Bằng chứng là nếu nhìn lại công tác thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua, điều làm chúng ta không khỏi lo ngại là những con số thiệt hại đáng kể t
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hóa, mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta Với tư cách là chất xúc tác cho sự phát triển của thương mại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế cũng không ngừng được mở rộng và phát triển Song, khi thương mại quốc tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa người mua và người bán càng trở nên đa dạng và phức tạp Điều này đồng nghĩa với nguy cơ rủi ro ngày càng cao trong buôn bán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng Bằng chứng là nếu nhìn lại công tác thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua, điều làm chúng ta không khỏi lo ngại là những con số thiệt hại đáng kể trong nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.Sau thời gian thực tập tại bộ phận Thanh toán quốc tế (TTQT) thuộc phòng quan hệ khách hàng - ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hà Nam (BIDV
Hà Nam - NHĐT&PTVN), em nhận thấy tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến nhất trong thanh toán quốc tế tại chi nhánh tuy nhiên với quy mô còn quá bé và hạn chế về nhiều mặt,đồng nghĩa với nó là tiềm ẩn nhiều rủi ro khó tránh được.Hà Nam mặc dù có lợi thế là cửa ngõ phía nam của thủ đô Hà Nội tuy nhiên nghiệp vụ TTQT mới chỉ được chi nhánh thực hiện và phát triển từ cuối năm 2005 và mới chỉ là 1 bộ phận chưa là 1 phòng hoàn chỉnh Do đó, hình thức thanh toán tín dụng chứng từ này cần được phát triển và hoàn thiện hơn nữa để phù hợp với yêu cầu thực
tế của đất nước nói chung và của tỉnh Hà Nam nói riêng.
Xuất phát từ những vấn đề khó khăn nêu trên, Em muốn đi sâu nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng và giải pháp nhằm mở rộng phát triển và hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Nam” Và để từ đó nhằm tìm hiểu thêm về hoạt động thanh
toán quốc tế tại Ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh tỉnh Hà Nam,đồng thời tìm ra giải pháp phát triển mở rộng và hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh.
** Đối tượng và phạm vi nghiên cứu **
Đây là đề tài tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng TTQT bằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại chi nhánh BIDV-Hà Nam và những giải pháp chung để hạn chế rủi ro ,phát triển và
mở rộng nó.
Với phạm vi của một chuyên đề, em cũng chỉ xin tập trung nghiên cứu và trình bày các cơ sở lý luận theo thông lệ quốc tế liên quan đến hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ, thực tiễn về hoạt động này tại ngân hàng đầu tư & phát triển chi nhánh tỉnh Hà Nam trong khoảng 3 năm trở lại đây (2007-2009).
** Phương pháp nghiên cứu **
Để nghiên cứu và hoàn thành được một chuyên đề có hiệu quả, em đã sử dụng tập hợp các phương pháp như duy vật biện chứng, phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh cùng với việc tham khảo các sách, tài liệu trong và nước ngoài
Trang 2** Kết cấu chuyên đề **
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề này có bố cục như sau:
Chương I: Tổng quan về thanh toán quốc tế và tín dụng chứng từ
Chương II: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh BIBV Hà Nam.
Chương III: Một số giải pháp kiến nghị nhằm phát triển mở rộng và hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại chi nhánh BIDV- Hà Nam.
ra đời đáp ứng được đòi hỏi đó Đó là: “ Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”
Như vậy,thanh toán quốc tế là việc thực hiên các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiện tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức cá nhân nước này với tổ chức các nhân nước khác hay giữa 1 quốc giá với tổ chức quốc tế ,thông qua quan hệ giữa các ngân hàng (NH) của các nước liên quan.
