1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

108 884 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những đóng góp của ngành than không thể không nói đến sự đóng góp của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam TKV – doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu than chủ yếu ở nước t

Trang 2

Lời nói đầu 1

Chương 1: Tổng quan về ngành than VIệt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 4

I Tổng quan về ngành than 4

1 Tổng quan thị trường than thế giới 4

1.1 Đặc điểm thị trường than thế giới 4

1.2 Tình hình khai thác và tiêu thụ than trên thế giới 7

2 Thực trạng ngành than Việt Nam trong thời gian qua 9

2.1 Tài nguyên than Việt Nam 9

2.2 Đặc điểm than Việt Nam 11

2.3 Vị trí của ngành than Việt Nam trên thị trường nội địa và quốc tế 13

2.4 Tình hình khai thác và tiêu thụ than tại Việt Nam 15

3 Lợi ích của xuất khẩu than đối với Việt Nam 19

3.1 Lợi ích của xuất khẩu than đối với nền kinh tế quốc dân 19

3.2 Lợi ích của xuất khẩu than đối với các doanh nghiệp thuộc ngành than 20

II tổng quan ngành than việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 22

1 Lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu than 23

1.1 Về giá nhân công 23

1.2 Vị trí địa lý 24

1.3 Về cước phí vận tải 24

1.4 Chất lượng sản phẩm than 25

2 Những cơ hội và thách thức chính đối với nghành than Việt Nam25

Trang 3

Chương 2: thực trạng hoạt động xuất khẩu than của tập đoàn công

nghiệp than – khoáng sản việt nam 30

I Tổng quan về Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 30

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn 30

2 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn 32

3 Ngành nghề kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam 35

II Thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản việt nam trong thời gian gần đây 37

1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu than 37

1.1 Nhóm nhân tố bên trong 37

1.1.1 Nhân tố quản trị doanh nghiệp 37

1.1.2 Lực lượng lao động 37

1.1.3 Sản phẩm của doanh nghiệp 38

1.1.4 Các nhân tố khác 39

1.2 Nhóm nhân tố bên ngoài 40

1.2.1 Chính sách mở cửa hội nhập kinh tế thế giới 40

1.2.2 Các chính sách, pháp luật của Nhà nước 41

1.2.3 Cung - Cầu về than trên thị trường 42

1.2.4 Khách hàng 43

2 Tình hình xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001 - 2007 43

2.1 Kim ngạch xuất khẩu 44

2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu 47

Trang 4

2.2.3 Thị trường Tây Âu 50

2.3 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 51

2.4 Giá than xuất khẩu 53

III Đánh giá chung về thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản việt nam 57

1 Những thành tích đã đạt được 57

1.1 Về mức đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước 57

1.2 Về chất lượng than xuất khẩu 58

1.3 Về phân phối than xuất khẩu 60

1.4 Về công tác thị trường 62

2 Những tồn tại 63

2.1 Về công nghệ khai thác chế biến than 63

2.2 Về chất lượng than xuất khẩu 63

2.3 Về phân phối than xuất khẩu 64

2.4 Về công tác thị trường 65

Chương 3 : phương hướng phát triển và một số giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu than của tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản việt nam trong thời gian tới 67

I Triển vọng thị trường Than thế giới và khả năng đáp ứng của Việt Nam 67

1 Triển vọng thị trường than thế giới 67

1.1 Dự báo về sản lượng 67

1.2 Dự báo về nhu cầu tiêu thụ than 69

2 Khả năng đáp ứng của Việt Nam 71

Trang 5

1 Định hướng chiến lược phát triển 72

2 Một số mục tiêu phát triển 73

2.1 Mục tiêu tổng quát 73

2.2 Mục tiêu cụ thể 73

III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu than của Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam 76

1 Những giải pháp trước mắt cho ngành than 76

1.1 Về phía Tập đoàn: 76

1.1.1 Giải pháp về sản phẩm 76

1.1.2 Giải pháp về công nghệ 80

1.1.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 81

1.1.4 Giải pháp về thị trường 84

1.1.5 Giải pháp về xúc tiến thương mại 85

1.2 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 88

2 Giải pháp cho ngành than trong tương lai 89

2.1 Dự báo tình hình ngành than Việt Nam từ năm 2015 89

2.2 Một số đề xuất cho ngành than trong tương lai 91

Kết luận 97

Trang 6

Bảng 1 - Khối lượng than tiêu thụ của TKV từ 2001-2007 16

Bảng 2 - Khối lượng than tiêu thụ của các hộ lớn từ 2001-2007 17

Bảng 3 - Sản lượng và giá trị XK của TKV giai đoạn 2001 – 2007 43

Bảng 4 -Thị trường xuất khẩu của TKV giai đoạn 2001 -2007 47

Bảng 5 - Cơ cấu mặt hàng than XK của TKV giai đoạn 2001 – 2007 51

Bảng 6 - So sánh giá than xuất khẩu và giá than nội địa bình quân 53

Bảng 7 -Kim ngạch xuất khẩu than của TKV/Tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước giai đoạn 2001 – 2007 55

Bảng 8 - Dự kiến nhu cầu than tiêu thụ của các hộ trong nước 68

Bảng 9 - Mục tiêu sản lượng than thương phẩm toàn ngành đến 2025 71

Bảng 10- Nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2025 72

Bảng 11 - Dự báo nhu cầu tiêu thụ than trong nước và khả năng đáp ứng của ngành than 86

Hình 1 - Sản lượng than xuất khẩu của TKV giai đoạn 2001 -2007 45

Hình 2 - Giá trị than xuất khẩu của TKV giai đoạn 2001 -2007 45

Hình 3 - Biểu đồ về tiêu thụ các nguồn năng lượng của thế giới 67

Sơ đồ 1 - Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của TKV 33

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài:

Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là đặc trưng và xu hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế thế giới Những hoạt động này đang diễn ra hết sức nhanh chóng và sâu sắc, thu hút được nhiều nước tham gia bất luận nền kinh tế nước đó có quy mô và trình độ phát triển ra sao, thuộc chế độ chính trị – xã hội nào Cùng hoà mình vào xu thế ấy, trong thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng hướng ra thị trường nước ngoài, đẩy mạnh việc sản xuất và xuất khẩu các ngành hàng có thế mạnh của cả nước,

mà than đá là một mặt hàng như vậy

Than Việt Nam không chỉ thoả mãn, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước như sản xuất xi măng, điện, giấy… và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

từ nhiều năm nay mà còn phục vụ cho nhu cầu nhập khẩu của các bạn hàng nước ngoài với quy mô ngày càng lớn Với sản lượng sản xuất và tiêu thụ trên

40 triệu tấn/năm trong đó xuất khẩu đạt trên 20 triệu tấn, mặt hàng than hiện nay đang được xác định là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam và có đóng góp ngày càng to lớn trong sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Trong những đóng góp của ngành than không thể không nói đến sự đóng góp của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) – doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu than chủ yếu ở nước ta Hàng năm, Tập đoàn đã đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng ngàn tỷ đồng và giải quyết việc làm cho hơn 12 vạn lao động Tuy nhiên có một thực tế là, hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn vẫn còn rất nhiều bất cập, chưa phát triển tương ứng với tiềm năng do năng lực khai thác thấp, giá xuất khẩu còn thấp hơn nhiều so với mức giá trung bình của thế giới, khâu dịch vụ còn nhiều thiếu sót, sự thay đổi chính sách của Đảng và Nhà nước… Vì thế, việc nghiên cứu thực trạng, để từ đó đề xuất ra những giải pháp nâng cao hiệu quả xuất

Trang 8

khẩu than của TKV theo hướng hợp lý là điều vô cùng hữu ích và thiết thực không chỉ với sự phát triển của Tập đoàn mà còn với cả ngành than nói chung, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra sâu sắc

Xuất phát từ thực tiễn trên, em đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải

pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiêp Than – Khoáng sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của khoá luận là để tìm hiểu thực tế ngành than Việt Nam cũng như của thế giới trong thời gian qua đồng thời phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam để từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn theo hướng phát triển bền vững, phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là ngành Than Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn trong giai đoạn 2001 - 2007 Nội dung của khoá luận đề cập đến tổng quan về ngành Than, những lợi thế và thách thức chính đối với ngành than Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Trong đó, nội dung chính của khóa luận là nghiên cứu tổng quan về Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và thực trạng xuất khẩu than của Tập đoàn trong những năm gần đây đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu than của Tập đoàn

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau:

Trang 9

Thu thập, nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước kết hợp với khảo sát thực tế tình hình sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cùng một số doanh nghiệp trực thuộc Tập đoàn

Ngoài ra, khoá luận còn sử dụng nhiều phương thức khác, bao gồm: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp diễn giải và quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và phương pháp phỏng vấn

5 Bố cục của khoá luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan ngành than Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

kinh tế quốc tế

Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công

nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam

Chương III: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu

than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trong thời gian tới

Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – Thạc sỹ Phạm Thị Hồng Yến đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện đề tài Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho em có những tài liệu cần thiết cho bài khoá luận Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian cũng như năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế nên khoá luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô giáo để khoá luận được hoàn thiện hơn

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THAN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ

