1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng

111 743 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quan sát, tìm hiểu phân tích lý luận thực tiễn, em đã nhận thấy một trong những vấn đề nổi cộm nhất - lý giải cho việc du lịch tỉnh Cao Bằng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ TRONG BÀI 3

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 4

CHƯƠNG I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING DU LỊCH 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Marketing trong du lịch 5

1.2 Các chính sách trong Marketing du lịch 6

1.2.1 Chính sách sản phẩm 6

1.2.2 Chính sách giá cả 11

1.2.3 Chính sách phân phối 14

1.2.4 Chính sách xúc tiến và quảng bá 15

1.2.5 Các chính sách khác 16

1.3 Các yếu tố phát triển Marketing du lịch 18

1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên trong 18

1.3.2 Môi trường bên ngoài 18

CHƯƠNG II – TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CAO BẰNG 19

2.1 Tiềm năng du lịch Cao Bằng 19

2.1.1 Tổng quan về tỉnh Cao Bằng 19

1) Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội 19

2) Đặc điểm dân cư, dân tộc 20

2.1.2 Tài nguyên du lịch 22

1) Tài nguyên du lịch tự nhiên 22

2) Tài nguyên du lịch nhân văn 24

2.1.3 Đánh giá chung về tiềm năng du lịch Cao Bằng 29

2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tại Cao Bằng 30

2.2.1 Lượng khách du lịch 30

2.2.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch 32

2.3 Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch 37

CHƯƠNG III - THỰC TRẠNG MARKETING DU LỊCH TẠI CAO BẰNG 41

3.1 Tổng quan về hoạt động Marketing Du lịch tại Cao Bằng 41

3.2 Công tác nghiên cứu Marketing du lịch 41

Trang 3

3.2.1 Nghiên cứu khách hàng 41

3.2.2 Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh 44

3.2.3 Đánh giá hoạt động kinh doanh và thị trường du lịch của Cao Bằng 47

3.3 Công tác định vị sản phẩm, phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu 49

3.4 Chính sách Marketing Mix 50

3.4.1 Chính sách sản phẩm 50

3.4.2 Chính sách giá 52

3.4.3 Chính sách phân phối 54

3.4.4 Chính sách quảng bá và khuếch trương 55

3.4.5 Chính sách con người 58

3.4.6 Chính sách Cơ s ở vật chất và Quy trình phục vụ 61

CHƯƠNG IV – BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN MARKETING DU LỊCH TẠI CAO BẰNG 67

4.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển Marketing du lịch tại Cao Bằng 67

4.1.1 Quan điểm phát triển ngành du lịch Cao Bằng 67

4.1.2 Mục tiêu phát triển ngành du lịch Cao Bằng 69

4.2 Biện pháp phát triển Marketing du lịch tại Cao Bằng 70

4.2.1 Nâng cao nhận thức về Marketing Du lịch, đưa Marketing Du lịch trở thành điểm nhấn xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh du lịch ở tỉnh Cao Bằng 70

4.2.2 Tổ chức, khai thác, phát triển du lịch với các ngành liên quan 71

4.2.3 Xã hội hoá du lịch 72

4.2.3 Định vị sản phẩm , phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu 75

4.2.4 Phát triển các chính sách Marketing – Mix cho du lịch Cao Bằng 77

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO I

PHỤ LỤC 1 - Một số hình ảnh về Cao Bằng VI

PHỤ LỤC 2 - Nghiên cứu Marketing Du lịch tại Cao Bằng X

PHỤ LỤC 3 - Danh mục di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia phân theo huyện, thị XIV

PHỤ LỤC 4 - Danh mục di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh phân theo huyện, thị XVI

PHỤ LỤC 5 - Danh mục di tích văn hóa XIX

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Hoạt động kinh doanh du lịch đang ngày càng phát triển và chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế thế giới Tổng sản phẩm toàn ngành trên toàn cầu năm

2008 đạt 8 ngàn tỉ USD, tăng 3% so với năm 2007 dù trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khủng hoảng trầm trọng, nhiều ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề dẫn đến tăng trưởng âm[59].

Đúng như John Naisbitt – nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ đã

khẳng định: “Du lịch là ngành có đóng góp hàng đầu cho nền kinh tế thế giới” [62]

Việt Nam, với lợi thế về vị trí địa lý , kinh tế , chính trị , xã hội , nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, cùng với vị thế của Việt Nam trong hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng được nâng cao , ngành du lịch Việt Nam ngày càng phát triển Du lịch Việt Nam đ ã vươn lên hàng trung bình trong khu vực, chỉ còn sau 4 nước du lịch phát triển hàng đầu là Thái Lan, Singapore, Malaysia và Indonesia Du khách đến Việt Nam từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ [54].

Theo

Tổ chức Du lịch Thế giới, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới [60]

Với các tài nguyên du lịch và

dự án liên quốc gia ưu tiên đầu tư đến năm 2020 thì du lịch Việt Nam sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển và trở thành “điểm đến của thiên niên kỷ mới”

Cao Bằng, tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, được biết đến như

“cái nôi” của cách mạng Việt Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường,

là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số và đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân văn phong phú, độc đáo, cảnh quan đa dạng và nhiều điểm du lịch đặc sắc Tuy nhiên, Cao Bằng vẫn là một tỉnh nghèo, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn Ngành du lịch Cao Bằng tuy đạt được một số thành tựu, nhưng những thành tựu đó chưa tương xứng với tiềm năng, vị trí và vai trò vốn có của du lịch Cao Bằng và thấp về trình độ so với một số tỉnh lân cận Qua quan sát, tìm hiểu phân tích lý luận thực tiễn, em đã nhận thấy một trong những vấn đề nổi cộm nhất -

lý giải cho việc du lịch tỉnh Cao Bằng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng -

đó là hoạt động Marketing Du lịch chưa thực sự được chú trọng và phát triển hiệu quả Trong giai đoạn phát triển mới cùng những mục tiêu và nhiệm vụ mới của nền kinh tế nói chung và ngành du lịch – dịch vụ nói riêng, thì giải quyết, khắc phục sự

Trang 5

yếu kém trong công tác Marketing Du lịch ở tỉnh Cao Bằng càng trở nên quan trọng

hơn bao giờ hết Vì vậy em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp phát triển Marketing Du lịch tại Cao Bằng” với mục đích nghiên cứu, tổng kết hoạt động du

lịch nói chung, công tác Marketing du lịch nói riêng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, từ

đó xây dựng các biện pháp phát triển Marketing du lịch tại Cao Bằng trong xu hướng quốc tế hóa kinh tế - phát triển du lịch khu vực và thế giới

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Thực trạng hoạt động Du lịch và Marketing Du lịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, năm 2004 đến năm 2008 – là thời điểm đánh dấu 5 năm hoạt động, thời điểm trước và sau sự ra đời của Luật Du lịch

2005, để thấy rõ được sự vận động và phát triển của thị trường du lịch tại Cao Bằng,

từ đó đề ra các biện pháp phát triển Marketing du lịch cho Cao Bằng Vận dụng các phương pháp thu thập, tổng hợp phân tích số liệu; phương pháp so sánh; phương pháp sử dụng biểu đồ; phương pháp nghiên cứu thực địa; phương pháp điều tra nghiên cứu Marketing để tiến hành nghiên cứu đề tài Cấu trúc của bài Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 4 phần nội dung chính:

Chương 1 – Lý luận chung về Marketing Du lịch

Chương 2 – Tổng quan về hoạt động Du lịch tại Cao Bằng

Chương 3 - Thực trạng Marketing Du lịch tại Cao Bằng

Chương 4 – Biện pháp phát triển Marketing Du lịch tại Cao Bằng

Em xin chân thành cảm ơn những ý kiến quý báu của Th.S Trần Bích Ngọc – Giảng viên Khoa Kinh doanh Quốc tế và các thày cô giáo trong Trường Đại học Ngoại Thương đã hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bài viết Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các cô chú công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Cao Bằng, Cục Thống kê Cao Bằng, Ủy ban Dân tộc Cao Bằng, Công ty

Du lịch Cao Bằng đã tạo điều kiện giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện bài khóa luận Trong quá trình nghiên cứu và kết luận, dù em đã cố gắng, nhưng do trình độ và nhận thức còn nhiều mặt hạn chế và đề tài nghiên cứu ngoài phạm vi ngành học, nên em không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, em rất mong nhận được các đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn để đề tài thực sự có hiệu quả

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ TRONG BÀI

Bảng

1 Bảng 1.1 Các chính sách giá trong du lịch 13

2 Bảng 2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế Cao Bằng từ 2004-2008 20

3 Bảng 2.2 Lượng khách du lịch đến Cao Bằng qua các năm

4 Bảng 2.3 Doanh thu du lịch Cao Bằng giai đoạn 2004-2008 33

5 Bảng 2.4 Cơ cấu doanh thu du lịch Cao Bằng chia theo loại hình

13 Bảng 3.6 Hiện trạng cơ sở lưu trú tỉnh Cao Bằng 62

14 Bảng 3.7 Hiện trạng công suất sử dụng phòng trung bình năm ở

17 Bảng 3.10 Dự án Du lịch kêu gọi vốn đầu tư đầu tư đến 2010 65

18 Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu phát triển du lịch Cao Bằng 69

19 Bảng 4.2

Chỉ tiêu thu nhập và lao động ngành du lịch tỉnh Cao

Trang 7

22 Biểu đồ 2.2 Doanh thu du lịch Cao Bằng giai đoạn 2004-2008 33

23 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Cao Bằng 35

Hình vẽ

24 Hình 1.1 Quan hệ giữa sản xuất, Marketing, tiêu thụ hàng hoá

25 Hình 1.2 Hệ thống phân phối trong du lịch của S Wahab,

26 Hình 1.3 Marketing – Mix trong dịch vụ du lịch 17

27 Hình 3.1 Đường cầu nhóm khách 1, cầu ít co giãn khi giá tăng 52

28 Hình 3.2 Đường cầu nhóm khách 2, cầu co giãn khi giá tăng 53

31 Hình 3.5

Tỷ lệ nhân viên chưa đạt chuẩn tiếng Anh theo kết quả

32 Hình 4.1 Lợi ích xã hội hoá du lịch 74

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 8

CHƯƠNG I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING DU LỊCH

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Marketing trong du lịch

Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [34]

Từ hoạt động du lịch tự phát trong nền văn minh Hy Lạp , Ai Cập đến du lịch hiện đại, du lịch đã phát triển mạnh

mẽ về cả chiều rộng lẫn chiều sâu, có ý nghĩa toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Du lịch hiện đại ngày càng phát triển nhiều loại hình du lịch mới , dịch vụ phong phú, đa dạng và hướng đến mục đích đáp ứng nhu cầu của con người ngày càng cao

Xuất phát từ yêu cầu phát triển ngành du lịch hiện đại, thuật ngữ Marketing vốn sử dụng trong thúc đẩy hoạt động kinh doanh sản phẩm hữu hình , được vận dụng vào ngành du lịch với những tính chất đặc biệt riêng Như ta đã biết , Marketing là sự tác động tương hỗ hai mặt của một quá trình thống nhất Một mặt, nghiên cứu thận trọng, toàn diện nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng để định hướng sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu đó; Mặt khác tác động tích cực đến thị trường, đến nhu cầu hiện tại và tiềm tàng của khách hàng nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, tổ chức [10,5].

