Nội dung kiến thức trong phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở mang tính logic cao, có sự gắn kết chặt chẽ với nhiều môn học khác nhau nhưng để tích hợp kiến thức của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ THU THƯƠNG
TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG SINH HỌC 9
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trong tổ Tự nhiên, trường THCS Hải Lộc, THCS Hải Phương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luân khích lệ, động viên và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Thu Thương
Trang 4TN
VD
Đối chứng Giáo viên Học sinh Môi trường
Ô nhiễm môi trường Sách giáo khoa Trung học cơ sở Thực nghiệm
Ví dụ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Khách thể nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Vấn đề nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Nghiên cứu lí luận 4
7.2 Nghiên cứu thực tiễn 4
8 Đóng góp mới của luận văn 5
9 Ý nghĩa của luận văn 5
9.1 Ý nghĩa khoa học 5
9.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
10 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lí luận của tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học 7
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
Trang 61.1.3 Ý nghĩa của tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học 12 1.1.4 Nguyên tắc của dạy học tích hợp kiến thức liên môn 15 1.1.5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học tích hợp 16
1.2 Cơ sở thực tiễn của tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở 20
1.2.1 Xu hướng tích hợp kiến thức liên môn trong sách giáo khoa ở Việt Nam 20 1.2.2 Thực trạng của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở 21
SỞ 27 2.1 Phân tích chương trình phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở 27
2.1.1 Mục tiêu của phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở 27 2.1.2 Quan điểm xây dựng chương trình 29 2.1.3 Vị trí của phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học
cơ sở trong chương trình Sinh học Trung học cơ sở 30 2.1.4 Mối liên quan về kiến thức phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9 – Trung học cơ sở) với các môn học khác 33
2.2 Quy trình dạy học tích hợp kiến thức liên môn trong phần Sinh vật
và môi trường (Sinh học 9 – Trung học cơ sở) 35
2.2.1 Xác định mục đích tích hợp liên môn 35 2.2.2 Xác định vấn đề và mức độ tích hợp liên môn 35
2.3 Những yêu cầu khi tích hợp liên môn trong dạy học phần Sinh vật
và môi trường Sinh học 9 Trung học cơ sở 36
Trang 72.4 Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi
trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở 37
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 58
3.1.1 Mục đích 58
3.1.2 Nhiệm vụ 58
3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm 58
3.2.1 Nội dung 58
3.2.2 Phương pháp 59
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 61
3.3.1 Phân tích định tính 61
3.3.2 Phân tích định lượng 62
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined Kết luận Error! Bookmark not defined Khuyến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 81
Trang 8
DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Kết quả điều tra dành cho giáo viên về thực trạng việc dạy học tích hợp kiến thức liên môn tại trường THCS 22 Bảng 1.2: Kết quả điều tra dành cho học sinh về khả năng tích hợp kiến thức liên môn tại trường THCS 25 Bảng 3.1: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 1 66
kiểm tra số 1 67
kiểm tra số 1) 68 Bảng 3.5: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 2 69 Bảng 3.6: Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa các lớp ĐC và TN của bài kiểm tra số 2 70
Bảng 3.8: Bảng tần suất hội tụ tiến 71
Bảng 3.9: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 3 72 Bảng 3.10: Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa các lớp ĐC và TN của bài kiểm tra số 3 72
73
bài kiểm tra số 3) 74 Bảng 3.13: Kiểm định giả thuyết thống kê số trung bình cộng điểm các bài
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc chương trình Sinh học ở trường THCS 30
Hình 2.2: Sơ đồ mô tả giới hạn nhiệt độ của cá chép ở Việt Nam 39
Hình 2.3: Sơ đồ mô tả giới hạn nhiệt độ của cá rô phi ở Việt Nam 39
Hình 2.4 : So sánh tỷ lệ diện tích/ thể tích của hai dạng cấu trúc 42
Hình 2.5: Cấu trúc của phân tử nước 44
Hình 2.6 : Sơ đồ phản ứng thủy phân và phản ứng trùng ngưng 45
Hình 2.7: Đồ thị sự biến đổi số lượng cá thể trùng giày qua thời gian 50
Hình 2.8: Hiện tượng mưa axit 52
Hình 2.9 : Một số hoạt động gây ô nhiễm không khí 54
Hình 3.1: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 1 67
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra số 1 69
Hình 3.3: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 2 70
Hình 3.4: Đồ thị biểu diễn tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra số 2 71
Hình 3.5: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 3 73
Hình 3.6: Đồ thị biểu diễn tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra số 3 74
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục Việt Nam đang trên đà đổi mới Việc nghiên cứu lý thuyết học tập để tìm ra cơ sở khoa học của hướng đi, cách làm giáo dục là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của người học, của xã hội Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật và công nghệ, tri thức của loài người đang gia tăng nhanh chóng Tình hình nói trên buộc phải xem lại chức năng truyền thống của người giáo viên là truyền đạt kiến thức, đặc biệt là những kiến thức của từng môn khoa học riêng rẽ (Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa chất, Thiên văn…) Giáo viên phải biết dạy tích hợp các khoa học, dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế
Hình thức tích hợp phổ biến nhất được giáo viên vận dụng và hiện đang được đẩy mạnh là tích hợp liên môn Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học với các kiến thức của các bộ môn khác, các ngành khoa học, nghệ thuật khác, cũng như các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó kích thích khả năng hứng thú tìm tòi, khám phá tri thức, làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh
Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức mà loài người tích lũy được tăng lên nhanh chóng, điều đó đặt ra cho nền giáo dục nước nhà phải có sự đổi mới sâu sắc và toàn diện Nước ta đang tiến hành một cuộc cải cách giáo dục với quy mô rộng lớn, trên nhiều lĩnh vực (thay đổi về mục tiêu đào tạo, đổi mới chương trình và nội dung kiến thức, cải cách về quản lí giáo dục, xã hội hóa giáo dục và đổi mới về phương pháp giảng dạy, hình thức kiểm tra đánh giá ) Trong đó đổi mới quy trình và áp dụng phương pháp dạy học tích cực là một trong những yêu cầu bức thiết trong công cuộc cải cách giáo dục hiện nay
Trang 11Ngày nay, trong sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, đặc biệt
là sự phát triển của công nghệ thông tin, kiến thức Sinh học tăng rất nhanh theo thời gian và có nhiều sự đổi mới Có những kiến thức Sinh học được coi
là chuẩn mực và được thừa nhận trong thời gian dài thì bây giờ hoặc đã trở nên lạc hậu hoặc đã được mở rộng và phát triển thêm Cùng với sự tăng nhanh của kiến thức Sinh học là sự hình thành của các chuyên ngành Sinh học mới Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm Các kiến thức Sinh học được hình thành trên cơ sở các thí nghiệm, thực nghiệm của các nhà nghiên cứu và thực tiễn lao động sản xuất cũng như quá trình đấu tranh với thiên nhiên của con người Con người lại sử dụng chính những kiến thức đã tích lũy được để phục vụ đời sống của mình (chăn nuôi, trồng trọt, y học, bảo vệ môi trường ) Sinh học là ngành khoa học, trong đó có sự tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học khác: Toán học, Vật lí học, Hóa học, Thiên văn học, Địa chất học, Trong quá trình phát triển, càng ngày mối quan hệ giữa Sinh học và các ngành khoa học càng phức tạp đa dạng và mật thiết Nội dung kiến thức trong phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở mang tính logic cao, có sự gắn kết chặt chẽ với nhiều môn học khác nhau nhưng để tích hợp kiến thức của các môn học với nhau một cách hợp lí lại là vấn đề không
hề đơn giản Chính vì thế, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tích hợp kiến
thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở.”
