Đối với môn Vật lý bài tâp đóng vai trò là nội dung, là phương tiện để chuyển tải kiến thức, rèn luyện tư duy và kĩ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất, là một trong những phươn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN QUỐC ÂN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG “CƠ SỞ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC” VẬT LÝ 10
NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN QUỐC ÂN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG “CƠ SỞ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC” VẬT LÝ 10
NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Huy Sinh
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi
đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, các cán bộ phụ trách và bạn bè, những người thân của tôi. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng toàn thể các thầy
cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trưởng thành trong quá trình học tập tại trường, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn. GS.TS Nguyễn Huy Sinh, người thầy đáng kính đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và quá trình thực hiện đề tài.
Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Vật lí tại trường THPT Ngô Quyền Thành phố Hải Phòng, nơi tôi công tác đã cộng tác, động viên giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều trong thời gian thực nghiệm sư phạm tại trường.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè tôi
đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐC : Đối chứng
GD : Giáo dục
GV : Giáo viên
HS : Học sinh HSG : Học sinh giỏi NĐLH : Nhiệt động lực học THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình Error! Bookmark not defined. MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG THPT 5
1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1. Vài nét lịch sử về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi trên thế giới và ở nước ta 5
1.1.2.Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua tìm hiểu năng lực và phẩm chất của học sinh giỏi 8
1.1.3. Cơ sở lý luận về dạy và học bài tập Vật lí ở trường THPT 11
1.1.4. Những vấn đề cơ bản về phương pháp dạy bài tập vật lí ở trường THPT 16
1.2. Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động dạy giải bài tập nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở các trường THPT Thành phố Hải Phòng. 28
1.2.2. Thực trạng hoạt động dạy giải bài tập nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở các trường THPT thành phố Hải Phòng. 29
Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG “CƠ SỞ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC” VẬT LÝ 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI 32
2.1. Vị trí, vai trò và cấu trúc của chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” 32
2.1.1 Vị trí chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” 32
2.1.2 Vai trò các kiến thức của chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” 33
2.1.3 Cấu trúc nội dung chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” 34
Trang 634
2.2.1.Các khái niệm cơ bản 34
2.2.2. Các nguyên lí NĐLH 43
2.2.3. Những hạn chế của nguyên lý I đòi hỏi sự ra đời của nguyên lý II 49
2.3 Xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” vật lí lớp 10 chương trình nâng cao nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi 56
2.3.1. Chủ đề 1: Áp dụng nguyên lý I tính các đại lượng E Q A, , trong các quá trình nhiệt động. 57
2.3.2. Chủ đề 2: Kết hợp nguyên lý I với áp dụng nguyên lí II của nhiệt động lực học để tính các đại lượng liên quan đến các máy nhiệt. 72
2.3.3. Chủ đề 3: Bài tập nâng cao cho toàn chương(Tính các đại lượng NĐLH - vẽ và phân tích đồ thị). 83
Tiểu kết chương 2 102
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 103
3.1. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp của TN sư phạm 103
3.1.1. Mục đích của TN sư phạm 103
3.1.2. Nhiệm vụ của TN sư phạm 103
3.1.3. Đối tượng TN sư phạm 104
3.2. Tiến hành TN 104
3.3. Kết quả và xử lý kết quả 105
3.3.1. Xây dựng tiêu chí đánh giá 105
3.3.2. Nhận xét chung về mặt định tính 106
3.3.3. Phân tích các kết quả về mặt định lượng 106
3.4. Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 110
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Phân phối chương trình giảng dạy chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” vật lý 10 THPT chương trình nâng cao 32 Bảng 2.2. Áp dụng nguyên lý I cho các quá trình nhiệt động của khí lý tưởng 48 Bảng 3.1. Thông tin về các nhóm học sinh tham gia quá trình TN sư phạm 104 Bảng 3.2: Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 108 Bảng 3.3: Tổng hợp các tham số đặc trưng kiểm tra 110
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kì mới, thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Mọi nghành nghề đều có những bước thay đổi đáng kể.Trong không khí hội nhập sâu rộng vào vào WTO, ngành giáo dục đang tích cực từng bước đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục nâng cao chất lượng quản lý dạy bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nhằm hoàn thành mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh…” 8 Để đạt được mục tiêu đề ra hội nghị cũng chỉ rõ” tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”.
Trong thời đại khoa học và công nghệ ngày nay, nhân lực có trình độ cao không chỉ là tiền đề mà còn là yếu tố có tính quyết định cho sự phát triển của một đất nước. Nếu có nguồn nhân lực tốt thì họ có thể cải tiến,phát minh
ra những máy móc, có phương pháp quản lý giúp cho năng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần. Tuy nhiên để tạo nguồn nhân lực có trình độ cao thì vấn đề phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng người tài có vai trò quan trọng và phải được thực hiện ngay ở trường phổ thông. Chính vì thế mà hầu như tất cả các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi trong chiến lược phát triển giáo dục phổ thông.
Trang 9Hiện nay ở các trường phổ thông coi công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
là mũi nhọn và trọng tâm. Nó có tác dụng thiết thực và mạnh mẽ làm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên,nâng cao chất lượng giáo dục và khẳng định thương hiệu của nhà trường. Với học sinh nó giúp các em có niềm đam mê, sự say sưa học tập và nghiên cứu, vươn lên để đạt nhũng đỉnh cao trong học tập.
Lý luận dạy học xem bài tập là một phương pháp dạy học cụ thể, nó được áp dụng phổ biến thường xuyên ở các cấp học, ở các loại hình học tập khác nhau và được áp dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học. Đối với môn Vật lý bài tâp đóng vai trò là nội dung, là phương tiện để chuyển tải kiến thức, rèn luyện tư duy và kĩ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất, là một trong những phương tiện cơ bản nhất để giảng dạy và học tập môn vật lý ở nhà trường THPT
Đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về bài tập vật lý,
đề cập tới nhiều mặt như: lí luận dạy học bài tập vật lý, phận loại và phương pháp giải bài tập vật lý, nghiên cứu các tiến trình dạy học bài tập vật lý….Đối với việc phân loại và phương pháp giải bài tập đã có nhiều tác giả nghiên cứu và phát hành thành sách tham khảo nhưng chủ yếu phục vụ trực tiếp cho sách giáo khoa và ôn luyện thi đại học, cao đẳng. Còn các tài liệu trình bày một cách hệ thống và phương pháp giải phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi còn rất ít. Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương
“Cơ sở của nhiệt động lực học” mới chỉ có các tác giả nghiên cứu cho đối
tượng là học sinh miền núi và đại trà.Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học
chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” vật lý lớp 12 nâng cao nhằm bồi
dưỡng học sinh giỏi”.
2 Mục đích nghiên cứu
-Xây dựng hệ thống bài tập chương “Cơ sở của nhiệt động lực học”
thuộc chương trình Vật lý lớp 10 nâng cao nhằm bồi dưỡng HS giỏi.
Trang 10-Thiết kế tiến trình dạy học các chương “Cơ sở của nhiệt động lực
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống bài tập chương “Cơ sở
của nhiệt động lực học” vật lý 10 nâng cao nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi.
5 Giả thuyết khoa học
-Cần đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
-Để giải quyết vấn đề cần phải xây dựng được một hệ thống bài tập phù hợp với kiến thức và trình độ học sinh nói chung. Mặt khác cần xây
dựng một hệ thống bài tập riêng phù hợp với chương “Cơ sở của nhiệt động
lực học” và sử dụng hệ thống bài tập đó vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi
nhằm phát huy năng lực sáng tạo, nâng cao kiến thức và hiệu quả các kì thi HSG.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học của đề tài :
Góp phần làm rõ thêm hệ thống cơ sở lý luận về việc bồi dưỡng và đào tạo học sinh giỏi ở nước ta và nhiều nước trên thế giới.
