1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông

104 557 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học theo nhóm là một trong những phương pháp được đổi mới nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học, tuy nhiên việc triển khai sao cho phương pháp đạt hiệu quả cao,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

- -

ĐINH THỊ MAI LINH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC PHẦN III : VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM SINH HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐINH THỊ MAI LINH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC PHẦN III : VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học

Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Văn Hưng

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, chúng tôi còn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn, các thầy giáo cô giáo, đồng nghiệp

và người thân

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Mai Văn Hưng, người thầy đã tận tình hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học, Ban giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo – Khoa học trường Đại học Giáo Dục – ĐHQGHN, thư viện trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trực tiếp tham gia giảng dạy trong tổ Hóa Sinh và các em học sinh của trường THPT Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên và tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

trang LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Vấn đề nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Phạm vi nghiên cứu 3

9 Phương pháp nghiên cứu 4

10 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1 5

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 6

1.2.1 Nhóm và nhóm học tập 6

1.2.2 Tính tích cực – tính tích cực trong học tập 7

1.2.3 Năng lực hợp tác 9

1.2.4 Phương pháp dạy học theo nhóm 11

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25

1.2.1 Thực tiễn sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học Sinh học phần III: VSV, sinh học 10 - THPT 25 1.2.1.1 Tình hình sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học Sinh học 10 26

Trang 6

1.2.4 Phân tích nguyên nhân thực trạng GV sử dụng hoạt động nhóm

trong dạy học Sinh học 29

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC PHẦN III: VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 33

2.1 Phân tích chương trình Sinh học -THPT 33

2.2 Phân tích chương trình VSV, sinh học 10 – THPT 34

2.2.1 Vị trí 34

2.2.2 Về mục tiêu 35

2.2.3 Về cấu trúc 36

2.3 Nguyên tắc áp dụng phương pháp dạy học nhóm 38

2.3.1 Nguyên tắc thứ nhất: Đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa vai trò chủ đạo trong tổ chức điều khiển hoạt động nhóm của GV với tính tích cực chủ động và tự giác của HS 39

2.3.2 Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo sự hài hòa giữa hình thức học cá nhân và hình thức học nhóm, mở rộng ra học tập thể 39

2.3.3 Nguyên tắc thứ ba: đảm bảo tính hệ thống cấu trúc 40

2.3.4 Nguyên tắc thứ tư: Phải đảm bảo tính thực tiễn 40

2.3.5 Nguyên tắc thứ năm: đảm bảo tính toàn diện trong quy trình tổ chức hoạt động nhóm 40

2.4 Quy trình tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học 41

2.5 Vận dụng hoạt động nhóm vào giảng dạy phần III VSV, sinh học 10 -THPT 44

2.5.1 Tổ chức hoạt động nhóm (hoạt động trà trộn ) trong giảng dạy 44

Bài 24 Thực hành: LÊN MEN ETILIC VÀ LACTIC 44

2.5.2 Vận dụng hoạt động theo nhóm nhỏ trong dạy học 54

Chương II: SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN CỦA VSV 54

2.5.3 Vận dụng hoạt động nhóm 2 HS kết hợp với hoạt động trao dổi trong dạy học 60

Trang 7

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Mục đích, nhiệm vụ tổ chức thực nghiệm sư phạm 67

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 67

3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm 67

3.2 Nội dung thực nghiệm 67

3.3 Phương pháp thực nghiệm 67

3.3.1 Chọn đối tượng TN – địa điểm TN 67

3.3.2 Phương án TN sư phạm 68

3.4 Kết quả thực nghiệm 69

3.4.1 Phân tích định lượng 69

3.4.2 Phương pháp đánh giá định tính 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

Kết luận 82

Khuyến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 86

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

trang

Bảng 1.1: Tỷ lệ sử dụng PPDH theo nhóm trong dạy và học Sinh học 10 26

Bảng 2.1 Phiếu học tập số 1 46

Bảng 2.2 Phiếu thông tin nhóm thực hành 47

Bảng 2.3 Phiếu đánh giá kết quả làm việc nhóm 51

Bảng 2.4 Phiếu học tập số 1 58

Bảng 2.5 Phiếu học tập số 2 58

Bảng 3.1 Các lớp ĐC và TN 68

Bảng 3.2 Thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN 71

Bảng 3.3 Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 71

Bảng 3.4 Các giá trị mẫu của các bài kiểm tra lần 1 72

Bảng 3.5 Bảng tần suất điểm (%) của các bài kiểm tra lần 2 73

Bảng 3.6 Các giá trị mẫu của các bài kiểm tra lần 2 74

Bảng 3.7 Tần suất điểm của các bài kiểm tra lần 3 74

Bảng 3.8 Các giá trị mẫu ở các bài kiểm tra lần 3 75

Bảng 3.9 Kiểm định X trong các bài kiểm tra lần 1 76

Bảng 3.10 Kiểm định phương sai trong các bài kiểm tra lần 1 77

Bảng 3.11 Kiểm định X trong các bài kiểm tra lần 2 77

Bảng 3.12 Kiểm định phương sai trong các bài kiểm tra lần 2 78

Bảng 3.13 Kiểm định X trong các bài kiểm tra lần 3 78

Bảng 3.14 Kiểm định phương của các bài kiểm tra lần 3 79

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

trang

Hình 1.1 Hình thức hoạt động nhóm chuyên sâu 19

Hình 1.2 Kỹ năng giao tiếp trong nhóm 21

Hình 1.3 Phòng thực hành Sinh học ở trường THPT 28

Hình 1.4 Một số kiểu bàn học phục vụ hoạt động nhóm 31

Hình 3.1 Đồ thị tần suất điểm (%) của lần kiểm tra 1 71

Hình 3.2 Đồ thị tần suất điểm (%) của lần kiểm tra 2 73

Hình 3.3 Đồ thị tần suất điểm (%) của lần kiểm tra 3 75

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” được thông qua tại Hội nghị TW khóa 8 đặt ra những yêu cầu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo Một trong những mục tiêu tổng quát của Nghị quyết xác định “giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân” Mục tiêu trên là kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục trong mỗi nhà trường hiện nay Trước đây, mục tiêu giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện đã được xác định trong các chương trình nhưng thường được quan niệm đó là nhiệm vụ đào tạo những con người phát triển hài hòa đức trí thể mỹ Nghĩa là giáo dục đào tạo con người đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, con người cho xã hội Thực hiện công cuộc đổi mới, ngoài việc phát triển con người xã hội sẽ chú trọng thêm phần phát huy cao nhất tiềm năng sẵn có của riêng mỗi người, đó là con người cá nhân Ngay từ năm 1945, chủ tịch Hồ Chí

Minh đã khẳng định: “Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam (chính

là đào tạo con người của xã hội), một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”(chính là đào tạo con người cá nhân) Đó

là mục tiêu chung về nhân cách con người mà đổi mới giáo dục và đào tạo hướng tới Sự đổi mới về mục tiêu như vậy đòi hỏi chuyển từ nên giáo dục giúp người học “ học được cái gì” sang “học thì phải làm được gì” Nói cách khác là giáo dục con người phải có cả kiến thức, năng lực và khả năng vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn

Muốn thực hiện được mục tiêu tổng quát trên, đòi hỏi sự đổi mới đồng

bộ và có hệ thống từ chương trình giáo dục tới nội dung giáo dục, phương

Trang 11

pháp kiểm tra đánh giá v.v… Quá trình đổi mới này yêu cầu thời gian và sự phối hợp của cả xã hội, nhà trường và người học Trong khi chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm khó để thay đổi trong thời gian ngắn thì đổi mới PPDH lại mang tính khả thi hơn vào thời điểm hiện tại Các giáo viên tham gia giáo dục và giảng dạy tại nhà trường là những người trực tiếp đổi mới PPDH ở từng môn học Đặc biệt với môn Sinh học – môn học cung cấp kiến thức về thế giới sinh vật xung quanh ta, đồng thời khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống cao hơn những môn khác Sinh học thực sự là môn học có thể giúp GV đưa HS tới sát gần với mục tiêu giáo dục nêu trên Việc đổi mới phương pháp dạy học được nhiều nhà trường khuyến khích

áp dụng thực hiện và bước đầu đã mang lại hiệu quả khả quan cho chất lượng giáo dục Dạy học theo nhóm là một trong những phương pháp được đổi mới nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học, tuy nhiên việc triển khai sao cho phương pháp đạt hiệu quả cao, tránh hình thức và lãng phí đòi hỏi sự cố gắng của mỗi cá nhân nhà giáo