1.1.2 Các điều kiện thanh toán quốc tế
Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quy định lại thành những điều kiện gọi là: Điều kiện thanh toán quốc tế Mặt khác, nghiệp vụ Thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện Thanh toán quốc tế Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền giữa các nước, của các hợp đồng mua bán ngoại thương
ký kết giữa người mua và người bán
Trang 3Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm: Điều kiện tiền tệ, điều kiện về địa điểm,điều kiện
về thời gian,điều kiện về phương thức thanh toán.
a Điều kiện tiền tệ : Trong thanh toán quốc tế các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của một nước nào đó Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định tiền tệ Điều kiện này quy định việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán trong hợp đồng ngoại thương và hiệp định ký kết giữa các nước Đồng thời điều kiện này cũng quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động Người
ta có thể chia thành hai loại tiền sau:
- Đồng tiền tính toán (Account Currency): Là loại tiền được dùng để thể hiện giá cả và tính toán tổng giá trị hợp đồng ngoại thương
- Đồng tiền thanh toán (Payment Currency): Là loại tiền để chi trả nợ nần, công nợ,giá trị hợp đồng mua bán ngoại thương Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền của nước nhập khẩu, của nước xuất khẩu hoặc có thể là đồng tiền quy định thanh toán của nước thứ 3
b Điều kiện về địa điểm thanh toán : Địa điểm thanh toán được quy định rõ trong hợp đồng ký kết giữa các bên Địa điểm thanh toán có thể là nước nhập khẩu hoặc nước người xuất khẩu hay có thể là một nước thứ 3 Tuy nhiên, trong TTQT giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tại nước mình, lấy nước mình làm địa điểm thanh toán Sở dĩ như vậy vì thanh toán tại nước mình thì có nhiều điểm thuận lợi hơn.Ví dụ như có thể đến ngày mới phải chi tiền, đỡ đọng vốn nếu là người nhập khẩu, hoặc có thể thu tiền về nhanh nên luân chuển vốn nhanh nếu là người xuất khẩu, hay có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ nước mình trên thế giới… Trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán còn phụ thuộc vào phương thức thanh toán, tương quan so sánh lực lượng giữa hai bên quyết định, đồng thời còn thấy rằng dùng đồng tiền của nước nào thì địa điểm thanh toán là nước ấy
c Điều kiền về thời gian thanh toán : Điều kiện thời gian thanh toán quy định khi nào thì người NK phải trả tiền cho ngưỡi XK do đó nó tác động tực tiếp đến việc luân chuyển vốn, lợi tức, khả năng
có thể tránh được những rủi ro về tỷ giá ,lãi suất thanh khoản,biến động về tiền tệthanh toán khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán Do đó, nó là vấn đề quan trọng và thường xẩy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng
Thông thường có 3 cách quy định về thời gian thanh toán:
- Trả tiền trước là việc bên nhập khẩu phải trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay một phần tiền hàng trước khi nhà XK chuyển giao hàng hóa dưới quyền định đoạt của nhà NK trong khoảng thời gian từ khi Nhà XK chấp nhận đơn đặt hàng đến khi họ thực hiện đơn đặt hang của nhà NK Mức tiền ứng trước phụ thuộc vào thị trường đó là của người mua hay người bán ,thêm nữa là tầm quan trọng của hàng hóa,thời hạn sx của hàng hóa
- Trả tiền ngay là việc người nhập khẩu trả tiền sau khi người xuất khẩu hoàn hành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặc sau khi người nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định
Trang 4- Trả tiền sau là việc người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu sau một khoảng thời gian nhất định kể từ khi giao hàng
d Điều kiện về phương thức thanh toán: Phương thức TTQT là toàn bộ quá trình ,điều kiện quy định để người mua trả tiền và nhận hàng,còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng ngoại thương thông qua hệ thống NH phục vụ.Có thể thấy đó là điều kiện quan trọng nhất trong hoạt động thanh toán quốc tế Phương thức thanh toán là cách mà người mua trả tiền và người bán thu tiền về như thế nào Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà người mua và người bán có thể thoả thuận để xác định phương thức thanh toán cho phù hợp nhằm hạn chế tối đa nhất rủi ro có thể xảy ra.Người trả tiền ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình làm thủ tục trả tiền cho người thụ hưởng ở nước ngoài thông qua một ngân hàng đại lý.Còn người thụ hưởng ủy thác cho
NH phục vụ mình thu hộ tiền ở người mắc nợ nước ngoài thông qua một NH đại lý.