2 Mục đích nghiên cứu
Sử dụng kiến thức liên môn để dạy học phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9) – Trung học cơ sở, nhằm phát triển kĩ năng thu nhận, xử lí, sử dụng thông tin để giải quyết các vấn đề học tập và thực tiến cuộc sống
Trang 123 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và
môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Sinh học 9 – Trung học cơ sở
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học tích hợp, đặc biệt là tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Sinh học
- Xác định thực trạng việc dạy học Sinh học nói chung và dạy học Sinh học bằng việc tích hợp kiến thức liên môn tại một số trường Trung học cơ sở hiện nay
- Phân tích nội dung kiến thức Sinh học 9 đặc biệt là phần Sinh vật và
môi trường để lựa chọn những nội dung có thể dạy học theo hướng tích hợp
kiến thức liên môn
- Thiết kế và tổ chức dạy học một số bài trong phần Sinh vật và môi
trường Sinh học 9 theo hướng tích hợp kiến thức liên môn
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của
đề tài nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu nội dung, biện pháp, phương pháp và hình thức tổ chức tích hợp kiến thức liên môn vào một số bài cụ thể trong
phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9 - Trung học cơ sở)
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong năm học 2013 – 2014
Trang 135 Vấn đề nghiên cứu
Xác định nội dung kiến thức, nguyên tắc, biện pháp tích hợp trong phần
Sinh vật và môi trường (Sinh học 9 - Trung học cơ sở) có thể tích hợp liên
môn một cách hợp lí, mang lại hiệu quả cao trong việc tạo hứng thú cho người học và nâng cao chất lượng dạy học
6 Giả thuyết khoa học
Dạy học một số nội dung phần Sinh vật và môi trường trong chương
trình Sinh học 9 (Trung học cơ sở) theo quan điểm tích hợp liên môn không chỉ giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các hiện tượng Sinh học, mà còn nâng cao được khả năng vận dụng, phát triển kĩ năng thu nhận, xử lí, sử dụng thông tin để giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn cuộc sống
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản và chỉ thị của Trung Ương, Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới Giáo dục – Đào tạo
- Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lí luận của việc dạy học tích hợp kiến thức liên môn nói chung và tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Sinh học
7.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
+ Đối với giáo viên: Điều tra khảo sát thực tế việc dạy học Sinh học nói chung và sử dụng kiến thức liên môn nói riêng trong dạy học phần Sinh vật và môi trường thông qua phỏng vấn, dự giờ, thăm lớp, sử dụng phiếu điều tra + Đối với học sinh: Tiến hành điều tra tình hình học tập, phương pháp học tập và tâm lý của học sinh lớp 9 ở một số trường Trung học cơ sở trên địa bàn Hải Hậu – Nam Định thông qua phân tích kết quả học tập và sử dụng phiếu điều tra
Trang 14+ Tiến hành thiết kế và tổ chức dạy học song song một số bài thực nghiệm và đối chứng trong phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9 – Trung học cơ sở)
+ Sử dụng phương pháp toán học thống kê trên cơ sở so sánh kết quả học tập của học sinh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, từ đó rút ra kết luận
về tính khả thi và tính hiệu quả của đề tài
8 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn sẽ có những đóng góp cơ bản sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận của việc dạy học tích hợp kiến thức liên môn và dạy học tích hợp kiến thức liên môn trong phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở
- Xác định được nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và nội dung kiến thức liên môn có thể sử dụng trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở
- Thiết kế và tổ chức dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học một số nội dung trong phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9 – Trung học cơ sở)
9 Ý nghĩa của luận văn
9.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm phong phú thêm lí luận về phương pháp dạy học Sinh học nói chung và phương pháp tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh từ đó nâng cao hiệu quả dạy học về nhiều mặt
Trang 1510 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Tích hợp
Theo Phạm Văn Lập: “Tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một môn học” [14]
Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2009) thì “tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [17]
Theo Từ điển Giáo dục học, thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [7]
Tác giả Dương Tiến Sỹ và Nguyễn Phúc Chỉnh đều cho rằng “tích hợp là
sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó”[5],[22],[24] Như vậy, dưới góc độ giáo dục học, tích hợp được hiểu là sự tổng hợp các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất
Hiện nay, trên toàn thế giới mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách được xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập như cũ và giảng dạy như cũ theo chương trình và sách giáo khoa gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới dạy học cần phải đưa vào nhà trường như: Giáo dục sức
Trang 17khỏe, giới tính, dân số, pháp luật, phòng chống các tệ nạn xã hội, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường… nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học cũng như lượng thời gian để dạy hết mọi thứ cho học sinh Việc tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được để đảm bảo nhiệm vụ giáo dục nhiều mặt cho học sinh mà không quá tải
Trước những đòi hỏi đó, sư phạm tích hợp ra đời nhằm đáp ứng lại những yêu cầu của giáo dục hiện đại, không chỉ tích hợp về phương pháp mà còn cả về nội dung dạy học Quan điểm tích hợp đã được nghiên cứu và vận dụng trong dạy học ở nhiều nước trên thế giới
