung bình là 20%/ năm, kim ngạch xuất khẩu của hàng Dệt May chiếm khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, ngành công nghiệp Dệt May chứng tỏ là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Năng lực sản xuất của ngành có thể thấy qua bảng sau:

Bảng 1.1 Năng lực sản xuất của ngành Dệt May Việt Nam năm 2009 Lĩnh vực Số Doanh nghiệp Số máy móc Năng lực sản xuất

Trang 14

Tuy nhiên, một trong những áp lực của ngành Dệt May hiện nay là chưa tự tạo được nguồn nguyên liệu cho sản xuất nên còn phụ thuộc vào phụ liệu nhập khẩu Mỗi năm ngành may mặc trong nước cần khoảng 2 tỉ mét vuông vải nhưng vải sản xuất trong nước mới chỉ đạt khoảng 700 triệu mét vuông/năm Do đó, nguyên liệu phục vụ cho ngành chủ yếu được nhập khẩu tới 90% từ các nước và vùng lãnh thổ khu vực châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan và các nước Đông Nam Á nên mặc dù có kim ngạch xuất khẩu cao nhưng tỷ lệ thu về lại thấp, chiếm khoảng 35-38% tổng kim ngạch Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu của nước ta thể hiện qua bảng sau:

Biểu đồ 1.1 Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu cho ngành Dệt May

Việt Nam trong giai đoạn năm 2000 – 2009

Đơn vị: Triệu USD

(Nguồn: Số liệu thống kê – Hiệp hội Dệt May Việt Nam)

Theo số liệu thống kê của biểu đồ 1.1, từ năm 2000 đến năm 2008, tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu cho ngành dệt tăng dần và tăng gấp gần

Trang 15

3 lần, từ 2,096 tỷ USD lên đến 7,064 tỷ USD Có thể thấy, kim ngạch nhập khẩu vải phục vụ may xuất khẩu là lớn nhất và tăng dần, tiếp đến là phụ liệu nhưng có xu hướng giảm dần Kim ngạch nhập khẩu bông, sợi duy trì tương đối ổn định Từ đó có thể thấy sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của ngành may xuất khẩu và dệt may xuất khẩu Việt Nam dần chủ động về phụ liệu Ngoài ra, năm 2008, xuất khẩu Dệt May đạt 9,1 tỷ USD, nhưng nhập khẩu các nguyên phụ liệu như vải, sợi, cúc, chỉ, khoá kéo lên tới 7,064 tỷ USD.Điều này cho thấy ngành Dệt May xuất khẩu đang trên đà tăng trưởng nhanh chóng nhưng bỏ xa ngành dệt và sản xuất nguyên liệu Vì vậy, vấn đề nguyên phụ liệu cho ngành công nghiệp chủ lực này của nước ta vẫn là một trở ngại lớn

Nguyên nhân của khó khăn trong khâu sản xuất nguyên phụ liệu này xuất phát từ sự yếu kém của ngành dệt và ngành công nghiệp phụ trợ, chưa theo kịp tốc độ phát triển của ngành may và chưa tương xứng nhu cầu của thị trường Thực tế cho thấy ngành dệt và ngành may chưa thực sự liên kết chặt chẽ Đây là vấn đề nan giải vì không chỉ nhập khẩu phần lớn nguyên liệu cho ngành may, bản thân ngành dệt cũng hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn cung cấp bên ngoài khi nhập khẩu đến 95% nguyên liệu bông, 100%

hóa chất và máy móc thiết bị Đó mới là về mặt số lượng, ngay cả chất lượng,

ngành dệt cũng không đáp ứng được yêu cầu của ngành may xuất khẩu

Tuy nhiên, gần đây, vấn đề nguyên phụ liệu cho ngành Dệt May đã có dấu hiệu tích cực Tỷ lệ nội địa hóa trong ngành Dệt May đang tăng lên tại không ít doanh nghiệp khi đã tự cân đối được nguyên liệu trong nước, giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Hiện nay, Việt Nam đã chủ động đưa ra 8 dự án để kêu gọi các nhà đầu tư để phát triển ngành dệt ở một số khu công nghiệp ở Đồng bằng Bắc bộ, duyên hải miền trung và Đông

Trang 16

Nam Bộ1 Tháng 4/2009, nguyên liệu vải dệt từ sợi bông ước đạt 22,1 triệu m2, tăng 10,7% so với tháng 3, tính chung 4 tháng ước đạt 66,5 triệu m2, chỉ bằng 76,3% cùng kỳ (3 tháng chỉ bằng 66,9% so với cùng kỳ)2 Như vậy, sản xuất nguyên phụ liệu bắt đầu chuyển biến Nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu Dệt May trong năm 2009 giảm mạnh so với năm 2008 Nhập khẩu vải đạt 4,17 tỷ USD (giảm 6,4%), nguyên phụ liệu đạt 1,081 tỷ USD (giảm 20%), trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu không giảm, chứng tỏ ngành Dệt May đã tạo ra giá trị tăng thêm nhiều hơn trước

Mặc dù vậy, nguyên phụ liệu cho ngành Dệt May vẫn còn là vấn đề nan giải của ngành Dệt May Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa hiện nay Ngành công nghiệp này sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ phía các nước có nền công nghiệp phụ trợ Dệt May phát triển như Trung Quốc và Thái Lan Vì thế, để đảm bảo năng lực cạnh tranh của mặt hàng Dệt May của Việt Nam trên thị trường toàn cầu trong thời gian tới, một chiến lược dài hạn và đồng bộ để phát triển ngành dệt và ngành may là rất cần thiết để phát huy tiềm lực sản xuất và xuất khẩu của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam

1.2.1.2 Công nghệ

Đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị trong ngành Dệt May đã được các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam đặt ra và thực hiện mạnh mẽ Các dây chuyền công nghệ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản đã bắt đầu được đầu tư nâng cấp Đến nay, hầu hết các doanh nghiệp Dệt May xuất khẩu đã lắp đặt dây chuyền công

1

Hải Châu (2007), Dệt may Việt Nam kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực nguyên liệu,

http://vietbao.vn/Kinh-te/Det-may-VN-keu-goi-dau-tu-vao-linh-vuc-nguyen-lieu/20671478/87/.html [truy cập ngày 20/02/2010]

2

Bộ Công Thương (2010), Ngành dệt may vẫn chưa hết khó khăn,

http://www.vietnamtextile.org/ChiTietTinTuc.aspx?MaTinTuc=218&Matheloai=5 [truy cập ngày

25/02/2010]

Trang 17

nghệ mới, đổi mới máy móc thiết bị, có những trang thiết bị ở một số doanh nghiệp lớn đã đạt trình độ công nghệ tiên tiến trên thế giới

Tuy nhiên, sự mất cân đối giữa ngành may và ngành dệt thể hiện ngay

cả ở các trang thiết bị 3Công nghệ và thiết bị của ngành dệt may mới thay thế được 30% công nghệ và thiết bị hiện đại, còn lại 70% công nghệ, thiết bị đã

sử dụng trên 20 năm và hầu như đã hết khấu hao Trong số 30% công nghệ và thiết bị hiện đại có một số dây chuyền ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa trong điều khiển, tuy nhiên mới chỉ đạt hiệu suất 50 – 60% Trong từng khâu cụ thể đang tồn tại thực trạng: thiết bị kéo sợi 70% ở trình độ trung bình

và dưới trung bình, công nghệ và thiết bị kéo sợi Việt Nam ở mức trung bình

so với thế giới; công nghệ và thiết bị dệt thoi: với 15% là máy mới, 55% cần

tu bổ cải tạo, và 30% cần thanh lý hoặc chuyển cho khu vực hợp tác xã và tư nhân cho thấy bức tranh công nghệ và thiết bị ngành dệt thoi Việt Nam đang

ở mức dưới trung bình Thiết bị công nghệ dệt kim: các thiết bị dệt kim gần đây chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức… nên tương đối hiện đại; Xử lý hoàn tất: thiết bị cũ đã sử dụng trên 35 năm cần thay thế chiếm tỷ trọng 35%, thiết bị đầu tư giai đoạn 1970 – 1985 cần khôi phục, thay thế dần

c hiếm 30%; Thiết bị ngành may: các thiết bị may hầu hết là hiện đại tương đương các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới Việc đổi mới máy móc, lắp đặt công nghệ hiện đại diễn ra khá chậm chạp ở ngành dệt, hầu hết trình

độ công nghệ thấp, thiết bị cũ và lạc hậu.Từ đó đã làm cho thực trạng ngành Dệt May nước nhà có những tồn tại yếu kém về trang thiết bị

Như vậy, mặc dù đã đạt được những tiến bộ nhất định về đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm Dệt May đã dần đáp ứng nhu cầu của thế giới và trong nước thì hiện trạng trình độ công nghệ còn thấp và mất cân đối là những trở ngại lớn để ngành Dệt May phát triển

3

Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến, Vũ Thị Hiền (2007), Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam,

Nhà xuất bản Thống kê, tr.162-164

Trang 18

có bàn tay của con người

Dệt May hiện nay là một trong những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất nước ta Theo Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas), toàn ngành có khoảng 2 triệu lao động đang làm việc trên tổng số 2.000 doanh nghiệp Dệt May, chiếm hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp và gần 5% trong tổng lực lượng lao động toàn quốc4

Nguồn nhân lực của ngành Dệt May Việt Nam có những đặc thù sau5

:

 Gần 80% là lao động nữ, trình độ văn hoá của người lao chủ yếu là

đã tốt nghiệp trung học cơ sở và phổ thông trung học Đa số lao động trực tiếp của ngành tuổi đời còn rất trẻ nên sẽ là lợi thế cho việc đào tạo và nâng cao năng suất lao động

 Lao động trong ngành Dệt May hiện nay tăng nhanh và tập trung chủ yếu trong các doanh nghiệp tư nhân hay công ty cổ phần, sau đó là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hai loại hình doanh nghiệp này hiện nay đang thu hút 2/3 lao động của toàn ngành Dệt May

 Các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam hiện nay đang phân bổ theo các cụm công nghiệp Dệt May Hai vùng tập trung nhiều lao động ngành Dệt

4

Phong Cầm (2007), Xuất khẩu dệt may Việt Nam: Lọt vào tốp 10 thế giới,

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=97746&ChannelID=3.html [truy cập ngày

02/02/2010]

5

Nguyễn Thị Bích Thu, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, Đầu tư cho đào tạo và phát triển nguồn

nhân lực hướng đến sự phát triển bền vững của ngành dệt may Việt Nam.