Xuất phát từ yêu cầu giảng dạy môn Sinh học và cá nhân mong muốn tìm hiểu các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy, chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài : TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC PHẦN III: VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu sơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp dạy học (PPDH) theo nhóm

Trang 12

Nghiên cứu chương trình sinh học THPT, chú trọng Phần III: VSV, sinh học 10- THPT

Nghiên cứu và lựa chọn nội dung để áp dụng PPDH theo nhóm trong dạy học Phần III VSV, sinh học 10 – THPT

Thiết kế giáo án có sử dụng PPDH theo nhóm giúp HS hình thành và rèn luyện năng lực hợp tác, đồng thời nâng cao kết quả học tập

TN sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của đề tài

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: GV và HS của trường THPT Đà Bắc, huyện Đà

6 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Phần III: Vi sinh vật, Sinh học 10 - THPT thì HS sẽ nâng cao kết quả học tập, đồng thời hình thành và rèn luyện được năng lực hợp tác

7 Phạm vi nghiên cứu

Phần III:Vi sinh vật, sinh học 10 – THPT

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận của đề tài: Cung cấp một cách rõ ràng và hệ thống cơ sở

lý luận của PPDH theo nhóm

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Xây dựng hệ thống bài giảng lý thuyết, bài giảng thực hành trong giảng dạy nội dung Phần III.Vi sinh vật, sinh học 10 –

Trang 13

THPT nhằm giúp HS nâng cao kết quả học tập, đồng thời hình thành và rèn luyện năng lực hợp tác

9 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các tài liệu về PPDH theo

nhóm, chương trình VSV và các tài liệu liên quan tới phát triển năng lực ở người học

Phương pháp điều tra, khảo sát: thu nhập thông tin thực tế liên quan tới

quá trình dạy học sinh học 10 – THPT nói chung và dạy học Phần III: Vi sinh vật, Sinh học 10 - THPT nói riêng

Phương pháp thực nghiệm: sử dụng giáo án soạn theo định hướng hình

thành và phát triển năng lực hợp tác trong dạy học phần III: VSV, sinh học 10 – THPT

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị cùng danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Phần III: Vi sinh vật, sinh học 10 – THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Theo Jean Piaget (1896 – 1980) với thuyết mâu thuẫn nhận thức xã hội

đã cho rằng: Trong khi tương tác cùng nhau, mâu thuẫn nhận thức xã hội xuất hiện đã tạo ra sự mất cân bằng về nhận thức giữa mọi người Các cuộc tranh luận diễn ra liên tục và được giải quyết, trong suốt quá trình đó những lý lẽ và luận luận chưa đầy đủ dẽ được bổ sung hoàn thiện.[8] Như vậy, học là một quá trình xã hội, trong đó con người liên tục đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn nhận thức, chính vì vậy việc tạo điều kiện cho người học tranh luận trong làm việc nhóm là cơ sở để nâng cao nhận thức ở HS

Lý thuyết kiến tạo ra đời những năm 80 của thế kỉ XX cũng là cơ sở để hình thành nên lý luận dạy học hiện đại nói chung và dạy học theo nhóm nói riêng [8] Nội dung thuyết này đề cập đến một số điểm nhưng chúng tôi đặc biệt lưu ý tới điểm thứ ba: Học là một quá trình mang tính xã hôi, văn hóa và liên nhân cách do vậy, học không chỉ chịu sự tác động của các tác nhân nhận thức mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội và sự tương tác giữa các cá nhân [13]; Học là quá trình con người thể hiện ra bên ngoài những đặc điểm

Trang 15

tâm lý bên trong của mình, do vậy các hoạt động học tập phải trong mối quan

hệ với các yếu tố xã hội và sự hợp tác giữa các cá nhân Do đó, nhóm học tập, nơi mà các yếu tố xã hội kết hợp với sự hợp tác các cá nhân sẽ giúp HS nâng cao kết quả của quá trình học

1.1.2 Ở Việt Nam

Dựa trên những nền tảng nghiên cứu của thế giới về dạy học hiện đại, theo Phạm Minh Hạc nhấn mạnh: “Nhà trường hiện đại ngày nay là nhà trường hoạt động, dùng phương pháp hoạt động…Thu hẹp sự cưỡng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao [12] “Phương pháp giáo dục bằng hoạt động là dẫn dắt HS tự xây dựng công cụ làm trẻ thay đổi từ bên trong… Hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy và trò, hoạt động hợp tác giữa trò và trò có một tác dụng lớn Từ đó, có thể rút ra kết luận: “Cần thiết phải kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm” Quá trình dạy học cần tổ chức các dạng hoạt động học tập khác nhau cho HS; cần phải thay đổi phương thức cưỡng bức HS học tập bằng phương thức học tập làm việc cùng nhau Theo Nguyễn Hữu Châu khái quát :học là quá trình cá nhân tự kiến tạo kiến thức cho mình nhưng đó là những kiến thức thông qua tương tác với các

cá nhân khác, với xã hội và thực tiễn mà có [8] Từ quan niệm về học, quan niệm về hoạt động dạy và phương pháp dạy học cũng thay đổi Hoạt động dạy

là hoạt động của GV nhằm tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của người học, để họ tự khám phá và thực hiện nhiệm vụ học tập

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1 Nhóm và nhóm học tập

Nhóm là tập hợp những cá thể từ hai người trở lên theo những nguyên tắc nhất định, có thể tác động lẫn nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ trong một thời gian xác định

Nhóm học tập được lập ra với mục đích đã được xác định rõ ràng chung cho cả nhóm, đó là việc học tập đạt kết quả cao hơn và hứng thú hơn khi học riêng lẻ

Trang 16

Nhóm học tập có những đặc trưng sau:

Là một đơn vị, một bộ phận của lớp học

Hoạt động của nhóm được thống nhất với nhau bởi các thành viên cùng thực hiện một nhiệm vụ học tập, đây vừa là nguyên nhân vừa là điều kiện của nhóm học tập

Các thành viên trong nhóm không chỉ liên kết với nhau về mặt trách nhiệm mà còn những mối quan hệ tương tác về tình cảm, đạo đức, lối sống, vì điều đó nhóm học tập rất thuận tiện để người học hình thành và phát triển các năng lực chung cần thiết

Như vậy, nhóm học tập cũng là nơi diễn ra các quá trình xã hội, không chỉ đơn thuần là một đơn vị cấu thành nên lớp học mà còn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển và hình thành nhân cách người học

1.2.2 Tính tích cực – tính tích cực trong học tập

1.2.2.1 Tính tích cực

Theo từ điển Tiếng việt [27] tính tích cực được hiểu là tính chủ động, hăng hái nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi thơ hướng phát triển, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển

Theo tác giả I.F.Kharlamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của

HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức” [8]

Theo chúng tôi, tính tích cực có thể được xem như là một phẩm chất xã hội của con người Là một thuộc tính nhân cách của cá nhân được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hoạt động đang diễn ra đối với dối tượng, tính trương lực của trạng thái bên trong chủ thể ở thời điểm hành động, tính quy định của mục đích của hành động đã được thông qua Nó gắn liền với trạng thái hoạt động, là năng lực thể hiện sự nỗ lực cố gắng ở sự chủ động sáng tạo có ý thức tác động qua lại với môi trường của chủ thể Tính tích cực

Trang 17

bắt nguồn từ lợi ích nhu cầu của con người, được nảy sinh, hình thành và phát triển trong học tập

Hình thành và phát triển tính tích cực là nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo ra những người có tự chủ, năng động, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu của xã hội trong thời kì mới Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách HS trong quá trình phát triển giáo dục

1.2.2.2 Tính tích cực học tập

Có nhiều quan điểm khác nhau về tính tích cực học tập:

Theo Trần Bá Hoành cho rằng : tính tích cực học tập của người học biểu hiện ở sự khát khao khoa học, hay nêu thắc mắc, chủ động vận dụng sự tập trung chú ý, sự kiên trì vượt mọi khó khăn để đạt mục đích Biểu hiện của tính tích cực học tập ở các mức độ khác nhau: tái hiện,tìm tòi sáng tạo [16]

I.F.Kharlamop khẳng định: “Học tập là quá trình nhận thức tích cực” [8]

ở đó tính tích cực không chỉ tồn tại như một trạng thái, một nét tính cách cụ thể mà nó còn là kết quả của quá trình tư duy Nhận thức tích cực là mục đích cần đạt được của quá trình dạy học và có tác dụng nâng cao không ngừng hiệu quả học tập của người học