 Marketing du lịch là một loạt các phương pháp và kỹ thuật được hỗ trợ bằng một tinh thần đặc biệt và có phương pháp nhằm thỏa mãn các nhu cầu không nói ra hoặc nói ra của khách hàng có thể là mục đích tiêu khiển hoặc những mục

Trang 9

đích khác nhau bao gồm công việc gia đình, công tác và họp hành (Robert Lanquar

& Robert Hollier) [8,16]

Như vậy ta có thể hiểu, Marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, phân tích những nhu cầu của khách hàng để tìm ra những sản phẩm, dịch vụ du lịch và những phương thức cung ứng và hỗ trợ để đưa khách hàng đến với sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ, đồng thời đạt được những mục tiêu của tổ chức Xuất phát từ nhiệm vụ đó , Marketing ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch, thể hiện ở các luận điểm sau đây:

Thứ nhất, hàng năm trên thế giới có hàng trăm triệu người đi du lịch với

khuynh hướng ngày càng tăng, làm tăng doanh thu và các lợi ích thu lại, đem lại cho các đơn vị kinh doanh, địa phương và quốc gia doanh thu khổng lồ

Thứ hai, bản thân Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang

nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao nên phát triển du lịch có lợi về nhiều mặt chính trị, ngoại giao, văn hóa, xã hội; Phát triển Marketing du lịch thúc đẩy nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của người dân, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển toàn diện của đất nước

Thứ ba, Du lịch là ngành công nghiệp không khói, đặc tính của sản phẩm du

lịch khác với nhiều sản phẩm hàng hóa hữu hình và khách hàng thường ở xa sản phẩm, Marketing du lịch góp phần rút ngắn khoảng cách đó, và vì vậy nó trở nên cần thiết trong lĩnh vực kinh doanh du lịch

Do vai trò quan trọng của Marketing du lịch trên nhiều mặt, vì thế phát triển Marketing du lịch mang ý nghĩa kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội to lớn

Trang 10

rằng sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình, có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát Từ các định nghĩa trên ta có phương trình sau:

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ hàng hóa du lịch

Dịch vụ hàng hoá du lịch sẽ gồm hai phần chính: Thứ nhất, hàng hóa hữu hình gồm đồ dùng sinh hoạt cá nhân tại chỗ, hàng lưu niệm, những món ăn hấp dẫn mới lạ, hàng hóa được trao đổi trên thị trường hoặc sản phẩm mang tính địa phương… Thứ hai, hàng hóa vô hình (dịch vụ), gồm hai loại: dịch vụ cơ bản (vận tải, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, chữa bệnh, nghỉ dưỡng …) và dịch vụ bổ sung (cắt tóc, giặt là, cho thuê xe, lều bạt, dụng cụ thể thao, thu đổi ngoại tệ, mua sắm, … ngoài hợp đồng cam kết) Nó cũng có thể là nơi nghỉ ngơi trong bầu không khí thân thiện, tình cảm tại khách sạn, là sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp cuả thiên nhiên, được tận hưởng không khí mát lạnh cuả vùng ôn đới

Sản phẩm du lịch còn bao hàm "Tiện nghi du lịch" Nó là tổng thể các điều kiện thuận lợi phục vụ cho du khách, thường là sự kết hợp giữa nhiều ngành nhiều cấp có liên quan tới du lịch: tình hình an ninh nơi du khách đến, độ láng mịn của các tuyến đường vận chuyển khách, phương tiện vận chuyển du lịch và hệ thống thông tin liên lạc

1.2.1.2 Đặc điểm sản phẩm du lịch

Từ phân tích trên ta thấy sản phẩm du lịch có bốn đặc điểm cơ bản : tính vô hình hay phi vật chất , tính bất khả phân , tính khả biến , tính dễ phân h uỷ Chính vì những đặc điểm ấy trong chiến lược chung, Marketing du lịch nhằm đa dạng hóa sản phẩm, thông qua việc xây dựng tổ hợp các yếu tố cấu thành, nâng cao sự thích ứng của hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách

Thứ nhất, tính vô hình hay phi vật chất (Intangibility): Sản phẩm du lịch

không thể sờ thấy được trước khi tiêu dùng, trước khi lên máy bay, hành khách không có gì ngoại trừ một vé máy bay và lời hứa hẹn đảm bảo về chất lượng sản phẩm ở nơi đến du lịch Người bán đôi khi quá thổi phồng về sản phẩm làm cho

khách hàng cảm thấy mình bị đánh lừa khi sử dụng sản phẩm kém chất lượng

Trang 11

Thứ hai, sản phẩm du lịch có tính tính bất khả phân (Insparability) Hầu hết

các dịch vụ trong du lịch liên quan khách sạn, nhà hàng, người cung cấp dịch vụ và khách hàng đều không thể tách rời Thực phẩm trong nhà hàng có thể không hoàn hảo, nhưng sự ân cần của người phục vụ và dịch vụ chu đáo có thể đem lại sự hài lòng cho khách hàng Tính chất bất khả phân cho thấy sự tác động qua lại giữa

người cung cấp và khách hàng tạo nên sự tiêu thụ dịch vụ như hình 1.1:

Hình 1.1 Quan hệ giữa sản xuất, Marketing, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ

Nguồn: Giáo trình Marketing du lịch(2000)

Theo hình 1.1, mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu thụ hàng hóa hữu hình không chặt chẽ như trong hàng hóa dịch vụ - sản phẩm du lịch được sản xuất và tiêu thụ gần như cùng một lúc, do đó sự tương tác giữa sản xuất và tiêu thụ khá rõ rệt

Thứ ba là tính khả biến (Variability): Dịch vụ rất dễ thay đổi, chất lượng của

sản phẩm tùy thuộc phần lớn vào người cung cấp và không gian, thời gian chúng

được cung cấp

Thứ tư, sản phẩm du lịch có tính dễ phân hủy (Perishability), không thể tồn

kho, nghĩa là không thể dể dành cho ngày mai Một khách sạn có 100 phòng, nếu công suất thuê phòng hôm nay là 60% thì ngày mai cũng không thể cho thuê lưu trú

tới 140 phòng, doanh số 40 phòng không có người thuê được sẽ mãi mãi mất đi

Ngoài bốn đặc tính trên, dịch vụ du lịch còn có hai đặc tính khác: Tính Không đồng nhất (Herogeneity) và tính Không có quyền sở hữu (Nowownership)

Sản xuất

Tiêu thụ

Marketing

Sản xuất

Dịch vụ

Sự tác động qua lại giữa người bán và người mua

Hàng hóa

Trang 12

Trong Marketing du lịch, dịch vụ không đơn thuần là phục vụ khách hàng

mà còn hướng về lợi nhuận cho tổ chức Đây là điều đặc biệt quan trọng, vấn đề sống còn với các đơn vị kinh doanh du lịch Marketing du lịch cần tuân thủ những nguyên tắc đặc thù của lĩnh vực mình nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh Để củng

cố niềm tin của khách hàng Marketing du lịch cần phải tăng tính hữu hình của sản phẩm bằng cách mở rộng quảng cáo, giới thiệu chương trình hay tạo hình ảnh của hãng một cách hợp lý nhất; Từ tính bất khả phân, người quản lý du lịch phải đảm bảo quản lý được mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân viên lẫn khách hàng; Khắc phục những nhược điểm cho tính khả biến gây ra, nâng cao chất lượng dịch vụ và thận trọng trong việc cung cấp dịch vụ sao cho khách hàng thỏa mãn tối đa và áp dụng những biện pháp linh hoạt trong Marketing và cung cấp dịch vụ để không lãng phí nguồn lực do tính dễ phân hủy của dịch vụ du lịch

1.2.1.3 Mô hình sản phẩm du lịch

Trong các mô hình sản phẩm du lịch thì mô hình 3H, 6S phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội của tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

1/ Mô hình 3H:

a) Di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa (Heritage)

Những lĩnh vực thuộc về di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) như công trình nghệ thuật, lịch sử, ngành nghề thủ công trở thành những di sản văn hóa của một quốc gia, của thế giới Chúng mang tính đại diện cho tinh thần của một dân tộc, một miền đất và mang ý nghĩa văn hóa, nghệ thuật, chính trị cao Yếu tố này đặc biệt quan trọng khi khai thác thị trường khách du lịch quốc tế, vì đối tượng khách này có nhu cầu tìm hiểu về những vùng đất mới và điểm độc đáo trong những nền văn hóa khác nhau sẽ để lại cho họ nhiều ấn tượng lí thú Như vậy song song với việc phát triển du lịch, thì phát triển văn hóa, vun đắp các giá trị truyền thống dân tộc cũng cần được coi trọng

Trang 13

là những yếu tố vô cùng quan trọng để cấu thành sản phẩm du lịch Làm tốt những công tác dịch vụ trên sẽ gây ấn tượng tốt cho mỗi người khách, ngược lại sẽ làm mất ý nghĩa của chuyến đi, gây ấn tượng xấu không chỉ về đơn vị kinh doanh mà còn cả vùng đất du lịch

c) Tính lương thiện (Honesty)

Tính lương thiện là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh Kinh doanh phải lấy chữ “tín” làm đầu, mà do đặc thù kinh doanh du lịch, vấn đề uy tín với khách là điều cần thiết, đảm bảo lòng tin của khách trong khi đã bỏ tiền ra mua mà vẫn chưa thấy, chưa sử dụng được sản phẩm

2/ Mô hình 6S

a) Yếu tố vệ sinh (Sanitaire) bao gồm: vệ sinh thực phẩm, vệ sinh ăn uống, ngủ nghỉ, vệ sinh môi trường không khí, nước thải Tại các nước trong khu vực ASEAN như Singapore, Thái Lan đường phố rất tráng lệ, sạch sẽ, luôn có những đội Cảnh sát du lịch giữ gìn trật tự vệ sinh đường phố, đem lại cho khách du lịch sự thoải mái và ấn tượng tốt đẹp

b) Yếu tố sức khỏe (Santé) bao gồm các loại hình thể thao, chữa bệnh và nghỉ dưỡng Mục đích con người đi du lịch để nghỉ ngơi, lấy lại sức khỏe sau thời gian làm việc căng thẳng về tinh thần và thể chất, vì thế để thu hút khách du lịch vì

lý do sức khỏe, các đơn vị cung ứng phải kết hợp những yếu tố liên quan đến sức khỏe trong sản phẩm du lịch, mang tính thể thao và thư giãn

c) Các vấn đề an ninh, trật tự xã hội (Sécurité) như ổn định chính trị, trật tự, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo hiểm sinh mạng cho khách du lịch là yếu tố quan tâm hàng đầu để phát triển du lịch Bảo vệ tính mạng cho du khách là vấn đề hết sức quan trọng, nếu một đất nước thiếu an ninh thì ngành du lịch không thể phát triển được