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :
Trang 11Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương: “Cơ sở của nhiệt động
lực học” Vật lý lớp 10 nâng cao nhằm cải thiện quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi ở trường THPT Ngô Quyền Thành phố Hải Phòng.
7 Các phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết : Nghiên cứu, ứng dụng các cơ sở lý luận về bồi dưỡng
HSG ở nước ta và một số nước khác.
Thực tiễn : Điều tra khảo sát hiện trạng trong qúa trình đào tạo và bồi dưỡng HSG ở trường THPT Ngô Quyền Thành phố Hải Phòng. Từ đó đánh giá và đưa ra nhận xét về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp thống kê toán học : Phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài và đưa ra kết luận.
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính luận văn được trình bày trong 3 chương:
Trang 12CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vài nét lịch sử về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi trên thế giới và ở nước ta
HSG có thể học bằng nhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các bạn cùng lớp vì thế cần có một chương trình HSG để phát triển và đáp ứng được tài năng của họ. Từ điển bách khoa Wikipedia trong mục Giáo dục HSG (gifted education) nêu lên các hình thức sau đây :
Lớp riêng biệt (Separate classes): HSG được rèn luyện trong một lớp hoặc một trường học riêng, thường gọi là lớp chuyên, lớp năng khiếu. Nhưng lớp hoặc trường chuyên (độc lập) này có nhiệm vụ hàng đầu là đáp ứng các đòi hỏi cho những HSG về lí thuyết (academically).
Phương pháp Mông-te-xơ-ri (Montessori method): Trong một lớp HS chia thành ba nhóm tuổi, nhà trường mang lại cho HS những cơ hội vượt lên
so với các bạn cùng nhóm tuổi.
Tăng gia tốc (Acceleration): Những HS xuất sắc xếp vào một lớp có trình độ cao với nhiều tài liệu tương ứng với khả năng của mỗi HS.
Trang 13Học tách rời (Pull-out) một phần thời gian theo lớp HSG, phần còn lại học lớp thường.
Làm giàu tri thức(Enrichment) toàn bộ thời gian HS học theo lớp bình thường, nhưng nhận tài liệu mở rộng để thử sức, tự học ở nhà.
Dạy ở nhà (Homeschooling) một nửa thời gian học tại nhà học lớp, nhóm, học có cố vấn (mentor) hoặc một thầy một trò (tutor) và không cần dạy.
Trường mùa hè (Summer school) bao gồm nhiều khóa học được tổ chức vào mùa hè.
Sở thích riêng (Hobby) một số môn thể thao như cờ vua được tổ chức dành để cho HS thử trí tuệ sau giờ học ở trường.
Tuy vậy, cũng có một số nước không có trường lớp chuyên cho HSG như Nhật Bản và một số bang của Hoa kỳ. Chẳng hạn: Từ 2001, với đạo luật
“Không một đứa trẻ nào bị bỏ rơi” (No Child Left Behind) giáo dục HSG ở Georgia về cơ bản bị phá bỏ. Nhiều trường không còn là trường riêng, lớp riêng cho HSG, với tư tưởng các HSG cần có trong các lớp bình thường nhằm giúp các trường lấp lỗ hổng về chất lượng và nhà trường có thể đáp ứng nhu cầu giáo dục HSG thông qua các nhóm và các khóa học với trình độ cao. Chính vì thế vấn đề bồi dưỡng HSG đã trở thành vấn đề thời sự gây nhiều tranh luận. Nhiều nhà GD đề nghị đưa HSG vào các lớp bình thường với nhiều HS có trình độ và khả năng khác nhau, với một phương pháp giáo dục như nhau.
Ở nước ta :
Ngay từ thời xa xưa dân tộc ta đã coi trọng việc học, bồi dưỡng nhân tài, nhân tài được tuyển chọn và trọng dụng thông qua các kì thi. Tinh thần đó được thể hiện rõ qua nhận định của nhà giáo Lê Quý Đôn : “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng ” muốn đất nước hưng thịnh phải nhờ vào trí thức, vào hiền tài.
Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy ngành giáo dục và đào tạo nước ta đã
có những chủ trương, biện pháp quan trọng phát hiện, bồi dưỡng nhân tài và đến nay đã thu được những kết quả nhất định. Nhiều tài năng trẻ đã được bồi dưỡng và phát triển nhanh chóng. Hằng năm số học sinh năm cuối của các
Trang 14trường trung học phổ thông khối năng khiếu thi đỗ đại học đạt tỷ lệ khoảng trên 90%. Khối trường, lớp chuyên đã có những đóng góp rất lớn trong việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Nhiều địa phương đã có những chính sách riêng khuyến học, khuyến tài, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút, trọng dụng nhân tài. Chẳng hạn, thành phố Hà Nội đã thông qua “Quy định tạm thời về ưu đãi, khuyến khích các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, người có cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô” và “Quy định tạm thời về thu hút, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao” Thành phố Đà Nẵng, tỉnh Bình Dương đã ban hành quy định chính sách đào tạo, thu hút nguồn nhân lực trình độ cao về công tác tại địa phương. Thành phố Hồ Chí Minh có chương trình đầu tư lớn cho “Vườn ươm tài năng”v.v…
Từ thực trạng nêu trên, để công tác đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ ở nước
ta đạt được kết quả cao hơn trong những năm sắp tới, Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành cần tập trung thực hiện tốt những định hướng cơ bản sau đây :
Một là, tạo cơ chế chính sách công bằng, thuận lợi để mọi tài năng trẻ đều nỗ lực phấn đấu trong học tập, lao động và cuộc sống, tích cực tham gia phát triển đất nước. Coi trọng việc sử dụng cán bộ trẻ có tài năng trên tất cả các lĩnh vực của hệ thống chính trị, xã hội.
Hai là , tăng cường quản lý nhà nước về công tác đào tạo bồi dưỡng tài năng trẻ. Xây dựng hệ thống chính sách tài năng trẻ, tạo khung pháp lý để đưa công tác quản lý nhà nước về vấn đề này ngày càng hiệu quả. Nghiên cứu đổi mới quy trình phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh từ mẫu giáo đến hết trung học phổ thông tạo nguồn tài năng trẻ dồi dào cho đất nước.
Ba là, phát triển mạng lưới các trường,lớp bồi dưỡng năng khiếu bậc phổ thông, đặc biệt là các trường trung học phổ thông chuyên ở các địa phương và ở một số Trường Đại học có uy tín, chất lượng. Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo và các chế độ, chính sách đối với các loại trường, lớp này.
Trang 15là vườn ươm đào tạo nhân tài cho đất nước.
Năm là, quan tâm tổng kết thực tiễn, kịp thời rút ra những bài học kinh nghiệm về thực thi chính sách tài năng trẻ.Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học về nhân tài, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng tài năng trẻ. Sáu là, tạo cơ chế, chính sách khuyến khích toàn xã hội tham gia vào việc phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ. Xã hội hóa công tác bồi dưỡng
và phát triển tài năng trẻ.
Bảy là, tạo cơ chế, chính sách thu hút nhân tài là người Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài về nước góp sức xây dựng tổ quốc và tham gia đào tạo nhân tài. Cho phép trí thức giỏi của Việt Nam có điều kiện thường xuyên giao lưu,học hỏi, làm việc với các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước.Có chính sách ưu đãi đối với các học sinh tài năng Việt Nam được du học nước ngoài bằng nhiều nguồn vốn.