Theo Xavier Roegiers, “Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy, sư phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [30] Theo UNESCO, “Dạy học tích hợp các khoa học được định nghĩa là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của các tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hay quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [28]
Tuy có những định nghĩa khác nhau, nhưng các cách định nghĩa về dạy học tích hợp này lại thống nhất biện chứng với nhau ở tư tưởng chính là việc thực hiện mục tiêu kép trong quá trình dạy học (một là mục tiêu dạy học thông thường của một bài học, hai là mục tiêu được tích hợp trong nội dung bài học đó)
Như vậy, dạy học tích hợp là sự kết hợp nhiều lĩnh vực, nhiều môn học
để giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn cuộc sống
1.1.1.2 Tích hợp kiến thức liên môn
Không có bất kì ngành khoa học nào không có sự tích hợp tri thức của
Trang 18đó Sinh học là ngành khoa học nghiên cứu về sự sống, nhiệm vụ của Sinh học là tìm hiểu bản chất của các nguyên lý và các quá trình trong thế giới sống, khám phá các quy luật Sinh học
Bản thân giới tự nhiên là một thể thống nhất, vì vậy ngày nay đã xuất hiện những khoa học liên ngành, gian ngành, hình thành những tri thức đa ngành, liên ngành Các khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp cận “phân tích – cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp – hệ thống” Sự thống nhất của các thao tác
tư duy phân tích và tổng hợp đã tạo nên tiếp cận “cấu trúc – hệ thống” đem lại cách nhận thức biện chứng về quan hệ giữa các ngành khoa học
Xu thế phát triển của khoa học là càng ngày càng phân hóa sâu, song song với việc tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng mạnh Điều đó đã dẫn đến một tất yếu là không thể giảng dạy các khoa học như là các lĩnh vực tri thức riêng rẽ
Bản chất sự sống là tổng hợp của tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh của tự nhiên và xã hội, của giới vô cơ và hữu cơ, giữa con người và thiên nhiên, giữa các hiện tượng Vật lý, Hóa học, khí hậu, thổ nhưỡng Vì vậy, Sinh học là môn khoa học có liên quan chặt chẽ với các môn khoa học khác như Vật lý học, Toán học, Hóa học, Địa lý Do đó, trong dạy học Sinh học cần đặt nó vào trong mối quan hệ tương tác với các ngành, các chuyên ngành khoa học khác
Tích hợp kiến thức liên môn là mối quan hệ hữu cơ, có hệ thống giữa kiến thức môn học này với kiến thức môn học khác thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ giữa lí thuyết
và thực tiễn được đề cập trong nội dung các môn học đó
Như vậy, đặc trưng của dạy - học tích hợp kiến thức liên môn, đó là:
- Một cách tiếp cận tổ chức HS sử dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp và ngôn ngữ từ nhiều môn khác nhau để nghiên cứu một chủ đề, giải
Trang 19quyết vấn đề nhận thức trong thực tiễn, qua đó chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành năng lực tư duy, năng lực vận dụng tri thức
- Nhận ra đặc trưng của mỗi môn học cũng như mối quan hệ giữa các môn học với nhau
- Hướng tới:
Cung cấp nhiều hơn cách dạy tích cực và kinh nghiệm học tập
Cung cấp nhiều hơn kinh nghiệm của cuộc sống thực và luôn mở
Cung cấp nhiều cơ hội chia sẻ trong sự tương tác, hợp tác giữa những
HS có vốn sống và kinh nghiệm khác nhau
+ Làm cho kiến thức trở nên có ý nghĩa
1.1.2 Một số quan điểm về tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học
Trong dạy học tích hợp, điều cần thiết đầu tiên là phải : “Vượt lên trên cái nhìn bộ môn” – tức là vượt lên trên cái nhìn quen thuộc về vai trò của từng môn học riêng rẽ, quan niệm đúng hơn về quan hệ tương tác giữa các môn học Theo d’ Hainaut(1977) có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học
- Quan điểm “đơn môn”: Có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của mỗi môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng
rẽ
- Quan điểm “đa môn”: Thực chất là những tình huống, những đề tài được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau Theo quan điểm này, các môn học được tiếp cận riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài Như vậy, các môn học sẽ không thực sự được tích hợp
- Quan điểm “liên môn”: Trong dạy học những tình huống chỉ có thể được tiếp cận hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước: các quá trình học tập sẽ không đề cập một
Trang 20- Quan điểm “xuyên môn”: Có thể phát triển những kĩ năng mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, chẳng hạn, nêu một giả thuyết, đọc các thông tin, giải một bài toán,… Những
kĩ năng chúng ta sẽ gọi là kỹ năng xuyên môn Có thể lĩnh hội được những kĩ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những hoạt động chung cho nhiều môn học
Nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểm liên môn và xuyên môn Trong đó, quan điểm liên môn phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng có thể
áp dụng ở nhiều môn học, nhiều tình huống
Theo Xavier Roegier (1996) quan điểm liên môn có thể đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học.Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau Cách tích hợp này tiến xa hơn các cách tích hợp thứ nhất
vì nó dẫn đến hợp nhất nhiều môn học [30,tr49]
Những ứng dụng cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học Ví dụ: các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn đề chung của khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh được đánh giá bằng một bài thi tổng hợp kiến thức
Những ứng dụng cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm
cụ thể đều đặn trong năm học Ví dụ: Các môn Lí, Hóa, Sinh vẫn được dạy riêng rẽ, hoặc vì bản chất và logic phát triển nội dung từng môn học, hoặc vì các môn học này do các giáo viên khác nhau đảm nhiệm Tuy nhiên, chương trình có bố trí xem một số chương trình tích hợp liên môn nhằm làm cho học
sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi nhau
Trang 211.1.3 Ý nghĩa của tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học
Dạy học từng môn riêng rẽ giúp học sinh hình thành kiến thức khoa học một cách hệ thống, dạy học tích hợp giúp học sinh liên kết kiến thức trong nhà trường và thực tiễn cuộc sống