Theo Lê Thị Xuân trong bài : “Phát huy tính tích cực của HS – sinh viên trong dạy học tóan ở các trường Cao đẳng sự phạm đã viết : “Tính tích cực

trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực trong nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập vận dụng…

và được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng phong phú” [26]

Theo chúng tôi: “tính tích cực học tập là phẩm chất nhân cách của người học thể hiện ý thức tự giác của người học về mục đích học tập, thông qua đó người học huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm tổ chức

và thực hiện hoạt động học tập có hiệu quả”

Trang 18

Tính tích cực học tập của người học biểu hiện ở nhận thức, thái độ, hành

vi và kết quả học tập của người học

1.2.3 Năng lực hợp tác

1.2.3.1 Khái niệm năng lực

Năng lực là một phạm vi trung tâm của tâm lý học và dã được nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm nhất quán về năng lực Nhìn khái quát chúng ta thấy có 2 quan điểm chung về năng lực:

Quan điểm thứ nhất: năng lực là một điều kiện tâm lý của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó Điển hình cho quan điểm này là N.X Laytex, A.A Xmiecov, X.L Xrubinstein [13]

Quan điểm thứ hai: năng lực là những thuộc tính của cá nhân gồm cả những thuộc tính tâm lý và cả những thuộc tính giải phẫu tâm lý Điển hình cho quan điểm này là: A.G Covaliov, K.K Platonov [13]

Khi nghiên cứu về năng lực, các tác giả Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về năng lực Theo Phạm Minh Hạc: năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện hiệu quả hoạt động đó [13]

Từ những quan điểm trên, chúng tôi có thể định nghĩa năng lực như sau: Năng lực là tổ hợp của các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả

1.2.3.2 Cấu trúc năng lực

Cấu trúc của năng lực gồm 3 thành tố

Thành tố 1: hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để tạo ra năng lực tương ứng với hoạt động

Thành tố 2: Động cơ hứng thú, xu hướng hoạt động

Thành tố 3: Hành động: là điều kiện để hình thành năng lực

Trong ba thành tố trên, thành tố thứ 3 – năng lực, có vai trò quan trọng nhất

Trang 19

1.2.3.3 Năng lực hợp tác

Năng lực là tổ hợp của các thuộc tính độc đáo của cá nhân: năng lực không phải chỉ là một thuộc tính, đặc điểm nào đó của cá nhân mà nó bao gồm những thuộc tính tâm lý và sinh lý Tuy nhiên sự tổ hợp này chỉ bao gồm những thuộc tính tương ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó và làm cho hoạt động đó đạt được kết quả Tổ hợp các thuộc tính không phải là sự cộng gộp đơn thuần các thuộc tính mà là sự tương tác lẫn nhau giữa các thuộc tính thành một hệ thống

Năng lực chỉ tồn tại trong một hoạt động Khi con người chưa hoạt động thì năng lực ở dạng tiềm ẩn Năng lực chỉ có tính hiện thực khi cá nhân hoạt động và phát triển trong chính hoạt động ấy

Kết quả trong công việc thường là thước đo để đánh giá năng lực của cá nhân làm ra nó

Tuy nhiên năng lực của cá nhân không phải là sinh ra đã có, nó không

có sẵn mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp Dựa vào mức độ chuyên biệt của năng lực, phân làm hai loại:

Năng lực chung: là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau chẳng hạn như những thuộc tính về thể lực, trí tuệ (quan sát trí nhớ tư suy, tưởng tượng, ngôn ngữ) là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả [3] Năng lực hợp tác là một trong những năng lực chung cần thiết

Năng lực riêng: (năng lực chuyên biệt, chuyên môn) là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao như năng lực toán học, văn học, hội họa… [3]

Trên thực tế, 2 loại năng lực này bổ sung hỗ trợ lẫn nhau Do đó mỗi nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục đều hướng tới mục tiêu hình thành

và phát triển cho người học cả 2 loại năng lực trên, đó là cơ sở và nền tảng để người học vừa có thể tiếp thu tốt những tri thức khoa học vừa có thể thích ứng

Trang 20

được với đời sống thực tiễn Đặc biệt trong thời kì đổi mới có nhiều vấn đề phức tạp mà để giải quyết chúng kết quả thì cần những năng lực tốt ở mỗi cá nhân, một trong những năng lực đó là năng lực hợp tác

Con người từ xa xưa đã biết tập hợp ở cùng nhau, cùng sinh sống và từng bước chinh phục thiên nhiên Để có thể phát triển như ngày nay không chỉ là sự cố gắng của một cá thể riêng lẻ mà là kết quả của cả cộng đồng cùng

cố gắng Con người hợp tác, gắn kết với nhau trong từng hoạt động sống, sự hợp tác càng tốt, thì kết quả của công việc đạt được càng cao Sự vất vả của cá nhân khi làm việc riêng lẻ vì thế giảm đi nhiều, tiến tới các cá nhân có thể cùng lúc hoàn thành được nhiều công việc, tiết kiệm được thời gian và công sức Ngày nay, với cuộc sống hiện đại đòi hỏi con người phải thực hiện nhiều hoạt động phức tạp mà không phải cá nhân nào cũng đầy đủ các năng lực để thực hiện tốt các hoạt động đó Xuất hiện nhu cầu bắt tay nhau, tập hợp thành nhóm để cùng hoàn thiện hoạt động là điều tất yếu Tuy nhiên, hợp tác sao cho hiệu quả, để chất lượng công việc cao mà tốn ít thời gian là một năng lực cần được hình thành và phát triển cho mỗi con người Nhà trường chính là nơi thuận lợi để hình thành và định hướng cho sự phát triển của năng lực hợp tác trong mỗi HS được thuận lợi và đúng hướng

Năng lực hợp tác sẽ khó hình thành nếu người học chỉ học tập và rèn luyện một mình, cần tạo điều kiện cho HS tập hợp lại với nhau thành từng nhóm nhỏ để cùng giải quyết vấn đề hoặc cùng tìm hiểu nội dung môn học

Do đó PPDH theo nhóm là sự lựa chọn của nhiều GV trong việc tổ chức giảng dạy nhằm hình thành phát triển năng lực hợp tác cho người học

1.2.4 Phương pháp dạy học theo nhóm

Dạy học theo nhóm là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó dưới sự

tổ chức, điều khiển của GV, HS được chia thành nhiều nhóm nhỏ liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung Với phương thức tác động qua lại giữa các thành viên trong nhóm cùng với trí tuệ tập thể mà nhóm hoàn thành các

Trang 21

nhiệm vụ học tập hoặc cùng phấn đấu vì một mục đích chung Vì vậy so với phương pháp học tập cá nhân, PPDH theo nhóm có xu hướng xã hội hơn

1.2.4.1 Đặc điểm của phương pháp dạy học theo nhóm

Hoạt động dạy học vẫn được tiến hành trên quy mô cả lớp, như mô hình giờ học truyền thống [17]

Việc phâm chia nhóm HS vừa tuân theo đặc điểm tâm lý lứa tuổi – nhận thức của HS vừa phụ thuộc vào nhiệm vụ học tập HS cần giải quyết

Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên, phải cùng hợp tác trao đổi giải quyết nhiệm vụ chung của nhóm

HS phải trực tiếp tham gia các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ học tập được đặt ra cho mỗi nhóm

GV là người thiết kế các nhiệm vụ học tập và đưa ra các hoạt động cụ thể cho từng nhóm GV chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều phối chứ không phải là người đưa ra kiến thức, chỉ ra tri thức cho HS

HS ở đây là chủ thể tích cực chủ động sáng tạo của hoạt động học tập Dạy học theo nhóm là sự tương tác trực tiếp giữa HS với nhau, cùng nhau thảo luận và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập Theo GS.TS Đặng Đình Bôi: mỗi cá nhân phải có ý thức tự hoàn thành nhiệm vụ của mình Thành công của cá nhân là thành công chung của cả nhóm [4]

GV trong vai trò là người thức tỉnh tổ chức và đạo diễn Trong giờ học theo nhóm, GV dẫn dắt HS khám phá, lĩnh hội kiến thức qua từng bước Các nhóm HS tự tiến hành các hoạt động của nhóm, đồng thời có thể tương tác học hỏi từ các nhóm khác từ đó người học có thể rút ra các kiến thức cần thiết cho riêng mình GV sẽ hỗ trợ HS xuyên suốt quá trình nhóm hoạt động, giúp các em tiến hành hoạt động học tập đi đúng hướng, tiến tới tri thức đúng đắn, đồng thời giúp các em điều chỉnh hành vi và hình thành các thói quen năng lực có ích cho người học thông qua hoạt động nhóm