Tóm lại, nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng tài năng trẻ ở nước
ta hiện nay đang là một đòi hỏi bức thiết, một trách nhiệm nặng nề và vinh dự lớn lao đối với các Trường Đại học, trung học nói riêng và toàn ngành giáo dục và đào tạo nói chung.
1.1.2.Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua tìm hiểu năng lực và phẩm chất của học sinh giỏi
1.1.2.1 Một số tiêu chuẩn và các bước phát hiện học sinh giỏi
Trong công tác phát hiện và tuyển chọn HSG cần chú ý đến những tiêu
chuẩn sau đây:
- Thông minh , trí tuệ : là những học sinh có năng lực tư duy tốt, hiểu biết và khá thông tuệ mọi vấn đề, có khả năng nhớ lâu, khả năng suy diễn , giải quyết xử lý tình huống linh hoạt hiệu quả cao .
- Khả năng sáng tạo: luôn có phát hiện mới mẻ độc đáo, luôn chủ động độc lập trong tư duy, có khả năng tự học và tự tìm tòi.
Trang 16sinh liên tục cả năm và nhiều năm đạt học sinh giỏi trong các kỳ thi thì đó chính là một căn cứ tin cậy và có thể có những khả năng phẩm chất của một học sinh có năng khiếu.
Bước 3: Tuyển chọn bằng cách trực tiếp phỏng vấn trao đổi đối với
từng cá nhân học sinh. Cách này mang lại hiệu quả khá cao bởi vì người dạy
sẽ phát hiện được những học trò thích và ham mê khoa học.
Bước 4: Kiểm tra đánh giá sau thời gian bồi dưỡng và tổ chức điều
chỉnh thành lớp đội tuyển. Bước này được coi là bước cuối cùng trong khâu tuyển chọn. Những học sinh có năng khiếu có thể được học tập và phát triển năng lực theo sở trường của mình, các em sẽ được học những tài liệu giáo trình nâng cao, chuyên sâu hơn .
Quá trình học bao gồm cả quá trình tự học : Tự học là điều kiện tốt nhất
để phát triển tư duy độc lập và cao hơn nữa là tư duy phát hiện rồi đến tư duy sáng tạo. Cho nên trong bồi dưỡng đội tuyển trước hết thầy giáo cần tạo cho học sinh tinh thần tự giác tự học.
1.1.2.2 Tìm hiểu năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi
Trang 17- Năng lực suy luận logic: biết phân tích sự vật và hiện tượng qua các
dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật, hiện tượng,biết cách tìm ra con đường ngắn nhất để đi đến kết luận cần thiết, biết xét đến đủ các điều kiện để đạt được kết luận mong muốn.
- Năng lực diễn đạt: biết diễn đạt chính xác điều mình mong muốn,
biết sử dụng thành thạo hệ thống ký hiệu quy ước để diễn tả chính xác vấn
đề, biết phân biệt thành thạo các kỹ năng viết và nói, biết sử dụng khái niệm trước mô tả cho khái niệm sau.
- Năng lực lao động sáng tạo: biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để
thiết kế một dãy hoạt động nhằm đạt đến kết quả mong muốn.
- Năng lực kiểm chứng: biết suy xét sự vật đúng sai từ một loạt các sự
kiện, biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nào đó
- Năng lực thực hành: biết thực hiện một số động tác dứt khoát trong
khi làm thí nghiệm, biết kiên nhẫn và kiên trì trong quá trình làm sáng tỏ một
số vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm hoặc có thể mở rộng hiểu biết lí thuyết thông qua thực hành.
Những phẩm chất và năng lực quan trọng nhất của một học sinh giỏi môn vật lí đó là:
- Có năng lực tư duy tốt và sáng tạo (biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có khả năng sử dụng các phương pháp: diễn dịch, quy nạp, loại suy…)
- Có kiến thức vật lí vững vàng, sâu sắc, hệ thống. Biết vận dụng linh hoạt,sáng tạo kiến thức cơ bản đó trong các tình huống mới.
- Có kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứu khoa học vật lí.
Như vậy đối với những giáo viên, khi đào tạo những học sinh có năng khiếu về môn vật lí, cần hướng học sinh học tập để được trang bị những kiến thức, kỹ năng, giúp các em tự học hỏi, tự sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực của mình.
Trang 181.1.3 Cơ sở lý luận về dạy và học bài tập Vật lí ở trường THPT
1.1.3.1 Bài tập vật lí và vai trò của nó trong dạy và học
Bài tập vật lí là những bài luyện tập được lựa chọn phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy vật lí của học sinh và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh vào thực tiễn.
Dạy giải bài tập vật lí là một phương pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học vật lí ở trường phổ thông.
Bài tập giúp cho việc ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức. Trong bài tập, học sinh phải vận dụng những kiến thức khái quát, trừu tượng đó vào những trường hợp cụ thể rất đa dạng, nhờ thế mà học sinh nắm được những biểu hiện
cụ thể của chúng trong thực tế. Bài tập giúp luyện tập cho học sinh phân tích
để nhận biết được những trường hợp phức tạp đó đồng thời là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động. Khi giải bài tập, học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng tổng hợp các kiến thức thuộc nhiều chương, nhiều phần của chương trình
Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn dắt đến kiến thức mới. Các bài tập nếu được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra.
Có thể xây dựng nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó học sinh phải biết vận dụng lý thuyết để giải thích hoặc dự đoán các hiện tượng xảy ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước.
Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh.Trong khi làm bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận rút ra được nên tư duy học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển.
Giải bài tập vật lý là một phương tiện có hiệu quả để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh. Tùy theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có
Trang 19thể phân loại được các mức độ nắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh được chính xác.
1.1.3.2 Phân loại bài tập vật lí
Có nhiều cách phân loại bài tập, tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng, tuỳ theo mức độ yêu cầu phát triển tư duy, tuỳ theo nội dung, theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải mà có thể phân loại bài tập theo nhiều cách khác nhau.
a. Phân loại theo phương thức giải
- Bài tập định tính:
Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải học sinh không cần thực hiện các phép tính phức tạp, cũng có thể tính nhẩm được. Muốn giải những bài tập định tính, học sinh phải thực hiện những phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật vật lý, nhận biết được những biểu hiện của chúng trong những trường hợp cụ thể. Bài tập định tính làm tăng sự hứng thú của học sinh đối với môn học, tạo điều kiện phát triển
óc quan sát ở học sinh, là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy của học sinh,
và dạy cho học sinh biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Bài tập định lượng:
Bài tập định lượng là loại bài tập mà khi giải học sinh phải thực hiện một loạt các phép tính để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giữa các đại lượng và kết quả thu được là một đáp định lượng. Có thể chia bài tập định lượng làm hai loại: bài tập tính toán tập dượt và bài tập tính toán tổng hợp. + Bài tập tính toán tập dượt: là loại bài tập tính toán đơn giản, trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản nhằm củng cố kiến thức cơ bản đồng thời làm cho học sinh hiểu rõ
ý nghĩa của các định luật và các công thức liên quan.
+ Bài tập tính toán tổng hợp: là loại bài tập mà khi giải phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, nhiều công thức. Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lý. Ngoài ra loại bài tập này còn có mục đích làm sáng tỏ nội dung của các định luật và các công thức. Giáo viên
Trang 20- Bài tập thí nghiệm:
Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập. Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản. Bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng. Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn.