Dạy học tích hợp kiến thức liên môn giúp học sinh trở thành người lao động tích cực, người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống
Khuynh hướng dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn cho phép rút ngắn được thời gian dạy học, đồng thời tăng cường được khối lượng
và chất lượng thông tin của chương trình và nội dung SGK phổ thông Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa các bộ môn trong nhà trường phổ thông, nhất
là giữa chương trình và SGK ở các cấp học, đặc biệt ở một số môn đồng tâm Việc giảng dạy tích hợp kiến thức liên môn rèn cho học sinh ý thức và
kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để xử lý các vấn đề đặt ra trong học tập Đối với một số nội dung kiến thức, người giáo viên chỉ nên giới thiệu những hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đề cập Nhờ đó có thể khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểu biết của người học Cần đánh giá cao những học sinh biết cách
sử dụng những kiến thức phân môn này để tham gia giải quyết những vấn đề của phân môn khác Đó là những thói quen, cơ sở để sau này các em có điều kiện tiếp thu và vận dụng dễ dàng hơn trong phương pháp nghiên cứu liên ngành ở các bậc cao hơn, cũng như khi vào đời có khả năng giải quyết dễ dàng hơn các vấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là tình huống tích hợp
Dạy học tích hợp kiến thức liên môn giúp học sinh sử dụng một cách tối
đa các kiến thức đã được học ở tất cả các bộ môn vào giải quyết một vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong nhà trường gần lại với kiến thức xã hội
Dạy học tích hợp kiến thức liên môn giúp học sinh học tập thông minh
Trang 22toàn diện, hài hòa và hợp lý trong giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại
Ngoài ra, dạy học tích hợp kiến thức liên môn còn đảm bảo cho học sinh khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống xuất hiện, và nếu có thể, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa gặp
HS có thể học tập nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ các tư liệu học tập được biên soạn trong khuôn khổ một chương trình tích hợp các khoa học một cách hợp lý HS có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn nếu phương pháp dạy học của thầy thực sự chuyển hóa thành phương pháp dạy cách học cho trò, theo cách tiếp cận dạy học giải quyết vấn đề mà học sinh là trung tâm, tập dượt cho học sinh cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn
Hơn nữa, dạy học tích hợp kiến thức liên môn giúp học sinh rèn luyện tư duy khái quát, năng lực liên hệ và mở rộng kiến thức; giúp học sinh dễ hiểu bài, dễ khắc sâu kiến thức và giảm cường độ học tập cho học sinh
Vận dụng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học tạo điều kiện cho học sinh phát triển tốt các kỹ năng Khi vận dụng tích hợp kiến thức liên môn vào dạy học, các quá trình học tập không tách rời cuộc sống hằng ngày cũng như không tách rời các môn học riêng rẽ mà có sự liên hệ các môn học với nhau và với thực tiễn cuộc sống Không còn sự tách rời giữa hai thế giới nhà trường và thực tiễn cuộc sống, dạy học riêng rẽ từng môn một sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống nhưng khó áp dụng vào thực tiễn các tình huống tích hợp Dạy học tích hợp kiến thức liên môn nhằm nêu bật cách sử dụng kiến thức, nhằm giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, giúp học sinh khi ra đời sẽ trở thành người lao động có ý thức và tự lập, người công dân có trách nhiệm với xã hội, người chủ của đất nước
Dạy học tích hợp kiến thức liên môn giúp học sinh phát triển phối hợp nhiều kỹ năng mà các môn học đơn lẻ khó hình thành được
Trang 23Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học giúp người học vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp tư duy khoa học để giải quyết những tình huống trong đời sống thực tiễn
Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học giúp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí những tình huống thực tiễn có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo
Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học giúp học sinh biết vận dụng các kiến thức trong việc giải quyết các tình huống cụ thể Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức đủ loại, mà giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức của các môn học việc giải quyết các tình huống giúp phát huy năng lực tự lập của học sinh trong cuộc sống sau này
Ngoài ra, dạy học tích hợp kiến thức liên môn còn giúp người học xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Trong quá trình học tập học sinh
có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biểu đạt các khái niệm đã học trong mối liên hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như các môn học khác nhau Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật thông tin ngày càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và vận dụng các kiến thức đó vào việc giải quyết các tình huống thách thức chưa từng gặp
Tuy nhiên dạy học tích hợp kiến thức liên môn lại gặp phải một số khó khăn sau:
- Cả giáo viên và học sinh phải làm quen với phương pháp dạy học mới Trong khi giáo viên cũng như học sinh chủ yếu thụ động, sức ỳ lớn
- Phần lớn các trường phổ thông, các tư tưởng dạy bổ sung cho bài giảng, các phương tiện dạy học còn thiếu
Trang 24- Để dạy theo hướng tích hợp kiến thức liên môn, giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu và soạn giáo án, lập kế hoạch dạy học
- Có thể nói hiện nay chưa có những bộ sách tham khảo chuẩn, tích hợp đầy đủ kiến thức liên quan đến môn học, quá nhiều sách tham khảo, trong khi chất lượng nhiều cuốn sách không đảm bảo, gây khó khăn cho học sinh
1.1.4 Nguyên tắc của dạy học tích hợp kiến thức liên môn
Nội dung các kiến thức liên môn chứa đựng trong các bài học, các môn học khác nhau Do đó, GV phải xác định được nội dung cần tích hợp kiến thức liên môn trong kiến thức môn học; biết cách lựa chọn, phân loại các kiến thức tương ứng, phù hợp với các mức độ khác nhau để đưa vào bài giảng
Ngoài ra, do thời gian một giờ giảng trên lớp có hạn nên GV phải biết chọn