Trang 19

May và có sự tăng trưởng nhanh trong những năm qua là Vùng Đông Nam Bộ (chiếm gần 62% lao động của toàn ngành) và Đồng bằng sông Hồng (hơn 22%) Các tỉnh thành tập trung nhiều lao động Dệt May là thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định

 Mặc dù người lao động rất chăm chỉ, cần cù nhưng phần lớn chưa

có tay nghề cao để đáp ứng thị hiếu cho các khách hàng khó tính, chưa có trình độ kỹ thuật cao để có thể vận dụng có hiệu quả các công nghệ may mặc hiện đại hơn Tuy là ngành sử dụng nhiều nhân công nhưng tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm khoảng 4%, là tỷ lệ tương đối thấp Lao động có trình độ thạc sĩ và đại học của toàn ngành hầu hết cũng tập trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ Hai vùng này cũng tập trung hầu hết các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cấp độ đại học, cao đẳng của ngành Còn lại phần lớn chưa có thói quen nghiên cứu để sáng tạo ra các sản phẩm thời trang theo kịp xu hướng trên thế giới, chưa tận dụng internet có hiệu quả việc để tạo lợi thế trong tiếp cận khách hàng ở các nước và marketing cho công ty và sản phẩm

 Về năng suất lao động, cả kéo sợi, dệt thoi và may mặc của ta đều có năng suất lao động còn thấp hơn so với khu vực Cùng một ca làm việc - năng suất lao động bình quân của một lao động ngành may Việt Nam chỉ đạt 12 áo

sơ mi ngắn tay hoặc 10 quần thì một lao động Hồng Kông năng suất lao động

là 30 áo hoặc 15 - 20 quần

 Đặc trưng của sản phẩm Dệt May là mang tính thời vụ, có những thời điểm tạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều lao động nhưng cũng có những thời điểm trong năm lại thiếu các đơn đặt hàng nên việc chuyển biến lao động trong ngành diễn ra thường xuyên Đặc biệt là thời điểm cuối năm và sau tết Nguyên Đán luôn diễn ra tình trạng thiếu lao động, thậm chí có những doanh nghiệp thiếu đến 40% nhân công Hơn nữa, hiện nay, mối quan hệ giữa lao động và tiền lương rất phức tạp Mức lương trung bình trong ngành khoảng 1,5 triệu đồng/tháng, trong khi

Trang 20

giá các mặt hàng tiêu dùng đang có chiều hướng tăng, đã khiến cho người lao động chưa thực sự chuyên tâm vào công việc Họ có xu hướng đi làm các công việc khác

và có thể kiếm được khoản tiền tương đương nên không thực sự có ý định làm việc lâu dài trong các nhà máy may Vì thế, điều này đã trở thành nỗi lo thường trực cho các doanh nghiệp

Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, để đạt được một số mục tiêu tổng quát là: “Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; và nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới”, ngành phải đạt được chỉ tiêu sử dụng đến 3 triệu lao động trong năm 2020 để có thể là ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực của đất nước

Như vậy, mặc dù nước ta nhìn chung có nguồn lao động dồi dào với chi phí nhân công thấp, người lao động lại vốn tỉ mỉ, chịu khó nhưng việc khắc phục tình trạng những tồn tại về nhân công như nâng cao tay nghề và trình độ cho người lao động, nâng cao năng suất lao động cần được ưu tiên khắc phục

để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy hết tiềm năng sản xuất và xuất khẩu của ngành Dệt May trong thời gian tới

1.2.1.4 Nguồn vốn

Nguồn vốn đầu tư đóng vai trò quan trọng thiết yếu đối với sự mở rộng phát triển sản xuất của một ngành kinh tế Nhìn chung, vốn đầu tư là toàn bộ giá trị nhân lực và tài lực được bỏ thêm vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định

Với mục tiêu là phát triển ngành dệt - may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chính sách đúng đắn về vốn đầu tư cho ngành công

Trang 21

nghiệp này như hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách, vốn ODA đối với một số nhóm dự án trong ngành

Bên cạnh nguồn vốn trong nước, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với ngành Dệt May Từ năm 2000-2007, đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng tăng dần như bảng sau:

Biểu đồ 1.2 FDI vào ngành Dệt May: số dự án và số vốn đầu tƣ

(triệu USD) trong 1988 - 2008

(Nguồn: Số liệu thống kê – Hiệp hội Dệt May Việt Nam)

Biểu đồ 1.2 cho thấy, nhìn chung, ngày càng có nhiều số vốn và số dự

án đầu tư vào ngành công nghiệp Dệt May Từ năm 2000 trở đi có xu hướng tăng vọt về cả vốn và dự án, đặc biệt từ năm 2004, cả số vốn đầu tư và dự án tăng liên tục Trong đó, các năm hầu như không đủ vốn để phân bổ đầu tư cho các số dự án ngày càng tăng nhanh, duy nhất năm 2007 có số vốn nhiều nhất (1.200 triệu USD) đáp ứng được số dự án (160 dự án) Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu vào cuối năm 2007 nên đầu tư FDI vào ngành công nghiệp này giảm rõ rệt Năm 2008, chỉ có gần 60 dự án đầu tư với khoảng 400 triệu USD

Ngoài ra, xu hướng chung trong các dự án đầu tư có vốn nước ngoài vào ngành Dệt May Việt Nam là chủ yếu đầu tư vào ngành may, sau đó là

Trang 22

ngành dệt, cuối cùng là phụ liệu Cụ thể, 6đứng đầu là Đài Loan đã đầu tư 1,690 tỷ USD vốn đăng ký với 45 dự án đầu tư vào ngành dệt, 93 dự án đầu

tư vào ngành may và 18 dự án đầu tư vào ngành phụ liệu Đứng thứ hai là Hàn Quốc đăng ký số vốn là 1,003 tỷ USD với 40 dự án cho ngành dệt, ngành may 122 dự án, còn lại 15 dự án là đầu tư vào ngành phụ liệu Điều này cũng

dễ hiểu bởi Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm may mặc, nên các nước tập trung đầu tư vào ngành này Còn ngành phụ liệu, xu hướng ở Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu nguyên vật liệu cho ngành Dệt May (trên 80%) nên các nhà đầu tư chưa tập trung mạnh vào lĩnh vực này vì lợi nhuận không

cao bằng ngành may.Vì thế, trong thời gian tới, nếu không có chính sách đầu

tư thích đáng vào nguyên phụ liệu thì sự mất cân đối giữa hai ngành dệt và may ngày càng lớn, từ đó có thể ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển bền vững trong dài hạn của ngành công nghiệp Dệt May nước ta