- Bài tập đồ thị:
Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị. Bài tập đồ thị có tác dụng rèn luyện kĩ năng đọc, vẽ đồ thị, và mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng mô tả trong đồ thị.
b. Phân loại theo nội dung:
Dựa vào nội dung có thể chia bài tập theo các đề tài vật lý. Sự phân chia này mang tính qui ước vì bài tập có thể đề cập tới những kiến thức khác nhau trong chương trình vật lý. Theo nội dung, có thể phân biệt dạng bài tập
có nội dung trừu tượng, bài tập có nội dung cụ thể, bài tập có nội dung thực tế
và bài tập vui.
- Bài tập có nội dung trừu tượng: là dạng bài tập mà trong các điều
kiện của bài tập đã nêu bật được bản chất vật lý, những chi tiết không bản chất đã được lược bỏ.
- Bài tập có nội dung cụ thể: là dạng bài tập có tác dụng tập dượt cho
học sinh phân tích các hiện tượng cụ thể để làm rõ bản chất vật lý của nó.
- Bài tập có nội dung thực tế: là dạng bài tập có liên quan trực tiếp tới
đời sống, kỹ thuật, sản xuất và thực tế lao động của học sinh, nó có tác dụng rất lớn về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp.
Trang 21- Bài tập vui: là dạng bài tập có tác dụng làm giảm bớt sự khô khan,
mệt mỏi,ức chế ở học sinh, nó có thể tạo sự hứng thú đồng thời mang lại trí tuệ cao.
c. Phân loại theo yêu cầu rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy học sinh trong quá trình dạy học:
Có thể phân thành các dạng bài tập luyện tập, bài tập sáng tạo, bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế.
- Bài tập luyện tập: là dạng bài tập mà việc giải chúng không đòi hỏi
tư duy sáng tạo của học sinh, mà chỉ yêu cầu học sinh nắm vững cách giải đối với dạng bài tập đã được chỉ dẫn.
- Bài tập sáng tạo: trong loại bài tập này, ngoài việc phải vận dụng một
số kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập, mới mẻ.
- Bài tập nghiên cứu: là dạng bài tập trả lời những câu hỏi “tại sao”.
- Bài tập thiết kế: là dạng bài tập trả lời cho những câu hỏi “phải làm
như thế nào”
d. Phân loại theo hình thức làm bài:
- Bài tập tự luận: đó là những bài yêu cầu học sinh giải thích, tính toán
và hoàn thành theo một logic cụ thể. Nó bao gồm những dạng bài tập đã trình bày ở trên.
- Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập cho câu hỏi và đáp
án. Các đáp án có thể là đúng, gần đúng hoặc sai. Nhiệm vụ của học sinh là tìm ra câu trả lời đúng nhất, cũng có khi đó là những câu bỏ lửng yêu cầu điền vào những chỗ trống để có câu trả lời đúng. Bài tập loại này gồm:
Trang 22chất thực tế và kĩ thuật. Nội dung của nó phải thỏa mãn các yêu cầu:
- Nguyên tắc hoạt động kĩ thuật có trong bài tập phải liên quan mật thiết với những khái niệm và định luật vật lý đã học. Kĩ thuật này phải có ứng dụng khá rộng rãi trong thực tiễn sản xuất của nước ta hoặc địa phương nơi trường đóng.
- Số liệu trong bài tập phải phù hợp với thực tế và kết quả bài tập phải đáp ứng một vấn đề thực tiễn nào đó.
Bài tập luyện tập: được dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng các kiến thức đã học để giải từng loại bài tập theo mẫu xác định. Việc giải những bài tập loại này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh mà chủ yếu cho học sinh luyện tập để nằm vững cách giải đối với từng loại bài tập nhất định. Bài tập sáng tạo: là bài tập mà các dữ kiện đã cho trong đầu bài không chỉ dẫn trực tiếp hay gián tiếp cách giải. Các bài tập sáng tạo có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tính tự lực và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức chính xác, sâu sắc và mềm dẻo. Bài tập sáng tạo có thể là bài tập giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở các kiến thức đã biết.
Trang 23Hoặc là bài tập thiết kế, đòi hỏi thực hiện một hiện tượng thực, đáp ứng những yêu cầu đã cho.
b. Một số yêu cầu khi dạy bài tập vật lí.
Giáo viên phải dự tính được kế hoạch cho toàn bộ công việc về bài tập, với từng đề tài, từng tiết học cụ thể. Muốn làm được điều đó, cần:
- Lựa chọn và chuẩn bị một số bài tập nêu vấn đề để sử dụng trong tiết nghiên cứu tài liệu mới nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy học sinh.
- Lựa chọn và chuẩn bị một số bài tập để củng cố, bổ sung, hoàn thiện những kiến thức lí thuyết đã học, đồng thời cung cấp cho người học những hiểu biết về thực tế và kĩ thuật có liên quan với lí thuyết.
- Lựa chọn và chuẩn bị một số bài tập có thể kiểm tra, đánh giá chất lượng, kĩ năng kiến thức cụ thể hoặc từng phần của chương trình. Mục tiêu dạy học của bài tập thường bao gồm hình thức như sau (hoặc tương tự):
- Nhớ lại được định nghĩa, định luật. Trên cơ sở đó giải thích và mô tả được hiện tượng, so sánh mức độ giống và khác nhau của các sự kiện hoặc hiện tượng nào đó;
- Cần đánh giá được tầm quan trọng và ý nghĩa của một quá trình, một
sự kiện hay một hiện tượng được đề cập đến.
- Yêu cầu HS biết thực hiện hành động hay hành vi nào đó ở trình độ
và mức độ chính xác nhất định, đồng thời biết thể hiện ý thức và hoàn thành công việc với những tiêu chí cụ thể như lập kế hoạch, tổ chức, phát hiện, tra cứu, xử lí số liệu, đánh giá, phê phán, biện luận vv
1.1.4 Những vấn đề cơ bản về phương pháp dạy bài tập vật lí ở trường THPT 1.1.4.1 Giải bài tập vật lí là một quá trình tư duy
Trang 24của từng sự vật, hiện tượng vật lí riêng lẻ đến chỗ phát hiện quy thành một nhóm các sự vật,hiện tượng.
Khái quát hoá được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với thao tác trừu tượng hoá. Căn cứ vào một bản chất nào đó, thể tách từ tính chất chung thành tính chất riêng. Điều kiện cần thiết cho sự khái quát hoá đúng đắn là phân tích trong các ví dụ cụ thể các dấu hiệu có thể thay đổi, các dấu hiệu không bản chất đối với một hiện tượng hoặc một khái niệm nhất định. Trình
tự quá trình dạy học thường theo: Tri giác – biểu tượng – khái niệm (định luật). Khái niệm được trừu tượng hoá từ các đặc điểm và dấu hiệu đơn lẻ của các tri giác và biểu tượng. Do đó, nó là kết quả của khái quát hoá và biểu tượng hoá về nhiều hiện tượng và sự vật cùng loại.
Trong dạy học vật lí, việc cụ thể hoá được thực hiện trong quá trình áp dụng các khái niệm và định luật để giải các bài tập, đồng thời đưa các sự kiện, hiện tượng vật lí đơn lẻ vào khái niệm. Khái quát ban đầu càng trừu tượng thì
sự tiếp thu nó một cách đầy đủ càng đòi hỏi phải cụ thể hoá nhiều hơn.
Như vậy, giải bài tập vật lí thực chất là vận dụng các kiến thức khái quát đã có vào các tình huống cụ thể. Đó cũng là quá trình đi từ cái chung đến cái riêng.
b. Vấn đề tư duy giải bài tập vật lí.