những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất để giảng dạy theo cách dạy học tích hợp kiến thức liên môn, còn phần kiến thức nào dễ hiểu nên để học sinh tự đọc sách giáo khoa hoặc các tài liệu tham khảo
Việc đưa các kiến thức liên môn vào bài giảng không thể tùy tiện mà cần dựa vào các nguyên tắc sư phạm sau:
1) Kiến thức liên môn được tích hợp phải có mối quan hệ logic chặt chẽ với Sinh học, nhưng phải được ẩn trong nội dung bài học Sinh học Điều đó
có nghĩa là, người dạy không được làm thay đổi tính đặc trưng của Sinh học Tránh việc biến bài dạy Sinh học thành bài giảng các môn khoa học khác 2) Khai thác nội dung cần tích hợp kiến thức liên môn một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng Nghĩa là phải biết lựa chọn phần nội dung kiến thức để tích hợp kiến thức liên môn phù hợp, không dàn trải cả bài Theo nguyên tắc này, các kiến thức liên môn đưa vào bài học phải có hệ thống, được sắp xếp hợp lý, vừa làm phong phú thêm kiến thức cho người học vừa nâng cao được chất lượng dạy học nhưng phải sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, thích hợp với trình độ của học sinh, không gây quá tải, ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính
Trang 253) Đảm bảo tính vừa sức: Dạy học tích hợp kiến thức liên môn phải phát huy cao độ tính tích cực và vốn sống của học sinh Các kiến thức liên môn đưa vào bài học phải làm cho bài học rõ ràng và làm cho bài học tường minh hơn đồng thời tạo được hứng thú cho người học Đảm bảo nguyên tắc vừa sức, trình bày đơn giản, ví dụ thực tế gần gũi
1.1.5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học tích hợp
1.1.5.1 Trên thế giới
Nhà giáo dục học N.U.Savin nêu rõ: Nền học vấn phổ thông phán ánh đầy đủ và chính xác nhất tri thức khoa học và thực tiễn của nhân loại và nó
thực sự là toàn diện.“Ở đó đã kết hợp một cách hữu cơ các tri thức về tự
nhiên, xã hội và tư duy con người đã đạt được sự hài hòa giữa học vấn về nhân văn và về tự nhiên ” [17, tr 99]
Nhà giáo dục học T.A.I Lina nhấn mạnh: “Ngày nay không có một khoa
học nào được giảng dạy mà lại không sử dụng những số liệu của các khoa học tiếp cận khác, những tài liệu, những sự kiện và những thí dụ lấy từ trong cuộc sống hàng ngày và từ các lĩnh vực tri thức khác nhau” [25, tr 245]
Trong phần nhiệm vụ của việc giảng dạy kĩ thuật tổng hợp tác giả cho rằng:
“Việc xác lập mối liên hệ giữa các bộ môn nhằm vạch ra cho học sinh thấy
mối liên hệ qua lại của các khoa học” [25, tr 153]
Trong cuốn “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle
O Martin – Kniep có đề cập đến quy trình xây dựng các đơn vị bài học tích
hợp là gì có nêu: Tích hợp chương trình có nhiều hình thức khác nhau “Tích
hợp nội dung là hình thức kết nối nội dung trong nội bộ môn học và giữa các môn học với nhau” [6, tr 27]
Nhà giáo dục học I.A Cai - Rốp, N.K Gôn – Sa - Rốp - B.P.Ét - Si- Pốp, L.V Dan - Cốp nêu ra những yêu cầu đối với trình độ của giáo sư trong
đó các ông nhấn mạnh: “Giáo sư không chỉ có tri thức phong phú về chuyên
Trang 26môn nghiệp vụ của mình mà phải chú ý đến sự phát triển của những môn khoa học gần gũi với môn chuyên nghiệp chủ yếu của mình” [12, tr 87]
Vấn đề nguyên tắc liên môn cũng được đề cập trong cuốn “Phát triển tư
duy học sinh” Các tác giả M.Alêcxêep, Ônhisúc cho rằng “Việc sử dụng
rộng rãi các môn học như vậy để bồi dưỡng cho học sinh các thủ thuật và phương pháp tư duy lôgic sẽ góp phần thực hiện một trong những yêu cầu quan trọng nhất của lí luận dạy học là xác lập các mối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ môn trong dạy học”[ 15, tr 100]
Tác giả N.M Iacôplep trong “Phương pháp và kĩ thuật lên lớp trong
trường phổ thông” cũng rất coi trọng mối liên hệ giữa các bộ môn “ giữ vai
trò to lớn về mặt này là hệ thống công tác liên hệ hữu cơ giữa các giáo viên các bộ môn khác nhau – tức là mối liên hệ giữa các bộ môn” [16, tr 35]
I.F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” đã nêu rõ tác dụng, ý nghĩa của việc vận dụng kiến thức các môn
học: “Việc giáo viên có khả năng tìm được mối liên hệ giữa các vấn đề mà
các nhà bác học đã nghiên cứu với điều mà các em đã học ở nhà trường thuộc một môn học nào đó cũng gây cho học sinh niềm hứng thú đặc biệt đối với việc học tập tài liệu mới” [13, tr 102]
1.1.5.2 Tại Việt Nam
Ở nước ta, có một số nhà giáo dục đã và đang vận dụng quan điểm tích hợp liên môn vào việc dạy học ở trường phổ thông với một số công trình tiêu biểu:
Đặng Thành Hưng cho rằng: “Trong khoa học giáo dục còn có những bộ
môn, chuyên ngành, liên môn lấy những liên hệ qua lại làm đối tượng” [10, tr
15] Trần Bá Hoành trong “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” nhấn mạnh phương pháp tích cực trong đó đề cập vấn đề giáo dục theo mục tiêu với nội dung “liên môn” và “xuyên môn” [9]
Trang 27Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” nêu một cách khái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kiến
thức liên môn: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được
khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học Các mối liên hệ giữa các môn học, phản ánh bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một
sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau” [19, tr 123]
Đối với các nhà trường sư phạm, việc vận dụng quan sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình đào tạo giáo viên cũng đang là vấn đề nhận được sự quan tâm của rất nhiều những nhà nghiên cứu Có thể kể ra một số công trình
tiêu biểu: Đinh Quang Báo (2003), với công trình Cơ sở lý luận của việc đào
tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường
sư phạm [2]; Lê Đức Ngọc (2005), với đề tài Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn tự nhiên, các môn xã hội – nhân văn và các môn công nghệ [18]; Nguyễn Đăng Trung (2003), Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm
[27]
Trong đề tài Dạy học tích hợp [8], tác giả Trần Bá Hoành (1993), đưa ra