Ngoài ra, Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo và vốn đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho các Viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo cho ngành Dệt May Các dự án đầu tư xử lý môi trường của các doanh nghiệp trong ngành Dệt May được vay vốn tín dụng của nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ môi trường

1.2.1.5 Chính sách và pháp luật

Để ngành công nghiệp Dệt May phát triển bền vững với định hướng đúng đắn trong dài hạn, Nhà nước cần thể hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua việc ban hành các chính sách liên quan đến việc sản xuất và xuất khẩu của ngành công nghiệp chủ lực này của nước nhà

6Lệ Trần (2008), Thu hút đầu tư nước ngoài vào dệt may – Những chuyển động tích cực,

http://www.garco10.vn/index.php?idnew=220 [truy cập ngày 23/03/2010]

Trang 23

Cụ thể, năm 2001, Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển và một số

cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành dệt - may Việt Nam đến năm 2010 Trong đó, Chính phủ đã đề ra một số biện pháp như:

Hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách, vốn ODA đối với một số nhóm dự án trong ngành, chẳng hạn như quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu, xử lý nước thải; Bảo lãnh, cấp tiền thu sử dụng vốn trong giai đoạn 2001-2005 để tái đầu tư, cấp bổ sung vốn lưu động với một số doanh nghiệp nhà nước trong ngành; và dành toàn bộ nguồn thu phí hạn ngạch và đấu thầu hạn ngạch dệt - may cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu Nhằm hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt May trong giai đoạn 2001-2010, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 106/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 Cùng với quá trình cải cách thể chế và xây dựng luật nhằm chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, các biện pháp trên cũng đã được điều chỉnh và thay thế

Được sự phê duyệt của Thủ tướng, Bộ Công Thương cũng đã ban hành Quyết định số 42/2008/QĐ-BCT ngày 19/11/2008 và được Chính phủ phê duyệt ngày 14/03/2008 về Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Trong đó, Chính phủ đề

ra quan điểm phát triển ngành Dệt May theo hướng chuyên môn hoá, hiện đại hóa, đảm bảo tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững, hiệu quả; phát triển tối

đa thị trường nội địa đồng thời với việc mở rộng thị trường xuất khẩu; lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành…Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đề ra qui hoạch phát triển sản phẩm và bố trí qui hoạch Đồng thời, hệ thống giải pháp và biện pháp thực hiện kế hoạch cũng được đề ra tạo thành kim chỉ nam cho hướng giải quyết những vấn đề còn tồn tại của ngành Dệt May trong thời gian tới như đưa ra các chính sách về đầu tư, về cung ứng

Trang 24

nguyên liệu, về thị trường, về khoa học công nghệ, tài chính và giải pháp về bảo vệ môi trường

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng có một số biện pháp khác nhằm khuyến khích xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng Dệt May nói riêng Chẳng hạn, Việt Nam thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia Ngân hàng Phát triển Việt Nam cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp với lãi suất

ưu đãi

Ngoài ra, cũng như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp Dệt May cũng nhận được hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay ngắn hạn được ký kết và giải ngân trong năm 2009 để làm vốn lưu động sản xuất - kinh doanh (theo quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/01/2009), và đối với các khoản vay trung và dài hạn để đầu tư mới sản xuất kinh doanh (theo quyết định số 443/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/04/2009) Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg về việc

hỗ trợ lao động mất việc làm trong các doanh nghiệp do suy giảm kinh tế, qua

đó giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp7

1.2.2 Tình hình xuất khẩu

1.2.2.1 Qui mô xuất khẩu

Kể từ khi mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã thiết lập và mở rộng quan

hệ kinh tế với nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó, thúc đẩy việc trao đổi hàng hóa, đặc biệt là hàng Dệt May Là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, Dệt May xuất khẩu đã không ngừng lớn mạnh với kim ngạch không ngừng gia tăng Tổng kim ngạch xuất khẩu qua các năm và theo thị trường của hàng Dệt May xuất khẩu Việt Nam thể hiện qua sơ đồ sau:

7

Tài liệu nghiên cứu tác động của việc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam - Dự án VIE/61/94

Trang 25

Biểu đồ 1.3 Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May

của Việt Nam qua các năm

Đơn vị: Triệu USD

(Nguồn: Số liệu thống kê – Hiệp hội Dệt May Việt Nam)

Biểu đồ 1.3 cho thấy tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng Dệt May Việt Nam không ngừng gia tăng qua các năm với tốc độ tăng trưởng ngày càng nhanh Chỉ trong gia đoạn gần 10 năm từ năm 1998 đến năm 2009, tổng kim ngạch dệt may xuất khẩu Việt Nam tăng gần 7 lần, từ hơn 1,3 tỷ USD lên đến hơn 9 tỷ USD Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO năm 2007 đã đánh dấu sự tăng nhanh về kim ngạch, đạt 7,78 tỷ USD, tăng 33,44% so với năm 2006, đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất từ năm 2003 (tăng19,6% năm 2004, 10,27 % năm 2005, 20,7% năm 2006) Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May giai đoạn năm 2008 – 2009 ở mức trên 9 tỷ USD, giữ tốc độ tăng trưởng trung bình 16-17%

Trang 26

Bảng 1.2 Kim ngạch xuất khẩu của Dệt May Việt Nam theo thị trường

Đơn vị: Triệu USD

(Nguồn: Số liệu thống kê – Hiệp hội Dệt May Việt Nam)