Quá trình tư duy thường diễn ra như sau: cần phải nhận dạng bài tập mới trước khi giải.
-Những trường hợp các bài tập được đưa về dạng bài tập đã .Những HS thường nhận thức được và giải đúng
Trang 25Biểu diễn những mối liên hệ định lượng giữa các đại lượng vật lí đó là các công thức, phương trình đã được xác lập dựa trên các kiến thức vật lí và điều kiện cụ thể của bài tập. Đối với các bài tập tính toán định lượng thì đó chính là sự thiết lập các phương trình và giải hệ phương trình để tìm nghiệm
số của nó.
1.1.4.2 Phương pháp giải bài tập vật lí
Trong dạy học về bài tập vật lí, tiến trình hướng dẫn học sinh giải một bài tập vật lí nói chung, đều phải trải qua bốn bước sau :
Bước 1: Đọc đề bài, tìm hiểu đề bài:
Việc đọc kĩ đề bài giúp HS hiểu rõ vấn đề của bài tập và sơ bộ nhận
dạng được bài tập.Giai đoạn tìm hiểu đề bài bao gồm:
- Xác định ý nghĩa của các thuật ngữ, phân biệt đâu là ẩn số phải tìm, đâu là dữ kiện đã cho.
Trang 26Bước 4: Nhận xét kết quả
Đây là khâu cuối cùng để hoàn thiện việc giải một bài tập, nó giúp người học có thể phát hiện những sai sót mắc phải khi giải. Sau khi đã tìm được kết quả,giáo viên cần rèn luyện cho học sinh rút ra một số nhận xét về:
* Phương pháp giải bài tập định tính:
Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, HS không cần thực hiện các phép tính phức tạp mà phải sử dụng những phép suy luận lôgic trên cơ sở hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật vật lí và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể. Mục tiêu cần đạt được khi giải một bài toán VL nói chung là tìm được câu trả lời đúng đắn, giải đáp được vấn đề đặt ra một cách có căn cứ khoa học chặt chẽ.
Có thể nói, trong giải các bài tập định tính phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp gắn chặt với nhau – đó là phương pháp phân tích – tổng hợp.
Căn cứ với các bước chung khi giải bài tập vật lí, ta có thể vạch ra các bước giải bài tập định tính theo trình tự sau:
Bước 1: Đọc và tìm hiểu đề bài
HS cần phân tích các giả thiết đưa ra trong bài tập, tìm hiểu các thuật ngữ chưa biết, các hiện tượng vật lí có liên quan để tóm tắt đề bài. Nếu cần thiết thì xây dựng sơ đồ hoặc hình vẽ để diễn đạt những điều kiền của đề bài.
Trang 27Bước 2: Phân tích hiện tượng
Nghiên cứu các dữ kiện ban đầu của bài tập để xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đề bài. Hình dung toàn bộ diễn biến của hiện tượng và các định luật, quy tắc chi phối nó.
Bước 3: Xây dựng lập luận và suy luận kết quả
Về cơ bản, ta thường gặp hai dạng bài tập định tính, đó là giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng sẽ xảy ra. Đối với loại câu hỏi giải thích hiện tượng, ta phải thực hiện được phép suy luận lôgic, trong đó cơ sở kiến thức phải là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí có tính tổng quát áp dụng vào điều kiện cụ thể của đề bài mà kết quả cuối cùng chính
là hiện tượng đã được nêu ra trong đề bài. HS cần phân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện tượng đơn giản, sao cho mỗi hiện tượng đơn giản chỉ tuân theo một định luật hay một quy tắc nhất định. Đối với loại câu hỏi dự đoán hiện tượng, trước hết cần phán đoán chúng có thể liên quan đến những quy tắc nào, định luật vật lí nào đã biết. Sau đó, HS dựa vào phân tích về diễn biến của quá trình đển vận dụng các kiến thức VL liên quan đã tìm được dự đoán hiện tượng một cách chính xác.
Bước 4:. Nhận xét kết quả
Sau khi sử dụng chuỗi lập luận logic để tìm được kết quả, HS cần phân tích kết quả thu được theo quan điểm vật lí để khẳng định sự phù hợp với giả thiết và thực tiễn.
* Phương pháp giải bài tập định lượng:
Phương pháp giải các bài tập định lượng nói chung cần tuân theo đúng bốn bước giải một bài tập vật lí nói trên. Tuy nhiên do: tính chất phức tạp của bài tập, trình độ hiểu biết toán học của học sinh, mục đích của bài tập, nên việc xác lập các mối liên hệ cơ bản và quá trình luận giải ở bước 2 và bước 3
có thể sử dụng các phương thức giải khác nhau như phương pháp đồ thị, phương pháp hình học,… Nếu sử dụng phương pháp hình học để giải các bài tập định lượng thì cần dựa vào mối tương quan hình học mà học sinh đã biết
để xác định các đại lượng cần tìm. Phương pháp hình học được áp dụng rộng
Trang 28lí phổ thông.
* Phương pháp giải bài tập đồ thị:
Các bài tập đồ thị là những bài tập mà trong đó đối tượng nghiên cứu là những đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa những đại lượng vật lí. Trong một
số bài đồ thị đã được cho trong giả thiết của bài tập, còn trong một số bài tập khác cần phải vẽ đồ thị.
Với loại bài tập đã cho trước đồ thị, HS cần phải tìm hiểu đề bài với giai đoạn phân tích hiện tượng để xác lập các mối liên hệ cơ bản. Các hoạt động ở các giai đoạn này có thể hoà nhập vào nhau chẳng hạn như trong khi phân tích đồ thị thì cũng đồng thời phát hiện ra được các đại lượng đã cho và đại lượng cần tìm.
Với loại bài tập đã cho đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lượng thì cần phải phân tích các đặc điểm của sự phụ thuộc trên từng phần. Nếu sử dụng tỉ xích thì phải làm sao để có thể xác định được đại lượng phải tìm theo đồ thị (các giá trị trên trục tung, trục hoành, diện tích giới hạn bởi các toạ độ tương ứng,…) Nếu bài tập yêu cầu vẽ đồ thị thì trên cơ sở tìm được các dữ liệu và mối liên hệ giữa các dữ liệu (hoặc khai thác dữ liệu từ bảng số liệu đã cho), HS cần chọn hệ trục toạ độ, chọn các tỉ xích thích hợp và biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lượng trên đồ thị. Cũng có thể giải bài tập với các bước như khi giải một bài tập định lượng để tìm ra câu trả lời, sau đó vẽ đồ thị để kiểm tra
sự đúng đắn của kết quả tìm được.
* Phương pháp giải bài tập thực nghiệm:
Đặc trưng của loại bài tập này là khi giải phải làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc làm thí nghiệm chứng minh. Học sinh tự lực tiến hành các thí nghiệm, thực hiện những quan sát để kiểm tra lời giải lí thuyết hoặc để thu được những số liệu cần thiết cho việc giải thích hoặc tiên đoán mà bài tập yêu cầu.
Đối với loại bài tập này cần xác định phương án thí nghiệm, xác định những dụng cụ cần sử dụng và cách thức bố trí thí nghiệm, đồng thời phải biết cách tiến hành thí nghiệm, xử lí kết quả và rút ra kết luận.