một số khái niệm nền tảng về sư phạm tích hợp, các quan điểm và mục tiêu của sư phạm tích hợp, điều kiện và triển vọng để triển khai dạy học theo hướng tích hợp ở trường phổ thông tại Việt Nam
Nguyễn Phúc Chính và Trần Thị Mai Lan (2009), lại đề cập đến Tích
hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học (Sinh học 10) Việc
tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong các môn học ở trường phổ thông sẽ đạt được mục tiêu kép vừa nâng cao chất lượng dạy học môn học, vừa góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp sau này Các tác giả đã nghiên cứu nội dung của phần Vi Sinh Vật học lớp 10, từ đó đưa ra một số nguyên tắc và biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật.[4, tr44]
Trang 28Lê Trọng Sơn (1999), với đề tài Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua
dạy học giải phẫu người ở lớp 9 phổ thông THCS Theo tác giả, giáo dục dân
số được lồng ghép vào môn Giải phẫu sinh lý người là thích hợp nhất cả ở độ tuổi của học sinh cũng như nội dung môn học Ông đã chỉ ra mối quan hệ giữa những tri thức giải phẫu con người và tri thức dân số từ đó vận dụng quan điểm tích hợp để lồng ghép các kiến thức dân số cần thiết vào các bài học có liên quan Đó chính là bản chất của giáo dục tích hợp [23, tr26]
Nguyễn Thị Thim, với đề tài “Sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy học Sinh học 10 – Trung học phổ thông” Theo đề tài này tác giả chỉ ra rằng:
“ Chất lượng dạy học Sinh học 10 - Trung học phổ thông sẽ được nâng cao
nếu người dạy thực hiện tốt nguyên tắc, phương pháp, quy trình và nội dung dạy học tích hợp” [26]
Nguyễn Duy Nhân, với đề tài “Sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy học Sinh học 12 – Trung học phổ thông” Theo đề tài này tác giả chỉ ra rằng:
“Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Sinh học 12 sẽ giúp được người
học hiểu rõ bản chất các vấn đề Sinh học, phát huy được hứng thú học tập, nâng cao chất lượng dạy học và nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn và đời sống” [20]
Nguyễn Thị Nhung, nghiên cứu vấn đề “Sử dụng kiến thức liên môn để gây hứng thú học tập Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 ở trường
trung học phổ thông” Theo đề tài này tác giả đã chỉ ra rằng: “sử dụng kiến
thức liên môn trong dạy học Lịch sử có vai trò, ý nghĩa to lớn: không những
là một nguyên tắc cần tuân thủ mà còn là một nguồn kiến thức quan trọng và
là biện pháp đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông nhằm gây hứng thú học tập Lịch sử cho học sinh” [21]
Trang 291.2 Cơ sở thực tiễn của tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 - Trung học cơ sở
1.2.1 Xu hướng tích hợp kiến thức liên môn trong sách giáo khoa ở Việt Nam
Dạy học tích hợp tức là hướng tới việc học sinh có thể sử dụng kiến thức một cách tổng hợp, nhuần nhuyễn, hiệu quả để giải quyết được những vấn đề trong học tập và cuộc sống Nếu chúng ta cứ dạy riêng rẽ kiến thức của từng lĩnh vực, từng bộ môn một, không liên quan với nhau thì quá trình dạy học sẽ không hiệu quả, khả năng vận dụng kiến thức của học sinh sẽ không cao Chúng ta đã có những cố gắng trong chương trình hiện hành khi đã tích hợp được nhiều lĩnh vực khác nhau vào trong một môn học, nhất là giáo dục tiểu học và một phần ở giáo dục THCS và cũng có ở giáo dục THPT Tuy nhiên, yêu cầu của dạy học tích hợp là phải cao hơn trong chương trình hiện nay Chúng ta sẽ xây dựng những bộ môn liên quan nhiều đến các lĩnh vực, kiến thức khác nhau Có nghĩa là sẽ giảm số môn học hiện hành Ít môn học hơn nhưng kiến thức lại được sử dụng một cách nhuần nhuyễn hơn Đây là việc rất khó Viết sách đáp ứng yêu cầu tích hợp đã khó, việc có giáo viên dạy được những kiến thức tích hợp càng khó Vì vậy, cần có những bước đi phù hợp, sẽ tiến hành dần từ thấp đến cao, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từ việc viết chương trình, sách giáo khoa và kể cả việc đào tạo đội ngũ giáo viên
Xu hướng tích hợp các kiến thức liên môn học trong sách giáo khoa được Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đưa vào các môn học như môn khoa học tự nhiên (liên môn Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa chất, thiên văn), khoa học xã hội và nhân văn (liên môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Xã hội học) Việc tích hợp liên môn học sẽ giúp học sinh dễ vận dụng các kiến thức vào thực tiễn vì những vấn đề nảy sinh trong đời sống, sản xuất ít khi liên quan đến một lĩnh vực tri thức nào đó riêng biệt mà đòi hỏi
Trang 30dụ việc sử lí rác thải không chỉ liên quan đến kiến thức Sinh học mà còn liên quan đến kiến thức Hóa học, Vật lí…
Chính vì những lí do trên, ở trường phổ thông cần thiết phải giới hạn tích hợp liên môn trong nội bộ từng môn học Ví dụ: Giáo dục môi trường, giáo dục biến đổi khí hậu, giáo dục tiết kiệm năng lượng, giáo dục dân số, phòng chống AIDS… trong bộ môn Sinh học, tích hợp Tiếng việt, Tập làm văn, Văn học, Giáo dục đạo đức… trong môn Ngữ văn
1.2.2 Thực trạng của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở
Để tìm hiểu thực trạng của việc tích hợp kiến thức liên môn ở trường THCS hiện nay chúng tôi tiến hành khảo sát GV và HS tại các trường THCS trên địa bàn huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định Cụ thể:
- Mục tiêu khảo sát: Đánh giá mức độ thường xuyên của công tác tích hợp kiến thức liên môn đối với GV và HS tại trường THCS
- Khách thể:
+ 90 GV trên địa bàn huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định
+ 295 HS thuộc 2 trường THCS Hải Lộc (145 HS) và THCS Hải Phương (150 HS)
- Phương pháp: phỏng vấn, dự giờ, thăm lớp, sử dụng phiếu điều tra
- Nội dung khảo sát:
1.2.2.1 Dành cho GV
Trang 31Bảng 1.1: Kết quả điều tra dành cho giáo viên về thực trạng việc dạy học tích
hợp kiến thức liên môn tại trường THCS
Qua bảng 1.1 cho thấy:
Các phương pháp được sử dụng thường xuyên chủ yếu là làm việc với SGK, tài liệu tham khảo (94,4%); thuyết trình (92,2%); hỏi đáp (90%); giải thích minh họa (88,9%); quan sát tranh giáo khoa (87,8%) Các phương pháp