Bảng 1.2 cho thấy kim ngạch xuất khẩu sang ba thị trường chủ lực là

Mỹ, EU và Nhật Bản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này (chiếm 84,12% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may).Trong đó,

tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ lớn nhất, chiếm 52,17% năm 2006 tăng lên 56,33% năm 2008 trên tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may nước ta Sau đó là EU, chiếm 21,44% năm 2006 giảm nhẹ xuống 18,76% năm 2008, Nhật Bản chiếm khoảng 10,76% năm 2006 giảm xuống 9,03% năm 2008 Như vậy, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam vào

Mỹ ngày càng gia tăng, chứng tỏ đây là thị trường tiềm năng cần chú trọng trong thời gian tới

Trang 27

Nhìn chung, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến tốc độ tăng trưởng của ngành Dệt May xuất khẩu nước ta chững lại nhưng vẫn cao hơn so với mức giảm của các quốc gia xuất khẩu may mặc khác Thậm chí, đến hết quí I năm 2010, nhiều doanh nghiệp

đã có không ít đơn đặt hàng đến tận hết quí II, số lượng đơn đặt hàng tăng vọt

so với cùng kỳ năm ngoái Vì thế, năm 2010, chúng ta có thể đạt mục tiêu dự kiến kim ngạch xuất khẩu của hàng Dệt May nước ta là 10,5 tỷ USD, phấn đấu lọt vào top 5 những nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới

Với thành tựu kinh tế đạt được như trên, ngành Dệt May xuất khẩu của Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và từng bước đưa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có ngành Dệt May phát triển nhất thế giới

1.2.2.2 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu

Trong cơ cấu các sản phẩm Dệt May xuất khẩu, hàng may mặc chiếm tỷ trọng lớn nhất (quan trọng nhất là áo khoác, quần dài, sơ mi, hàng dệt kim), sau

đó là vải, sợi các loại và một số sản phẩm Dệt May khác như trong bảng sau:

Bảng 1.3 Kim ngạch xuất khẩu Dệt May Việt Nam theo sản phẩm

năm 2009

Đơn vị: USD

Chủng loại 2009

So với năm

2008 (%)

So với năm

2007 (%)

Tháng 12/

2009

So với tháng 11/2009 (%)

So với tháng 12 /2008 (%)

Áo thun 1.963.214.108 -6.61 27,86 190.878.833 22,94 -3,63

Áo sơ mi 530.694.180 6.08 14,08 57.590.869 45,37 7,25 Quần 1.458.650.834 -2.43 8,04 130.693.098 22,69 -8,70 Quần sooc 338.813.312 -15,67 -5,97 39.865.892 77,78 -16,22

Trang 28

Quần áo

trẻ em 339.447.918 9,79 30,59 30.960.774 10,10 24,34 Vải 429.688.033 19,37 44,47 41.896.475 -15,54 47,59

(Nguồn: Số liệu thống kê – Hiệp hội Dệt May Việt Nam)

Theo số liệu thống kê của bảng 1.3, năm sản phẩm may mặc có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là áo thun, áo sơ mi, quần dài, áo khoác và áo jacket Trong đó, chỉ có áo sơ mi và áo khoác có kim ngạch xuất khẩu năm

2009 tăng so với năm 2008, (áo sơ mi: tăng 6.08%, áo khoác: tăng 17,79%) Ngoài ra, nhìn chung, các sản phẩm dệt may xuất khẩu đều có kim ngạch xuất khẩu tăng, trong đó, tăng nhiều nhất là đồ lót (tăng 24,74%), ngược lại, quần

áo thể thao giảm nhiều nhất (giảm 18,78%) Mặt khác, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm dệt may này ngày càng tăng về cuối năm, ngoại trừ quần áo thể thao (tháng 12/2009 giảm 18,12% so với tháng 11/2009) Hơn nữa, ngoại trừ

áo thun, quần dài, quần sooc, áo jacket, đồ bơi và đồ thể thao, các sản phẩm may mặc còn lại có kim ngạch xuất khẩu tháng 12/2009 tăng so với cùng kỳ năm 2008 Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm Dệt May Việt Nam năm 2009 duy trì ổn định so với năm 2008

Trang 29

Biểu đồ 1.4 Kim ngạch xuất khẩu Dệt May Việt Nam theo sản phẩm

năm 2009

Đơn vị: %

(Nguồn: Số liệu thống kê – Hiệp hội Dệt May Việt Nam)

Nhìn vào biểu đồ 1.4 ta thấy, trong sản phẩm may mặc, áo thun (chiếm 21,66% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may), quần dài và quần sooc (19,82%), áo jacket và áo khoác (18,57%) là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của áo thun, quần dài, quần sooc và áo jacket giảm so với năm 2008 nhưng vẫn thuộc những mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất năm 2009 Hiện nay, ngành Dệt May đã bắt đầu triển khai sản xuất nguyên phụ liệu để có thể tự chủ nguyên phụ liệu cho ngành may, đồng thời có thể xuất khẩu sang một số thị trường nước ngoài Ví dụ, hai tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu vải của nước ta sang Trung Quốc

Trang 30

đạt 3,5 triệu USD, tăng 88% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của nước ta sang Trung Quốc.8