Người học với vai trò là chủ thể tích cực của hoạt động sáng tạo trong hoạt động học tập Trong nhóm học tập, người học tương tác trực tiếp với

Trang 22

nhau và cùng phối hợp hoạt động Lúc này nhóm học tập là môi trường để người học lĩnh hội tri thức, đồng thời phát triển nhân cách và các năng lực cá nhân cần thiết

1.2.4.2 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp dạy học theo nhóm

Được biết đến là một PPDH tích cực, mang lại nhiều kết quả cho hoạt động dạy và học của nhà trường Tuy nhiên cần nhìn nhận rõ ràng ưu điểm và nhược điểm của phương pháp này đối với cả GV và HS

Về phía học sinh

PPDH theo nhóm là một trong những phương pháp đổi mới được áp dụng trong nhà trường nhằm phát huy được tính tích cực của người học, dạy học hướng người học là trung tâm Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì trong thực tế cuộc sống không có ai là hoàn hảo, không có ai tự mình làm được tất cả mọi việc Do đó làm việc theo nhóm có thể tập trung được những mặt mạnh của từng người, đồng thời bổ sung cho nhau những mặt chưa tốt Mặt khác, làm việc theo nhóm còn tạo ra được niềm vui và sự hứng thú trong học tập Vì vậy chúng ta cần phải thấy được những ưu điểm của hình thức dạy học này để phát huy được những điểm mạnh của nó

Thứ nhất,làm việc theo nhóm thỏa mãn nhu cầu học tập của mỗi cá nhân, phù hợp với mục tiêu dạy học lấy người học làm trung tâm, khuyến

khích tính độc lập tự chủ ở mỗi người Người học có thể đưa ra những giải pháp, cách xử lý riêng của mình cho mỗi vấn đề chung của nhóm Nếu trong phương pháp học tập truyền thống (người dạy thuyết trình, người học lắng nghe và ghi chép) HS không được trao đổi nhiều với nhau thì trong làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có cơ hội đưa ra quan điểm của mình đối với chủ đề thảo luận Mặt khác nó nâng cao được tính tương tác giữa các thành viên nhằm tác động tích cực đến người học như: Tăng cường động cơ học tập, nảy sinh những hứng thú mới, kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư

Trang 23

tưởng và cách giải quyết vấn đề, đồng thời khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát triển được tình bạn trong nhóm

Thứ hai, các thành viên trong nhóm biết được sự phụ thuộc lẫn nhau

Làm việc theo nhóm là cách học cho phép tất cả các thành viên trong nhóm giải quyết một cam kết làm việc được mô tả rõ ràng, không được giảng viên dẫn dắt trực tiếp mà chỉ nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ và sự phân công công việc trong nhóm Vì vậy mỗi thành viên trong nhóm tự ý thức được phải cố gắng hết mình không phải chỉ vì thành tích cá nhân mà còn vì thành công của

cả nhóm

Thứ ba, giảng dạy dựa trên PPDH theo nhóm nâng cao được tính trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm Trong đó mỗi thành viên trong nhóm

được phân công thực hiện một vai trò nhất định, một công việc và trách nhiệm

cụ thể Các thành viên trong nhóm không thể trốn tránh trách nhiệm hoặc dựa vào công việc của người khác Trách nhiệm của mỗi thành viên là yếu tố quyết định việc thành công hay thất bại của nhóm Hay nói cách khác, việc tổ chức dạy học theo nhóm không phải là hình thức nhằm thay thế học tập cá nhân mà là giúp cá nhân thực hiện nhiệm vụ học tập của mình thông qua trao đổi, thảo luận với các thành viên khác Cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạy từ GV thì những ưu điểm cơ bản trên đây sẽ góp phần khiến HS hứng thú hơn với phương pháp học tập này

Bên cạnh những điểm mạnh cần được phát huy nêu trên, chúng ta cần lưu ý tới một số thách thức với người học khi học tập và làm nhiệm theo nhóm Cụ thể:

Trong nhóm HS, những HS thiếu năng lực xã hội, đặc biệt là năng lực giao tiếp và năng lực hợp tác, hoặc năng lực trình bày thể hiện quan điểm cá nhân sẽ là những cá nhân gặp khó khăn khi làm việc theo nhóm Các HS này cần phải có sự thích nghi lớn, đặc biệt các em dễ gặp phải sự rụt rè, ko dám bày tỏ quan điểm cá nhân, sợ mắc lỗi sai, sợ bị phê bình Từ đó giảm hiệu quả làm việc của cá nhân cũng như ảnh hưởng tới kết quả làm việc chung nhóm

Trang 24

Nếu GV chỉ chia nhóm HS và giao nhiệm vụ mà không trang bị cho người học cách làm việc thì HS sẽ khó để hoàn thành công việc Việc HS tự tương tác với nhau có thể mang lại hiệu quả tích cực những cũng có thể đưa tới những kết quả tiêu cực không mong muốn, thậm chí có thể dẫn tới tan vỡ nhóm hoặc các mối quan hệ giữa người học có thể xấu đi

Làm việc trong nhóm đặc biệt yêu cầu cao về tính tự chủ và làm việc thực tế của người học, một điều mà không phải người học nào cũng có

Về phía người dạy

Phương pháp dạy học theo nhóm nếu được triển khai đúng sẽ giúp GV

đỡ phần vất vả, thay vì phải đưa ra tất cả kiến thức cho cả lớp, cần nhiều thời gian và sức khỏe thì HS tự tìm tới và chọn lọc tri thức cho riêng mình

Với vai trò là người tổ chức và điều khiển các nhóm, người dạy có thể theo dõi được hoạt động của người học trong lớp, quan sát và thu nhập thông tin về khả năng học tập của mỗi cá nhân cũng như năng lực cá nhân của mỗi

em, để từ đó điều chỉnh hoạt động dạy – học sao cho có kết quả tốt hơn Hoạt động nhóm đặc biệt hữu ích với những GV vừa thực hiện công tác giảng dạy vừa có công tác chủ nhiệm tại lớp đó

Thông qua việc người dạy tương tác với người học trong vai trò điều phối, khoảng cách giữa thầy –trò sẽ được thu ngắn lại Tình cảm thầy trò cũng

từ đó gắn kết hơn, tạo điều kiện cho người dạy triển khai hoạt động dạy và học sau này

Trên đây là những điểm mạnh cần quan tâm giúp GV áp dụng có hiệu quả phương pháp làm việc theo nhóm trong giảng dạy

Tuy nhiên những thách thức đưa ra với người dạy cũng cần được chú ý: Gánh nặng về việc truyền tải tri thức tới người học được giảm bớt nhưng việc chia nhóm HS và điều khiển các nhóm hoạt động sao cho đúng hướng không hề đơn giản Làm sao để nhóm hoạt động tốt, vừa thu được tri thức đúng đắn mà vừa giúp người học phát triển các năng lực cần thiết Do đó người dạy cần nhiều thời gian giành cho nhóm, không chỉ thời gian trên lớp

Trang 25

mà phải sẵn sàng hỗ trợ người học bất kỳ lúc nào, mỗi khi người học cần sự giúp đỡ hoặc nhóm gặp khó khăn

Bên cạnh kiến thức chuyên môn vững vàng, người dạy rất cần năng lực

sư phạm tốt, đồng thời phải trang bị cho mình những hiểu biết về năng lực sống, cách thức hình thành và rèn luyện các năng lực đó cho người học Đặc biệt người dạy cần có cách thức kiểm tra đánh giá người học phù hợp, không chỉ về mặt điểm số của HS mà còn cả về thành tích nhóm và sự tiến bộ của mỗi cá nhân

HS đã quen với cách dạy – học truyền thống, việc đổi mới cách học theo những phương pháp tích cực như dạy học theo nhóm sẽ khiến bỡ ngỡ vào bối rối Nếu muốn thấy kết quả học tập được nâng cao ngay đồng thời các năng lực chung được hình thành ngay quả thật là một thách thức lớn đối với người dạy Trên tất cả người dạy như một cầu nối giữa người học và cách học mới, làm sao để HS thực sự hào hứng với cách học mới, không ngại khó, ngại khổ, đòi hỏi người dạy cần đầu tư nhiều tâm huyết và học hỏi từ đồng nghiệp Mặt khác GV phải tương tác thường xuyên với lớp và nhiều khi là với cả gia đình người học và xã hội để hỗ trợ tối đa cho người học trong hoạt động nhóm Giải pháp để người dạy khắc phục những khó khăn trên đây:

Trước khi triển khai phương pháp, GV giới thiệu và giải thích cho HS cụ thể nhiệm vụ của nhóm, nhấn mạnh vai trò của người học để người học ý thức được trách nhiệm của mình cũng như công việc chung của nhóm Đặc biệt cần đưa ra các tiêu chí kiểm tra đánh giá kết quả làm việc cho cả nhóm và cá nhân, làm cơ sở để người học phấn đấu và học tập Nếu cần thiết người dạy có thể đưa ra phần thưởng khích lệ cho nhóm đạt thành tích cao nhất lớp, góp phần động lực thúc đẩy nhóm tích cực hoạt động

Người dạy thường xuyên theo dõi sự hoạt động của nhóm, thường xuyên tương tác khích lệ người học, đưa ra những nhận xét mang tính xây dựng nắm bắt thông tin để có thể đưa ra sự điều chỉnh kịp thời

Trang 26

Người dạy không nên can thiệp quá sâu vào công việc của nhóm, không thúc giục bởi HS cần có thời gian để thích nghi để tìm ra cách học và tự tìm ra cách giải quyết vấn đề của nhóm

1.2.4.3 Một số mô hình tổ chức hoạt động nhóm

A Làm việc theo cặp 2 học sinh

Đây là hình thức HS trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết vấn đề tình huống do GV nêu ra Trong quá trình giải quyết các tình huống, HS sẽ tích cực thu nhận kiến thức cho riêng mình

Hình thức nhóm này thường được sử dụng khi giao cho HS chấm bài, sửa bài cho nhau (qua phiếu học tập, qua các bài tập lựa chọn trong sách giáo khoa)

Ưu điểm của hình thức này là đơn giản, không mất nhiều thời gian thành lập nhóm, không xáo trộn chỗ ngồi mà vẫn huy động được HS làm việc cùng nhau Đây thường là những nhóm hình thành tạm thời, nhanh và kết thúc khi nhiệm vụ học tập chấm dứt

Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề sau

đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm Hoạt động nhóm này sử

Trang 27

dụng cho những bài học có dung lượng không lớn, ngoài mục đích tiếp thu tri thức người học có thế hình thành rèn luyện những năng lực cá nhân khác

C Nhóm kim tự tháp

Đây là cách tổng hợp ý kiến tập thể của lớp về một vấn đề của bài học Đầu tiên GV nêu vấn đề cho các HS làm việc độc lập Sau đó ghép 2 HS thành một cặp để các HS chia sẻ ý kiến của mình Kế đến hợp thành nhóm 8, nhóm 16,… cuối cùng cả lớp sẽ có một bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề Hình thức học nhóm này thể hiện tính dân chủ và dựa trên nguyên tắc tương hỗ, mô hình này phù hợp với các giờ ôn tập khi HS phải nhớ lại các định nghĩa khái niệm, công thức… đã học

trong một chương

D Hoạt động trà trộn

Trong hình thức này tất cả HS trong lớp phải đứng dậy và di chuyển trong lớp học để thu nhập thông tin từ các thành viên khác Sự di chuyển khỏi chỗ ngồi cố định làm cho HS cảm thấy thích thú và năng động hơn Đối với các HS yếu thì đây là cơ hội cho họ hỏi được nhiều người khác nhau cùng một câu hỏi mà ko cảm thấy xấu hổ hay nhút nhát Cũng thông qua cách học này mỗi HS sẽ nhận được nhiều đáp án, nhiều câu trả lời cho một vấn đề Hoạt động trà trộn triển khai trong phần mở đầu của tiết học nhằm “khời

động” hoặc kích thích nhận thức của người học trước khi học bài mới

E Hoạt động nhóm chuyên sâu

GV chia lớp học thành nhiều nhóm hợp tác (nhóm xuất phát) Mỗi thành viên trong nhóm được phân công tìm hiểu một phần của bài học hoặc thực hiện một nhiệm vụ của nhóm Các thành viên có cùng chủ đề thành lập nhóm chuyên gia và cùng nhau thảo luận để hiểu rõ nội dung được phân công Các thành viên của nhóm chuyên gia sau khi cùng trao đổi làm việc ở nhóm này

sẽ trở về nhóm hợp tác (nhóm xuất phát ban đầu), giảng lại cho cả nhóm về phần bài của mình Theo cách này, việc báo cáo công việc của nhóm do tất cả thành viên trong nhóm đảm nhận, chứ ko phải do một thành viên khá giỏi

Trang 28

đảm nhận Mỗi cá nhân sẽ nắm một mảng thông tin để lắp ghép thành một khối thông tin hoàn chỉnh Do đó sẽ không có một thành viên nào đứng ngoài hoạt động của lớp học

Hình 1.1 Hình thức hoạt động nhóm chuyên sâu 1.2.4.4 Những yếu tố trong hoạt động nhóm giúp người học hình thành và rèn luyện năng lực hợp tác

A Sự phụ thuộc vào nhau một cách tích cực

Các HS trong cùng một nhóm ý thức được rằng họ đang cùng ở trong một nhóm, cùng thực hiện một nhiệm vụ chung và công việc ở đây không phải của riêng ai [21] Sự cố gắng không thuộc về một số cá nhân riêng biệt

mà thuộc về tất cả mọi người, điều này là điểm xuất phát quan trọng cho quá trình làm việc của nhóm Để mỗi cá nhân cố gắng, GV cần cho người học thấy được phần thưởng khi làm việc nhóm nhằm kích thích hoạt động của từng người học Điều này dựa trên thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học nhân văn A Braham Maslow Chính sự thỏa mãn nhu cầu của người học làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động Theo cách xem xét đó, người dạy phải nhìn ra được nhu cầu của người học và đưa vào trong hoạt động nhóm để

có thể kích thích điều khiển được hành vi của HS

Người học nhận diện được lợi ích của mình khi làm việc nhóm là điều kiện cần thiết hàng đầu trong quá trình nhóm thực hiện nhiệm vụ học tập

Trang 29

Bằng cách kích thích vào nhu cầu của người học, GV sẽ không cần thiết phải

hô hào khẩu hiệu, yêu cầu HS hợp tác tích cực với nhau mà tự bản thân người học sẽ biết nắm tay nhau, biết trách nhiệm cần thiết của mình là gì, có ý thức thực hiện nhiệm vụ được giao mà không ỷ lại hay đùn đẩy cho người khác Bởi HS biết chỉ khi các em làm việc cùng nhau thì nhu cầu của riêng cá nhân các em mới được thỏa mãn và nhu cầu ấy còn đạt được ở mức cao khi hoạt động nhóm

B Sự tương tác hỗ trợ giữa các cá nhân trong nhóm

Nếu chỉ dừng ở mức giao nhiệm vụ cho từng người trong nhóm, chờ đợi kết quả từ mỗi cá nhân mang về, tổng hợp và báo cáo thì GV chưa giúp học sinh đi tới bản chất của hoạt động nhóm Đánh mất sự tương tác giữa người học với nhau là điều tối kị trong hoạt động nhóm Để tạo điều kiện cho sự tương tác hỗ trợ trong nhóm, đòi hỏi vai trò của người GV khi thực hiện công tác chia nhóm và quản lý Trong nhóm cần thiết có những cá nhân vượt trội hơn các thành viên khác của nhóm, các thành viên có học lực yếu hơn sẽ cần tới sự giúp đỡ của các bạn học tốt hơn, bản thân những cá nhân học tốt hơn khi giúp đỡ các bạn yếu sẽ thêm củng cố kiến thức của mình Trong quá trình tương tác giúp đỡ nhau cùng hoàn thiện nhiệm vụ của nhóm, các mối quan hệ của thành viên trong nhóm sẽ thêm khăng khít, tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm hoạt động tích cực

C Năng lực giao tiếp

Đây là năng lực quan trọng trong làm việc nhóm, là tập hợp những quy tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp được hình thành và rèn luyện khi người học giao tiếp với nhau trong nhóm [21] Ngoài ra, HS còn tương tác với GV trong quá trình học tập Nhờ có giao tiếp mà người học mới thể hiện được những suy nghĩ, dẫn chứng, lập luận của các mình để thuyết phục được nhóm

và bảo vệ được quan điểm cá nhân Với những HS yếu hơn trong nhóm, nếu không giao tiếp, ko trình bày được những điểm mình không hiểu hoặc chưa thông suốt thì một điều tất yếu các em sẽ không nhận được sự giúp đỡ có ích