ít được sử dụng đó là biểu diễn thí nghiệm (38,9%); dạy học theo dự án (34,4%); thực hành thí nghiệm (32,2%); chiếu video (30%) đặc biệt là việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học (20%)
Trang 32Như vậy, việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học phần Sinh vật
và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở còn ít được các giáo viên chú trọng Nguyên nhân của thực trạng trên là do:
- GV phải xem xét, rà soát nội dung chương trình, SGK hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu, đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới sao cho phù hợp với tính chất liên môn học
- Phương pháp giảng dạy: Do ảnh hưởng của lối dạy truyền thống chủ yếu là thầy đọc, trò chép, thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp, tái hiện, biểu diễn trực quan minh họa nên không thể trong thời gian ngắn mà có thể thay đổi được cách suy nghĩ cũng như phương pháp của giáo viên
- GV phải tự tìm hiểu hoặc nhờ các GV bộ môn khác phối hợp để có một bài giảng tích hợp kiến thức liên môn vì lâu nay GV được đào tạo để dạy chuyên môn chứ không phải liên môn
- Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy tại một số trường chưa đáp ứng được phương pháp giảng dạy hiện đại, hoặc có sẵn nhưng do giáo viên còn chưa chịu tìm tòi đổi mới, hoặc chỉ vận dụng trong những giờ thao giảng, các tiết thi giáo viên giỏi
- Trong mỗi tiết dạy, giáo viên chỉ tập trung vào truyền tải hết kiến thức sách giáo khoa mà không dạy học sinh hiểu rõ bản chất của kiến thức, dẫn đến tình trạng học sinh chỉ hiểu được bề nổi của kiến thức mà không hiểu sâu xa được vấn đề cần hướng tới, không khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy tính tích cực chủ động của người học Giáo viên ít chú trọng đến việc tích hợp kiến thức liên môn trong quá trình dạy học vì công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức khi phải liên hệ kiến thức của một bài với những bài khác, đồng thời sử dụng kiến thức của các môn học khác Số lượng giáo viên tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Sinh học còn ít, vì đa số giáo viên cho rằng việc dạy học theo quan điểm này chỉ phù hợp với các học sinh có
Trang 33mức độ nhận thức tốt như ở trường chuyên và lớp chọn, còn các học sinh khác năng lực nhận thức còn thấp, không đồng đều, nên khó áp dụng được
Ngoài ra, do việc kiểm tra đánh giá chất lượng giáo viên ở các trường còn nặng nề, cách đánh giá rập khuôn máy móc cũng là nguyên nhân khiến giáo viên không tích cực trong đổi mới, các kỳ kiểm tra chất lượng, kể cả kỳ thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh vào đại học còn nặng nề về tái hiện kiến thức nên cách dạy phổ biến hiện nay vẫn còn chú trọng đến cung cấp kiến thức cho học sinh
1.2.2.2 Dành cho HS
Trang 34Bảng 1.2: Kết quả điều tra dành cho học sinh về khả năng tích hợp kiến thức
liên môn tại trường THCS
Mức độ hiểu biết của HS Trường
THCS Hải Lộc
Trường THCS Hải Phương
Cả 2 trường
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
của bài học với kiến thức
của các môn khoa học
khác
2
Vận dụng đưa kiến thức
của các môn khoa học khác
vào từng phần của bài học
Trang 35Qua bảng 1.2 cho thấy :
- Phần lớn học sinh coi việc học môn Sinh học là nhiệm vụ bắt buộc, chỉ một số ít yêu thích môn Sinh học còn đa số học sinh coi đây là môn học phụ, học để lấy điểm và là nhiệm vụ, rất ít học sinh yêu thích môn học này Số học sinh nắm chắc kiến thức, có thể chủ động chiếm lĩnh kiến thức, giải thích được các vấn đề một các khoa học rất ít Đa số học sinh chỉ tìm được kiến thức cơ bản nhưng chưa hiểu được bản chất của các kiến thức, vì vậy khó khắc sâu được kiến thức
- Nguyên nhân của tình trạng học môn Sinh học của học sinh như trên là do: Đa số các em thích học những môn Toán học, Vật lý, Hóa học mà ít có hứng thú với môn Sinh học, coi môn Sinh học là môn phụ nên không đầu tư thời gian và công sức vào việc học mà học chỉ mang tính chất đối phó với các bài kiểm tra của giáo viên Số đông học sinh quen với thói quen học thuộc lòng, có phương pháp học thụ động, máy móc theo kiểu đối phó Rất ít học sinh biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, số học sinh có phương pháp học tập chủ động sáng tạo chiếm tỉ lệ thấp
Học sinh chưa xác định được đúng động cơ, thái độ học tập, chưa ham thích học tập bộ môn nên thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mới Trong quá trình học, học sinh còn thụ động chưa tích cực chủ động sáng tạo lĩnh hội tri thức mới, thậm chí nhiều học sinh không có SGK, sách tham khảo
Trang 36CHƯƠNG 2
SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC PHẦNSINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG
SINH HỌC 9 - TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1 Phân tích chương trình phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở
2.1.1 Mục tiêu của phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ
sở
Căn cứ vào nội dung của phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 –
Trung học cơ sở, chúng tôi xác định được mục tiêu dạy học cụ thể như sau:
- Trình bày và lấy được ví dụ về các mối quan hệ cùng loài và khác loài
- Nêu được định nghĩa quần thể
- Trình bày được một số đặc trưng của quần thể: mật độ, tỉ lệ giới tính, thành phần nhóm tuổi
- Nêu được đặc điểm quần thể người Từ đó thấy được ý nghĩa của việc thực hiện pháp lệnh về dân số
- Nêu được định nghĩa quần xã
- Trình bày được các tính chất cơ bản của quần xã, các mối quan hệ giữa ngoại cảnh và quần xã, giữa các loài trong quần xã và sự cân bằng Sinh học
Trang 37- Nêu được các khái niệm: hệ sinh thái, chuỗi và lưới thức ăn
- Trình bày được các tác động của con người tới môi trường, đặc biệt là nhiều hoạt động của con người làm suy giảm hệ sinh thái, gây mất cân bằng sinh thái
- Nêu được khái niệm ô nhiễm môi trường
- Nêu được một số chất gây ô nhiễm môi trường phổ biến: các khí công nghiệp, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các tác nhân gây đột biến
- Trình bày được hậu quả của ô nhiễm ảnh hưởng tới sức khỏe và gây ra nhiều bệnh tật cho con người và sinh vật
- Nêu được các dạng tài nguyên chủ yếu (tài nguyên tái sinh, không tái sinh, năng lượng vĩnh cửu)