QUỐC TẾ

I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THAN

1 Tổng quan thị trường than thế giới

Mảng màu than luôn nổi lên lớn nhất trong bức tranh năng lượng bởi hơn 1/4 nguồn năng lượng trên thế giới được cung cấp từ than Trên thực tế than là nguồn năng lượng có dự trữ lớn nhất trong các dạng nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, khí đốt, uran …) và chiếm khoảng 68% nguồn dự trữ năng lượng trên thế giới, trong đó chưa tính đến những nguồn năng lượng vô tận song chưa được khai thác để phục vụ đại chúng như năng lượng mặt trời, năng lượng gió… Đây chính là nét nổi bật trong bức tranh về nguồn tài nguyên than trên thế giới

1.1 Đặc điểm thị trường than thế giới

Than là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng trên thế giới Tổng mức đầu tư trong lĩnh vực năng lượng đến năm 2030 của thế giới được đánh giá khoảng 16000 tỷ USD, trong đó đầu tư cho lĩnh vực sử dụng năng lượng than

là 1878 tỷ USD Xét trên khía cạnh khác, nếu trong vòng 25 năm (1980 – 2005) toàn bộ nhu cầu về than của thế giới chỉ tăng có 40%, thì chỉ trong 3 năm (2001 – 2004) đã tăng tới 25%, hay tương đương với 1,1 tỷ tấn Báo cáo

về “Triển vọng năng lượng thế giới năm 2007” của Tổ chức năng lượng quốc

tế IEA (International Energy Agency) đã nhận định, để đáp ứng mức tăng trưởng cao trong những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ than đá của thế giới sẽ tăng mạnh tới 75% trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2030 Trong đó, chỉ

3 nước Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm tới 90% trong sự gia tăng sử dụng than trong tương lai

Trang 11

Bên cạnh đó trong báo cáo có tiêu đề “Than: Giải pháp tổng thể cho

những đòi hỏi toàn cầu”, ông Gregory H.Boyce – Chủ tịch kiêm Tổng giám

đốc Công ty Năng lượng tư nhân Peabody Energy (có doanh thu năm 2004 là 3,6 tỷ USD, cung cấp 10% than nhiên liệu cho phát điện ở Mỹ, chiếm 3% của thế giới) đã khẳng định: “Than là nhiên liệu duy nhất tạo ra sự phát triển bền vững cho toàn cầu Nhưng chúng ta vẫn cho rằng, vì cần bảo vệ môi trường, việc sử dụng than trong thời gian qua đã bị hạn chế do lượng phát thải khi đốt than là lớn nhất Tuy nhiên, trong tương lai, sử dụng than sẽ tăng và mức phát thải sẽ giảm xuống gần bằng 0 do than sẽ được điều chế thành khí và dầu bằng các công nghệ “chuyển hóa nhiệt” Cũng theo báo cáo này, sản lượng than sẽ tăng nhanh hơn 5 lần so với dự báo và trữ lượng than có thể đáp ứng được cả cho nhu cầu thậm chí ở mức cao hơn Trong khi nguồn dầu mỏ ngày càng cạn kiệt dần thì việc dùng than thay dầu bằng cách chế biến than thành các sản phẩm có công dụng như dầu mỏ là một giải pháp được quan tâm đặc biệt

Nhìn chung, có 5 lý do khiến người ta thấy rõ giá trị của vàng đen đối với sự phát triển của nhân loại:

Thứ nhất, hiện nay thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng dầu

lửa lớn chưa từng có Đứng ở góc độ chính trị, cuộc khủng hoảng này sẽ còn kéo dài do hơn 70% lượng tài nguyên này tập trung ở những khu vực bất ổn nhất của thế giới, những nơi mà bạo lực và chiến tranh không ngừng gia tăng là: Trung Đông, Nga và Trung Á Trước tình hình giá dầu không ngừng leo thang, các chuyên gia nghiên cứu về năng lượng, các nhà sản xuất đang phải gấp rút tìm ra những giải pháp tổng thể để tìm nguồn năng lượng mới thay thế dầu mỏ Một trong số những giải pháp được coi là có hiệu quả đó là sử dụng than làm nguyên liệu thay vì sử dụng dầu mỏ và chế biến than thành các sản phẩm như dầu mỏ

Trang 12

Thứ hai, than đá là nguồn tài nguyên phong phú và có trữ lượng rất lớn

trên trái đất và nguồn tài nguyên này gần như được phân bố đồng đều cho các khu vực có nhu cầu tiêu thụ lớn: Một phần ba cho châu Mỹ, một phần ba cho khu vực giáp ranh Âu - Á, một phần ba còn lại cho khu vực châu Á giáp Đại Tây Dương Hiện có khoảng 50 nước có trữ lượng than lớn mà đứng đầu là

Mỹ, nước có trữ lượng than chiếm khoảng 27,1% trữ lượng than trên toàn thế giới Sau đó là Nga với 17,3%, Trung Quốc 12,6%, Ấn Độ 10,2%, Australia 8,6%, Nam Phi 5,4% Sự phân bổ than theo địa lý đã giúp chúng ta giảm bớt mối lo về những rủi ro chính trị trong lĩnh vực năng lượng so với dầu khí

Thứ ba, bước phát triển mang tính quyết định trong các công nghệ mới

đã hứa hẹn cắt giảm mạnh những rủi ro của việc sử dụng than trong công nghiệp và thương mại đối với các vấn đề môi trường, một vấn đề bức bách đang được toàn thế giới quan tâm

Thứ tư, nguồn năng lượng tái sinh chưa được sử dụng phổ biến do cần

vốn đầu tư lớn và trước mắt khó sử dụng trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp Nhiều người tin rằng việc lợi dụng sức gió, năng lượng mặt trời và nhiên liệu vi sinh chưa thể một sớm một chiều thay thế các nguồn năng lượng hiện nay Theo Bộ năng lượng Mỹ, các nguồn năng lượng mới như gió, mặt trời, thủy điện cùng các nguồn năng lượng truyền thống như củi, phân gia súc mới chỉ giải quyết được 7,4% nhu cầu năng lượng toàn cầu năm 2004 trong khi năng lượng hóa thạch gồm dầu mỏ, khí đốt và than cung cấp tới 86%

Thứ năm, đó là sự phát triển nhanh chóng của các cường quốc công

nghiệp mới như Trung Quốc và Ấn Độ, là những nước có nhu cầu năng lượng ngày càng tăng Cho đến nay, Trung Quốc là nước tiêu thụ than lớn nhất trên thế giới, tiêu thụ lượng than tương đương tổng lượng than mà Mỹ, Liên Minh châu Âu và Nhật Bản cộng lại Nền kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc rất nhiều vào nguồn năng lượng này: khoảng 75% nguồn điện của Trung Quốc là

từ than Ấn Độ cũng đang trên cùng hướng phát triển ấy Đất nước này đang

Trang 13

không ngừng tự trang bị cho mình nguồn năng lượng than đá và có kế hoạch thực hiện các dự án tầm cỡ như xây dựng nhà máy nhiệt điện than lớn nhất thế giới với tổng vốn đầu tư vào khoảng 8,5 tỷ Euro Nhu cầu tiêu thụ than đốt nhiệt của châu Á dự kiến tăng 6,3% trong năm 2008 phần lớn do nhu cầu tăng từ hai nước này

1.2 Tình hình khai thác và tiêu thụ than trên thế giới

Ước tính tổng cộng trữ lượng than trên toàn thế giới hiện còn khoảng

1031 tỷ tấn Các nước có trữ lượng than lớn trên thế giới là Nga, Mỹ, Trung Quốc và các nước vùng Tây Âu, Đông Âu, vùng Biển Đông, Ôxtraylia, Nam Phi Nếu khai thác như mức năm 1995 là 4,53 tỷ tấn thì có thể khai thác được khoảng 250 năm nữa Khoảng thời gian 250 năm kéo dài được vài thế

hệ song chỉ là một khoảnh khắc so với chiều dài của nhân loại Do đó cần phải có những tính toán để khai thác và sử dụng than một cách hiệu quả để thế

hệ mai sau không bị thiếu năng lượng nếu như chưa có cách gì để tận dụng năng lượng mặt trời, sức gió hay thủy triều tốt hơn chúng ta

Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở lại đây, mỗi năm con người lấy lên

từ lòng đất 3 tỷ tấn than, một khối lượng lớn hơn nhiều so với dầu mỏ Các nước có trữ lượng lớn nhất và cũng là những nước khai thác nhiều nhất là Trung Quốc chiếm 20%, Mỹ 18%, Trung Âu 18%

Hàng năm, thế giới khai thác và tiêu thụ các loại than chủ yếu sau:

Than nhiệt năng: Khối lượng giao dịch than nhiệt năng chiếm tỷ lệ

lớn nhất trong tổng giao dịch than trên toàn thế giới Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là các nhà nhập khẩu than nhiệt năng lớn nhất thế giới trong khi Trung Quốc, Inđônêsia và Úc là các nhà xuất khẩu chính

Than coking: Than coking đắt hơn than nhiệt năng và khối lượng

buôn bán trên thị trường thế giới rất hạn chế Than coking chủ yếu được sử dụng trong sản xuất sắt thép Úc là nhà cung cấp than coking lớn nhất thế giới, chiếm trên 51% tổng khối lượng xuất khẩu của thế giới