Để góp phần tăng tính an ninh và giảm tối đa các rủi ro, thì chính quyền và các đơn

vị cung ứng phải phối hợp chặt chẽ, chính quyền phải ổn định, các hãng lữ hành trang bị các phương tiện vận chuyển tốt, người phục vụ có kiến thức, kinh nghiệm

d) Sự thanh thản (Sérénité): Hầu hết khách đi du lịch vì mục đích hưởng thu,

đi tìm sự thanh thản trong tâm hồn để bù đắp vào sự mất mát qua thời gian dài làm việc cật lực Trong bối cảnh kinh tế càng phát triển, cường độ và áp lực công việc

Trang 14

càng gia tăng, khoa học đã chứng minh tinh thần, tình cảm của con người với môi trường xung quanh càng trở nên mất thăng bằng Do đó, con người cần sự thanh thản và muốn quay về với thiên nhiên, ngắm nhìn cảnh quan xanh mát hùng vĩ, hoang sơ của núi rừng, sông biếc Do tính chất quan trọng của tài nguyên thiên nhiên về rừng núi, biển cả, sông hồ, vì vậy trong công tác Marketing cần chú ý và tận dụng những sản phẩm do thiên nhiên ban tặng tạo nên sản phẩm du lịch phong phú hấp dẫn

e) Dịch vụ, phong cách phục vụ (Service)

Mỗi dịch vụ trong gói tour du lịch đều đòi hỏi tất cả những người liên quan trong việc phục vụ phải am hiểu nghề nghiệp và có phong cách phục vụ tốt Khách hàng sẽ vui vẻ chấp nhận bỏ qua sự thiếu sót trong sản phẩm hữu hình nếu thái độ phục vụ tốt, nhân viên niềm nở khéo léo Trong khi sản phẩm hữu hình (khách sạn, phương tiện giao thông ) thì tốn kém thì sản phẩm vô hình ít tốn kém, mang lại hiệu quả cao vì thế trong hoạt động du lịch phải quan tâm nhiều đến khâu phục vụ

so với sản phẩm hữu hình

f) Sự thỏa mãn (Satisfaction)

Mục đích của việc đi du lịch là để thỏa mãn những nhu cầu của con người Nhu cầu du lịch tùy thuộc vào mục đích của mỗi chuyến đi Tuy nhiên, trong du lịch người đi du lịch là để thỏa mãn được nhiều mục đích khác nhau chứ không hẳn thuần túy như chủ đề và nội dung của chương trình du lịch (Du lịch tham quan, nghiên cứu, hội họp, sinh thái )

1.2.2 Chính sách giá cả

Quá trình ra quyết định về giá của đơn vị kinh doanh du lịch chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố, bao gồm nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài Nhóm

nhân tố bên trong là các nhân tố mà doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh, kiểm

soát; Mỗi một nhân tố trong từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, tác động khác nhau tới chính sách giá Trong phạm vi này có ba nhân tố mà doanh nghiệp kinh doanh

du lịch có khả năng điều chỉnh lớn nhất:

Thứ nhất là chi phí, có rất nhiều cách phân loại chi phí khác nhau, từ chi phí

biến đổi, chi phí cố định, chi phí biên tới chi phí cơ hội, chi phí dự phòng Để xác

Trang 15

định được mức giá cho sản phẩm, doanh nghiệp cần tính toán và phân bố hợp lý các khoản chi phí của mình Thông thường các doanh nghiệp có hai hướng tác động chủ yếu là thay đổi mức chi phí (hoặc tổng chi phí) và thay đổi cơ cấu chi phí Tiết kiệm chi phí luôn là mối quan tâm của các công ty kinh doanh du lịch

Thứ hai là mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu của doanh nghiệp có ảnh

hưởng rất lớn tới quyết định về giá Khi doanh nghiệp thay đổi mục tiêu của mình thì mức giá của sản phẩm sẽ thay đổi theo để giúp doanh nghiệp đại được mục tiêu mới Có 4 nhóm mục tiêu cơ bản đối với các doanh nghiệp:

+ Các mục tiêu về lợi nhuận: Lợi nhuận tối đa, Vòng quay của vốn, Tỷ lệ lợi nhuận đầu tư, Lợi nhuận tăng thêm trên một đồng chi phí bỏ ra;

+ Mục tiêu về bán: Tối đa doanh số, Tối đa số lượng khách, Chiếm lĩnh thị phần, Hướng vào du khách đi lần đầu, Hướng vào du khách đi lần thứ hai;

+ Mục tiêu cạnh tranh: Giữ vững sự cách biệt về giá, Đối đầu;

+ Mục tiêu chi phí: Đảm bảo hòa vốn, Đảm bảo bù đắp chi phí cố định

Thứ ba là chất lượng cơ sở vật chất và dịch vụ Thông thường khi định giá

trong dịch vụ du lịch , mức giá cao hơn gắn liền với chất lượng cơ sở vật chất và chất lượng phục vụ tốt hơn so với các chính sách giá thấp Đi cùng với mỗi mức chất lượng là một m ức giá thích hợp tương ứng , chính sách giá cao hay thấp phải phù hợp với chất lượng dịch vụ đi kèm , về nguyên tắc không thể thu của du khách một mức giá “cắt cổ” khi chất lượng dịch vụ kém

Nhóm nhân tố bên ngoài là những nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh,

chính trị, xã hội mà doanh nghiệp không có khả năng tác động hay kiểm soát nhưng chúng cũng tác động rất mạnh đến các quyết định về giá Việc đề ra chính sách giá cho sản phẩm trong ngành Du lịch liên quan rất nhiều đến chính sách cạnh tranh giá

cả giữa các doanh nghiệp Cùng trên cùng một đối tượng khách hàng, với chất lượng dịch vụ như nhau, nhưng nếu doanh nghiệp biết nắm bắt được giá cả của đối thủ cạnh tranh thì đó sẽ là yếu tố tiên quyết để đưa ra chính sách giá cho chính doanh nghiệp đó Bên cạnh đó chính sách giá cũng được quyết định qua kết quả việc nghiên cứu và phân tích thị trường, trong đó quan trọng nhất là mức độ cảm nhận của khách hàng về giá

Trang 16

Các đơn vị kinh doanh du lịch cần xác định mức giá cho từng loại hàng hóa

du lịch phù hợp với điều kiện thị trường và điều kiện kinh doanh của từng thời kì

Có nhiều loại chính sách giá để các đơn vị này hoạch định và tiến hành kinh doanh , các phương pháp chủ yếu gắn với từng mức giá theo bảng dưới đây:

Bảng1.1 Các chính sách giá trong du lịch

Giá cao Chiến lược giá cao cấp

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Internet

Các doanh nghiệp áp dụng các chiến lược giá: 4, 7, 8 thường nhắm được lợi nhuận trước mắt, về lâu dài sẽ dẫn tới sự bất mãn cuả du khách, có thể làm ảnh hưởng đến uy tín của du lịch địa phương Các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh lâu dài thường định giá theo chiến lược 2, 3, 6 Lợi nhuận trước mắt có thể ít, song họ hướng tới việc thu phục được nhiều du khách trong tương lai, gây được sự cảm tình cuả du khách và đây là xu hướng phát triển tất yếu cuả kinh doanh du lịch trong tương lai, khi mà cạnh tranh trong nước và khu vực đã trở nên gay gắt

Ngoài ra các doanh nghiệp còn áp dụng chiến lược giá thấp, giá trọn gói, tăng giá và định giá tâm lý… Chiến lược giá thấp thường được áp dụng khi đưa một sản phẩm mới ra thị trường hoặc trong cạnh tranh, nó là chiến lược phá giá (dumping) Áp dụng chiến lược giá thấp thu hút được khách du lịch ớ mức thu nhập trung bình và thấp, nhưng lại không có tác dụng đối với những khách có thu nhập cao Chiến lược giá trọn gói, bán cả cụm sản phẩm với cơ cấu cho trước, tạo sự yên tâm tối thiểu cho quá trình tiêu thụ sản phẩm của khách (nhất là khách lạ, khách có thu nhập trung bình) Chiến lược giá trọn gói thường đi kèm chiến thuật bổ sung , bằng cách tạo ra nhu cầu mới phát sinh kèm theo cụm sản phẩm đã bán theo giá trọn gói (phí tham quan, massage, chụp ảnh… ) Chiến lược tăng giá được sử dụng

Trang 17

có mức độ trong một thời gian ngắn tại những thị trường có độ co giãn của nhu cầu thấp

Như vậy chính sách giá cả phải hết sức linh hoạt, phải bám chắc thị trường

để xử lý phù hợp và phải nắm chắc tâm lý, phản ứng của khách trước việc định giá

Đó là một khoa học và nghệ thuật trong kinh doanh

Công ty du lịch trọn gói không cung cấp sản phẩm riêng lẻ mà chỉ bán sản phẩm đơn nhất, giá nguyên kiện Những chuyến du lịch trọn gói thường được bán thông qua bản thân những công ty du lịch trọn gói, hoặc thông qua những điểm bán

lẻ của công ty đó, cũng có trường hợp dành cho các văn phòng du lịch được công ty chấp nhận

Các đại lý du lịch là bộ phận kết nối quan trọng nhất trong mạng lưới du lịch Đại lý du lịch hay văn phòng du lịch là tiếp điểm cuối cùng giữa người muốn bán sản phẩm và những người muốn mua sản phẩm Các đại lý du lịch cung cấp các dịch vụ như bán vé tàu, xe, đặt phòng khách sạn, thuê xe, cố vấn cho khách du lịch trong việc lựa chọn nơi du lịch, bán bảo hiểm du lịch, hướng dẫn về hộ chiếu và thị thực

Giữa nhà cung ứng và khách du lịch khi giao dịch với nhau có thể trực tiếp hoặc gián tiếp như hình 1.2 Mối quan hệ giữa khách du lịch và các nhà cung ứng theo hai con đường trực tiếp và gián t iếp: Khách hàng trực tiếp liên hệ với các công

ty du lịch trọn gói hoặc do các công ty du lịch trọn gói khai thác thị trường và giao dịch hợp đồng với khách hàng Hoặc quá trình mua bán tour du lịch diễn ra gián tiếp thông qua các đại lý du lịch, các văn phòng du lịch

Trang 18

Hình 1.2 Hệ thống phân phối trong du lịch của S.Wahab, Crampon & Rothfield

Nguồn: Giáo trình Marketing du lịch (2000)

Các kênh phân phối mở rộng điểm tiếp xúc với khách du lịch thông qua hệ thống các điểm bán, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc đặt mua tour qua hệ thống thông tin viễn thông (điện thoại, telex, internet ); Bên cạnh đó , các kênh phân phối thúc đẩy quá trình mua sản phẩm của du khách thông qua các phương tiện quảng cáo và các hoạt động của đội ngũ nhân viên tác động, biến nhu cầu của du khách thành hành động mua và tiêu dùng dịch vụ