1.2.2.3 Giá cả và chất lƣợng

Theo thống kê của Bộ Thương mại, hàng Dệt May xuất khẩu của Việt Nam hầu hết đều có giá cao hơn trung bình 5-7% so với các mặt hàng cùng loại của một số quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ Mặc dù hàng Dệt May xuất khẩu của ta sử dụng phần lớn nguyên phụ liệu nhập khẩu nhưng bù lại, tiền công chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu giá thành sản phẩm, đồng thời, giá nhân công lại tương đối thấp so với các nước xuất khẩu hàng Dệt May trong khu vực sản phầm của ta vẫn có giá tương đối cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Chất lượng sản phẩm đóng vai trò khẳng định vị thế các doanh nghiệp Dệt May xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới, đặc biệt là từ khi gia nhập WTO Nhìn chung, ngành Dệt May nước ta chưa theo kịp được các ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất sản phẩm Dệt May nên kiểu dáng, mẫu mã, chủng loại còn thiếu đa dạng, phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu chất lượng và tiêu chuẩn về hàng may mặc hay thay đổi trên thế giới Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm và đang dần khẳng định vị thế trên thị trường thời trang thế giới Hàng may mặc xuất khẩu của một số doanh nghiệp như Công ty May 10, Hanosimex, May Việt Tiến…đều được đánh giá cao trên thị trường trong và ngoài nước

8 Thông tin thương mại

Trang 31

cũng ngày càng mở rộng và đa dạng Thị trường xuất khẩu của hàng Dệt May Việt Nam tập trung vào 3 thị trường chính sau:

 Hoa Kỳ (chiếm hơn 50% thị phần thị trường nhập khẩu): Tỷ trọng

xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tổng giá trị xuất khẩu hàng Dệt May của Việt Nam cũng tăng tương ứng, từ mức xấp xỉ 34,6% vào năm 2002 lên gần 50,7%

vào năm 2007

 EU (chiếm 20% thị phần): Thị trường EU có mức tăng khá ổn định,

từ mức 225 triệu USD vào năm 1996 lên 1,5 tỷ USD vào năm 2007 Trong tháng 5/2009, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của ta sang EU đã tăng khá mạnh, tăng 36% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 1,94% so với cùng kỳ năm ngoái

 Nhật Bản (chiếm 10% thị phần): Xuất khẩu hàng Dệt May vào

Nhật Bản có xu hướng tăng nhưng không ổn định: giá trị xuất khẩu năm 2000

là 620 triệu USD, giảm xuống còn 514 triệu USD vào năm 2003 và tăng liên tục lên 800 triệu USD vào năm 2007 Tuy nhiên, tháng 5/2009, xuất khẩu hàng Dệt May của nước ta sang thị trường này giảm 23% so với tháng trước

đó

Chỉ riêng ba thị trường này đã chiếm hơn 80% giá trị xuất khẩu hàng Dệt May của Việt Nam Còn lại là các thị trường khác như Nga, Hàn Quốc,

Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Hồng Kông, Ả rập Xê út, UAE, Đài Loan, Úc…

Việc mở rộng tiếp cận các thị trường xuất khẩu góp phần tạo điều kiện cho ngành Dệt May không ngừng lớn mạnh Trong giai đoạn 2000-2006, ngành đã tạo thêm việc làm cho khoảng 600.000 lao động9

Tính theo giá so sánh (năm 1994), trong giai đoạn 2000-2008, giá trị sản xuất của ngành dệt đã tăng gần 2,7 lần, từ gần 10.040 tỷ đồng lên hơn 26.950 tỷ đồng Ngành may

9

Tài liệu nghiên cứu tác động của việc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam – Dự án VIE/61/94

Trang 32

mặc thậm chí còn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, từ mức 6.040 tỷ đồng lên gần 26.620 tỷ đồng

Ngoài ra, hiện nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên một số doanh nghiệp Dệt May gặp khó khăn khi số lượng đơn hàng từ các thị trường truyền thống giảm xuống Do đó, để giảm rủi ro từ việc phụ thuộc vào các thị trường lớn này, các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam đang hướng tới một số thị trường phi truyền thống như Trung Đông, Đông Âu và châu Phi

1.3 Môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp Dệt May xuất khẩu của Việt Nam theo qui định về Dệt May của WTO

Trước những căng thẳng do hạn ngạch nhập khẩu hàng Dệt May mang lại, năm 1961, các nước thành viên của GATT đã thỏa thuận đưa ra Hiệp định ngắn hạn về hàng dệt và bông (Short-term agreement regarding international

in cotton, textiles – STA)

1.3.2 Hiệp định dài hạn về hàng dệt và bông

Sau đó, từ năm 1963 đến năm 1973, Hiệp định dài hạn về hàng dệt và bông (Long-term agreement regarding international in cotton, textiles – LTA) được áp dụng

1.3.3 Hiệp định đa sợi (MFA)

Trang 33

Hiệp định đa sợi (MFA) có hiệu lực áp dụng từ năm 1974 đến năm

1994, là thỏa thuận giữa hơn 40 nước thành viên, trong đó có Mỹ, EU và một

số nước đang phát triển xuất khẩu sản phẩm Dệt May10 Theo MFA, các nước nhập khẩu có thể ký kết các thỏa thuận song phương hoặc không đạt được thỏa thuận song phương thì có thể đơn phương áp dụng các biện pháp hạn chế (thiết lập hạn ngạch nhập khẩu và tốc độ tăng hạn ngạch tùy theo mỗi nước) khi bất kỳ sự tăng đột ngột hàng nhập khẩu nào có thể gây rối loạn thị trường nhập khẩu Theo đánh giá của GATT, MFA đã làm méo mó hình thức buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm Dệt May vì đã tạo ra sự phân biệt đối xử với mục tiêu bảo hộ