Trang 30

từ các thành viên còn lại Những học sinh này sẽ không hiểu bài kĩ và kết quả sau khi hoạt động nhóm kết thúc sẽ là: các em học khá giỏi thì vẫn khá giỏi, còn các em học yếu hơn thì không thu nhận được thêm tri thức mới đúng đắn Vậy hoạt động nhóm để làm gì? Chính vì vậy, bất kỳ GV nào cũng ý thức được vai trò quan trọng của năng lực giao tiếp trong làm việc nhóm và mong muốn HS của mình “nói” với nhau nhiều hơn, tranh luận với nhau nhiều hơn, cùng mổ xẻ vấn đề chưa hiểu với nhau và cùng nhìn vấn đề ấy dưới nhiều góc

độ Chỉ như vây người học mới tự tìm ra tri thức, người dạy mới được phép yên tâm hơn về nội dung các em cần thu nhận

Hình 1.2 Kỹ năng giao tiếp trong nhóm

Tuy nhiên muốn người người học giao tiếp trong nhóm hiệu quả, GV cần hỗ trợ người học vượt qua một số rào cản sau đây:

Bởi các em HS lớp 10 – lớp đầu tiên của 3 năm học cấp 3, các em chưa

có nhiều thời gian để tìm hiểu nhau, có thể các em sẽ ngại nói chuyện với nhau, ngại bày tỏ quan điểm cá nhân, ngại trao đổi, ngoài ra sự khác biệt về tính cách hoặc những ảnh hưởng tiêu cực từ các mối quan hệ bên ngoài nhóm

sẽ giảm hiệu quả của giao tiếp trong nhóm GV lúc này cần tìm hiểu tất cả HS trong lớp, để việc chia nhóm không chỉ đảm bảo học tập được tốt mà còn phải

Trang 31

là môi trường để phát triển không khí thân thiện, cởi mở, giúp HS thân thuộc với nhau hơn

Sự không đồng đều về vốn kiến thức của người học trong cùng một nhóm Đây là điều thường thấy ở các nhóm học tập Chắc chắn sẽ có những

HS có sức học và vốn kiến thức trội hơn các bạn còn lại trong nhóm, các em này thường là những cá nhân “mạnh miệng” hơn những bạn khác, thường các

em sẽ tự tin thể hiện bản thân hoặc dễ trở thành những người lãnh đạo nhóm

do có thể nắm bắt được ý đồ cũng như hình dung được công việc mà nhóm cần phải thực hiện Điều này là cần thiết ở mỗi nhóm, tuy nhiên GV cần theo dõi hoạt động của nhóm để tránh trường hợp các em này trở nên độc tài, chỉ đạo áp đặt mọi công việc của nhóm theo ý mình, tránh để các em yếu hơn trong nhóm trở nên nhút nhát, không dám bày tỏ, lệ thuộc vào các bạn học giỏi mà không đóng góp ý kiến hoặc xây dựng bài tích cực

Thiếu kinh nghiệm khi làm việc trong tập thể cũng là hạn chế trong giao tiếp nhóm và ảnh hưởng xấu tới việc hình thành năng lực hợp tác ở người học Có một số HS chỉ tập trung vào việc học và tự học, các em ít giao lưu tiếp xúc trò chuyện với mọi người, ngại tham gia vào các công tác xã hội Nguyên nhân của hiện tượng này, một phần vì ngại một phần vì các em cho rằng những công tác ấy làm giảm thời gian học tập của các em Những cá nhân này có thể có kiến thức nền vững, làm việc cá nhân tốt nhưng hoạt động cùng với các bạn trong nhóm có thể gặp khó khăn Với những HS có tính hướng ngoại, đã và đang tham gia tích cực vào các công tác Đoàn đội ở trường lớp thì gaio tiếp nhóm cũng như hợp tác với các bạn không quá khó khăn Các em có thể chưa biết hợp tác trong nhóm sao cho có hiệu quả nhưng chí ít các em không ngại, không nhút nhát và sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ được giao một cách tích cực Những HS này sẽ là những cầu nối giúp cả nhóm hợp tác với nhau hiệu quả hơn, các em sẽ là khuấy động nhóm, đẩy không khí tích cực hào hứng của nhóm lên cao, kết nối những HS yếu và những HS có kiến thức tốt, cùng giúp nhau học tập

Trang 32

D Tính cá nhân

Trong nhóm, bắt tay hợp tác cùng nhau trao đổi để giải quyết vấn đề là điều rất cần thiết nhưng mỗi người học cần có tính cá nhân nhất định Điều này đảm bảo các em xác định được trách nhiệm của mình trong nhóm, biết rõ phận sự giới hạn và quyền hành trong nhóm cũng như thời gian để làm việc với nhau Bằng cách này giúp các em thực hiện được nhiệm vụ của mình mà không lẫn sang các phần nhiệm vụ của các thành viên khác Bên cạnh đó, việc xác định được chính xác cá nhân cần phải làm gì khiến HS yên tâm phát huy những năng lực vốn có của bản thân vào phần nhiệm vụ của mình

E Phản hồi và điều chỉnh

Việc nhận nhiệm vụ và thực hiện sẽ luôn hiệu quả khi được báo cáo thường xuyên thông qua các cuộc họp nhóm Trong họp nhóm mỗi HS sẽ nhận được phản hồi đóng góp mang tính xây dựng và kịp thời từ các thành viên còn lại của nhóm để có thể đưa ra hướng điều chỉnh phù hợp, thậm chí

có thể phát huy tính sáng tạo, cải tiến giúp nhiệm vụ thuận lợi hơn (cả về kiến thức thu nhận được và thời gian thực hiện nhiệm vụ) Để làm được điều này, các thành viên trong nhóm cần thoải mái chia sẻ thông tin, lúc này chúng ta quay lại vai trò của năng lực giao tiếp trong nhóm, chia sẻ thông tin chính xác, chân thực, đặc biệt là những khó khăn vướng mắc gặp phải trong quá trình thực hiện Các thành viên còn lại trong nhóm cần kiên nhẫn lắng nghe, bình tĩnh phân tích vấn đề của bạn, tránh tính nóng vội và đưa ra những đóng góp cá nhân giúp bạn hoàn thành nhiệm vụ Chỉ như vậy công việc của nhóm mới được tiến hành thuận lợi mà không bị gián đoạn quá lâu ở một khâu nào

đó Với những HS đã hoàn thành nhiệm vụ trước, việc chia sẻ thông tin cũng rất cần thiết, hãy khuyến khích các em chia sẻ kinh nghiệm thu nhận được trong quá trình thực hiện để giúp các bạn khác có thể hoàn thành nhiệm vụ Đồng thời các em sẽ nhận được những lời khen ngợi động viên từ những bạn khác và người dạy GV cần theo dõi sát sao quá trình trao đổi và phản hồi này, để từ đó nhận ra những điểm mạnh điểm yếu của mỗi người học, vừa để

Trang 33

khuyến khích các em phát huy những ưu điểm vừa kịp thời sửa chữa khiếm khuyết mắc phải GV càng tích cực bao nhiêu, cẩn thận theo dõi thường xuyên bao nhiêu thì kết quả hoạt động nhóm càng cao bấy nhiêu

Khi đảm bảo được những điều trên năng lực hợp tác của người học

sẽ dần được hình thành và rèn luyện theo thời gian

GV trong vai trò hỗ trợ, điều chỉnh nhóm trong những khi nhóm gặp khó khăn nhưng khi phát hiện một số mâu thuẫn dưới đây, yêu cầu người GV phải chủ động giải quyết và đảm nhiệm vai trò chỉ đạo

GV phải để ý đến tất cả mọi thành viên, kể cả trưởng nhóm, nếu các em

có những biểu hiện sau đây:

Có vẻ luôn ca ngợi thái quá về thành tích của nhóm

Luôn yêu cầu nhận phần thưởng lớn trong khi kinh phí hoạt động nhóm không nhiều

Thường che giấu hoặc không sẵn lòng chia sẻ thông tin, kinh nghiêm Những hành vi như vậy sẽ làm suy yếu sự tận tâm của mọi người và giảm sự gắn kết trong nhóm GV theo dõi xem phản ứng của các HS trong nhóm ra sao nếu các thành viên tự có ý thức giúp bạn loại bỏ những hành vi

đó thì GV không cần can thiệp bằng không GV cần trực tiếp loại các hành vi tiêu cực này

Người dạy nhận ra sự hợp tác lành mạnh, nếu quan sát thấy các thành viên trong nhóm làm những điều sau đây:

Đặt quyền lợi của nhóm lên trên quyền lợi bản thân

Sẵn sàng bỏ ra một phần chi phí trong lúc nhóm đang cần gấp, tạo điều kiện giúp đỡ các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ (phương tiện đi lại hoặc đóng góp tài liệu)

Nhiệt tình chia sẻ niềm tin vào sự thành công

Vui vẻ nhiệt tình giúp đỡ các bạn cùng nhóm hoàn thành nhiệm vụ Xóa bỏ những bất đồng quan điểm gây ảnh hưởng tới công việc chung giữa các thành viên Đây là điểm đáng được quan tâm, bởi vì sự bất đồng giữa

Trang 34

các cá nhân chính là yếu tố phá hoại và làm cho hoạt động nhóm sụp đổ Mâu thuẫn trong quan hệ khiến mọi người xao lãng công việc và giảm sự tận tâm dành cho nhóm, cũng như các mục tiêu của nhóm Một số nhóm không thể kết thúc cuộc họp mà không có những cơn giận bùng phát, sự chỉ trích công khai và những cảm giác nặng nề Khi điều này xảy ra, các thành viên trong nhóm có thể phản ứng bằng cách rút lui khỏi cuộc tranh cãi, hoặc cố giữ gìn mối quan hệ của họ bằng cách tránh chạm trán

Nếu người dạy quan sát thấy loại mâu thuẫn này, hãy lập tức làm điều gì

đó để ngăn chặn trước khi mọi việc trở nên xấu hơn Hãy làm bất cứ điều gì cần thiết để đưa các bên thù địch đến gần nhau, xem xét mâu thuẫn một cách công bằng, khách quan và tìm hướng giải quyết Nếu một trong hai bên hoặc

cả hai bên tỏ ra quá cứng rắn, hãy nghĩ đến phương án thay đổi nhân sự của nhóm học tập

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực tiễn sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học Sinh học phần III: VSV, sinh học 10 - THPT

Thông qua phiếu thăm dò, chúng tôi thực hiện khảo sát thực trạng dạy bộ môn Sinh học 10 trường THPT Đà Bắc trong tổng số 35 tiết học, kết hợp với phỏng vấn HS về sử dụng nhóm học tập; thu được tỉ lệ sử dụng PPDH theo nhóm như bảng sau:

Trang 35

Bảng 1.1: Tỷ lệ sử dụng PPDH theo nhóm trong dạy và học Sinh học 10

Mức độ

Các tiêu chí

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không sử dụng

SL tiết %

SL tiết %

SL tiết %

Tự kiểm tra và

Chúng tôi cũng tiến hành nhiều buổi dự giờ, trao đổi với GV có trình độ chuyên môn vững vàng nhằm thu thập các dữ liệu làm cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu

1.2.1.1 Tình hình GV sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học Sinh học 10

Trong dạy học hình thành kiến thức mới

Hoạt động nhóm là phương pháp được nhiều GV sử dụng trong dạy học

bộ môn Sinh học, nhất là trong việc dạy học hình thành kiến thức mới Tuy nhiên việc tổ chức nhóm ra sao, hoạt động nhóm trong dạy học kiến thức mới sao cho đạt hiệu quả cao thì không phải người dạy nào cũng thực hiện được Nhiều GV có tâm huyết với nghề đã chủ động tìm kiếm, học hỏi để đưa PPDH theo nhóm vào giảng dạy sao cho khoa học và hợp lý GV thường áp dụng hoạt động nhóm cho những bài học có kiến thức mới mẻ, nhưng thường

Trang 36

chỉ dừng ở mức, tập hợp những HS ngồi kế cận nhau cho HS thảo luận trong thời gian ngắn, đưa ra những ý kiến nhanh, những thắc mắc ban đầu làm cơ sở

để đưa ra vấn đề mới cho bài học, từ đó dẫn dắt vào bài học Việc các em có thực sự thảo luận, những thắc mắc ý kiến mang tính tích cực bộc lộ năng lực của người học hay không, nhiều khi GV không để ý đến điều này

Chính vì điều này nên dễ dàng nhận thấy qua bảng , số lượng người học

tự hoạt động nhóm để tìm hiểu nội dung kiến thức mới là không nhiều, có chăng chỉ xuất hiện ở một vài HS thực sự đam mê môn học, hào hứng với những điều chưa biết, chưa được rõ mới cùng nhau tự hoạt động nhóm

Trong dạy học củng cố, ôn tập, hoàn thiện kiến thức

Trong khâu củng cố bài học, đã có số lượng nhỏ GV sử dụng hoạt động nhóm để tóm tắt nội dung kiến thức đã học cho HS trên lớp, song chưa chú ý đến hoạt động nhóm của các em ngoài giờ trên lớp Điều này không giúp tăng cường khả năng tự học của HS cũng như không hỗ trợ rèn luyện thêm cả về kiến thức và năng lực mà người học đã cùng nhau hình thành trên lớp Cho nên hiệu quả mang lại từ việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học củng cố

ôn tập, hoàn thiện kiến thức chưa nhiều

Hiện nay trong giờ ôn tập của môn Sinh học, do nội dung kiến thức ôn tập thường nhiều nên GV luôn muốn tiết kiệm thời gian và công sức, đồng thời để phù hợp với hình thức kiểm tra đánh giá chủ yếu hiện nay là trắc nghiệm khách quan nên GV chủ yếu cho HS trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa, sách bài tập hoặc hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm nhanh Mọi hoạt động dạy và học trong giờ ôn tập thường khá gấp rút và khẩn trương, HS thì chỉ chăm chú tới những nội dung được GV nhấn mạnh nhằm phục vụ cho các bài kiểm tra đánh giá chính vì vậy hiệu quả thu được của giờ ôn tập thường không cao, kèm theo đó mục tiêu dạy học nhằm phát triển năng lực cho người học cũng đôi khi bị quên lãng

Tuy nhiên có một số GV đã tổ chức thành công những giờ học ôn tập hiệu quả với hoạt động nhóm, trong những giờ này HS cùng nhau hệ thống lại

Trang 37

kiến thức đã học dưới sự hướng dẫn của người dạy Những nhóm này tiếp tục hoạt động khi về nhà, cùng giúp nhau hoàn thiện khối kiến thức, cùng giúp nhau chuẩn bị cho bài kiểm tra đánh giá sắp tới

Do đó, việc nghiên cứu tìm cách tổ chức hoạt động nhóm vào dạy học với mục đích ôn tập và củng cố hoàn thiện kiến thức là hết sức cần thiết, mang tính thực tiễn cao Hoạt động nhóm trong lúc này vừa dễ hình thành nhóm, vừa thuận lợi cho người học rèn luyện năng lực hợp tác cũng như những năng lực cá nhân khác

Trong những nội dung thực hành

Hình 1.3 Phòng thực hành Sinh học ở trường THPT

GV thường xuyên tổ chức hoạt động nhóm trong những bài thực hành sinh học, đặc biệt trong những bài thực hành quan sát và giải phẫu Với nội dung VSV học 10, tổ chức chia nhóm HS và tiến hành thực hành là điều cần thiết, bởi không phải nhà trường nào cũng được trang bị đầy đủ thiết bị để tất

cả HS cùng lúc được thực hiện bài thực hành Mặt khác, gói trong khuôn khổ một giờ thực hành chỉ có 45 phút , GV không đủ thời gian và công sức để hướng dẫn tỉ mỉ chi tiết cho từng người học thực hiện thành công thí nghiệm hoặc bài thực hành Tuy nhiên, hoạt động nhóm trong những giờ này đòi hỏi công tác quản lý thật tốt, nếu không dễ gây lộn xộn, tránh tính trạng giờ thực

hành trở thành giờ tán gẫu, làm việc riêng, thực hành không hiệu quả

Trang 38

Trong kiểm tra, đánh giá

Hầu hết các bài kiểm tra đánh giá của bộ môn Sinh học ở trường THPT hiện nay dưới hình thức trắc nghiệm khách quan với hệ thống ngân hàng câu hỏi Mỗi HS tự thực hiện bài kiểm tra của cá nhân mình, còn việc đánh giá kết quả của người học chủ yếu được thực hiện bởi GV, việc này giúp GV trực tiếp nhìn nhận được kết quả của mỗi người học thu được Do đó, rất ít những bài kiểm tra đánh giá được tổ chức với hoạt động nhóm Theo quan điểm của chúng tôi, trong kiểm tra đánh giá cần thiết phải có hoạt động nhóm, bởi hơn

ai hết, người học muốn được nhận sự đánh giá từ 2 phía, của cả GV giảng dạy

và những bạn học cùng

1.2.1.2.Thực trạng HS tự hình thành nhóm học tập

Qua bảng khảo sát ta thấy HS ít khi tự thành lập những nhóm học tập để cùng nhau tìm hiểu kiến thức mới, hầu hết các em tự học tự tìm hiểu tri thức cho mình Tuy nhiên những nhóm học tập hình thành để củng cố và ôn tập kiến thức cũ lại được HS tự tổ chức khá thường xuyên, các em thường phân chia công việc chuẩn bị bài ôn, cuối cùng tổng hợp thành tài liệu ôn tập chung

sử dụng cho cả nhóm Tự kiểm tra đánh giá bằng nhóm học tập còn là vấn đề khá mới mẻ với các em, mặc dù là phương pháp rất hiệu quả và mang tính khách quan công bằng cao nhưng ít được các em sử dụng HS thường tự kiểm tra đánh giá trong nhóm khi có hoạt động nhóm cùng nhau tuy nhiên việc tự đánh giá này thường không chính xác, ít mang lại hiệu quả tiến bộ cho HS