Trang 14

Antraxit: Antraxit hiện tại chỉ chiếm một vị trí nhỏ trên thị trường

nhiên liệu cứng của thế giới với tổng số lượng khai thác và tiêu thụ hàng năm khoảng 340 - 400 triệu tấn Các nhà sản xuất antraxit lớn nhất thế giới có thể

kể đến là Trung Quốc, Việt nam, Ukraina và Nga Sản lượng của từng nước năm 2006 cụ thể là: 200 triệu tấn, 36,9 triệu tấn, 19,98 triệu tấn và 8,98 triệu tấn Trong những năm gần đây, Nga và Việt Nam đã vươn lên thành hai nhà cung cấp Antraxit dẫn đầu thế giới Nga chủ yếu cung cấp tại khu vực thị trường Đại Tây Dương trong khi Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp chính tại châu Á, thay thế vị trí này của Trung Quốc từ năm 2004 Năm 2007, lượng than xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 25 triệu tấn trong khi Trung Quốc chỉ xuất khẩu gần 7 triệu tấn

Các loại than khác: như than non, than Abitum, chủ yếu được sử dụng

tại các nhà máy điện tại nơi sản xuất nên khối lượng buôn bán quốc tế hiện nay rất nhỏ bé

Về tiêu thụ than, trong 50 năm (1957 - 2007) sản lượng than trên toàn thế giới đã tăng gấp 3 lần, cùng với nó giao dịch than quốc tế được mở rộng nhanh chóng và đây là một trong những yếu tố quan trọng làm giảm vai trò của dầu mỏ Bất chấp quy luật khai thác ngày một khó khăn của ngành khai khoáng, nhờ vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sản lượng của mỏ sau bao giờ cũng cao hơn mỏ trước Trong vài thập kỷ qua, than chiếm khoảng 30% khối lượng năng lượng của thế giới và chắc chắn sẽ còn tăng cao trong những thập

kỷ mới Người ta dự đoán rằng trong giai đoạn 1995 – 2020, nhu cầu than toàn thế giới có thể tăng với tỷ lệ trung bình hàng năm là 2,2% Xét trên phương diện kinh tế học, tiêu thụ than thể hiện sự bất bình đẳng giữa các quốc gia trên thế giới Các nước thuộc thế giới thứ 3 chiếm tới 3/4 dân số thế giới nhưng chỉ tiêu thụ 1/4 năng lượng hiện có Ngược lại các nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm 1/4 dân số thế giới thì lại dùng đến 3/4 khối lượng năng lượng tạo ra

Trang 15

2 Thực trạng ngành than Việt Nam trong thời gian qua

2.1 Tài nguyên than Việt Nam

Khi nhắc đến than ở Việt Nam, người ta thường nghĩ đến địa danh Quảng Ninh như là một nơi sản xuất than lớn nhất cả nước Thực tế cho thấy, tại Quảng Ninh sản lượng than khai thác được hàng năm chiếm đến 90% sản lượng than cả nước Bể than Quảng Ninh được phát hiện và khai thác từ rất sớm, bắt đầu cách đây gần 100 năm dưới thời Bắc thuộc Nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, kéo dài từ Phả Lại qua Đông Triều đến Hòn Gai - Cẩm Phả - Mông Dương – Cái Bầu – Vạn Hoa dài khoảng 130 km, rộng từ 10 đến 30

km, có tổng trữ lượng than khoảng 10,5 tỷ tấn Trong đó, qua công tác tìm kiếm thăm dò khá chi tiết, trữ lượng than tính đến mức -300 m là 3,5 tỷ tấn và hiện đang là đối tượng cho khai thác Tính đến mức sâu -1000 m có trữ lượng

dự báo khoảng 7 tỷ tấn đang được đầu tư tìm kiếm thăm dò Than khai thác được ở bể than Quảng Ninh chủ yếu là than Antraxit Than Antraxit Quảng Ninh có chất lượng tốt, phân bố gần cảng biển, đầu mối giao thông… rất thuận lợi cho khai thác và tiêu thụ than

Tuy nhiên trong những năm tới, việc khai thác than ở Quảng Ninh sẽ ngày càng khó khăn do phạm vi khai thác than chuyển dần từ nông xuống phần sâu kéo theo nhiều đơn vị phải thay đổi công nghệ khai thác lộ thiên sang khai thác hầm lò Trong năm 2006, được sự chỉ đạo của Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam (viết tắt là TKV), Công ty cổ phần tin học, Công nghệ, Môi trường – TKV (VITE) đã phối hợp cùng viện Dầu khí – Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành tổng hợp, phân tích các tài liệu địa chất liên

quan đến trầm tích chứa than ở thềm lục địa Việt Nam Bộ tài liệu “Đánh giá

triển vọng than thềm lục địa Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng để các nhà

nghiên cứu có kế hoạch, chiến lược cho quá trình ổn định và phát triển lâu dài của than Việt Nam cũng như chính sách an ninh năng lượng quốc gia Theo các tài liệu phân tích đã xác định, vùng thềm lục địa Việt Nam với diện tích

Trang 16

khoảng 1 triệu km2 có 8 bể trầm tích chứa than lớn đó là : bể Đồng bằng sông Hồng, bể Hoàng Sa, bể Phú Khánh, bể Tư Chính – Vũng Mây, bể Cửu Long,

bể Nam Côn Sơn và bể Mã Lai – Thổ Chu Trong đó, hai bể là Đồng bằng sông Hồng và Mã Lai – Thổ Chu có triển vọng khai thác hơn cả

Bể than đồng bằng sông Hồng: Nằm gọn trong vùng Đồng bằng châu

thổ sông Hồng, với tổng diện tích vào khoảng 3500 km2, trải dài từ Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình … rồi kéo thẳng ra biển Đỉnh là Việt Trì

và cạnh đáy là đường bờ biển kéo dài từ Ninh Bình đến Hải Phòng Khu vực này có vài chục vỉa than với tổng trữ lượng dự báo khoảng 210 tỷ tấn Qua khảo sát, khu vực Khoái Châu với diện tích 80 km2 đã được tìm kiếm thăm

dò với trữ lượng khoảng 1,5 tỷ tấn, trong đó khu vực Bình Minh với diện tích

25 km2 đã được thăm dò sơ bộ với trữ lượng khoảng 500 triệu tấn và hiện đang được tập trung nghiên cứu công nghệ khai thác để mở mỏ đầu tiên Việc

tiến hành khai thác mỏ tại Bình Minh (Khoái Châu) nằm trong “Quy hoạch

phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010 có xét đến triển vọng đến năm 2020” đã được chính phủ phê duyệt Tại đây, các vỉa than thường

được phân bố ở độ sâu –100 đến –3500 m và có khả năng còn sâu hơn nữa Hiện nay trên thế giới một số nước đã có công nghệ khai thác than ở độ sâu -

1000 m, nhưng ở nơi có cấu tạo địa chất bền vững Còn khu vực đồng bằng sông Hồng có cấu tạo địa chất không ổn định, lớp đất đá và vách trụ mềm gây khó khăn cho việc khai thác Tuy nhiên, khi tìm ra được giải pháp khai thác than có hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích cho ngành than và các ngành công nghiệp khác do than ở Đồng bằng sông Hồng là loại than năng lượng, có nhiệt lượng cao (6.000 kcalo) và lưu huỳnh bình quân chỉ ở mức 0,5%, chất bốc trên 40% nên thích hợp cho việc phát điện, sử dụng trong các ngành sản xuất hóa chất, xi măng

Bể than Mã Lai – Thổ Chu: Phân bố ngoài khơi thuộc khu vực giáp

ranh với vùng biển Thái Lan và Indonesia Tổng diện tích phân bố các vỉa

Trang 17

than đã được xác định là 33.144,737 km2 Qua phân tích các giếng khoan gặp than có xác định các vỉa than có chiều dày từ 13 m đến 165 m, trung bình 43,72 m

Hiện nay, một số nước trong khu vực đã khai thác đến mức sâu dưới đáy biển như Trung Quốc, Nhật Bản thì việc xem xét triển vọng khai thác than tại thềm lục địa Việt Nam là có cơ sở Để có cơ sở tin cậy về triển vọng khai thác than tại các bể than thềm lục địa phục vụ việc quy hoạch thăm dò, khai thác, đáp ứng nhu cầu năng lượng cho sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế, cần có sự đầu tư của Nhà nước, sự phối hợp của các cấp ngành và các đơn vị để có thể bổ sung cho công trình nghiên cứu chi tiết hơn

2.2 Đặc điểm than Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có nhiều tài nguyên khoáng sản quý báu như than, đồng, chì, sắt, kẽm,vàng, bạc, đá quý, các nguồn nước khoáng Trong những nguồn tài nguyên ấy, than đá vẫn là một trong những tài nguyên giá trị và có trữ lượng lớn nhất Việt Nam có trữ lượng than lớn và được phân bố rải rác trên khắp cả nước Than Việt Nam khá đa dạng với nhiều chủng loại như than nâu, than bùn, than mỡ, nhưng xuất khẩu chủ yếu vẫn là than Antraxit Cụ thể, mặt hàng than Việt Nam bao gồm:

Than Antraxit:

Dùng để tạo ra năng lượng cho ngành công nghiệp luyện thép, nhiệt điện, công nghiệp hóa chất, xây dựng… Mỗi chủng loại than sẽ thích ứng với một mục đích sử dụng khác nhau Antraxit hiện đang là loại than được xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam Đây là loại than có nhiệt lượng cao, không khói,

độ tro thấp và hàm lượng lưu huỳnh và nitơ thấp, ít gây ô nhiễm môi trường nổi tiếng trên thế giới Điều này đã được chứng thực khi tổ chức Quản lý chất lượng quốc tế (International Quality Management) cấp giấy chứng nhận và huy chương bạc cho than Antraxit Việt Nam về chất lượng và những đóng góp trong việc bảo vệ môi trường Than Antraxit Việt Nam hầu hết tập trung

Trang 18

ở tỉnh Quảng Ninh (chiếm 90%), hiện đang được khai thác để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.Trữ lượng than Antraxit ở đây dự báo khoảng 10

tỷ tấn, trong đó có 3,5 tỷ tấn ở mức –350 m

Than Antraxit Việt Nam được chia làm nhiều loại khác nhau với số lượng, cỡ hạt, thành phần, độ ẩm, độ tro khác nhau Và đối với mỗi thị trường thì tùy theo mục đích sử dụng khác nhau mà người ta lựa chọn từng loại than cho phù hợp

Than mỡ:

Trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27 triệu tấn, trong đó trữ lượng địa chất là 17,6 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở hai mỏ Làng Cẩm (Thái Nguyên) và mỏ Khe Bố (Nghệ An) Than mỡ chủ yếu sử dụng cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớn sau năm 2000 Nhưng trữ lượng than mỡ ở nước ta là rất ít và điều kiện khai thác còn nhiều khó khăn

Than ngọn lửa dài:

Chủ yếu tập trung ở mỏ Na Dương (Lạng Sơn), với trữ lượng địa chất trên 100 triệu tấn Đây là loại than có hàm lượng lưu huỳnh cao, có tính tự cháy nên việc khai thác, vận chuyển, chế biến sử dụng rất khó khăn và hạn chế

Than Sub-bituminous:

Sub-bituminus được phát hiện từ những năm 70 trong quá trình thăm dò dầu - khí ở đồng bằng sông Hồng và thềm lục địa Trữ lượng dự báo từ vài

Trang 19

chục tỷ đến vài trăm tỷ tấn ở độ sâu từ 200 m đến 4000 m Kết quả điều tra thăm dò do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và NEDO Nhật bản thực hiện trong các năm 1998 - 2003 đã cho thấy chỉ riêng một phần đồng bằng sông Hồng đã có trữ lượng tới 30 tỷ tấn Than ở đây có nhiệt lượng khoảng 6000 Kcal/kg, chất bốc trên 40%, hàm lượng lưu huỳnh bình quân 0,5%

Như vậy, mặt hàng than Việt Nam đa dạng về chủng loại, trữ lượng tương đối lớn, chính nhờ lợi thế này mà ngành than Việt Nam ngày càng mở rộng được thị trường tiêu thụ của mình

2.3 Vị trí của ngành than Việt Nam trên thị trường nội địa và quốc tế

Vị trí của ngành than Việt Nam trên thị trường nội địa:

Ngành than là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân thống nhất Phát triển ngành than phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội của cả nước Theo quan điểm này, phát triển ngành than là sự nghiệp của cả nước mà cán

bộ công nhân ngành than chính là những người tiên phong Và như vậy, cần

có nhận thức và đánh giá đúng vai trò đích thực của ngành than trong sự nghiệp cách mạng to lớn đó Đây là việc hết sức cần thiết vì ngành than có phát triển ổn định thì an ninh năng lượng quốc gia cũng như một số ngành công nghiệp của đất nước mới được đảm bảo

Vai trò của ngành than cần được xem xét theo quan điểm khoa học, tổng hợp, không bó hẹp trong phạm vị bản thân ngành than, một tỉnh Quảng Ninh hay một địa phương nào đó Ở đây bao gồm hai khía cạnh:

Thứ nhất, than là tài nguyên của đất nước, trữ lượng than không khói

như nước ta trên thế giới là không nhiều, có giá trị là nguyên liệu cho ngành công nghiệp Khai thác than là khai thác tiềm năng, sử dụng nội lực của bản thân chúng ta phục vụ cho sự phát triển của chúng ta, xuất phát từ điều kiện khách quan và yếu tố chủ quan của đất nước, không đơn thuần chỉ là nguyên liệu, nhiên liệu có tiền mua đâu cũng được

Trang 20

Thứ hai, Số lượng than khai thác được, giá trị sản xuất hoặc nộp ngân

sách của ngành than chỉ là biểu hiện cục bộ của bản thân ngành than Hiệu quả sản xuất than phải được nhìn nhận thông qua sự tác động của ngành than đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác, đến việc hình thành một khu công nghiệp mũi nhọn, tam giác kinh tế phát triển ưu tiên, đến việc mang văn minh công nghiệp, tiến bộ xã hội đến cho địa phương … nghĩa là xem xét trên phạm vi toàn xã hội về mặt kinh tế – xã hội Hiệu quả sản xuất của ngành than phải được xem xét trên cơ sở hiệu quả kinh tế xã hội của cả nước

Như vậy, than là một ngành công nghiệp có tính chất hạ tầng, làm tiền

đề, cung cấp đầu vào cho nhiều ngành kinh tế phát triển Là ngành công nghiệp hạ tầng, than cần có tính chất đặc thù cho cả đầu tư phát triển lẫn cho con người, đảm bảo cho nó phát triển vững chắc, đồng bộ với các ngành mà

nó phục vụ Ngành than khai thác được bao nhiêu phụ thuộc vào các ngành cần bao nhiêu, thị trường nước ngoài tiêu thụ bao nhiêu, phụ thuộc vào các điều kiện đảm bảo cho việc khai thác

Vị trí ngành than Việt Nam trên thị trường thế giới:

Xuất khẩu than của Việt Nam chủ yếu là than Antraxit dưới cái tên thương phẩm là: Hongai Antraxit Coal – Một cái tên khá nổi tiếng trên thị trường thế giới bởi đây là loại than có chất lượng cao Tổng sản lượng Antraxit sản xuất hàng năm trên thế giới vào khoảng 340 - 400 triệu tấn, trong

đó dành cho buôn bán khoảng 70 triệu tấn Việt Nam mỗi năm xuất khẩu khoảng trên 20 triệu tấn, chiếm 25 – 30% thị phần thế giới Từ năm 2004, Việt Nam vượt Trung Quốc và trở thành nhà cung cấp than Antraxit lớn nhất trên thế giới Than Việt Nam hiện đang được xuất khẩu vào thị trường của khoảng 30 nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Nam Phi, Úc Tây Âu… Như vậy, xuất khẩu chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng sản lượng than khai thác được của Việt Nam Bên cạnh đó giá than xuất khẩu thường cao hơn giá than bán trong nước Vì vậy, có thể thấy rằng mở

Trang 21

rộng thị trường quốc tế là nhân tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển của

than Việt Nam

2.4 Tình hình khai thác và tiêu thụ than tại Việt Nam

Trong vài năm trở lại đây, do có sự đầu tư đúng hướng đồng thời thị trường năng lượng thế giới có nhiều thay đổi, ngành than đã có bước phát triển với sản lượng than sản xuất và than tiêu thụ đạt mức cao, đảm bảo đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu cũng không ngừng tăng lên

Hiện nay, tại Việt nam nhà sản xuất và xuất khẩu Antraxit chính là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (tên viết tắt là TKV hay Vinacomin), kiểm soát trên 92% sản lượng khai thác trên lãnh thổ Bên cạnh

đó còn có một số Công ty khai thác than địa phương khác với quy mô sản xuất nhỏ chiếm tỷ lệ khoảng 7 - 8% tổng sản lượng của toàn ngành mà nổi bật

là Vietmindo Vietmindo là dự án khai thác kinh doanh than tại khu vực Vàng danh - Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh được thực hiện theo hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa đối tác Indonesia và Công ty TNHH MTV than Uông bí (là công ty con của TKV) từ năm 1997 Với sản lượng từ 0,6 – 0,8 triệu tấn/năm, Vietmindo đóng góp tỷ lệ khiêm tốn trong sản lượng than khai thác trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam là đơn vị khai thác

và kinh doanh than chủ yếu, do đó hoạt động của Tập đoàn phản ánh được tình hình hoạt động của ngành than Việt Nam nói chung

Hoạt động khai thác than:

Antraxit tại Việt nam được khai thác bằng cả hai phương pháp: lộ thiên

và hầm lò Khoảng 60% sản lượng than của Việt Nam là được khai thác từ

các mỏ lộ thiên, nhưng nguồn than từ các mỏ này đang giảm dần Vì vậy, trong tương lai sản lượng của than Việt Nam sẽ bị chi phối bởi nhiều nguồn than khai thác từ các hầm lò nằm sâu trong lòng đất Do đó, năng suất khai

Trang 22

thác hầm lò không thể cao bằng các mỏ lộ thiên nên sản lượng khó có thể tăng nhanh như mức tiêu thụ