1.2.4 Chính sách xúc tiến – quảng bá

Chính sách này rất quan trọng trong hoạt động Marketing hiện đại, sử dụng cho mọi phương tiện truyền tin giữa người bán và người mua dịch vụ du lịch để thuyết phục khách hàng mua và sử dụng dịch vụ của mình với bốn chức năng cơ bản: thu hút khách hàng, thuyết phục khách, củng cố lòng tin du khách, góp phần trong việc xây dựng hình ảnh đất nước và con người địa phương, quốc gia trong mắt

quan

Dịch vụ khác

Khách hàng

Các đại lý

du lịch

Các công ty du lịch trọn gói Trực tiếp

Gián tiếp

Trang 19

thuộc vào tâm lý xã hội, tùy thuộc vào kinh tế xã hội để lựa chọn các hình thức, nội dung Quảng cáo trung thực, không được nói quá sự thật, không được đụng chạm tới các sản phẩm khác, để khi khách hàng sử dụng sản phẩm không cảm thấy có khoảng cách giữa sản phẩm quảng cáo và sản phẩm thật; đồng thời phải có nét tiêu biểu, đặc trưng (logo, nhãn hiệu, ), kích thích gợi mở lòng ham muốn du lịch của

du khách; lặp lại thường xuyên, tôn trọng người tiêu dùng

Xúc tiến bán là những biện pháp tác động tức thời, ngắn hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm du lịch Sử dụng các biện pháp như khuyến mại, tặng quà, giảm giá tour, tăng dịch vụ Tuyên truyền là việc kích thích một cách gián tiếp làm tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ du lịch hay tăng uy tín về mặt đơn vị du lịch, một điểm du lịch Đây là một biện pháp có vai trò quan trọng do đặc điểm của các đơn vị cấu thành sản phẩm du lịch ở cách xa nhau, không di chuyển được, sản xuất

và tiêu dùng tại chỗ

Trong du lịch có nhiều hình thức bán hàng : bán hàng trực tiếp tại văn phòng

du lịch , tại khách sạn , nhà hàng hoặc bán gián tiếp qua điện thoại , internet Bán hàng trực tiếp dễ dàng và thuận lợi hơn cho cả người bán và khách hàng , người bán được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và biết được nhu cầu của họ , đọc được ý nghĩ của họ qua quan sát và có thể trình bày và thuyết minh các dịch vụ cho khách hàng, điều này thực sự có ý nghĩa bởi người cung cấp dịch vụ cần bán những gì mình có và khách cần

Chính sách xúc tiến – quảng bá được xác lập qua các bước: Xác định mục tiêu, xác định ngân sách , xác định các công cụ , lập kế hoạch truyền thông , thực hiện và kiểm soát Xác định ngân sách cho quảng cáo là một bước quan trọng trong chiến lược xúc tiến – quảng bá

1.2.5 Các chính sách khác trong Marketing du lịch

Ngoài mô hình Marketing – Mix 4Ps truyền thống trên, trong kinh doanh du lịch còn có sự kết hợp với các yếu tố khác tồn tại trong chiến lược Marketing như là những thành phần riêng lẻ, nhưng chúng cùng đóng góp vào sự thành công của quá trình cung cấp dịch vụ nói chung Theo quan điểm củ a Bernard H Booms & Mary J Bitner, đó là chính sách Con người, Cơ sở vật chất, Quy trình phục vụ

Trang 20

Chính sách Con người (People): Chính sách chung về phát triển nhân lực, nhân sự nói chung, nhân lực Marketing nói riêng và yếu tố khách hàng Trong du lịch, nhân viên phục vụ và khách hàng đều tham gia trực tiếp vào quy trình cung cấp dịch vụ Bởi vì điều cốt lõi của một dịch vụ du lịch chính là khách hàng, vì vậy,

từ thái độ, hành vi của nhân viên phục vụ đến cách thực hiện dịch vụ đều hướng đến khách hàng Ngược lại, khách hàng cũng tác động đến quá trình cung cấp dịch vụ, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của chính họ

Chính sách Cơ sở vật chất (Physical evidence): Cơ sở vật chất (cơ sở lưu trú, trang phục nhân viên, dụng cụ ăn uống, … ) là yếu tố hỗ trợ cho mọi hoạt động dịch

vụ phát triển Nền tảng cơ sở vật chất tốt sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh thuận lợi, làm hài lòng khách du lịch Rõ ràng, khi khách hàng chưa có nhiều thông tin về chất lượng dịch vụ, họ sẽ dựa trên những yếu tố về bằng chứng vật chất để đánh giá khả năng của nhà cung cấp dịch vụ

Chính sách Quy trình phục vụ (Process): Cung cấp dịch vụ cũng là một cơ sở đánh giá của khách hàng về khả năng của nhà cung ứng dịch vụ Đó là tiến trình thực hiện, cải tiến quy trình sản phẩm quy trình thực hiện nhiệm vụ

Hình 1.3 Marketing – Mix trong dịch vụ du lịch

Nguồn: Bernard H Booms & Mary J Bitner (1981)

Tóm lại, bên cạnh 4 yếu tố sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến – quảng bá,

ba thành phần bổ sung của Marketing - Mix (con người, bằng chứng vật chất và quy trình) góp phần tạo nên ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng,

Trang 21

cũng như sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ được cung cấp Những yếu tố này đều có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định và lập kế hoạch marketing, nhưng chúng cần được ứng dụng khác nhau phụ thuộc vào môi trường và điều kiện riêng Việc lựa chọn chính sách 4Ps hay 7Ps, chú trọng chính sách P nào tùy thuộc vào tình hình thực tế và chiến lược marketing của doanh nghiệp và tổ chức kinh doanh du lịch để lựa chọn mô hình cho phù hợp

1.3 Các yếu tố phát triển Marketing du lịch

1.3.1 Các yếu tố thuộc m ôi trường bên trong

Môi trường bên trong là những yếu tố thuộc nội bộ mà doanh nghiệp, tổ chức

có thể kiểm soát được, nói cách khác, đó là những yếu tố chủ quan của tổ chức , doanh nghiệp kiểm soát để quản lý hoạt động kinh doanh, quản lý của mình, như tình hình tài chính, trình độ công nghệ, đội ngũ cán bộ công nhân viên, các quyết định của cấp trên trong quá trình kinh doanh Trong đó, yếu tố các quyết định của lãnh đạo tổ chức là yếu tố quyết định hơn cả, những quyết sách này đúng hay sai sẽ

có ảnh hưởng đến Marketing du lịch nói riêng và toàn bộ hoạt động kinh doanh du lịch, lữ hành nói chung Điều này xuất phát một phần từ nhận thức của tổ chức về vai trò của Marketing du lịch Các cấp phía dưới sẽ quyết định những vấn đề cụ thể,

ví dụ bộ phận Marketing nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, phối hợp các thành phần Marketing …

1.3.2 Môi trường bên ngoài

Môi trường bên ngoài là những yếu tố khách quan mà đơn vị kinh doanh không thể kiểm soát được Các yếu tố của môi trường bên ngoài có tác động lớn đến chính sách Marketing của các đơn vị kinh doanh du lịch Các nhà nghiên cứu Marketing thường phân các yếu tố không kiểm soát được thành các nhóm khác nhau tùy theo tính chất của chúng như:

Môi trường tự nhiên gồm các yếu tố như tài nguyên thiên nhiên, đất đai

phong cảnh, vấn đề ô nhiễm cảnh quan, ô nhiễm môi trường

Môi trường xã hội và nhân khẩu, bao gồm các vấn đề về dân số - dân tộc, sự

phát triển dân số, mật độ dân cư, cơ cấu dân số theo giới tính, lứa tuổi

Trang 22

Môi trường văn hóa là những thói quen, tập quán mang tính chất truyền

thống, tín ngưỡng, thái độ của con người đối với bản thân, với người khác, cộng đồng, thể chế xã hội, đặc biệt quan trọng trong việc thu hút khách du lịch đến địa phương

Môi trường kinh tế như tình hình kinh tế xã hội, mức thu nhập, giá cả, tình

hình cạnh tranh v.v có ảnh hưởng rất lớn đến việc chi tiêu sản phẩm và dịch vụ du

lịch Môi trường chính trị - pháp luật điều tiết hoạt động kinh doanh; Các nghị định,

điều luật liên quan đến ngành nghề sẽ có những tác động tích cực đến việc tạo hành lang thông thoáng, thuận lợi cho ngành du lịch phát triển hoặc ngược lại kìm hãm

sự phát triển của hoạt động kinh doanh du lịch Bên cạnh đó là các yếu tố về an ninh chính trị, an toàn sinh mạng cho khách du lịch

Môi trường khoa học kỹ thuật, tiến bộ công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật

giúp cho quá trình Marketing trong hoạt động du lịch trở nên thuật lợi hơn, như mạng lưới giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, hệ thống và khả năng cung cấp điện nước v.v

Các yếu tố của môi trường bên trong và môi trường bên ngoài có tác động hữu cơ đến mức độ thành công hay thất bại của hoạt động Marketing, và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh du lịch

Như vậy, có thể thấy được vai trò quan trọng của công tác Marketing du lịch trong việc thúc đẩy ngành du lịch và hoạt động kinh tế - xã hội nói chung phát triển Cần nắm rõ các kiến thức và lý luận liên quan đến hoạt động Marketing du lịch, tìm hiểu và nghiên cứu thị trường, từ đó thiết lập các kế hoạch trong Du lịch, vạch ra những mục tiêu và đường hướng hoạt động để đạt được các mục tiêu đó

Trang 23

CHƯƠNG II – TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CAO BẰNG 2.1 Tiềm năng du lịch Cao Bằng

2.1.1 Tổng quan về tỉnh Cao Bằng

1) Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội

Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn Phía Bắc và phía Đông giáp các địa phương cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Quảng Tây (Trung Quốc) Cao Bằng có đường biên giới với Trung Quốc dài 311 km Tọa độ của tỉnh theo chiều Bắc-Nam là 80 km, từ 23°07'12" (xã Trọng Con, huyện Thạch An) đến 22°21'21" vĩ bắc (xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm); Theo chiều Đông-Tây là 170 km,

từ 105°16'15" (xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm) đến 106°50'25" kinh đông (xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang)

Cao Bằng có tổng diện tích đất tự nhiên là 6.690km², đơn vị hành chính tỉnh Cao Bằng gồm thị xã Cao Bằng và 12 huyện lị [49]

Bảng 2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế Cao Bằng từ 2004-2008

Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 13,1 13,5

Công nghiệp- Xây dựng (%) 18,5 22,6

GDP bình quân (triệu đồng/người) 4,5 7,9

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng

Qua bảng trên ta thấy, tình hình kinh tế Cao Bằng có mức tăng trưởng khá (trên 13%/năm), tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người tăng từ 4,5 triệu đồng/ người/ năm (2004) tăng đến 7,9 triệu đồng/ người/ năm (2008), tăng 1,75 lần Cơ cấu nông, lâm, thuỷ sản - công nghiệp - dịch vụ có sự chuyển dịch từ nông, lâm, thuỷ sản sang công nghiệp và dịch vụ theo định hướng phát triển của tỉnh, trong năm 2004 tỷ lệ cơ cấu tương ứng là 39,1 - 18,5 - 42,4% thì năm 2008 cơ cấu kinh tế