Các phương thúc TTQT chủ yếu hiện nay gồm có: Phương thức ứng trước (Advanced payment); Phương thức ghi sổ (Open account); Phương thức chuyển tiền (Remittance); Phương thức nhờ thu ( Collection of payment): Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary of credit ).
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại
a Đối với hoạt động của nền kinh tế.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng và then chốt, cuối cùng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức,cá nhân thuộc quốc gia khác nhau.Nó là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nếu không có hoạt động thanh toán quốc tế thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại Thanh toán quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển Việc tổ chức Thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tâm và đẩy mạnh hoạt động XNK của mình, nâng cao các mối quan hệ lưu thông hàng hóa – tiền tệ một cách trôi chảy và hiệu quả Đồng thời, hoạt động Thanh toán quốc tế góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý các đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả năng thanh toán của người mua gặp nhiều khó khăn Nếu tổ chức tốt công tác Thanh toán quốc tế thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển
Bên cạnh đó vai trò quan trọng của hoạt động TTQT còn được thể hiện trên các mặt sau:Bôi trơn
và thúc đẩy hoạt động XNK và hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp của nền kinh tế như một tổng thể;thúc đẩy và mở rộng hoạt động dịch vụ như du lịch,hợp tác quốc tế;tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác và cuối cùng là thúc đẩy và mở rộng thị trường tài chính quốc gia hộp nhập quốc tế.
Tóm lại, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có mở rộng được hay không một phần nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế có tốt hay không Thanh toán quốc tế tốt sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá
b Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại
Trang 5Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí quan trọng Nó không chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một mặt hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
-Trước hết, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng thu hút thêm được khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát triển thêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường
-Thứ hai, thông qua hoạt động Thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ Thanh toán quốc tế qua ngân hàng
-Thứ ba, giúp Ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ đó Ngân hàng có thể phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác
-Thứ tư, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng tăng tính thanh khoản thông qua lượng tiền ký quỹ.Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từng khách hàng cụ thể Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát sinh một cách thường xuyên và ổn định.Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, thậm chí có thể sử dụng để kinh doanh,đầu tư ngắn hạn để kiếm lời
- Hơn thế nữa, hoạt động thanh toán quốc tế còn giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín của Ngân hàng
Qua đó ta thấy việc nghiên cứu thực trang để có biện pháp thực hiện nghiệp vụ Thanh toán quốc
tế có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn cho công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam 1.2 TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU VÀ QUAN TRỌNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Định nghĩa:
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng (NH phát hành L/C) phát hành một bức thư ,theo đó NHPH cam kết trả tiền hay chấp nhận hối phiếu cho người hưởng khi xuất trình được bộ chưng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định của L/C.
Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại Ngân hàng thương mại hiện nay Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Document Credit ở Việt Nam ngoài tên là tín dụng chứng từ còn có các tên khác như L/C, thư tín dụng Trước đây, thư tín dụng còn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dụng nữa mà thông dụng nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ Về mặt bản chất đây là phương thức thanh toán dựa trên cam kết thanh toán có điều kiện của Ngân hàng,cam kết
đó chính là thư tín dụng.
1.2.2 Các bên tham gia
Trang 6Các bên tham gia vào quá trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ cơ bản gồm 4 bên
Thứ nhất là người yêu cầu mở L/C (Applicant for L/C):là bên mà L/C phát hành theo yêu cầu của họ,thường là người mua, người nhập khẩu hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác.
Thứ hai là người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C.Họ thường là người bán, người xuất khẩu,….
Thứ ba là ngân hàng phát hành (NHPH - Issuing Bank): là Ngân hàng phát hành L/C theo đơn người yêu cầu và cũng là là Ngân hàng phục vụ người mua.NHPH thường được hai bên mua bán thỏa thuận,quy định trong hợp đồng,nếu không thì nhà nhập khẩu được phép chọn NHPH
Thứ tư là ngân hàng thông báo (NHTB - Advising Bank): là Ngân hàng ở nước người thụ hưởng thực hiện thông báo L/C cho họ theo yêu cầu của NHPH.