1.3.4 Hiệp định Dệt May (ATC)

Năm 1995, Hiệp định hàng Dệt May (ATC) ra đời thay thế Hiệp định đa sợi (MFA) Theo ATC, buôn bán các sản phẩm Dệt May sẽ được áp dụng theo nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO, chấm dứt các trường hợp ngoại lệ trong buôn bán quốc tế sản phẩm này Chỉ có các thành viên của WTO mới phải tuân theo qui định của ATC Hiệp định này đưa ra một lịch trình hợp nhất dần dần những mặt hàng thuộc phạm vi điều chỉnh của ATC vào khuôn khổ các quy định của Hiệp định GATT 1994 Theo đó, kể từ 1/1/2005 - ngày Hiệp định ATC hết hiệu lực, toàn bộ hạn ngạch đối với hàng Dệt May phải được loại bỏ; hàng Dệt May sẽ được giao thương như các loại hàng hoá thông thường khác trong khuôn khổ quy định của WTO

10

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (1997), Khái quát về Luật Thương mại Mỹ , Tạp chí điện tử,

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0697.html [truy cập ngày 01/04/2010]

Trang 34

Bảng 1.4 Chương trình nhất thể hóa hàng Dệt May

Giai

đoạn Giai đoạn

Tỷ lệ hợp nhất tối thiểu (tính trên khối lượng nhập khẩu năm 1990)

(Nguồn: WTO – Hiệp định ATC )

Ngoài ra, Hiệp định ATC cho phép áp dụng các biện pháp tự vệ trong thời kỳ quá độ Khi hết thời hạn hiệu lực của thời kỳ quá độ, các nước không được áp dụng các biện pháp tự vệ đó nữa Tuy nhiên, chỉ những thành viên đã tiến hành những chương trình “nhất thể hóa” mới được áp dụng biện pháp này Việc áp dụng các biện pháp tự vệ chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở đã bảo đảm được hai điều kiện11

:

- Thứ nhất, đã chứng minh được có sự tổn hại nghiêm trọng hay đe dọa

gây tổn hại nghiêm trọng do nhập khẩu hàng Dệt May tăng lên đột ngột;

- Thứ hai, có mối liên hệ trực tiếp giữa sự tổn hại nghiêm trọng đó đối

với ngành công nghiệp Dệt May của nước nhập khẩu do có sự tăng vọt trong

số lượng hàng nhập khẩu từ nước xuất khẩu

Tất cả những biện pháp này cùng với sự hết hiệu lực của Hiệp định ATC, đã chấm dứt từ ngày 01/01/2005

11 Điều 6, Hiệp định ATC

Trang 35

1.4 Sự cần thiết phải phát triển Dệt May xuất khẩu Việt Nam hậu WTO

Trong những năm qua, ngành Dệt May có vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới Những thành tựu mà ngành Dệt May đạt được đã đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung ở Việt Nam Việc gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế Các rào cản thương mại được gỡ bỏ sẽ là cơ hội để ngành Dệt May Việt Nam phát triển và đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu Việc phát triển Dệt May xuất khẩu của Việt Nam sau WTO là một trong những nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu của nền kinh tế nói chung và của ngành Dệt May nói riêng vì những thuận lợi mà việc gia nhập WTO mang lại

Thứ nhất, hàng Dệt May của Việt Nam khi xuất khẩu vào một nước

thành viên WTO sẽ nhận được đối xử tối huệ quốc theo Qui chế Tối huệ quốc (MFN) mà nước thành viên ấy dành cho các thành viên WTO khác Tức là hạn ngạch vào các thị trường như Mỹ sẽ được dỡ bỏ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Dệt May xuất khẩu theo khả năng để đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời tránh được các tình trạng ứ đọng nguồn hàng khi chưa được phân giao hạn ngạch

Thứ hai, hàng Dệt May xuất khẩu của Việt Nam sẽ được đối xử bình

đẳng như các sản phẩm nội địa trên thị trường một nước thành viên WTO về các khoản thuế, phí, lệ phí, các qui định liên quan đến việc bán hàng, cạnh tranh Vì thế, chi phí xuất khẩu sản phẩm giảm sẽ nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất và xuất khẩu

Trang 36

Thứ ba, khi gặp tranh chấp thương mại, hàng Dệt May xuất khẩu của

nước ta có thể nhận được bảo vệ từ cơ chế xử lý tranh chấp trong khuôn khổ WTO và có thể nhận được bảo hộ tạm thời từ cơ chế tự vệ

Thứ tư, gia nhập WTO mở ra những sự hợp tác kinh tế mới trong ngành

Dệt May Đầu tư nước ngoài vào ngành Dệt May Việt Nam sẽ tăng mạnh cùng với trình độ quản lý và kỹ thuật công nghệ mới

Như vậy, với những thuận lợi mà việc gia nhập WTO mang lại cho ngành Dệt May Việt Nam, việc phát triển ngành này trong thời gian hậu WTO là cấp thiết và đúng đắn Dệt May xuất khẩu nước ta sẽ có cơ hội để cạnh tranh trên thị trường thế giới, tạo bước đột phá trong tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA

VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ HẬU WTO

Về quan hệ ngoại giao, Mỹ chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực với rất nhiều nước trên thế giới Cùng với xu thế toàn cầu hóa, những chính sách của nước này ảnh hưởng tương đối lớn tới an ninh chính trị

và kinh tế của từng khu vực

Về công nghệ - khoa học - kỹ thuật, Mỹ đã và đang dẫn đầu trong việc sáng tạo kỹ thuật và nghiên cứu khoa học từ cuối thế kỷ 19 Hầu hết các công nghệ phục vụ cho cuộc sống của loài người ngày nay đều do các nhà khoa học