Trang 24

là 33,9 – 22,6 – 43,5% Ngành dịch vụ và hoạt động du lịch tăng trưởng khá mạnh

đã góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu của tỉnh Cao Bằng

Nằm trong tiểu vùng du lịch Đông Bắc, Cao Bằng có vị trí thuận lợi và tiềm năng lớn cho sự phát triển các loại hình du lịch, như du lịch than quan, nghiên cứu;

du lịch nghỉ dưỡng, du lịch quá cảnh Chính những lợi thế về vịa trí địa lý đã cho phép Cao Bằng có thể xây dựng các tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế Tuy nhiên do đặc điểm vị trí địa lý của tỉnh là một tỉnh địa đầu biên giới, xa các trung tâm kinh tế

và dân cư lớn, trong điều kiện giao thông đi lại còn khó khăn đã gây không ít trở ngại cho hoạt động du lịch

Xác định tầm quan trọng của vấn đề phát triển du lịch và nhằm khai thác có hiệu quả những lợi thế về vị trí địa lí và nguồn tài nguyên, góp phần thúc đẩy phát triển thương mại và thị trường, thông qua việc tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư trong tỉnh , tỉnh ủy Cao Bằng đã ra những nghị quyết nhằm phát triển du lịch của tỉnh thành ngành kinh tế quan trọng, tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào phát triển ngành du lịch của Cao Bằng

2) Đặc điểm dân cư, dân tộc

* Dân cư

Số dân và nguồn lao động là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động

du lịch Theo thống kê, dân số tỉnh năm 2008 là 501.511 người, với tỷ suất tăng dân

số tự nhiên ở mức cao (hơn 2,28%) Đặc điểm dân cư của tỉnh Cao Bằng là dân số trẻ, tốc độ tăng tự nhiên nhanh Tỷ lệ nam – nữ là 48,15% và 51,85%; số dân thành thị rất ít, chỉ chiếm 9,48%, dân nông thôn chiếm 90,52% dân số toàn tỉnh

Dân cư phân bố không đồng đều Dân cư tập trung đông ở thị xã Cao Bằng

và các huyện phía Đông của tỉnh, nơi dân cư tương đối đông đúc, hoạt động trồng trọt, cư trú và giao thông thuận lợi

Dân số tỉnh Cao Bằng tương đối trẻ, nguồn lao động khá phong phú Tuy nhiên chất lượng lao động còn ở mức thấp Số người được đào tạo chỉ chiếm khoảng 18% dân số trong độ tuổi lao động

* Dân tộc

Trang 25

Có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 95,6%, dân tộc Kinh chỉ chiếm 4,4% Các dân tộc thiểu số khác: Tày (42%), Nùng (35%), Dao (9,8%), H'Mông (6,3%), Hoa, Sán Chay (2,5%); mỗi dân tộc đều có truyền thống văn hóa lâu đời và đậm đà bản sắc, đặc biệt phong tục tập quán của các dân tộc còn nguyên sơ, gần gũi và phụ thuộc vào thiên nhiên

2.1.2 Tài nguyên du lịch

Du lịch là ngành có định hướng rõ rệt về mặt tài nguyên Tài nguyên du lịch

là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch[34]

1) Tài nguyên du lịch tự nhiên

a) Các thắng cảnh du lịch tự nhiên có ý nghĩa quốc gia

 Thác Bản Giốc

Thác Bản Giốc thuộc địa phận xã Đàm Thủy , huyện Trùng Khánh, cách thị

xã Cao Bằng 89 km theo tỉnh lộ 206 về phía Bắc, cách thị trấn Trùng Khánh 26 km Thác Bản Giốc được xem là một trong những tặng vật vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Cao Bằng Thác là một thác nước cao, hùng vĩ và đẹp vào bậc nhất của Việt Nam, nằm trên dòng sông Quây Sơn, chảy từ Trung Quốc sang và hạ lưu lại đổ

về Trung Quốc Bờ sông có cảnh đẹp nên thơ, trong lành với thảm cỏ, rừng núi xanh ngắt, mây trắng bồng bềnh xen lẫn vẻ thanh bình nơi đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống Bờ bên kia là khu du lịch thác Đức Thiên của Trung Quốc

Bản Giốc đi vào nghệ thuật tạo hình và văn thơ với những tác phẩm hội họa, thi ca đặc sắc Cùng với dãy núi, con sông, hang động kì thú ở vùng phụ cận như động Ngườm Ngao, các vườn dẻ và bản làng của người dân tộc thiểu số, thác Bản Giốc là một điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước

 Động Ngườm Ngao

Động Ngườm Ngao là một trong những hang động đẹp nhất nước hình thành

từ sự phong hóa lâu đời của đá vôi, cách thác Bản Giốc 3km, động lớn với chiều dài 2.144km, gồm 3 cửa chính Trải khắp chiều sâu của động, cảnh đẹp như chốn non

Trang 26

tiên Những vòm động khép lại rồi lại mở ra những vòm mới rộng hơn, những thạch nhũ nghìn năm từ trên vòm đá cao rủ xuống những hình thù đẹp mắt, khiến người xem thích thú, bất ngờ Động Ngườm Ngao với vẻ đẹp hoang sơ cùng thác Bản Giốc tạo nên một quần thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ quyến rũ mang đậm sắc thái thiên nhiên, động Ngườm Ngao đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Danh thắng quốc gia, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan

 Hồ Thang Hen

Hồ Thang Hen là một quần thể hồ gồm 36 hồ nước đẹp trên những đỉnh núi cao, cách mặt biển hàng nghìn mét Theo huyền thoại xưa, có một chàng trai thông minh tuấn tú, làm thổn thức trái tim bao cô gái trong vùng Chàng thi đỗ làm quan

và được ban thưởng bảy ngày vinh quy rồi quay lại kinh đô Trước khi đi, chàng kết duyên cùng nàng Bjoóc nết na, xinh đẹp Mải quyến luyến với người vợ mới cưới, chàng quên mất việc mình phải về kinh, đến đêm thứ bảy chàng sực nhớ và hốt hoảng vội chia tay bố mẹ, vợ rồi dốc hết sức trai trẻ của mình chạy đi cho kịp Vượt qua 36 thung lũng núi đá giữa đêm tối, chàng kiệt sức ngã quỵ, đầu đập vào núi Mã Phục mà chết 36 thung lũng ấy nay trở thành 36 hồ nước lớn nhỏ với những tên gọi khác nhau nằm ở vùng núi rừng huyện Trà Lĩnh, mùa mưa, nước các hồ dâng lên xanh ngắt Mùa khô, các hồ hết nước, duy chỉ có một hồ lớn nước không bao giờ cạn, du khách có thể đến tham quan quanh năm Hồ chính là hồ Thang Hen, hồ hình thoi, chiều rộng khoảng 300m, chiều dài hơn 1000m Nước trong xanh quanh năm

và hàng ngày có hai đợt thủy triềuu lên xuống Cùng các cảnh quan thú vị và ngoạn mục khác, hồ Thang Hen trở thành điểm du lịch sinh thái, nghỉ mát, nghiên cứu lí tưởng với du khách dến nghỉ ngơi cuối tuần, nghỉ hè

b) Các thắng cảnh du lịch tự nhiên có ý nghĩa địa phương

 Hồ Khuổi Lái

Nằm giữa các sườn đồi thuộc địa phận huyện Hòa An, cách thị xã Cao Bằng 13km về phía Nam theo quốc lộ 3 là khu du lịch hồ Khuổi Lái Hồ rộng 72ha, nước trong xanh, phẳng lặng quanh năm, được bao bọc bởi rừng cây xanh mướt , khí hậu

Trang 27

mát mẻ trong lành , là không gian lý tưởng cho các chương trình du lịch sinh thái , câu cá, du thuyền

 Phja Đén

Phạm vi vùng Phja Đén gồm: Thị trấn Tĩnh Túc, xã Thành Công, xã Phan Thanh và xã Quang Thành thuộc huyện Nguyên Bình, cách Hà Nội 240km Nằm trong quần thể các điểm du lịch của Cao Bằng, vùng Phja Đén có độ cao 1500-2500m so với mặt nước biển, khí hậu quanh năm mát mẻ giống Sa Pa, Tam đảo Động thực vật phong phú với nhiều loài quý hiếm; Phja Đén là đầu nguồn của nhiều con sông, địa hình núi cao nhiều hang động với rừng nguyên sinh và khu nhà Đỏ (Tatslom), khu nhà nghỉ Tài Soỏng (nhà nghỉ cũ của thực dân Pháp), với người dân tộc Dao có nền văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc thể hiện trong cấu trúc nhà ở, làng nghề Phja Đén đặc biệt hấp dẫn du khách nước ngoài (Úc, Pháp, Thụy Điển) đến du lịch sinh thái, tham quan, thưởng ngoạn

 Khe Hổ nhảy

Tuyến du lịch mạo hiểm xuyên quốc gia khe Hổ nhảy bắt đầu từ xã Bách Nam (huyện Nà Po, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), qua cột mốc biên giới 589 vào địa phận xã Cô Ba (huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam) hấp dẫn bởi chính tên gọi kỳ bí Tour du lịch mới này được đưa vào khai thác cuối tháng 9-2007 Phía Trung Quốc đã đầu tư 16 triệu nhân dân tệ xây dựng cơ sở hạ tầng cho tuyến du lịch dài 8,4 km Bước đầu thuyền du lịch vào địa phận xã Cô Ba 0,6 km, tổng cộng cả tuyến dài 9 km Những năm tới có thể kéo dài tuyến du lịch lên trên 10km

2) Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng hiện vật do con người tạo ra trong quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch Nhóm tài nguyên này có những đặc trưng riêng, mang giá trị nhận thức nhiều hơn giải trí, ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thường tập trung ở các khu vực quần cư, mức độ thu hút khách nhìn chung có sự lựa chọn Tài nguyên nhân văn ở tỉnh Cao Bằng rất phong phú, trong đó nổi bật hơn cả là các di tích lịch sử - văn hóa, phong tục tập quán và

lễ hội

Trang 28

a Di tích văn hóa – lịch sử

Những di tích văn hóa – lịch sử là tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa hàng đầu Đó là những không gian vật chất cụ thể, khách quan chứa đựng những giá trị điển hình do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sự đem lại Với lịch sử hình thành từ lâu đời và trải qua nhiều thời đại, Cao Bằng có rất nhiều di tích lịch sử có giá trị Theo số liệu của Sở Thông tin – Truyền thông, đến năm 2008, Cao Bằng có 66 di tích được xếp hạng, trong đó có 26 di tích xếp hạng cấp quốc gia (19 di tích lịch sử cách mạng, 4 di tích lịch sử văn hóa và 3 di tích danh thắng), 40

di tích cấp tỉnh Đây là nguồn tài nguyên quan trọng có khả năng thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước Các điểm này có phong cảnh đẹp hùng vĩ, khí hậu trong lành mát mẻ, có những di tích lịch sử đánh dấu những chặng đường chiến đấu chống giặc ngoại xâm và trưởng thành của cách mạng nước ta, hay những địa danh để lại dấu ấn cuộc đời hoạt động của lãnh tụ