Ngoài ra, trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số ngân hàng khác như: Ngân hàng hoàn trả (Reimbursement Bank);Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank-CB), Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank-NB), Ngân hang chiết khấu(Negotiating Bank)…
1.2.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C.
Chúng ta cùng xem sơ đồ sau để thấy rõ quy trình thanh toán L/C tại NH :
Sơ đồ 1: Trình tự nghiệp vụ thanh toán L/C
(HĐTM) : Trong quá trình thanh toán hàng xuất nhập khẩu người xuất khẩu và người nhập khẩu
ký hợp đồng thương mại với nhau Nếu người xuất khẩu yêu cầu thanh toán hàng hoá theo phương thức tín dụng chứng từ thì trong hợp đồng thương mại phải có điều khoản thanh toán theo phương
HĐTM
44 4
2
9 10
Trang 7(3) : Khi nhận được thông báo về việc mở L/C và 1 bản gốc L/C, Ngân hàng thông báo chuyển L/C cho người thụ hưởng
(4) : Người xuất khẩu khi nhận được 1 bản gốc L/C, nếu chấp nhận nội dung L/C thì sẽ tiến hành giao hàng theo đúng quy định đã ký kết trong hợp đồng Nếu không họ sẽ yêu cầu NH chỉnh sửa theo đúng yêu cầu của mình rồi mới tiến hành giao hàng
(5) : Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo quy định của L/C và gửi đến Ngân hàng phục vụ mình để đề nghị thanh toán Ngoài ra, người xuất khẩu cũng có thể xuất trình bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng được chỉ định thanh toán được xác định trong L/C
(6) : Ngân hàng này được chỉ định là ngân hang thanh toán,tiến hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp với quy định trong L/C thì tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho người XK(trả tiền ngay;chiết khấu…) Nếu Ngân hàng thấy không phù hợp thì sẽ từ chối thanh toán và trả hồ sơ cho người xuất khẩu
(7) : Sau khi thanh toán, NH chuyển bộ chứng từ sang NHPH và đòi tiền.
(8) : NHPH kiểm tra bộ chứng từ,nếu đáp ứng các quy định của L/C thì hoàn lại tiền cho ngân hàng
B Vai trò
Trang 8Thư tín dụng là một văn bản mang tính pháp lý nó là căn cứ pháp lý để Ngân hàng quyết định việc trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu, là cơ sở để người mua có trả tiền cho Ngân hàng hay không Ngoài ra thư tín dụng là một công cụ hiệu quả trong việc cụ thể, chi tiết, hoàn thiện hoá những nội dung mà hợp đồng chưa bàn tới, khắc phục những sai sót, những điều khoản không có lợi trong hợp đồng nếu xét thấy việc huỷ hợp đồng là có lợi
Thư tín dụng có vai trò rất quan trọng như vậy vì tuy được thành lập trên cơ sở hợp đồng thương mại nhưng sau khi được mở nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại.Điều này có nghĩa là khi thanh toán, các ngân hàng chỉ căn cứ vào các bộ chứng từ phù hợp mà thôi Tính chất độc lập tương đối của thư tín dụng đã chi phối toàn bộ các khâu của quá trình thanh toán, quy định toàn bộ nghĩa vụ của các bên tham gia Bản thân phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn so với những phương thức khác, song nó không phải là phương thức đảm bảo tránh được rủi ro cho các bên tham gia, trong đó có Ngân hàng
C Nội dung của thư tín dụng
Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán Một thư tín dụng có thể có những nội dung cơ bản sau:
(6) : Thời hạn hiệu lực và địa điểm xuất trình L/C
Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng phát hành cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những điều quy định trong L/C.Thời hạn hiệu lựuc L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực L/C
(7) : Thời hạn trả tiền của L/C
Thời hạn trả tiền của L/C là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền sau Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của hợp đồng.Thời hạn trả tiền có thể nằm trong hoặc ngoài thời hạn hiệu lực của L/C
(8) : Ngày giao hàng của L/C
Ngày giao hàng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định.Thời hạn giao hàng có quan
hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C
Trang 9(9) : Những nội dung liên quan đến hàng hoá như: Tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu cũng được ghi trong L/C
(10) : Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng (FOB, CIF, CFR ), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và nơi trả hàng
(11) : Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là một nội dung quan trọng của L/C, là một bằng chứng chứng minh nhà xuất khẩu đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định của L/C Do vậy,Ngân hàng phải tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C.