- Trình bày được các phương thức sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, rừng
- Trình bày được ý nghĩa của việc cần thiết phải khôi phục môi trường
và bảo vệ sự đa dạng sinh học
- Trình bày được các biện pháp bảo vệ thiên nhiên: xây dựng khu bảo tồn, săn bắt hợp lí, trồng cây gây rừng, chống ô nhiễm môi trường
- So sánh được sự đa dạng của các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước
- Giải thích được vai trò của các hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, hệ sinh thái nông nghiệp và đề xuất các biện pháp bảo vệ các hệ sinh thái này
- Trình bày được sự cần thiết ban hành luật và hiểu được một số nội dung của Luật Bảo vệ môi trường
Về kĩ năng:
- Kĩ năng tư duy: tiếp tục rèn luyện kĩ năng tư duy thực nghiệm – quy nạp, chủ trương phát triển tư duy lí luận (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa… đặc biệt là kĩ năng nhận dạng, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống)
Trang 38- Kĩ năng học tập: Tiếp tục phát triển kĩ năng học tập, đặc biệt là kĩ năng
tự học, biết thu thập xử lí thông tin, lập bảng biểu sơ đồ, đồ thị; làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm; làm các báo cáo nhỏ, trình bày ý kiến trước tổ, nhóm, lớp
Về thái độ:
- GD ý thức học tập, yêu thích bộ môn
- Yêu thiên nhiên, yêu khoa học
- Có ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình, cộng đồng
2.1.2 Quan điểm xây dựng chương trình
Chương trình Sinh học THCS được xây dựng trên quan điểm hệ thống chuyên nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo và hoạt động sống, các điều kiện sống của sinh vật cũng như các mối quan hệ giữa các sinh vật với nhau và với môi trường, tìm cách sử dụng hợp lí chúng, phục vụ đời sống con người Sinh học 9 củng cố, tiếp nối và phát triển những kiến thức Sinh học ở bậc Trung học cơ sở Sinh học 6 và Sinh học 7 chủ yếu đề cập phân loại, đặc điểm hình thái và cấu tạo của các cơ quan, hệ cơ quan của động vật và thực vật Sinh học
8 đề cập giải phẫu và sinh lí người Như vậy từ Sinh học 6 đến Sinh học 8, học sinh đã tìm hiểu những kiến thức chủ yếu về sinh học cơ thể, thấy được tính đa dạng sinh học và lược sử tiến hóa của sinh giới Đến Sinh học 9, học sinh được tìm hiểu những lĩnh vực mới của sinh học, cụ thể là di truyền và
biến dị, sinh vật và môi trường
Chương trình Sinh học 9 mang tính tổng kết những vấn đề quan trọng của sinh học bậc THCS và đề cập đến các hiện tượng di truyền, biến dị, tiến hóa, mối quan hệ với môi trường không chỉ ở cấp độ quần thể, quần xã mà giới thiệu cơ sở phân tử, tế bào và cơ thể của các hiện tượng đó trên quan điểm xem thế giới sống là hệ thống có tổ chức cao theo thứ bậc lệ thuộc từ
Trang 39đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao như một thể thống nhất biện chứng trong nội bộ của hệ thống sống cũng như giữa hệ thống với môi trường ngoài Chương trình phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở
đề cập đến mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường, giữa sinh vật với sinh vật, nghiên cứu các cấp tổ chức của thế giới sống từ quần thể → quần xã →
hệ sinh thái và ý thức bảo vệ môi trường của con người
Chương trình phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở mang tính thực tiễn cao, phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cho công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên cũng như liên quan nhiều đến
con người và xã hội loài người
2.1.3 Vị trí của phần Sinh vật và môi trường Sinh học 9 – Trung học cơ sở trong chương trình Sinh học Trung học cơ sở
Chương trình Sinh học ở cấp Trung học cơ sở hiện hành gồm 5 phần cơ bản được minh hoạ ở hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc chương trình Sinh học ở trường THCS
Trong chương trình trình Sinh học 6, học sinh được bắt đầu làm quen với thế giới sinh vật, trước hết là thực vật Sinh học 6 giúp các em tìm hiểu cấu tạo cơ thể một cây xanh từ cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá) đến cơ quan
Thực
vật
Động vật
Sinh học 7
Cơ thể người
và vệ sinh
Di truyền
và biến
dị
Sinh học 8
Sinh học 9
Sinh vật và môi trường
Sinh
học 6
Trang 40nào qua các nhóm cây khác nhau, chúng đã biến đổi phát triển ra sao từ dạng đơn giản nhất đến dạng phức tạp nhất là những cây có hoa mà hằng ngày chúng ta vẫn tiếp xúc Bên cạnh đó, học sinh còn biết được mối quan hệ giữa thực vật với môi trường sống cũng như vai trò của chúng đối với đời sống con người
Sinh học 7 sẽ mang đến cho học sinh chìa khóa để mở cánh cửa bước vào thế giới động vật Ở chương trình này học sinh được tìm hiểu, khám phá thế giới động vật đa dạng phong phú, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ các động vật có kích thước hiển vi trong một giọt nước ao hồ ở cạnh chúng ta đến những động vật khổng lồ như bạch tuộc, cá nhà táng,… ở tận đáy đại dượng
Qua Sinh học 6 và Sinh học 7 học sinh đã được tìm hiểu về cấu tạo và đời sống của các cơ thể thực vật và động vật, thấy được tính đa dạng và phong phú cũng như tính thích nghi kì diệu với môi trường sống của chúng Đồng thời học sinh cũng thấy được sự tiến hóa cơ thể đơn giản đến cơ thể phức tạp
có cấu tạo phù hợp với chức năng ngày càng hoàn thiện đã phải trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài Bước sang Sinh học 8, học sinh sẽ được tìm hiểu sâu về một loài động vật cao nhất trên bậc thang tiến hóa – con người, về những điều bí ấn trong chính bản thân mình Khi đã hiểu rõ, nắm chắc các kiến thức đó, học sinh sẽ có cơ sở áp dụng các biện pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể khỏe mạnh, tạo điều kiện cho hoạt động học tập và lao động có hiệu suất và chất lượng
Đến Sinh học 9 học sinh sẽ được tìm hiểu những lĩnh vực mới của Sinh học, cụ thể là di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường
Phần sinh vật và môi trường trong chương trình Sinh học 9 đề cập đến mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường, giữa sinh vật với sinh vật, nghiên cứu các cấp tổ chức của thế giới sống từ quần thể → quần xã → hệ sinh thái