 Di tích lịch sử cách mạng

Thật không sai khi kết luận rằng, Cao Bằng là cái nôi của nước Việt Nam mới Chính tại Cao Bằng, nhen nhóm ngọn lửa cách mạng đầu tiên của cuộc đấu tranh vũ trang lật đổ chế độ thực dân hơn 80 năm, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Cao Bằng cũng là nơi khai sinh của quân đội nhân dân Việt Nam Trong các nhóm di tích lịch sử cách mạng, đáng chú ý nhất là cụm di tích Pác Bó, bao gồm một quần thể di tích như: hang Pác Bó, suối Lê nin, núi Các mác, Cột mốc 108, bàn đá Bác Hồ, lán Khuổi Nậm, nhà Bảo tàng Pác Bó, nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh, vùng phụ cận còn có khu di tích mộ người anh hùng liệt sĩ nhỏ tuổi Kim Đồng, trở thành cụm di tích trọng điểm, chủ

đạo của du lịch Cao Bằng (Xem Phụ lục 3 - Danh mục di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia; Phụ lục 4 – Danh mục di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh; Nguồn: Sở

Thông tin – Truyền thông tỉnh Cao Bằng)

Quan sát vị trí địa lý của các di tích trong bảng Phụ lục di tích cách mạng, ta thấy, hầu hết các huyện ở Cao Bằng đều có các di tích lịch sử nổi bật , trong đó các

di tích tập trung chủ yếu ở huyện Hòa An, huyện Hà Quảng, huyện Nguyên Bình, huyện Thạch An và khu vực thị xã Cao Bằng Sự phân bố của các di tích này tạo

Trang 29

nên điều kiện rất thuận lợi cho việc quy hoạch, đầu tư xây dựng các cụm và tuyến điểm du lịch hấp dẫn

 Di tích lịch sử văn hóa

Các di tích lịch sử văn hóa ở Cao Bằng chủ yếu liên quan đến thời kì lịch sử nhà Lê, nhà Mạc và các di tích ca ngợi các chiến công anh dũng của các vị anh hùng dân tộc trên đất Cao Bằng trong suốt quá trình lao động, sáng tạo, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và xây dựng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số Các di tích lịch sử văn hóa này có những nét đặc sắc riêng, chứa đựng những giá trị vật chất và tinh thần, những tinh túy của con người miền đất Cao Bằng Các di tích chủ đạo, mang ý nghĩa q uốc gia như Đền vua Lê, Đền Kỳ Sầm, Chùa Đà Quận (huyện Hoà An), Chùa Sùng Phúc (huyện Hạ Lang ), và các khu di tích cấp tỉnh các đang

được đầu tư tôn tạo , cắm bia (Xem Phụ lục 5 - Danh mục di tích văn hóa; Nguồn:

Sở Thông tin – Truyền thông tỉnh Cao Bằng) Xét trên phương diện lịch sử đây một tiềm năng to lớn để phát triển du lịch Cũng như sự phân bố của nhóm di tích lịch sử cách mạng, các di tích văn hóa lịch sử trên địa bàn tỉnh đều tập trung ở huyện Hòa

An và Hà Quảng (trục đường 203) Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc quy hoạch và xây dựng các tuyến du lịch đặc sắc về cả di tích lịch sử văn hoá , cách mạng và danh lam thắng cảnh Do vậy có thể coi tuyến du lịch từ thị xã Cao Bằng

đi Pác Bó là tuyến du lịch văn hóa quan trong không chỉ đối với Cao Bằng mà còn đối với cả vùng và quốc gia

b Các lễ hội truyền thống

Nằm trong nhóm các tài nguyên du lịch nhân văn, khả năng lôi cuối khách

du lịch của các lễ hội rất cao Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc, phản ánh đời sống tâm linh của các dân tộc và là hình thức sinh hoạt tập thể của người dân sau những ngày lao động vất vả, cầu chúc cho những sự tốt lành, hướng về cội nguồn dân tộc Thông qua lễ hội trong chừng mực nhất định du khách có thể biết được phần nào phong tục, tập quán của nhân dân địa phương Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội

Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những nghi thức trang nghiêm, trọng thể mở đầu ngày hội Đây là phần mở đầu mang tính tưởng niệm

Trang 30

hướng về một sự kiện trong đại, một vị anh hùng lỗi lạc, có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, hoặc bày tỏ lòng tôn kính các bậc thánh hiền, thần linh, cầu mong thiên thời địa lợi, nhân hòa, phồn vinh và hạnh phúc

Phần hội diễn ra những hoạt động điển hình tượng trưng cho tâm lí cộng đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm của cả dân tộc với thực tế lịch

sử, với xã hội và thiên nhiên Trong hội thường có những trò vui, thi nghề, thi hát tượng trưng cho sự tưởng nhớ và biết ơn người xưa Tất cả những gì tiêu biểu cho một vùng đất đều được phô diễn, mang lại niềm vui cho mọi người Phần hội thường gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ nên mang đậm nét thi vị

Cao Bằng có được sự phong phú, đa dạng về các tập tục truyền thống Đây là dịp để mọi người cùng sinh hoạt tập thể, vui chơi giải trí và cầu cho sản vật dồi dào, quốc thái dân an Một năm ở Cao Bằng có đến 120 lễ hội – đây là một nguồn tài nguyên nhân văn hết sức phong phú, chỉ riêng người anh hùng áo chàm Nùng Trí Cao đã có tới ba lễ hội tưởng niệm ở ba nơi: Sóc Giang (Hà Quảng), Kỳ Sầm (Hòa An) và hội Pháo hoa (Quảng Uyên) đều vào tháng Giêng âm lịch [52].Các lễ hội này được tổ chức rất trọng thể và thu hút nhiều bà con dân tộc thiểu số tham gia Các lễ hội tiêu biểu ở Cao Bằng có thể kể đến là:

1 Lễ hội mời mẹ Trăng: Đây là lễ hội của người Tày vùng Đông Khê, được

tổ chức vào đầu mùa xuân sau Tết Nguyên đán, kéo dài từ 10 đến 15 ngày Hội mở riêng trong từng bản, mời thêm một số người thân từ các bản lân cận cùng tham gia

Lễ hội mang mục đích cầu Mẹ trăng ban điều lành, điều tốt cho dân bản, mùa mang

bội thu, gia súc sinh sôi, không bị dịch bệnh

2 Hội Lồng Tồng (hội xuống đồng): Lễ hội của dân tộc Tày – Nùng ở Cao

Bằng Lễ hội diễn ra trong tháng giêng âm lịch để mở mùa gieo trồng mới Mở đầu

lễ hội là nghi thức trưởng bản đọc bài tế thần, sau đó một lão nông cày tượng trưng

ở ruộng Trong hội còn có các hình thức giao duyên, ném còn, múa hát

3 Hội chùa (dân tộc Tày - Nùng): Hàng năm sau Tết Nguyên đán, các hội

chùa thường diễn ra ở hầu hết các chùa ở tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là ở huyện Hoà

An và thị xã Cao Bằng; lễ hội cúng thần, cúng Phật, cầu phúc, cầu may

Trang 31

4 Hội Thanh minh (dân tộc Tày - Nùng): Hội diễn ra vào khoảng tháng 3 âm

lịch hàng năm Hội gắn liền với truyền thuyết có đôi trai gái yêu nhau nhưng họ không lấy được nhau và cùng tự vẫn ở giếng Cảm thương trước tình yêu của đôi trai gái, dân bản đã lập miếu thờ và cứ mỗi dịp tết thanh minh các đôi trai gái tới

miếu dâng hoa cúng lễ và ngồi bên bờ giếng trò chuyện ôn nhớ chuyện xưa

5 Hội pháo hoa: Hội được tổ chức ở huyện Quảng Uyên, Phục Hòa ngày 2/2

Âm lịch lôi cuốn các chàng trai khỏe mạnh từ nhiều địa phương về tranh pháo hoa dành chiếc vòng cầu phúc Đây là cuộc thi mang tính lành mạnh với tinh thần thượng võ trong không khí tưng bừng, vui vẻ, mang đậm nét văn hóa truyền thống

6 Lễ “Quá Tang” và lễ “Tẩu Sai”: Hai lễ quan trọng nhất trong đời người

Dao Lễ “Quá Tang” là lễ đặt tên theo pháp danh cho chủ nhà; lễ “Tẩu Sai” là lễ báo với trời đất, thánh thần, tổ tiên về một đời người đã hoàn thành các phong tục, nghĩa

vụ về văn hóa truyền thống tín ngưỡng và văn hóa dân tộc

Có thể thấy rằng, lễ hội ở Cao Bằng rất đa dạng, phong phú mang những nét đẹp văn hóa truyền thống sâu sắc, tạo nên sức hấp dẫn với du khách Tuy nhiên, hầu hết các lễ hội đều tập trung vào mùa xuân, dịp đầu năm mới, cũng là một điểm hạn chế với việc khai thác nguồn tiềm năng này

c) Nghề thủ công truyền thống

Hiện nay ở Cao Bằng còn gìn giữ được các ngành nghề thủ công truyền thống như nhuộm vải chàm , dệt thổ cẩm, rèn nông cụ, có truyền thống từ lâu đời

và mang đậm bản sắc của dân tộc

1 Nghề dệt, nhuộm vải chàm: Dệt nhuộm vải chàm đã có từ rất lâu đời và trở

thành nghề truyền thống của dân tộc Tày, Nùng “Sắc áo chàm” – đặc trưng của dân tộc Tày, Nùng chính là sản phẩm của người thợ dệt nơi đây Vải có đặc điểm mềm, chắc, màu sắc tươi tắn, tự nhiên, tạo nên những tấm áo chàm đẹp và duyên dáng

2 Làng rèn Phúc Sen: Làng nghề truyền thống thuộc huyện Quảng Uyên, ra

đời từ 100 năm nay Phúc Sen là vùng sơn cước toàn đá, bước chân vào làng đâu cũng có lò rèn Sản phẩm của làng rèn chủ yếu là các nông cụ cầm tay bàng sắt thép

và đồ nghề mộc theo bí quyết riêng của làng Trong kháng chiến, làng rèn đã tham gia đúc súng thần công và vỏ lựu đạn phục vụ kháng chiến

Trang 32

3 Nghề dệt thổ cẩm: Những sản phẩm thổ cẩm của người Tày Cao Bằng từ

lâu đã nổi tiếng với những hoa văn đẹp, sặc sỡ, tinh tế, mang đậm sắc thái dân tộc

và là sản phẩm tiêu dùng không thể thiếu của người dân Cao Bằng Nghề dệt thổ cẩm truyền thống phát triển nhất tại xã Đào Ngạn, Phù Ngọc (huyện Hà Quảng) và thị trấn Nước Hai (huyện Hoà An ) Với đôi tay khéo léo của người thợ từng tấm chăn, mặt địu, khăn trải bàn, ba lô, túi xách được hình thành chính là món quà đầy