Mỹ sáng chế và phát minh Hiện nay, Mỹ còn phát triển vũ khí nguyên tử, tạo

ra những bước tiến mới trong khám phá vũ trụ và nhiều lĩnh vực khác

Trang 38

Hệ thống giao thông ở Mỹ rất phát triển Năm 2003, khoảng 759/ 1000 người dân Mỹ sử dụng xe hơi so với 472/1000 cư dân ở EU Mỹ cũng sở hữu những hãng hàng không lớn nhất trên thế giới, đi đầu là American Airlines

2.1.2 Đặc điểm thị trường

2.1.2.1 Qui mô thị trường

Là một trong ba nhà nhập khẩu hàng Dệt May lớn nhất thế giới, với tốc

độ tăng trưởng kinh tế tương đối ổn định, Mỹ là thị trường nhập khẩu Dệt May tiềm năng đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và Dệt May xuất khẩu Việt Nam nói riêng Qui mô một số mặt hàng xuất nhập khẩu chính của

Mỹ thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1 Qui mô thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa của Mỹ

Đơn vị: Triệu USD

Trang 39

trọng lớn nhất: năm 2000, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này tăng 0,15% so với năm 1999, gấp khoảng 22 lần kim ngạch mặt hàng rượu bia, gấp 249 lần

so với mặt hàng thuốc lá, gấp 4,3 lần mặt hàng giấy và gấp 6,2 lần kim ngạch nhập khẩu vải sợi Mặt hàng quần áo chiếm 0,6% trên tổng số kim ngạch nhập khẩu của thị trường lớn nhất toàn cầu này Ngoài ra, có thể thấy, Mỹ nhập khẩu tương đối ít vải sợi so với mặt hàng Dệt May thành phẩm là quần

áo bởi vì Mỹ có ngành dệt rất phát triển

Bên cạnh đó, Mỹ là quốc gia đa sắc tộc nên đa dạng về nhu cầu và mức

độ sử dụng Vì vậy, nhằm khai thác có hiệu quả thị trường tiềm năm này trong thời gian tới, chúng ta cần đề ra định hướng giải pháp hợp lý để đa dạng hóa chủng loại, kiểu dáng mẫu mã nhằm đáp ứng nhu cầu thị hiếu và xu hướng thời trang của thị trường này

2.1.2.2 Mức chi tiêu

Là một trong những quốc gia có mức thu nhập trung bình của người dân cao nhất thế giới (GDP trên đầu người năm 2008 là 38.138 USD/ người)12, mức chi tiêu mua sắm hàng tiêu dùng nói chung và hàng may mặc nói riêng của người Mỹ tương đối lớn và ổn định Biể fđò 2.1 to thấy khoảng 40% người tiêu dùng Mỹ thích đi mua sắm quần áo, thấp hơn hẳn so với một

số nước khác như 50% ở Thái Lan, gần 80% ở Anh, xấp xỉ 90% ở Ấn Độ…Tuy nhiên, số lần đi mua sắm quần áo trong năm trung bình ở Mỹ là 22 lần/người/năm, cao hơn so với các quốc gia và khu vực khác ở Châu Á như Thái Lan và Trung Quốc (13 lần), ở Châu Mỹ La tinh như Brazil và Mexico (10 lần), Ấn Độ (7 lần)…

12 The World Bank Group,

http://www.tradingeconomics.com/Economics/GDP-Growth.aspx?Symbol=USD [truy cập ngày 30/03/2010]

Trang 40

Biểu đồ 2.1 Mức độ yêu thích mua sắm hàng may mặc và số lần mua sắm hàng may mặc một năm của người tiêu dùng trên thế giới, năm 2006

(Nguồn: Global Lifestyle Monitor and *Cotton Incorporated’s Lifestyel Monitor TM

)

Thời gian gần đây, do chịu ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ chính nước Mỹ vào cuối năm, mức thu nhập trung bình của người Mỹ giảm nhưng nhìn chung, chi tiêu cho hàng may mặc vẫn tương đối ổn định, chỉ giảm đáng kể ở một số mặt hàng may mặc như quần sooc (giảm 1,8%), áo dệt (2,9%), váy ngắn (21,1%)… như bảng 2.2 sau:

Ngày đăng: 03/09/2015, 18:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Năng lực sản xuất của ngành Dệt May Việt Nam năm 2009 - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 1.1. Năng lực sản xuất của ngành Dệt May Việt Nam năm 2009 (Trang 13)
Bảng 1.2 cho thấy kim  ngạch  xuất khẩu sang ba thị trường chủ  lực  là - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 1.2 cho thấy kim ngạch xuất khẩu sang ba thị trường chủ lực là (Trang 26)
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu của Dệt May Việt Nam theo thị trường - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu của Dệt May Việt Nam theo thị trường (Trang 26)
Bảng 1.4. Chương trình nhất thể hóa hàng Dệt May - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 1.4. Chương trình nhất thể hóa hàng Dệt May (Trang 34)
Bảng 2.1. Qui mô thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa của Mỹ - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 2.1. Qui mô thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa của Mỹ (Trang 38)
Bảng 2.2. Thay đổi trong đơn vị mua sắm hàng Dệt May ở Mỹ - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 2.2. Thay đổi trong đơn vị mua sắm hàng Dệt May ở Mỹ (Trang 41)
Bảng 2.3. Tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng Internet để mua sắm quần áo - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 2.3. Tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng Internet để mua sắm quần áo (Trang 42)
Bảng 2.4. Tỷ trọng chi phí do hạn ngạch gây ra trong tổng - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 2.4. Tỷ trọng chi phí do hạn ngạch gây ra trong tổng (Trang 51)
Bảng 2.5. Đầu tư nước ngoài vào ngành Dệt May theo năm - Phát triển xuất nhập khẩu may của việt nam vào thị trường mỹ hậu WTO
Bảng 2.5. Đầu tư nước ngoài vào ngành Dệt May theo năm (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w