Trang 29“Vì sao?” và loại bài tập trả lời câu hỏi “Làm thế nào?” Bài tập “giải thích vì sao xảy ra hiện tượng đó?” trả lời cho câu hỏi “Vì sao? Tại sao?”, là bài tập dựa trên cơ sở quan sát được từ thí nghiệm học sinh tìm quy luật, các nguyên nhân chi phối hiện tượng.Bài tập “hiện tượng sẽ xảy ra như thế nào? Sẽ là như thế nào?” là bài tập yêu cầu HS trả lời câu hỏi “Làm như thế nào?”. Đó
tự kiểm tra, đánh giá. Xét trên phương diện giải quyết vấn đề thì đó là kĩ năng xác định cho được vấn đề cần giải quyết, kĩ năng đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề, kĩ năng giải quyết vấn đề theo giải pháp đã vạch ra và kĩ năng
tự kiểm tra, đánh giá.
Trong tâm lí học, hoạt động là khái niệm đặc trưng cho tác động của cá nhân trong quá trình tác động qua lại của cá nhân với thế giới xung quanh. Hoạt động được kích thích bởi nhu cầu, hướng đến đối tượng để thoả mãn nhu cầu và được thực hiện bởi một hệ thống các hành động. Hành động được thực hiện thông qua các thao tác, nói cách khác, thao tác là phương thức thực hiện hành động.
Hoạt động giải bài tập vật lí bao gồm nhiều hành động mà phần quan trọng nhất của cơ chế tâm lí của hành động là cơ sở định hướng hành động khi giải bài tập vật lí.
b. Định hướng hành động giải bài tập vật lí.
Có ba kiểu định hướng vào việc giải quyết nhiệm vụ trong bài tập vật
lí. Mỗi kiểu định hướng có kết quả và quá trình hành động riêng
Trang 30* Kiểu định hướng thứ nhất.
Giáo viên giới thiệu cho học sinh mẫu hành động và kết quả hành động, còn những chỉ dẫn cần phải thực hiện như thế nào không được nêu ra. Học sinh thực hiện nhiệm vụ một cách mò mẫm theo cách thử và sai. Kết quả là nhiệm vụ có thể thực hiện được nhưng hành động mà nhờ đó nhiệm vụ được thực hiện khó bền vững khi thay đổi điều kiện.
* Kiểu định hướng thứ hai.
Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết mẫu của hành động trên một cơ sở định hướng chặt chẽ và những chỉ dẫn,những cách thức để thực hiện hành động. Hành động ở đây đã được chia thành những giai đoạn và đảm bảo cho việc thực hiện nó một cách đúng đắn. Kiểu định hướng này còn gọi là định hướng angôrit.
Ở đây, học sinh nắm vững được kĩ năng thực hiện hành động và có khả năng di chuyển sang thực hiện nhiệm vụ mới, nhưng sự di chuyển này đòi hỏi phải có trong thành phần của nhiệm vụ mới những yếu tố tương tự với các yếu tố trong thành phần của nhiệm vụ đã nắm vững.
*Kiểu định hướng thứ ba.
Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí dựa trên cơ sở định hướng khái quát tạo điều kiện hình thành ở người học kĩ năng định hướng, kĩ năng kế hoạch hoá hoạt động giải bài tập, kĩ năng thực hiện kế hoạch giải bài tập. Đó
- Thực hiện lắp ráp các dụng cụ
- Tiến hành thí nghiệm: phân chia những sự phụ thuộc phức tạp thành những thành phần đơn giản (vào một đại lượng biến thiên),lập bảng các giá trị thu ược. - Xử lí các kết quả để xác định sự phụ thuộc cần kiểm tra, so sánh
Trang 31- Kết luận về sự phụ thuộc của các đại lượng
Với kiểu hướng dẫn này tránh được tình trạng thầy làm hộ trò, trò chỉ thừa hành thực hiện những hành động thầy đưa ra. Do tính định hướng khái quát của kiểu hướng dẫn này nên phát huy được tính tích cực tự lực tìm tòi của học sinh. Câu hỏi gợi ý của giáo viên phải vừa mang tính gợi mở, vừa khái quát nhưng không được chung chung, viển vông. Trong quá trình hướng dẫn học sinh tự lực tìm tòi cách giải quyết theo đường lối khái quát hoá của việc giải quyết vấn đề, nếu học sinh hoàn toàn không thể đáp ứng được đòi hỏi của giáo viên thì sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên chính là sự phát triển định hướng khái quát ban đầu, cụ thể hoá thêm một bước bằng cách gợi ý thêm cho học sinh để thu hẹp hơn phạm vi tìm tòi giải quyết cho vừa sức học sinh và phải thực hiện các bước tiếp theo… cho đến khi giải quyết xong vấn đề. Việc hướng dẫn của giáo viên chỉ là tạo ra các tình huống, đưa ra những gợi ý gần với khả năng học sinh để họ có thể thực hiện những bước “nhảy vọt” nhỏ, vừa sức.
Ưu điểm của sự định hướng khái quát là sự kết hợp việc thực hiện hai yêu cầu cơ bản nhất khi giải một bài tập vật lí:
- Rèn luyện tư duy học sinh trong quá trình giải bài tập
-Đảm bảo cho học sinh giải được bài tập đã cho
Với sự định hướng như vậy đòi hỏi giáo viên phải phân tích cho được
cơ sơ định hướng hành động và các hành động cần thực hiện khi giải một bài tập vật lí đồng thời phải theo sát tiến trình hoạt động giải bài tập của học sinh. Người giáo viên không thể chỉ dựa vào những lời hướng dẫn có thể soạn sẵn
mà phải kết hợp việc định hướng với việc kiểm tra kết quả hoạt động của học sinh để điều chỉnh sự giúp đỡ thích ứng với trình độ của học sinh.Sự thực hiện các hành động phức tạp được thực hiện theo giai đoạn và việc hình thành kĩ năng giải bài tập được tổ chức trên kiểu định hướng thứ hai hay thứ ba tùy thuộc vào mục đích sư phạm và nội dung bài tập.
c. Phương pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí.
Trang 32Từ những phân tích các kiểu định hướng trên, để hình thành ở người học năng lực giải bài tập vật lí người giáo viên cần thực hiện các công việc:
- Giúp người học thấy được ý nghĩa của kĩ năng cần nắm vững và mục đích của hành động tương ứng
- Tổ chức cho người học lĩnh hội được các thành phần cấu trúc cơ bản của hành động và trình tự hợp lí nhất để thực hiện các thao tác tạo thành hành động
Muốn hướng dẫn học sinh giải bài tập trước tiên giáo viên phải giải được bài tập đó, sau đó mới bàn đến việc hướng dẫn của giáo viên đối với học sinh. Vì vậy, sau khi lựa chọn được nội dung bài tập, quy trình hoạt động của giáo viên trong việc soạn giáo án lên lớp về bài tập vật lí được chia thành các giai đoạn như sau:
Giải trước bài tập cụ thể định giao cho học sinh
- Phân tích phương pháp giải bài tập cụ thể này theo trình tự:
+Trình bày một cách trực quan, tóm tắt đề bái bằng các kí hiệu vật lí, chỉ rõ các dữ liệu đã cho và cái phải tìm, đổi đơn vị, hình vẽ. + Phân tích hiện tượng vật lí xảy ra. Biểu diễn một cách trực quan, cô đọng các mối liên hệ cơ bản cần xác lập để giải được bài tập đó.
+ Khái quát hoá tiến trình luận giải, mô hình hoá tiến trình này bằng sơ
đồ từ đó hình dung một cách rõ ràng các trình tự hành động cần thực hiện để giải được bài tập.
+ Trình bày sự tính toán, biện luận cụ thể để có được kết quả cuối cùng.
- Xác định phương án hướng dẫn học sinh giải bài tập đã cho theo các bước.
Trang 33+ Lựa chọn, xác định kiểu hướng dẫn phù hợp với mục đích sư phạm. + Xác định tiến trình hoạt động dạy học cho việc hướng dẫn học sinh giải bài tập.