Hiện tại, TKV có 29 mỏ lộ thiên Sản lượng khai thác của các mỏ lộ thiên chiếm hơn 50% sản lượng của Tập đoàn Năm mỏ lộ thiên lớn nhất của TKV có công suất từ 2 - 4 triệu tấn/năm, các mỏ khác có công suất thiết kế từ 0,2 – 2 triệu tấn/năm Tuy nhiên, trong những năm tới tỷ lệ này sẽ giảm xuống

do TKV sẽ khai thác sâu hơn dưới lòng đất và thay vào đó sẽ là các mỏ hầm

lò Hiện Tập đoàn có 20 mỏ hầm lò, trong đó 7 mỏ hầm lò lớn nhất có công suất từ 1-3 triệu tấn/năm và các mỏ khác có công suất từ 0,2 - 1 triệu tấn/năm Sản lượng than khai thác hầm lò chiếm dưới 50% tổng sản lượng của Tập đoàn nhưng tỷ lệ này sẽ tăng lên trong những năm tới

Với mục tiêu “Sản xuất phải đáp ứng nhu cầu thị trường”, tất các các công ty sản xuất than của TKV đang ưu tiên sản xuất các loại than thị trường

có nhu cầu lớn Ví dụ, hiện nay nhu cầu than sử dụng cho điện rất lớn và chủng loại than cho điện chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lượng sản xuất của TKV (khoảng 52%)

Tình hình tiêu thụ than:

Trong những năm gần đây sản lượng than tiêu thụ của ngành than nói chung và của TKV nói riêng liên tục tăng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cả các hộ tiêu thụ trong nước và nước ngoài Cụ thể, khối lượng than tiêu thụ trong nước đã tăng từ 9,4 triệu tấn năm 2001 lên 17,2 triệu tấn trong năm

2007, đạt tốc độ tăng bình quân 10,6%/năm, than xuất khẩu đã tăng từ 4,3 triệu tấn năm 2001 lên 23,8 triệu tấn trong năm 2007, đạt tốc độ tăng bình quân 33,0%/năm Dưới đây là bảng thể hiện lượng than tiêu thụ của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007 và dự kiến cho năm 2008

Bảng 1 - Khối lượng than tiêu thụ của TKV từ 2001-2007:

(Đơn vị: triệu tấn)

Trang 23

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của TKV qua các năm)

So sánh giữa lượng than tiêu thụ nội địa và xuất khẩu có thể thấy, sản

lượng than khai thác để xuất khẩu tăng liên tục Nếu như trong giai đoạn 2001

– 2004, phần lớn than khai thác được là để tiêu thụ trong nước, thì đến năm

2005, 49% sản lượng than khai thác được dành cho xuất khẩu Tới năm 2006,

con số này đã vượt mức quá bán, chiếm tới 54% sản lượng than khai thác

được Đến năm 2007, con số này là 58%

Mặc dù vậy, Tập đoàn TKV xác định cơ cấu sản xuất sẽ tiếp tục phát

triển theo hướng đẩy mạnh hoạt động đầu tư sản xuất và chế biến than để thỏa

mãn nhu cầu trong nước, đặc biệt là nhu cầu của các hộ sản xuất lớn như:

điện, xi măng, hóa chất, phân bón và giấy… Đồng thời, TKV sẽ giành một

phần hợp lý để xuất khẩu trên nguyên tắc tập trung ưu tiên xuất khẩu các loại

than chất lượng cao trong nước chưa có nhu cầu

Xét riêng tình hình tiêu thụ than trong nước, về doanh thu, Tập đoàn

Điện lực Việt Nam (EVN) là khách hàng nội địa quan trọng nhất của TKV

EVN mua than phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện của mình Các khách

hàng nội địa chủ chốt khác của TKV là các đơn vị trong các ngành xi măng,

giấy, hoá chất và phân bón Nhu cầu tiêu thụ của các hộ này được thể hiện

trong bảng dưới đây:

Bảng 2 - Khối lượng than tiêu thụ của các hộ lớn từ 2001-2007 :

(Đơn vị: nghìn tấn)

Trang 24

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của TKVqua các năm)

Tuy nhiên, giá bán than cho 4 ngành sản xuất nhiệt điện, xi măng, phân bón và giấy là giá bao cấp, chỉ bằng 85 – 90% giá thành sản xuất và thấp hơn nhiều so với giá xuất khẩu Dù trữ lượng than vẫn còn rất lớn, nhưng nếu duy trì giá bán than thấp hơn giá thành như vậy thì ngành than cũng dần bị mai một, không đủ vốn để tái đầu tư, và kết quả là khai thác than sẽ không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước Cụ thể như giá bán giá than năm 2005, than cám loại 3 bán cho nhà máy xi măng chỉ có 385.000 đồng/tấn trong khi giá xuất khẩu là 56 USD, tính ra chênh lệch lên tới 506.000 đồng/tấn Than cám 4B bán cho ngành điện chỉ với giá 332.000 đồng/tấn, so với giá xuất khẩu là 37 USD, chênh lệch 256.000 đồng/tấn Cho đến năm 2007, mặc dù giá than bán trong nội địa có tăng, trung bình đạt 402.100 đồng/tấn, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với giá than xuất khẩu trung bình Giá than xuất khẩu trung bình trong năm này đạt 580.200 đồng/tấn, cao hơn giá bán trong nước

178.100 đồng/tấn

Theo tính toán của TKV, mức giá bán từ 1/1/2008 vào các hộ xi măng, giấy, phân bón vẫn thấp hơn giá thành và mới chỉ bằng 70 – 80% giá bán than cho các hộ sử dụng than thị trường trong nước hiện nay và bằng trên dưới 50% giá bán than xuất khẩu cùng loại Giá bán than vào các nhà máy nhiệt điện hiện nay cũng chỉ bằng 65% giá thành, bằng 55% giá bán than vào các

hộ trong nước và bằng 45% giá xuất khẩu than cùng loại Theo Thông báo số

Trang 25

109/TB – BTC ngày 5/2/2007 của Bộ tài chính thì từ 2008, giá than cho sản xuất điện sẽ tăng thêm 20%, giá mới này vẫn thấp hơn nhiều so với giá thành

và giá bán ở các hộ khác Tuy nhiên, để kiềm chế lạm phát, tháng 3/2008 Chính phủ lại ra quyết định ngừng việc tăng giá một số mặt hàng, trong đó có than đá Vì vậy, việc tăng giá than trong thị trường nội địa cho đến nay vẫn chưa có quyết định chính thức

Chính vì vậy, trong khi thị trường trong nước chưa sử dụng hết, TKV phải tiến hành hoạt động xuất khẩu than để cân bằng chi phí đầu tư Xuất khẩu than không những đem lại nguồn thu lớn cho TKV mà còn bù lỗ cho hoạt động tiêu thụ than trong nước và một phần lợi nhuận từ xuất khẩu than được sử dụng để tái đầu tư vào các ngành nghề kinh doanh khác của TKV

3 Lợi ích của xuất khẩu than đối với Việt Nam

3.1 Lợi ích của xuất khẩu than đối với nền kinh tế quốc dân

Với nhiệm vụ chính là khai thác, kinh doanh đáp ứng nhu cầu than tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đem lại lợi nhuận cho đất nước, tạo đà cho sự phát triển của ngành công nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung, xuất khẩu than được đánh giá là có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế -

xã hội của quốc gia

Ở Việt Nam, ngành than là ngành công nghiệp khai thác mỏ lớn nhất, trong đó Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam là nhà sản xuất than chính, chiếm khoảng 92% tổng sản lượng than khai thác hàng năm của toàn ngành Cho đến nay, than vẫn đang là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta Xuất khẩu than phát triển sẽ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành than và trong toàn bộ nền kinh tế

Thứ nhất, xuất khẩu than tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản

phẩm Ví dụ như những chủng loại than trong nước có khả năng sản xuất khai thác nhưng nhu cầu tiêu thụ nội địa không có hoặc không cao, khi ấy xuất

Trang 26

khẩu sẽ là một biện pháp hữu hiệu không những làm tăng thu ngoại tệ mà còn

mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định

Thứ hai, thông qua xuất khẩu, than Việt Nam sẽ được tham gia vào cuộc

cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu than phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị, sản xuất, kinh doanh để thích nghi với môi trường quốc tế Đồng thời tăng cường vào đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật để có thể khai thác, chế biến được nhiều chủng loại than với chất lượng tốt thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cả trong nước và quốc tế

Thứ ba, xuất khẩu than còn tạo điều kiện giúp các ngành dịch vụ thương

mại quốc tế như vận tải, thanh toán và xúc tiến thương mại phát triển

Như vậy, xuất khẩu than sẽ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng quy mô sản xuất của các ngành nghề khác, thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế

Nhìn chung, xuất khẩu than có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng Tăng cường hiệu quả xuất khẩu than, một mặt hàng chủ lực của quốc gia được coi

là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước

3.2 Lợi ích của xuất khẩu than đối với các doanh nghiệp thuộc ngành than

Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu là vì mục đích lợi nhuận Đối với những doanh nghiệp xuất khẩu than, đặc biệt là