ý nghĩa và mang giá trị nhân văn cao

d) Ẩm thực

Cao Bằng nổi tiếng với nhiều thức quả đặc sản: hạt dẻ Trùng Khánh; lê Đông Khê; mận Bảo Lạc và các món ẩm thực nổi tiếng đặc trưng của địa phương từ việc chế biến phong phú các món ăn từ gạo như phở chua, bánh cuốn trứng; các món ăn tinh tế trong cách dùng và lựa chọn gia vị, nguyên liệu độc đáo và cách trang trí lạ mắt, như thịt lợn quay, thịt vịt quay, cá chua, khâu nhục; các món rau rừng có lợi cho sức khỏe như rau dạ hiến, rau âu, rau ngót rừng, măng mai ; và rượu thuốc ngâm chữa bệnh như rượu rắn, các loại cao Cao Bằng cũng là vùng đất của những loài thảo dược quý hiếm có tác dụng tốt như chè đắng, mật ong Các món bánh cổ truyền như bánh khảo, chè lam, cũng là những món quà thú vị của Cao Bằng Quả thực, nghệ thuật ẩm thực của Cao Bằng rất phong phú và tinh tế, đậm đà bản sắc dân tộc

2.1.3 Đánh giá chung về tiềm năng du lịch Cao Bằng

a) Ưu điểm

Ưu điểm nổi bật của tài nguyên du lịch Cao Bằng là sự phong phú, đa dạng được hình thành do lịch sử phát triển lâu dài của tự nhiên và mối tương tác giữa các hợp phần của nó – quá trình lao động sáng tạo của đồng bào dân tộc trong địa bàn tỉnh trong quá trình dựng nước và giữ nước Nguồn tiềm năng du lịch đó bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên tự nhiên gồm núi rừng, hang động, sông hồ, thác nước và nhiều

di tích lịch sử văn hóa – lịch sử nổi tiếng Đây là lợi thế quan trọng tạo nên tiền đề cho việc hình thành một loại hình du lịch hấp dẫn góp phần đẩy mạnh sự phát triển

du lịch trong những năm tới Nguồn tài nguyên du lịch nhân văn với các di tích lịch

Trang 33

sử và những nét sinh hoạt truyền thống độc đáo của các dân tộc (văn hoá, ẩm thực,

lễ hội) Đồng bào dân tộc thiểu số ở Cao Bằng nhiệt tình , chan hoà , gây được ấ n tượng tốt cho du khách , không có tình trạng co kéo khách , ép giá, ăn xin, tệ nạn xã hội tại các khu du lịch

Tài nguyên du lịch Cao Bằng phân bố tương đối tập trung ở một số vùng, trong đó nổi bật là các khu vực Pác Bó, Bản Giốc Những khu vực này có sự kết hợp tài tình giữa tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, là một thuận lợi lớn cho việc hình thành các khu du lịch hấp dẫn có sức thu hút và cạnh tranh cao

b) Nhược điểm

Nhiều tài nguyên du lịch có giá trị của tỉnh Cao Bằng hầu như còn đang ở dạng nguyên khai, ít được khai thác do phần lớn nằm xa khu dân cư, điều kiện tiếp cận còn khó khăn Để khai thác có hiệu quả những tiềm năng tài nguyên này cần phải đầu tư lớn, nhất là đầu tư về cơ sở hạ tầng Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên và tai biến thiên nhiên của miền núi gây ra những cản trở không nhỏ đối với hoạt động

du lịch (khí hậu thời tiết, địa hình, ) Những tài nguyên quí hiếm như rừng đã bị phá hủy nghiêm trọng; Cũng do tập quán du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu

số, những sinh vật và thực vật quý hiếm trong rừng đã và đang bị tuyệt chủng hoặc tìm nơi di trú mới Để đảm bảo cho việc phát triển du lịch sinh thái bền vững sau này, đây là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu

2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tại Cao Bằng

2.2.1 Lƣợng khách du lịch

Trong những năm qua ngành du lịch tỉnh Cao Bằng đã có những cố gắng và chuyển biến tích cực cùng những chính sách đổi mới, mở rộng giao lưu quốc tế của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, giao thông đi lại còn khó khăn nên số lượng khách đến tham quan Cao Bằng còn rất hạn chế, kể cả khách nội địa cũng như khách quốc tế Hiện lượng khách du lịch đến Cao Bằng qua các năm đều tăng, tuy nhiên mức tăng này chưa thực sự cao và ổn định

Qua bảng số liệu và biể u đồ trên ta thấy: lượng khách du lịch Cao Bằng tăng

ổn định qua các năm (20-30%), nhưng do điểm xuất phát còn thấp nên số lượng khách tăng hàng năm tuy tỷ lệ tăng khá lớn nhưng lượng khách du lịch hàng năm

Trang 34

vẫn chưa cao Khách du lịch Cao Bằng chủ yếu là khách du lịch nội địa (chiếm hơn 90% trên tổng số lượng khách du lịch hàng năm và có xu hướng ngày càng tăng với biên độ tăng chậm dần) Từ 2005, sau khi Luật du lịch có hiệu lực, lượng khách đến Cao Bằng tăng mạnh so với năm 2004 (gấp 18,7 lần)

Bảng 2.2 Lượng khách du lịch đến Cao Bằng qua các năm 2004-2008

Tỉ lệ so với TS khách (%) 91,3 94,9 94,7 95,1 96

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng, Sở Văn hóa – Thể thao – du lịch Cao Bằng

Biểu đồ 2.1: Lượng khách du lịch đến Cao Bằng qua các năm 2004-2008

0 50000 100000 150000 200000 250000 300000

Trang 35

Lượng khách du lịch quốc tế đến Cao Bằng tăng theo cá c năm, tỷ trọng trên tổng số lượng khách du lịch tuy không cao (chỉ chiếm dưới 5% trên tổng lượng khách du lịch ) và có xu hướng giảm dần Khách du lịch quốc tế chủ yếu là khách Trung Quốc, với mục đích tham quan, mua sắm và tìm hiểu thị trường, ngoài ra còn

có các đối tượng khách đến từ các nước châu Âu , châu Á, kết hợp công tác từ thiện, nghiên cứu đời sống, văn hoá, xã hội cũng như phong tục tập quán của nhân dân địa phương với du lịch các tour tha m quan, tìm hiểu các bản làng dân tộc thiểu số và thắng cảnh Theo số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch, lượng khách du lịch Trung Quốc vào Cao Bằng năm 2006 tăng đáng kể (tăng 85% so với năm 2005) do phía Trung Quốc cho phép khách du lịch đi bằng thẻ theo quy chế 849 của Bộ Công

an vào cửa khẩu Tà Lùng, tỉnh Cao Bằng

Năm 2007 do tuyến đường Quốc lộ 3 (Cao Bằng – Thái Nguyên – Hà Nội)

đã hoàn thành nâng cấp, giao thông đi lại thuận lợi hơn; đồng thời hưởng ứng năm

du lịch quốc gia Thái Nguyên "Về Thủ đô gió ngàn chiến khu Việt Bắc " các tỉnh trong vùng Đông Bắc đều được tuyên truyền quảng bá rộng rãi tiềm năng , sản phẩm

du lịch, cùng với việc tổ chức tốt các lễ hội du lịch trên địa bàn tỉnh nên lượng du khách đến Cao Bằng tăng lên đáng kể Tổng lượt khách du lịch trên địa bàn tỉnh đạt 200.000 lượt người, tăng 19,2% so với năm 2006, trong đó khách quốc tế đạt 9.800 lượt, tăng 12%; khách du lịch nội địa đạt 190.200 lượt, tăng 20% so với năm 2006

Năm 2008, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu , lượng khách nước ngoài đến Cao Bằng giảm so với năm 2007, tỷ trọng khách du lịch quốc tế trên lượng khách du lịch thấp nhất trong các năm (4%), tuy nhiên do lượng khách nội địa tăng , nên tổng số khách du lịch đến Cao Bằng trong năm 2008 vẫn tăng cao 25,7% so với năm 2007 Đây là mức tăng tương đối cao so với mặt bằng tăng của các năm; Như vậy qua 5 năm, lượng khách du lịch năm 2008 tăng gấp 5,3 lần so với tổng số khách du lịch tro ng năm 2004 Lượng khách du lịch đến Cao Bằng trong năm 2008 cũng nhiều nhất và có tỷ lệ gia tăng cao nhất so với các năm trước

2.2.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch

Doanh thu du lịch là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất, phản ánh hiệu quả

và chất lượng của các hoạt động kinh doanh du lịch Nhìn chung, doanh thu du lịch của

Trang 36

tỉnh Cao Bằng còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng Doanh thu chủ yếu từ hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống – chiếm tới 90%, còn lại là các dịch vụ khác

tự nhiên, tình hình kinh tế chính trị - xã hội, nên tổng doanh thu du lịch có sự tăng trưởng không ổn định Doanh thu từ khách nội địa cao chiếm hơn 80% so với tổng

doanh thu, doanh thu từ khách du lịch nước ngoài đến với Cao Bằng thấp hơn 20%

Bảng 2.3 Doanh thu du lịch Cao Bằng giai đoạn 2004-2008

Tổng doanh thu (tỷ đồng) 13,12 14,58 20,67 25 31,51 Tốc độ tăng hàng năm (%) 10,8 17 32 21 26,3 Doanh thu từ khách quốc tế (tỷ đồng) 1,16 2,65 3,97 4,58 4,96

Tỉ lệ so với tổng doanh thu (%) 8,9 18,18 19,2 18,32 15,73 Doanh thu từ khách nội địa (tỷ đồng) 11.95 11,93 16,70 20,42 26,55

Tỉ lệ so với tổng doanh thu 91,1 81,82 80,8 81,68 84,27

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng, Sở Văn hóa – Thể thao – du lịch Cao Bằng

Biểu đồ 2.2 Doanh thu du lịch Cao Bằng giai đoạn 2004-2008

0 5 10 15 20 25

Doanh thu từ khách nội địa

Nguồn: Cục Thống kê Cao Bằng; Sở Văn hóa – Thể thao – du lịch Cao Bằng

Trang 37

Tuy lượng khách du lịch nước ngoài hàng năm đến với Cao Bằng không nhiều, chỉ chiếm dưới 5% trên tổng số khách du lịch đến Cao Bằng, nhưng tỷ lệ doanh thu thu được từ đối tượng khách du lịch nước ngoài khá cao so với tổng doanh thu hàng năm (khoảng từ 16 đến 20%) cho thấy khách du lịch nước ngoài có tiêu dùng khá lớn, khả năng chi trả cao cho các dịch vụ du lịch (lưu trú, ăn uống, phương tiện du lịch, mua sắm, ), như vậy đây là đối tượng khách có mức độ tiêu dùng cao về các mặt dịch vụ và có tiềm năng khai thác, do vậy cần chú ý có chiến lược riêng đối với đối tượng khách này

b Cơ cấu doanh thu

Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, trong cơ cấu các khoản chi tiêu của du khách, khoản chi cho phương tiện đi lại chiếm lớn nhất, chiếm khoảng 33% trong tổng số các khoản chi tiêu; tiếp đến là chi cho cơ sở lưu trú để nghỉ ngơi chiếm khoảng 24%; thứ ba là chi cho ăn uống và chi mua sắm hàng hoá, quà tặng, quà lưu niệm, mỗi khoản chiếm khoảng 15% Các khoản chi tham quan, chi cho nhu cầu văn hoá, thể thao, vui chơi, giải trí; chi cho y tế, săm sóc sức khoẻ đều chiếm rất nhỏ trong tổng các khoản chi [55]

Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Cao Bằng

Qua bảng và biểu đồ cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Cao Bằng qua năm 2004

và 2008 ta có thể thấy, khoảng 85% trong tổng chi tiêu của khách du lịch đến Cao Bằng dành cho việc lưu trú và ăn uống, trong đó khoản chi tiêu cho việc ngủ, nghỉ tại các cơ sở lưu trú khách sạn, điểm du lịch là 39% năm 2004 và 42,5% năm 2008, khoản chi cho ăn uống là 46,9% năm 2004 và 39,8% năm 2008, cao hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình chi tiêu du lịch của du khách (tương ứng là 15% và 24%)

Trang 38

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Cao Bằng

Năm 2004

9.5

39 46.9

4.4

Năm 2008

13.7

42.5 39.8

Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Cao Bằng

Như vậy, qua 5 năm, cơ cấu doanh thu du lịch của Cao Bằng có sự tăng giảm trong chi tiêu lưu trú và ăn uống có chênh lệch nhưng không đáng kể: tỷ trọng chi tiêu cho hoạt động lưu trú tăng và chi tiêu cho ăn uống giảm xuống Có thể lý giải điều này do lượng khách du lịch tăng lên , nhu cầu lưu trú tăng , các cơ sở lưu trú mới tại Cao Bằng đã được đầu tư xây dựng để đáp ứng nhu cầu của du khách, nên

tỷ trọng của kinh doanh lưu trú trong tổng doanh thu tăng lên Tuy nhiên doanh thu

từ hoạt động kinh doanh lưu trú thu lại (13.391,7 tỷ đồng năm 2008), cho thấy doanh thu kinh doanh thu lưu trú còn thấp, một phần nguyên nhân do dịch vụ và chi phí lưu trú tại Cao Bằng thấp hơn so với các địa phương khác, do chính sách giá không phân biệt với các đối tượng khách khác nhau Có thể nói ngành du lịch tỉnh chưa khai thác tốt doanh thu từ hoạt động kinh doanh lưu trú Mặt khác, các địa điểm lưu trú tập trung chủ yếu tại thị xã Cao Bằng, khách du lịch chỉ có thể đi tham quan tại các điểm du lịch sau đó trở lại thị xã lưu trú trong đêm, tình trạng thiếu phòng và phân phối phòng không hợp lý trong mùa du lịch là hiện tượng thường xuyên diễn ra

Trong khi đó, chỉ khoảng 15% trong tổng chi tiêu của du khách dành cho hoạt động lữ hành và các dịch vụ du lịch khác, thấp hơn số liệu trung bình của ngành, và tỷ lệ các khoản thu này trong ngành du lịch tỉnh không có dấu hiệu tăng trưởng Như vậy có thể thấy, hiện trạng các dịch vụ bổ sung, bổ trợ cho ngành du lịch còn yếu và thiếu Thực tế cho thấy, các hoạt động dịch vụ diễn ra vào ban đêm tại khu vực sầm uất nhất tỉnh Cao Bằng như khu vực thị xã, vùng biên cũng rất ít;

Trang 39

các hoạt động mua bán, vui chơi giải trí diễn ra vào ban ngày lại trùng với thời gian khách đi tham quan địa điểm du lịch Điều này dẫn đến tình trạng ngành du lịch không tận thu được các khoản chi tiêu của khách, đồng thời khách du lịch không được thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí Bên cạnh đó, lượng khách du lịch thuần túy đến Cao Bằng thấp, phần lớn chi tiêu chỉ dành cho việc ăn, nghỉ Khả năng khách du lịch quay trở lại Cao Bằng rất thấp, theo điều tra của tác giả, khoảng 43% khách đã đến du lịch mong muốn quay trở lại Cao Bằng, 37% khách không mong muốn quay trở lại và 20% số khách được hỏi sẽ trở lại Cao Bằng nếu điều kiện giao thông và dịch vụ tốt hơn (Xem thêm Phụ lục 2).Từ kết quả này dẫn đến hệ quả lâu dài là khả năng quảng bá du lịch Cao Bằng thông qua những lượt khách đã đến tham quan là không cao

Doanh thu du lịch tỉnh Cao Bằng trong thời gian 5 năm 2004-2008 có mức tăng trưởng khá, tổng doanh thu du lịch tăng 2,4 lần từ 13.222 triệu đồng năm 2004 đến 31.510 triệu đồng năm 2008, trong đó doanh thu các loại hình dịch vụ đều có mức tăng đáng kể Nhìn chung, doanh thu du lịch tỉnh Cao Bằng đã và đang góp phần tích cực vào thu nhập của kinh tế tỉnh, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương Tuy nhiên những tăng trưởng này chưa xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh, đóp góp tỷ lệ thấp trong ngành dịch vụ cả nước, do

đó, việc đầu tư xây dựng các điểm, khu vui chơi giải trí và các dịch vụ khác để phục

vụ nhu cầu khách du lịch, không ngừng nâng cao cơ sở và dịch vụ du lịch hiện có, tạo sự hấp dẫn nhằm kéo dài thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách là hết sức quan trọng và cần được quan tâm đúng mức

c Đóng góp của doanh thu du lịch tỉnh Cao Bằng vào GDP của tỉnh

Bảng 2.5 Chỉ tiêu tăng trưởng du lịch hàng năm

Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ trong GDP (1) 18,3 18,3

Tốc độ tăng trưởng du lịch trong GDP (2) 46,4 39,4

Nguồn :

- (1) Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng đến năm 2010;

- (2) : Số liệu Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (ITDR)

Trang 40

Nhìn chung, tổng doanh thu du lịch Cao Bằng trong thời gian qua có mức tăng trưởng khá, có mức đóp góp đáng kể vào ngân sách thu của tỉnh Cao Bằng Qua bảng 2.5, có thể thấy tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch trong GDP cao, đạt 46,4% trong giai đoạn 2002-2005 và ước tính đạt 39,4% trong giai đoạn 2006-2010

Tỷ trọng ngành du lịch trong GDP tỉnh lớn

Bảng 2.6 Đóp góp của doanh thu du lịch tỉnh Cao Bằng vào GDP tỉnh

Nộp NSNN (tỷ đồng) 1,4 1,4 1,75 2,255

Tỷ lệ tăng so với năm trước (%) 35 35 25 28,8

Mức độ đóng góp (%) 13,2 13 14 14,5

Nguồn: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng

Từ bảng trên có thể thấy, ngành Du lịch mang lại nguồn thu ngân sách đáng

kể cho tỉnh Cao Bằng, góp phần xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh Có thể thấy, ngành du lịch góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự

phát triển của kinh tế tỉnh Cao Bằng

2.3 Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh du lịch Việc thiết kế, phát triển và hình thành những tiện nghi du lịch phù hợp sẽ tạo nên sự độc đáo cũng như dấu ấn riêng đặc sắc của từng khu du lịch, qua đó tạo sự hấp dẫn và thu hút du khách đồng thời góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch và môi trường sinh thái

* Hệ thống điện, nước và bưu chính viễn thông

- Điện: Trong các nhân tố phục vụ cho sự phát triển ngành du lịch không thể không kể đến vai trò của ngành điện Khả năng cung cấp điện đảm bảo cho sự phát triển của các ngành dịch vụ du lịch hiện đại, nhất là vấn đề nghỉ ngơi và giải trí của

du khách Nguồn điện của Cao Bằng hiện nay hoàn toàn sử dụng nguồn và hệ thống cung cấp lưới điện Quốc gia Ngoài ra Cao Bằng còn khai thác và phát huy thủy điện nhỏ Điện lực Cao Bằng quản lý gần 85 km đường dây tải điện 110 kV, hơn

600 km đường dây 35 kV, phục vụ 13/13 huyện thị Hiện nay khu du lịch Pác Bó , thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thang Hen đều đã có điện.[32]

Ngày đăng: 03/09/2015, 18:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3.  Marketing – Mix trong dịch vụ du lịch - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Hình 1.3. Marketing – Mix trong dịch vụ du lịch (Trang 20)
Bảng 2.3. Doanh thu du lịch Cao Bằng giai đoạn 2004-2008 - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 2.3. Doanh thu du lịch Cao Bằng giai đoạn 2004-2008 (Trang 36)
Bảng 2.4. Cơ cấu doanh thu du lịch Cao Bằng chia theo loại hình dịch vụ - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 2.4. Cơ cấu doanh thu du lịch Cao Bằng chia theo loại hình dịch vụ (Trang 37)
Bảng 3.1. So sánh tổng doanh thu, lượng khách du lịch năm 2008 của Cao - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.1. So sánh tổng doanh thu, lượng khách du lịch năm 2008 của Cao (Trang 47)
Bảng 3.2. So sánh điểm tương đồng giữa Cao Bằng và các tỉnh lân cận - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.2. So sánh điểm tương đồng giữa Cao Bằng và các tỉnh lân cận (Trang 49)
Bảng 3.4. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.4. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng (Trang 62)
Hình 3.5. Tỷ lệ nhân viên chưa đạt chuẩn tiếng Anh theo kết quả khảo sát của - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Hình 3.5. Tỷ lệ nhân viên chưa đạt chuẩn tiếng Anh theo kết quả khảo sát của (Trang 63)
Bảng 3.5. Đánh giá chất lượng và nhu cầu đào tạo năng lực du lịch - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.5. Đánh giá chất lượng và nhu cầu đào tạo năng lực du lịch (Trang 64)
Bảng 3.6. Hiện trạng cơ sở lưu trú tỉnh Cao Bằng - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.6. Hiện trạng cơ sở lưu trú tỉnh Cao Bằng (Trang 65)
Bảng 3.8. Danh mục 20 khách sạn, nhà hàng tiêu biểu tại Cao Bằng - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.8. Danh mục 20 khách sạn, nhà hàng tiêu biểu tại Cao Bằng (Trang 66)
Bảng 3.9. Số nhà hàng và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng ( 2004-2008) - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.9. Số nhà hàng và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng ( 2004-2008) (Trang 67)
Bảng 3.10. Dự án Du lịch kêu gọi vốn đầu tư đầu tư đến 2010 - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Bảng 3.10. Dự án Du lịch kêu gọi vốn đầu tư đầu tư đến 2010 (Trang 68)
Hình 4.1. Lợi ích xã hội hoá du lịch - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
Hình 4.1. Lợi ích xã hội hoá du lịch (Trang 77)
Hình  ảnh - Biện pháp phát triển marketing du lịch tại cao bằng
nh ảnh (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w