+ Soạn thảo các câu hỏi hoặc lời hướng dẫn cụ thể sẽ sử dụng khi lên lớp tương ứng với từng bước của tiến trình hướng dẫn đã vạch ra.
1.1.4.4 Sử dụng bài tập vật lí nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc không thể thiếu và diễn ra hàng năm
ở các trường THPT. Để làm được điều này, mỗi thầy cô giáo đều có một cách làm khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và năng lực của học sinh, nhưng trong
đó không thể thiếu được sự đóng góp của hệ thống tài liệu, bài tập nhằm bồi
dưỡng học sinh giỏi, đặc biệt đối với những môn khoa học tự nhiên như vật lí.
Đối tượng được bồi dưỡng chính là những học sinh có năng lực về môn học, các em không những thực sự giỏi mà còn phải thật sự yêu thích môn học này bởi vì niềm đam mê là động lực để các em cảm thấy hứng thú học hỏi, tìm tòi và sáng tạo. Chính vì vậy, việc sử dụng các bài tập vật lí nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cần phải có sự quan tâm, đầu tư lựa chọn nguồn sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao.
Để học giỏi môn vật lí, học sinh cần có những phẩm chất và năng lực như đã được phân tích trong mục 1.1.2. Ngoài ra còn đòi hỏi HS có kỹ năng thực hành và vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức lí thuyết đã có để giải quyết các vấn đề trong vật lí cũng như trong thực tiễn… Vì vậy, phát triển năng lực nhận thức và rèn luyện các kỹ năng là những yêu cầu cơ bản, quan trọng nhất của quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi.
Trong dạy học vật lí, bài tập là một phương tiện và phương pháp rất có lợi thế để hình thành các kỹ năng và phát trtiển năng lực tư duy cho HS. Chúng tôi đưa ra một số khả năng để phát triển năng lực nhận thức cho HS:
a. Phát hiện nhận thức từ việc nghiên cứu hiện tượng vật lí
Việc nghiên cứu hiện tượng vật lí có thể giúp học sinh đi đến những nhận xét có tính khái quát hoá cao, từ đó có thể giúp học sinh gỉải nhanh các bài toán vật lí.
b. Phát hiện nhận thức từ việc đọc đề bài toán.
Trang 34Đây là giai đoạn nghiên cứu đề bài trong quá trình giải bài toán vật lí. Khi đọc đề bài, trước hết học sinh phải hiểu biết từ ngữ, thấy được lôgíc của bài toán, hiểu được ý đồ của tác giả, hình dung được tiến trình luận giải và phát hiện những chổ có vấn đề của bài toán.
c. Sử dụng bài tập trí thông minh.
Đó là những bài tập khó, hay và trong quá trình tìm tới cách giải có tác dụng phát triển tư duy của HS. Khi tư duy được họat hoá thì HS sẽ có cách giải bài toán thông minh nhất, đó là con đường đi đến kết quả ngắn nhất và sáng tạo nhất.
Thực tế giảng dạy thấy rằng, trước bài toán nhiều HS lựa chọn cách giải là phân tích hiện tượng xảy ra, sử dụng kỹ năng tính toán theo các công thức, các phương trình để lập bài toán đại số. Với cách làm này, một số bài toán được giải rất nhanh gọn nhưng một số bài toán lại trở nên phức tạp vì có nhiều phương trình, hệ phương trình chứa nhiều ẩn số…Nếu biết vận dụng các quy luật vật lí, cách giải bằng đồ thị có thể giải nhanh chóng những dạng bài tập này.
d. Bài tập để rèn luyện khả năng suy luận, diễn đạt chính xác và lôgíc. Suy luận lôgíc là một trong những phẩm chất rất cần có đối với một HS giỏi.
Có năng lực suy luận lôgíc, HS sẽ có cái nhìn bao quát về các khả năng
có thể xảy ra đối với một bài toán, từ đó có cách giải quyết vấn đề, lựa chọn phương án diễn đạt. Cũng nhờ có khả năng suy luận lôgíc mà HS tự mình có thể phát hiện ra vấn đề nhận thức mới trên cơ sở kiến thức đã có. Vì vậy trong quá trình dạy hoc vật lí cần thiết phải cho HS giải những bài tập đòi hỏi cao
Trang 35trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, những năng lực này của HS được hình thành và phát triển.
Như vậy, khi bồi dưỡng HS giỏi vật lí qua hệ thống bài tập, ngoài mức
độ luyện tập thông thường, giáo viên phải yêu cầu ở mức cao hơn đối với HS
là biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới; biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng của HS, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống.
Tóm lại: bài tập vật lí có vai trò lớn trong việc rèn luyện, bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và các kỹ năng cho HS giỏi trong dạy học vật lí.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động dạy giải bài tập nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở các trường THPT Thành phố Hải Phòng Trong phạm vi nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã tiến hành, khảo sát thực trạng công tác giảng dạy bồi dưỡng HSG như sau :
- Tìm hiểu kế hoạch bồi dưỡng HSG và công tác tổ chức thi học sinh giỏi cấp trường, cấp thành phố. Cụ thể là: Tìm hiểu công tác giảng dạy và bồi dưỡng HSG tại ba trường : THPT Ngô Quyền, THPT Trần Nguyên Hãn, THPT Chuyên Trần Phú thuộc thành phố Hải Phòng.
- Trao đổi học thuật với các giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG vật lí, tìm hiểu việc lựa chọn và sử dụng bài tập, những thuận lợi và khó khăn trong công tác bồi dưỡng HSG.
- Tìm hiểu thông tin qua Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn về việc tổ chức và bồi dưỡng HSG kết hợp tham quan các phòng học bộ môn, thư viện.
- Tổng hợp và thống kê số liệu về kết quả thi học sinh giỏi cấp thành phố.
- Tác giả phân tích những kết quả điều tra được. Trên cơ sở đó rút kinh nghiệm về những ưu- nhược điểm và lấy đó làm cơ sở để xây dựng hệ thống và
phương pháp giải bài tập chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” nhằm giải
quyết đề tài của luận văn và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bồi dưỡng HSG vật lí.
Trang 361.2.2 Thực trạng hoạt động dạy giải bài tập nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở các trường THPT thành phố Hải Phòng
Theo thông tin điều tra về kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh các môn học ở Thành phố Hải Phòng những năm vừa qua, đề thi thường ra 5 đến 6 câu dưới hình thức tự luận, thời gian làm bài 3 tiếng. Mỗi năm tổ chức hai đợt thi: Đợt 1 tổ chức thi vào khoảng ngày 9 tháng 10 hằng năm nhằm chọn học sinh giỏi toàn thành phố, nội dung thi nằm trong chương trình sách giáo khoa nâng cao. Đợt 2 được tổ chức sau đó khoảng 10 ngày cho những học sinh đạt giải nhất và nhì các môn văn hóa nhằm chọn đội tuyển tham dự kì thi học sinh giỏi quốc gia, nội dung thi nằm trong chương trình sách giáo khoa nâng cao và tài liệu chuyên sâu.
Tìm hiểu về quá trình chuẩn bị và kế hoạch:
Đối với trường THPT Ngô Quyền đã có kế hoạch cụ thể, dài hạn cho công tác lựa chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi. Ví dụ :Các đội tuyển của trường được thành lập qua kì thi HSG cấp trường và các lần sát hạch của năm học trước. Những HS được tuyển chọn đã được dạy và học trong khoảng 3 tháng trước kì thi HSG thành phố.