Tổ chức có tiềm năng sản xuất lớn như Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, trong khi nhu cầu tiêu dùng nội địa còn hạn chế thì việc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài có một vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Xuất khẩu than đem lại lợi ích nhiều hơn các doanh nghiệp:

Trên thực tế các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp lớn như TKV thường thực hiện kinh doanh xuất khẩu và cả buôn bán trong nước trong

Trang 27

đó doanh thu từ xuất khẩu chiếm phần lớn Lợi nhuận thu được từ xuất khẩu than không những dùng để tích luỹ, tái đầu tư phát triển các ngành kinh doanh khác mà còn dùng để bù lỗ cho buôn bán nội địa Sự khác biệt về giá bán than trong nước và nước ngoài, chính sách của nhà nước với mặt hàng chiến lược này của quốc gia, cũng như chủng loại than tiêu thụ trong nước và nước ngoài khác nhau đã khiến cho lợi nhuận xuất khẩu than thường chiếm phần nhiều so với lợi nhuận thu từ trong nước và là bộ phận quan trọng trong tổng lợi nhuận của ngành than nói chung

Xuất khẩu than giúp các doanh nghiệp tận dụng được khả năng dư thừa:

Thực tế, nếu như không xuất khẩu than, hoặc không có chính sách xuất khẩu than hợp lý thì hàng năm một lượng lớn than có chất lượng cao, công nghệ trong nước chưa thích hợp để sử dụng sẽ bị lãng phí và gây tổn thất nghiêm trọng cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu than Không như các mặt hàng khác có thể tái tạo, lưu trữ trong thời gian dài, than là nguồn tài nguyên không thể tái tạo và khai thác xong thường phải tiêu thụ ngay Và như vậy, lượng than trong nước chưa dùng này nếu được xuất khẩu sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho các doanh nghiệp và cho ngành than

Xuất khẩu than giúp các doanh nghiệp phân tán rủi ro:

Hoạt động kinh doanh luôn chứa đựng những rủi ro như rủi ro khách hàng đã ký hợp đồng nhưng không nhận hàng, rủi ro trong thanh toán, trong giao hàng Bằng cách mở rộng thị trường ra nước ngoài nhà sản xuất, xuất khẩu có thể phân tán được các rủi ro trong kinh doanh, tối thiểu hoá sự biến động về nhu cầu, và trong nhiều trường hợp, xuất khẩu giúp doanh nghiệp bù

lỗ cho kinh doanh trong nước, giải quyết vấn đề tài chính vốn là một trong những vấn đề nan giải của nhiều doanh nghiệp Theo TKV, hàng năm sản lượng than xuất khẩu luôn vượt chỉ tiêu so với kế hoạch đã đề ra, một phần do

hộ tiêu thụ than trong nước như xi măng, hóa chất không mua hết sản lượng than đã ký kết trong hợp đồng Và như vậy, lượng than dôi ra này sẽ được

Trang 28

TKV điều phối, thực hiện xuất khẩu Xuất khẩu than đã giúp cho TKV cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu than khác phân tán được rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng.

Xuất khẩu than tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhập khẩu máy móc

thiết bị công nghệ hiện đại để phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh:

Rõ ràng là khi hoạt động xuất khẩu than được đẩy mạnh, lợi nhuận thu được từ xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp tiếp tục tái đầu

tư, mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường đổi mới công nghệ, trang thiết bị Đến lượt mình, việc đổi mới này lại giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, đa dạng hoá chủng loại than, và than thương phẩm bán ra sẽ có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên cả thị trường trong nước và quốc tế Hiện nay, nhu cầu về loại than chất lượng cao, ít gây ô nhiễm môi trường ngày một lớn Do

đó, hoạt động đầu tư, đổi mới công nghệ là một việc làm thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu này của thế giới

II TỔNG QUAN NGÀNH THAN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn về

cả chính trị và kinh tế Hòa bình, ổn định và hợp tác để cùng phát triển đã trở thành đòi hỏi cấp thiết của mọi quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu hướng tất yếu, nó như một dòng chảy mạnh dần lên và người ta chỉ có cách lựa chọn là hòa nhập vào

nó chứ không thể ngăn cản nó Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế khách quan đó Quan điểm mở rộng quan hệ kinh tế, hoạt động ngoại thương

đã trở thành quan điểm xuyên suốt và chỉ đạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam

Đứng trước tiến trình hội nhập tất yếu này, ngành than Việt Nam cũng đang hết sức nỗ lực để đưa thương hiệu than Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường quốc tế

Trang 29

1 Lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu than

Khái niệm lợi thế so sánh đóng một vai trò hết sức quan trọng trong học thuyết thương mại quốc tế hiện đại Người đầu tiên đề cập tới lợi thế so sánh

là Robert Torren vào năm 1815 khi ông có một bài viết về việc trao đổi ngũ cốc giữa Anh và Ba Lan Ông rút ra kết luận là người Anh vẫn có lợi khi xuất khẩu hàng hóa sang Ba Lan để đổi lấy ngũ cốc, cho dù họ có thể sản xuất với ngũ cốc với chi phí thấp hơn Ba Lan Tuy nhiên, người có đóng góp lớn nhất cho lý thuyết về lợi thế so sánh chính là David Ricardo (1772 – 1823) khi ông đưa ra những giải thích mang tính hệ thống hơn Lý thuyết ông đưa ra xác định những cái lợi của thương mại bằng cách chứng minh rằng trao đổi với những sự chuyên môn hóa mà nó tạo nên, đem lại lợi ích cho tất cả những người cùng trao đổi với nhau Mỗi nền kinh tế địa phương ắt sẽ có lợi trong việc chuyên môn hóa trong một hay một số khu vực có lợi thế so sánh cho dù

đó là nguồn nhân công dồi dào hay rẻ tiền, hay là tài nguyên khoáng sản và các tiềm năng về năng lượng như than đá, dầu mỏ… Nhìn chung, lý thuyết lợi thế so sánh chỉ ra mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất

và xuất khẩu vào những hàng hóa mà mình có thể xuất khẩu với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả so với nước khác) Nói theo một cách khác một bên (quốc gia, khu vực, cá nhân) được coi là có lợi thế so sánh hơn bên kia trong việc sản xuất một sản phẩm nếu họ có thể sản xuất sản phẩm đó với chi phí cơ hội thấp hơn Như vậy, với nguồn tài nguyên dồi dào, điều kiện thuận lợi về địa lý, giá nhân công, cước phí vận tải… Việt Nam cũng là một nước xuất khẩu than có nhiều lợi thế so sánh với nhiều nhà cung cấp khác trên thế giới về mặt hàng này

1.1 Về giá nhân công

Với một thị trường đầy tiềm năng và giá nhân công rẻ, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong việc xuất khẩu than – Một ngành đòi hỏi phải có lực lượng lao động lớn Ước tính ngành Than Việt Nam có khoảng 12 vạn lao động Hơn nữa, giá nhân công ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với giá nhân công của các nước trong khu vực Giá nhân công của Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Thái

Trang 30

Lan, bằng 1/30 của Đài Loan, bằng 1/20 của Singapore Giá nhân công rẻ và lực lượng lao động dồi dào đóng một vai trò quan trọng trong việc cắt giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh về giá của sản phẩm than trên thị trường thế giới

1.2 Vị trí địa lý

Việt Nam nằm trên đường hàng không và hàng hải quốc tế quan trọng

Hệ thống cảng biển là cửa ngõ không những cho nền kinh tế Việt Nam mà cho cả các quốc gia lân cận Nó tạo khả năng cho Việt Nam việc phát triển trung chuyển, tái xuất khẩu, và chuyển khẩu hàng hoá Đồng thời đây cũng là một lợi thế lớn của Việt Nam trong xuất khẩu than Các vùng than lớn của Việt Nam rất gần với các đường biển quốc tế, đồng thời cũng có nhiều cảng thuận lợi cho việc bốc dỡ than Khác với những lợi thế hữu hình kể trên, lợi thế vô hình này đối với xuất khẩu than của Việt Nam không cân đo đong đếm được Nhưng nếu biết tận dụng hợp lý lợi thế này, hoạt động xuất khẩu than

sẽ đạt được những hiệu quả to lớn

Hiện nay, Quảng Ninh đang là địa phương khai thác và sản xuất than chủ yếu của ngành than Việt Nam Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ, trên đó có mạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn vẫn đang ngày càng được mở rộng và phát triển Quảng Ninh giữ vai trò cửa mở lớn ra biển cho cả nước ở phía Bắc (cho cả các tỉnh Tây - Nam Trung Quốc

và Bắc Lào) để chuyển tải hàng hóa xuất nhập khẩu, đẩy mạnh giao lưu kinh

tế với các vùng trong và ngoài nước, đồng thời còn có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng hải và hàng không với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á và thế giới Đây là ưu thế đặc biệt của tỉnh Quảng Ninh, nhờ đó tạo điều kiện cho phát triển ngành than tại khu vực này

1.3 Về cước phí vận tải

Việt Nam có lợi thế hơn về mặt vị trí địa lý so với một số nước xuất khẩu than lớn như Nam Phi và Úc So với những nước này, Việt Nam ở gần những thị trường tiêu thụ than lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ… Mặt khác, do than đá Việt Nam chuyển chở qua các nước chủ yếu bằng đường