1.2.4 Phân tích nguyên nhân thực trạng sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học Sinh học

1.2.4.1 Về phía giáo viên

Do lối dạy học truyền thống theo hình thức đọc chép đã tồn tại trong nhà trường phổ thông nhiều năm nay như một thói quen khó thay đổi

Một số GV còn chưa tâm huyết với nghề, ý thức cải tiến PPDH chưa nhiều nên dẫn đến dạy học theo quán tính, thói quen, ngại thay đổi và ngại sử dụng phương pháp mới Vì vậy PPDH theo nhóm nếu có được áp dụng cũng

Trang 39

chỉ là hình thức đơn giản, chưa thực sự mang tính khoa học để đạt được những ưu việt mà phương pháp mang lại Dẫn tới kết quả của quá trình dạy học thu được không cao, chưa kích thích được tính tích cực, ham tìm hiểu tri thức của người học, mục tiêu hình thành và rèn luyện năng lực cho người học cũng vì thế mà gặp hoàn thành

Nhiều GV đã tiếp cận với các PPDH tích cực song việc áp dụng vào thực tiễn giảng dạy vẫn còn nhiều hạn chế Bởi việc áp dụng các PPDH tích cực nói chung và PPDH theo nhóm nói riêng đòi hỏi người GV vừa phải nắm chắc nội dung tri thức vừa phải gia công tài liệu rất nhiều Ngoài ra năng lực

sư phạm của GV phải vững vàng, đầu tư nhiều thời gian công sức để theo dõi nhóm hoạt động, hỗ trợ và giúp đỡ các em kịp thời Các hoạt động này khiến khâu thiết kế giáo án trở nên vất vả hơn

Để tổ chức hoạt động nhóm đạt kết quả cao, GV cần biết sử dụng và phối hợp linh hoạt các thiết bị, phương tiện dạy học cũng như các điều kiện xã hội bên ngoài nhằm hỗ trợ các nhóm học tập Có như vậy giờ học mới kích thích được tính tích cực của người học, khiến người học hợp tác và học tập cùng nhau thuận lợi hơn

Đa số giáo viên cho rằng những PPDH tích cực nói chung và PPDH theo nhóm nói riêng chỉ nên áp dụng với những HS khá và giỏi vì chỉ những em này mới có khối kiến thức nền tốt, có ý thức học tập để tiếp nhận và phát huy hiệu quả thực sự của những PPDH này Đây là một ý kiến chủ quan chưa đúng đắn bởi nếu chỉ HS khá giỏi mới áp dụng được thì chả cần tới những PPDH tích cực, các PPDH truyền thống cũng giúp các em học tập hiệu quả rồi Mục tiêu chúng ta hướng tới là để các em tự giúp nhau, những HS khá giỏi sẽ giúp đỡ bạn mình học tốt hơn

GV hầu như chú trọng tới nội dung kiến thức mà HS thu nhận được, chứ chưa chú tâm tới năng lực hay thái độ và hành vi của người học Chính vì điều này, các PPDH tích cực nói chung và PPDH theo nhóm nói riêng chưa thu được kết quả về lâu dài Tức là, ở trên lớp thì các em học theo nhóm dưới

Trang 40

sự sắp xếp của GV, khi rời trường lớp các em lại quay về cách học truyền thống mà chưa chủ động thành lập và duy trì nhóm cho những hoạt động học tập về sau

1.2.4.2 Về phía học sinh

Nhiều HS coi môn Sinh học ở THPT là môn phụ, do vậy các em thiếu sự đầu tư thời gian và công sức vào việc học mà chỉ học mang tính chất đối phó với việc kiểm tra, đánh giá của GV

Trong quá trình học, HS còn thụ động, chưa tích cực, chủ động trong lĩnh hội kiến thức

Hầu hết HS chưa đổi mới cách học, chỉ quen với cách học thuộc lòng nội dung cơ bản được ghi chép ở trên lớp và chưa chú ý đến phân tích, chứng minh và tìm hiểu bản chất của các nội dung đó

1.2.4.3 Nguyên nhân khách quan khác

Một nguyên nhân quan trọng khác là cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học bộ môn ở trường phổ thông chưa đầy đủ Đặc biệt là thiết kế môi trường lớp học, các dụng cụ thực hành được trang bị hầu như để phục vụ HS tự thực hành và học, chưa thuận lợi cho HS thực hiện công tác nhóm

Hình 1.4 Một số kiểu bàn học phục vụ hoạt động nhóm

Mặt khác, chương trình, SGK tuy mới cập nhật, hiện đại, nhưng bổ sung nhiều kiến thức mới và khó, nhất là chương trình Sinh học 10 Trong khi đầu tư trang thiết bị lại không theo kịp và GV lại không được bồi dưỡng, đào tạo để kịp thời đáp ứng việc dạy học theo chương trình mới Từ đó dẫn đến việc dạy và học còn chưa đạt kết quả cao

Ngày đăng: 03/09/2015, 18:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Kỹ năng giao tiếp trong nhóm - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Hình 1.2. Kỹ năng giao tiếp trong nhóm (Trang 30)
Hình 1.3. Phòng thực hành Sinh học ở trường THPT - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Hình 1.3. Phòng thực hành Sinh học ở trường THPT (Trang 37)
Hình 1.4. Một số kiểu bàn học phục vụ hoạt động nhóm - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Hình 1.4. Một số kiểu bàn học phục vụ hoạt động nhóm (Trang 40)
Bảng 2.1. Nội dung chương trình sinh học 10 - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 2.1. Nội dung chương trình sinh học 10 (Trang 43)
Bảng 2.4. Phiếu thông tin nhóm thực hành - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 2.4. Phiếu thông tin nhóm thực hành (Trang 56)
Bảng 2.5: Quy trình thực hành của nhóm - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 2.5 Quy trình thực hành của nhóm (Trang 57)
Bảng 2.6. Phiếu đánh giá kết quả làm việc nhóm - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 2.6. Phiếu đánh giá kết quả làm việc nhóm (Trang 60)
Hình 2.1. Đồ thị đường cong sinh trưởng trong môi - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Hình 2.1. Đồ thị đường cong sinh trưởng trong môi (Trang 66)
Bảng 2.7. Phiếu học tập số 1 - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 2.7. Phiếu học tập số 1 (Trang 67)
Bảng 2.9. Ảnh  hưởng của các yếu tố lý học - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 2.9. Ảnh hưởng của các yếu tố lý học (Trang 73)
Bảng 3.2. Thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 3.2. Thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN (Trang 80)
Bảng 3.5. Bảng tần suất điểm (%) của các bài kiểm tra lần 2 - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 3.5. Bảng tần suất điểm (%) của các bài kiểm tra lần 2 (Trang 82)
Hình 3.3. Đồ thị  tần suất điểm (%) của lần kiểm tra thứ 3 - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Hình 3.3. Đồ thị tần suất điểm (%) của lần kiểm tra thứ 3 (Trang 84)
Bảng 3.12.  Kiểm định phương sai của các bài kiểm tra lần 2 - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 3.12. Kiểm định phương sai của các bài kiểm tra lần 2 (Trang 87)
Bảng 3.14. Kiểm định phương sai của các bài kiểm tra lần 3 - Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học phần III vi sinh vật, sinh học 10 trung học phổ thông
Bảng 3.14. Kiểm định phương sai của các bài kiểm tra lần 3 (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w