1.2.2.2 Tình hình dạy và học giải bài tập trong bồi dưỡng HSG
- Về phía GV :
+ Qua tìm hiểu các tài liệu và thông tin từ trường THPT Ngô Quyền cho thấy tất cả giáo viên trong tổ chuyên môn được phân chia nội dung ôn luyện theo năng lực, sở trường của từng người. Mỗi người chịu trách nhiệm một phần và mỗi phần khoảng từ 5-10 buổi. Đối với các trường khác nhìn chung
Trang 37có học sinh được chọn vào đội tuyển. Những GV khác không muốn tham gia dạy bồi dưỡng HSG vì phải đầu tư cho chuyên môn với công sức rất lớn, cần phải tập trung nhiều thời gian và trí lực.
+ Trong quá trình giảng dạy bồi dưỡng HSG, đa số giáo viên đều dạy theo tiến trình : trước tiên củng cố kiến thức, khắc sâu lí thuyết, sau đó cho học sinh làm bài tập tương đương với nội dung kiến thức và mức độ khó của các đề thi. Nhiều thầy cô giáo cho rằng HS càng giải được nhiều loại bài tập càng tốt mà chưa chú trọng tới các bài tập tổng quát, để từ đó học sinh có thể
tự vận động giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó việc lựa chọn các bài tập chưa có
hệ thống và mục đích rõ ràng. Các thầy cô phần lớn chỉ tập trung vào việc giải bài tập theo ý mình mà ít quan tâm tới cách tiếp nhận và suy nghĩ của HS về việc giải những bài tập đó như thế nào. Các lí do trên đã làm cho sự phát triển năng khiếu của học sinh bị hạn chế.
- Về phía HS :
+ Chúng tôi nhận thấy một số HS có khả năng nhưng không muốn tham gia vào đội tuyển HSG vì học tập vất vả và chiếm mất nhiều thời gian. Đa số
HS có tâm lý chung (kể cả gia đình) là học để thi đỗ Đại học.
+ Phần lớn các em HS khi giải bài tập chỉ nhằm mục đích để tìm ra đáp
số của bài toán, đôi khi còn chưa hiểu rõ các hiện tượng vật lí liên quan đến
đề bài. Học sinh thường ít khi để ý đến vấn đề gắn bài toán với thực tiễn do đó thường gặp khó khăn khi giải các bài tập liên quan đến thực tiễn. Ngoài ra việc mở rộng kết quả bài toán và ý nghĩa của nó cũng ít được học sinh quan tâm.
1.2.2.3 Thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi chương “cơ sở của nhiệt động lực học” ở trường THPT Ngô Quyền Thành phố Hải Phòng
Qua khảo sát điều tra, GV và HS tham gia bồi dưỡng HSG ở nhiều trường đều cho rằng phần cơ sở của nhiệt động lực học là một trong những nội dung khó trong đề thi HSG cấp thành phố và cấp quốc gia.
Để từng bước rút kinh nghiệm và khắc phục khó khăn đó trường THPT Ngô Quyền đã phân công một GV chuyên giảng dạy cho HS phần nhiệt học.
Trang 38Để cho khách quan hơn đôi khi nhà trường kết hợp với các giáo viên trường khác ở khâu ra đề kiểm tra và đánh giá HS, đồng thời cũng có thể có thêm kinh nghiệm cho các GV phụ trách việc bồi dường HSG .
Theo thống kê của các tổ nhóm chuyên môn ở các trường THPT mà chúng tôi tham gia điều tra, khảo sát thì: trong 4 năm gần đây cả hai kỳ chọn đội tuyển hàng năm của sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đều có bài tập về nhiệt học. Các học sinh thuộc đội tuyển của trường THPT Ngô Quyền thường
có 3/5 học sinh làm trọn vẹn bài tập thuộc phần nhiệt học, trong khi đó các học sinh của một số trường khác hầu như không làm được.
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày một số vấn đề về cơ sở lý luận
về việc dạy và học cho HSG, đặc biệt là bài tập vật lí ở trường THPT. Các quá trình tìm hiểu, tuyển chọn và bồi dưỡng HSG cùng được nhận thức như một lý luận. Đồng thời, chúng tôi cũng nghiên cứu thực tiễn hoạt động bồi dưỡng HSG môn Vật lý ở một số trường THPT thuộc Thành Phố Hải Phòng.
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn này, chúng tôi vận dụng để soạn thảo hệ thống và
phương pháp giải bài tập chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” Vật lý 10
chương trình nâng cao nhằm bồi dưỡng HSG.
Trang 39CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG “CƠ SỞ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC” VẬT LÝ 10
NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
2.1 Vị trí, vai trò và cấu trúc của chương “Cơ sở của nhiệt động lực học”
2.1.1 Vị trí chương “Cơ sở của nhiệt động lực học”
Chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” là chương thứ VIII và cũng là
chương cuối của chương trình SGK lớp 10 Nâng cao góp phần hoàn chỉnh kiến thức vật lý phổ thông. Nội dung kiến thức của chương này có liên quan chặt chẽ với hai chương trước đó là chương VI “Chất khí” và chương VII
Bảng 2.1 Phân phối chương trình giảng dạy chương “Cơ sở của nhiệt động
lực học” vật lý 10 THPT chương trình nâng cao
Trang 402.1.2 Vai trò các kiến thức của chương “Cơ sở của nhiệt động lực học”
Chương “cơ sở của Nhiệt động lực học” cung cấp những kiến thức phổ thông cơ bản bao gồm những khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý thường gặp trong đời sống thuộc lĩnh vực nhiệt động lực học. Các nguyên lý được trình bày phù hợp với năng lực toán học và sự suy luận logic của HS. Nguyên lý nhiệt động lực học bao gồm những nguyên tắc cơ bản cho
các ứng dụng quan trọng của vật lý trong đời sống
Các kiến thức cơ bản có thể được phân bố trong từng bài, từng mục cụ thể, nhưng chúng có quan hệ với nhau trong một thể thống nhất về nội dung. Khi nghiên cứu kiến thức phần “cơ sở của Nhiệt động lực học” HS bước đầu làm quen với thế giới vi mô, tìm hiểu được bản chất quá trình vận động của các trạng thái vật.Qua đó HS có thể nắm được cơ chế vi mô của các hiện tượng nhiệt động. Và hình thành được thế giới quan duy vật biện chứng, tạo nên niềm tin vào khoa học. “Cơ sở của Nhiệt động lực học” còn làm cho HS
có quan niệm đúng đắn về thế giới tự nhiên, hiểu được sự tồn tại của thế giới vật chất và quy luật của sự vận động.
Kiến thức chương “ Cơ sở của nhiệt động lực học” gắn liền với thực tế cuộc sống, với các quá trình lao động đồng thời là cơ sở và nguyên tắc để chế tạo một số máy móc, thiết bị kỹ thuật. Đây chính là cơ sở để giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS.
Từ bản chất của các quá trình biến đổi trạng thái trong nhiệt động lực học
HS thấy được một vấn đề quan trọng hiện nay đó là sự biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính v v Thông qua tìm hiểu các máy nhiệt, động cơ nhiệt HS có thể nhận thấy tầm quan trọng của nhiên liệu và năng lượng trong tự nhiên, từ
đó giáo dục HS có ý thức tiết kiệm nhiên liệu và trách nhiệm bảo vệ môi trường sống.
Khi nghiên cứu về nhiệt động học người ta thường sử dụng các phương pháp chu trình, phương pháp hàm nhiệt động và phương pháp thống kê. Như vậy nhiệt động lực học tập hợp nhiều lý thuyết lớn làm nền tảng cho những kiến thức về vật lý học hiện đại.