Trang 31

biển nên cước phí vận tải rẻ hơn nhiều so với đường bộ, đường sắt … Sự thuận lợi về mặt vị trí địa lý đã dẫn đến những thuận lợi trong việc chuyên chở, vận tải hàng hoá, khiến cước phí vận tải thấp hơn đáng kể so với cước phí vận tải của các đối thủ cạnh tranh lớn

1.4 Chất lượng sản phẩm than

Than Antraxit Việt Nam với chất lượng tốt, không khói, hàm lượng lưu huỳnh, nitơ thấp, ít gây ô nhiễm môi trường Đây là loại than xếp đầu bảng về hàm lượng cacbon và nhiệt năng nổi tiếng trên thế giới Hơn 30 năm qua, nhất là trong 10 năm trở lại đây, than Antraxit của Việt Nam đã xuất khẩu sang nhiều nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Anh, Pháp, Bungari… Antraxit đã và đang tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường than thế giới đặc biệt với vai trò là nguồn nguyên liệu thay thế cho than cốc trong một số mục đích sử dụng nhất định

Sản xuất Antraxit tại các nước châu Âu cũng như Nam Phi, Hoa Kỳ trong dài hạn sẽ giảm xuống Khai thác loại than này ở châu Âu hiện nay chỉ còn lại 3 nước: Đức, Tây Ban Nha, Anh Vì vậy, Việt Nam và Trung Quốc được cho là hai nhà cung cấp Antraxit trong tương lai cho thị trường châu Âu như là một đối trọng của Nga

Những lợi thế kể trên đã giúp cho giá thành của sản phẩm than Việt Nam thấp hơn nhiều so với giá than của nhiều nhà xuất khẩu lớn khác trên thế giới Xuất khẩu than Việt Nam ra thị trường thế giới đã có được nguồn sức sống mới Sức cạnh tranh của sản phẩm ngày càng được tăng cao Năm 2004 cho đến nay, từ vị trí thứ 2, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu than Antraxit lớn nhất thế giới Điều này là một minh chứng sống động cho khả năng cạnh tranh của than Việt Nam trên thị trường thế giới

2 Những cơ hội và thách thức chính đối với nghành than Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển mà còn đem lại không ít những thách thức

Trang 32

2.1 Những cơ hội

Từ việc phân tích về tình hình than trên thế giới trong những năm tới, ta

có thể nhận thấy cơ hội phát triển cho than Việt Nam là rất lớn Đó là:

Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã giúp ngành than Việt

Nam mở rộng thị trường xuất khẩu của mình ra các nước trên thế giới Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO, nhờ đó chúng ta khắc phục được tình trạng bị phân biệt và được hưởng nhiều ưu đãi trong hoạt động thương mại với các nước Ngoài ra, dòng vốn FDI

đổ vào Việt Nam đang tăng lên một cách đáng kể Đảng và Nhà nước cũng đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh so với những năm trước Kinh doanh khoáng sản nhờ đó đang khá hấp dẫn các nhà đầu tư và các thương nhân trong nước cũng như trên thế giới

Thứ hai, hội nhập mang lại cho ngành than cơ hội trong việc tiếp nhận

vốn và công nghệ mới Việc tiếp nhận các công nghệ mới góp phần quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm than Việt Nam trên thị trường quốc tế Ngoài ra, hội nhập cũng là con đường ngắn nhất để than Việt Nam khai thông thị trường trong nước của mình với khu vực và trên thế giới, tạo được môi trường đầu tư có hiệu quả và hấp dẫn

Thứ ba, nhu cầu than trên thế giới đang tiếp tục tăng nhanh chóng, cầu về

than luôn lớn hơn cung Một lý do rất quan trọng đó là từ năm 2004, giá dầu trên thế giới bắt đầu tăng cao với tốc độ chóng mặt dẫn đến các quốc gia buộc phải tìm nguồn năng lượng mới thay thế Nhu cầu về than ở thị trường nước ngoài liên tục tăng do đây là nguồn nhiên liệu có thể thay thế dầu mỏ với giá rẻ hơn nhiều loại nhiên liệu khác Nhu cầu về than đặc biệt tăng mạnh ở các quốc gia như Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Indonesia … vì than là nguồn nhiên liệu chính trong các nhà máy phát điện và luyện cán thép Mà hầu hết những thị trường này

đã được than Việt Nam thâm nhập thành công Đây thực sự là cơ hội lớn cho hoạt động xuất khẩu than của ngành than Việt Nam, giúp hoạt động xuất khẩu có thể đạt được những bước tiến mạnh về kim ngạch than xuất khẩu

Trang 33

Thứ tư, các nước xuất khẩu than lớn trên thế giới như Trung Quốc,

Indonesia hiện cũng đang cắt giảm mạnh lượng than xuất khẩu Điều này càng tạo thêm chỗ đứng cho than Việt Nam trên thị trường thế giới

Thứ năm, nhà sản xuất than chính của Việt Nam - Tập đoàn Công nghiệp

Than – Khoáng sản Việt Nam là một Tập đoàn lớn và đã tạo được uy tín trên một số thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu… Trong

đó, Nhật Bản và Tây Âu có thể nói là hai thị trường khó tính nhất thế giới Việc thâm nhập thành công hai thị trường này sẽ tạo dựng được uy tín của TKV trên thị trường than thế giới, từ đó Tập đoàn sẽ dễ dàng thâm nhập các thị trường khác hơn

2.2 Những thách thức

Thứ nhất, tuy nhu cầu về nhập khẩu tăng nhưng những yêu cầu về chất

lượng, chạy đua về giá cả và dịch vụ khách hàng cũng sẽ gay gắt hơn Dự báo trong những năm tới sẽ có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về các dịch vụ đi kèm và chất lượng than giữa các nước xuất khẩu than nhằm đạt được mức giá bán cao nhất dựa trên số lượng than xuất khẩu bị hạn chế do quy định của Chính phủ Việt Nam và nhiều nước xuất khẩu than khác

Thứ hai, nhu cầu về chủng loại than của khách hàng nước ngoài không

cân đối với nguồn than mà TKV khai thác được Ví dụ như than cám 8, 9 yêu cầu nhiều cho xuất khẩu cũng là loại than cần để cấp cho hoạt động sản xuất

xi măng trong nước Cám 4, 5 cần cho ngành điện đồng thời cũng là loại than

mà nước ngoài có nhu cầu nhập khẩu Trong khi đó, Chính phủ đã có yêu cầu ngành than phải cắt giảm sản lượng xuất khẩu xuống mức tối ưu trong thời gian tới Điều đó buộc TKV cần có những tính toán hết sức kỹ lưỡng trong hoạt động khai thác và xuất khẩu của mình

Trang 34

Thứ ba, thuế xuất khẩu than đá liên tục tăng trong những năm gần đây

Năm 2006, Bộ Tài chính đưa ra quyết định số 67/2006/QĐ - BTC về việc sửa đổi, bổ sung thuế xuất khẩu một số nhóm mặt hàng, trong đó có mặt hàng than, nhằm hạn chế việc xuất khẩu những chủng loại hàng này Theo đó, đầu năm 2007, thuế xuất khẩu than đã được nâng lên từ 0% lên 10% Đầu năm

2008, theo Quyết định số 17/2008/QĐ - BTC của Bộ Tài chính, thuế xuất khẩu than đá tiếp tục được điều chỉnh lên mức 15% thay cho mức 10% áp dụng cho năm 2007 Ngay sau đó, Bộ Tài chính lại ban hành Quyết định số 35/2008/QĐ - BTC về việc sửa đổi mức thuế xuất khẩu với một số mặt hàng trong biểu thuế xuất khẩu bao gồm cả mặt hàng than đá Theo đó, thuế xuất khẩu than đá áp dụng cho các tờ khai hải quan từ ngày 16/06/2008 là 20% Đây thực sự là thách thức rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu than hiện nay

Vì vậy, ngành than cần có những bước đi đúng đắn để nâng cao hiệu quả xuất khẩu trong bối cảnh chịu nhiều tác động của thuế xuất khẩu

Thứ tư, nhu cầu than trên thế giới ngày càng tăng cao, trong khi khả năng

tăng sản lượng của ngành than còn hạn chế do điều kiện khai thác ngày càng khó khăn vì các mỏ lớn ngày càng phải xuống sâu và xa hơn Mặt khác, trong tương lai, nhu cầu sử dụng than sạch trên thế giới sẽ tăng cao trong khi hoạt động khai thác than của Việt Nam vẫn theo phương thức truyền thống gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả thấp, chất lượng than chưa cao Như vậy, vấn đề công nghệ khai thác và chế biến than đang là một vấn đề đáng quan tâm của ngành than nói chung trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trên đây là một số cơ hội và thách thức mà hội nhập mang đến cho ngành than Việt Nam Để có thể tận dụng được những thuận lợi và vượt qua những khó khăn mà quá trình hội nhập mang lại thì ngành than Việt Nam không còn cách nào khác là phải có những bước đi đúng đắn, thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới

Trang 35

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định hội nhập là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất kỳ ngành nghề và quốc gia nào trên thế giới Nếu đứng ngoài xu thế ấy thì thách thức đối với sự phát triển của một quốc gia sẽ còn to lớn hơn nhiều

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THAN CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP

THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn

Ngành công nghiệp than ra đời từ rất sớm dưới triều nhà Nguyễn (1802)

và nó trở thành ngành công nghiệp khai thác khoáng sản thật sự khi thực dân Pháp cưỡng chế triều Nguyễn năm 1885 Một sự kiện hết sức quan trọng đối với ngành than đó là vào năm 1936, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương và Công hội đỏ, hơn 3 vạn thợ mỏ vùng than Cẩm Phả - Hòn Gai đã tổ chức bãi công thắng lợi, đánh dấu mốc son chói lọi trong trang sử hào hùng đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng vùng mỏ, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc giành lại quyền độc lập tự do cho Tổ Quốc Từ năm 1955, ngành than bắt đầu được Nhà nước tiếp quản Hơn nửa thế kỷ đi qua, ngành than đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, đặc biệt là thời kỳ bước vào công cuộc đổi mới đất nước và những năm đầu thập kỷ 90 Ngành than phải đối mặt rất nhiều khó khăn thử thách như: nạn khai thác than trái phép phát triển tràn lan, người người làm than, nhà nhà làm than, các cơ quan cũng đua nhau làm than, tranh nhau mua bán để kiếm lời, dẫn tới tài nguyên và môi trường vùng mỏ bị huỷ hoại nghiêm trọng, trật

tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp Do thiếu sự tổ chức cũng như quản lý thống nhất của nhà nước đã đẩy các công ty than chính thống vào tình thế phải thu hẹp sản xuất, giảm đào lò, công nhân thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khó khăn, ngành than lâm vào khủng hoảng và suy thoái nghiêm trọng

Trang 37

Trước thực trạng đó, ngày 10/10/1994, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 563/TTg thành lập Tổng công ty Than Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại các doanh nghiệp trực thuộc Bộ năng lượng, các công ty than trực thuộc tỉnh Quảng Ninh và công ty Đông Bắc trực thuộc Bộ Quốc phòng Sự ra đời đó đã tạo cho ngành than cơ sở để chỉnh đốn lại đội ngũ, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Sau một thời gian chuẩn bị, Tổng công ty Than Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995

Nhiệm vụ chính mà Đảng và Chính phủ giao cho Tổng công ty than là:

Lập lại trật tự trong khai thác và kinh doanh than

Thoả mãn các nhu cầu về than trong nền kinh tế; Phát triển các ngành

nghề khác trên nền công nghiệp than một cách có hiệu quả để giải quyết việc làm cho người lao động

Trải qua 11 năm phấn đấu, với những kết quả đạt được và mô hình quản

lý hợp lý của Tổng công ty, ngày 8/8/2005 Thủ tướng chính phủ có quyết định số 1998 phê duyệt Đề án của Tổng công ty và Quyết định số 199 thành lập công ty mẹ - Tập đoàn Than Việt Nam Ngay sau đó, ngày 26/12/2005, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 345/2005/QĐ-TTg thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và chuyển Tổng công ty khoáng sản Việt Nam thành công ty con trực thuộc Tập đoàn Tính đến đầu năm 2008, Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam có 55 công ty con, 3 trường đào tạo và 4 công ty liên kết Trong 55 đơn vị của Tập đoàn có

20 công ty khai thác và chế biến than Trong đó có 7 công ty khai thác lộ thiên và 13 công ty khai thác hầm lò

Dưới đây là một vài thông tin chính về Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam hiện nay:

Tên gọi đầy đủ: Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

(viết tắt là TKV)

Trang 38

Tên giao dịch quốc tế: VietNam National Coal, Mineral Industries

Group, viết tắt là VINACOMIN (VCM)

Trụ sở chính: 226 Lê Duẩn - Đống Đa - Hà Nội

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân, có con dấu, biểu tượng, có điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước, ngân hàng theo quy định của pháp luật; được tự chủ kinh doanh, có chức năng đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, tài nguyên khoáng sản được nhà nước quản lý, công nghệ, thương hiệu và thị trường

Nhìn lại toàn cảnh ngành than Việt Nam sau hơn 10 năm đổi mới, ngành than Việt Nam đã vượt qua được cuộc khủng hoảng, ổn định và phát triển TKV đã đạt được kết quả đột phá về sản lượng khai thác và tiêu thụ, tiếp cận được thị trường tài chính, tín dụng trong nước và quốc tế, đã bảo toàn được vốn kinh doanh Môi trường vùng mỏ, điều kiện làm việc từ đó cũng từng bước được cải thiện, đời sống thợ mỏ ngày càng ổn định và nâng cao

2 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam được tổ chức theo

mô hình của một Tập đoàn Kinh tế hiện đại, hoạt động chuyên môn hóa theo

9 khối kinh doanh Các khối kinh doanh quản lý một cách toàn diện các hoạt động kinh doanh trong khối Riêng việc ban hành định mức, đơn giá thì giám đốc các khối kinh doanh chịu trách nhiệm soạn thảo Phó tổng giám đốc phụ trách lĩnh vực chỉ đạo thẩm định và phê duyệt

Cơ quan quản lý đồng thời cũng là cơ quan có toàn quyền quyết định nhân danh Tập đoàn là Hội đồng quản trị Ngoài ra Tập đoàn còn bao gồm: Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Ban kiểm soát Tổng giám đốc điều hành phối hợp kinh doanh của Tập đoàn, các công ty con thông qua sự phối hợp công tác của các Phó tổng giám đốc Mỗi Phó tổng giám đốc điều hành

Trang 39

trực tiếp một khối kinh doanh Các ban, phòng ban hay các chuyên viên được phân công có trách nhiệm tham mưu, giúp đỡ Phó tổng giám đốc thực hiện tốt

kế hoạch phối hợp kinh doanh của cả Tập đoàn Các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Trợ lý giám đốc chủ động điều hành, giải quyết công việc được phân công một cách đồng bộ, toàn diện và có hệ thống; chủ động báo cáo tình hình và xin ý kiến Tổng giám đốc; chủ động quan hệ với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, Ngành, Địa phương, các tổ chức quốc

tế, các đối tác, bạn hàng, khách hàng ở trong nước và nước ngoài để giải quyết công việc

Các Phó tổng giám đốc được quyền nhân danh Tổng giám đốc, sử dụng quyền hạn của Tổng giám đốc để điều hành, giải quyết công việc trong phạm

vi được phân công Các Phó tổng giám đốc được Tổng giám đốc ủy quyền ký kết các hợp đồng kinh tế, điều hành tài khoản, ký các tờ trình và báo cáo Hội đồng quản trị Tập đoàn trong lĩnh vực được phân công quản lý, điều hành Các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Trợ lý tổng giám đốc chủ dộng phối hợp với nhau để giải quyết công việc có liên quan, nếu không giải quyết được thì báo cáo Tổng giám đốc để cùng giải quyết Tổng giám đốc sẽ can thiệp giải quyết công việc có dấu hiệu bị chậm trễ, đình trệ, không đảm bảo tiến độ và mục tiêu đã đề ra

Trang 40

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA TKV

(Nguồn: Website chính thức wwww.vinacomin.vn của Tập đoàn)

Ngày đăng: 03/09/2015, 18:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 - Khối lượng than tiêu thụ của các hộ lớn từ 2001-2007 : - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2 Khối lượng than tiêu thụ của các hộ lớn từ 2001-2007 : (Trang 23)
Bảng 3 – Sản lượng và giá trị xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2007: - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3 – Sản lượng và giá trị xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2007: (Trang 50)
Hình 1 – Sản lượng than xuất khẩu của TKV giai đoạn 2001 -2007: - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Hình 1 – Sản lượng than xuất khẩu của TKV giai đoạn 2001 -2007: (Trang 52)
Bảng 4 – Thị trường xuất khẩu của TKV giai đoạn 2001 -2007: - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 4 – Thị trường xuất khẩu của TKV giai đoạn 2001 -2007: (Trang 54)
Bảng 5 - Cơ cấu mặt hàng than XK của TKV giai đoạn 2001 – 2007: - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 5 Cơ cấu mặt hàng than XK của TKV giai đoạn 2001 – 2007: (Trang 58)
Bảng 6 - So sánh giá than xuất khẩu và giá than nội địa bình quân: - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 6 So sánh giá than xuất khẩu và giá than nội địa bình quân: (Trang 60)
Bảng 7 – Kim ngạch xuất khẩu than của TKV/Tổng kim ngạch xuất khẩu - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 7 – Kim ngạch xuất khẩu than của TKV/Tổng kim ngạch xuất khẩu (Trang 63)
Hình 3 – Biểu đồ về tiêu thụ các nguồn năng lượng của  thế giới - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Hình 3 – Biểu đồ về tiêu thụ các nguồn năng lượng của thế giới (Trang 76)
Bảng 8 – Dự kiến nhu cầu than tiêu thụ của các hộ trong nước: - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 8 – Dự kiến nhu cầu than tiêu thụ của các hộ trong nước: (Trang 77)
Bảng 10 – Nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2025 : - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 10 – Nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2025 : (Trang 81)
Bảng 11 – Dự báo nhu cầu tiêu thụ than trong nước và khả năng - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu than và tập đoàn công nghiệp thanh   khoáng sản việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 11 – Dự báo nhu cầu tiêu thụ than trong nước và khả năng (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w