(12) : Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở L/C, đây là nội dung cuối cùng của L/C Nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C Ngân hàng cam kết sẽ trả tiền khi người xuất khẩu trình đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ
(13) : Những điều khoản đặc biệt khác
(14): Chữ ký của Ngân hàng mở L/C
L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vây, người ký nó cũng phải là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật
D Hình thức thư tín dụng (L/C)
Có rất nhiều cách phân loại thư tín dụng Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau người ta có thể phân
ra nhiều loại L/C khác nhau.Ở đây em chỉ nêu ra một số loại L/C cơ bản thường được sử dụng.
Theo loại hình (Types) người ta có thể chia làm hai loại là L/C có thể huỷ ngang và L/C không huỷ ngang
L/C có thể huỷ ngang(Revocable L/C) : Đây là loại L/C mà người mở có quyền đề nghị Ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ xung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần có sự chấp thuận hay báo trước cho người hưởng lợi biết (Đương nhiên là việc huỷ bỏ phải được thực hiện trước khi L/C thanh toán) Như vậy, L/
C có thể huỷ ngang thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, loại thư tín dụng này không đảm bảo được quyền lợi của người bán vì người mua có thể đơn phương huỷ bỏ L/C Chính vì vậy ngày nay loại L/C này ít được sử dụng trong thương mại quốc tế
L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C) : Đây là loại L/C mà sau khi mở thì mọi việc liên quan đến sửa đổi, bổ xung hoặc huỷ bỏ nó Ngân hàng phát hành chỉ có thể tiến hành trên cơ sở có sự thoả thuận của các bên có liên quan Vì thế quyền lợi của người bán được đảm bảo Tuy nhiên, L/C không thể không thể huỷ ngang không có nghĩa không thể huỷ bỏ Trong trường hợp các bên đồng ý huỷ bỏ L/C thì nó được công nhận là không còn giá trị thực hiện Đây là loại L/C được sử dụng nhiều nhất trong thương mại quốc tế ngày nay
Phân loại theo phương thức sử dụng (Uses) có các loại L/C cơ bản sau:
L/C không huỷ ngang có xác nhận(Irrevocable Confirm L/C): Là loại L/C không thể huỷ bỏ.Theo yêu cầu của NHPH một ngân hàng khác xác nhận trả tiền cho L/C này.Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết
Trang 10trả tiền cho người hưởng lợi nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán,
và đương nhiên phải thanh toán một khoản phí nhất định đối với ngân hàng xác nhận.
L/C chuyển nhượng(Transferable L/C) : Là loại L/C không thể huỷ ngang mà Ngân hàng trả tiền được phép hoàn trả toàn bộ một phần số tiền của thư tín dụng cho một người hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên Một thư tín dụng muốn chuyển nhượng được phải có lệnh đặc biệt của ngân hàng mở, trên thư tín dụng phải ghi”có thể chuyển nhượng được”.Lưu ý rằng việc chuyển nhượng chỉ được thực hiện một lần cho thư tín dụng đó
L/C giáp lưng(Back-to-Back L/C): Là loại thư tín dụng được mở trên số tiền của một thư tín dụng khác đã được mở trước.Loai thư tín dụng này thường được sử dụng nhiều lần trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu …
L/C tuần hoàn(Revolving L/C) : Đây là loại L/C mà sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực lại có giá trị như cũ và được trực tiếp sử dụng sau một thời gian nhất định Thư tín dụng tuần hoàn được chỉ rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng,số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó.Đồng thời, cũng phải quyđịnh số dư của hạn nghạch L/C dùng chưa hết lần trước được hay lhông được cộng dồn vào hạn nghạch L/C sử dụng lần kế tiếp
L/C dự phòng (Standby L/C) : Là loại L/C được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo vệ quyền lợi cho bên mua Bên mua yêu cầu bên bán thông qua ngân hàng phục vụ mình mở thư tín dụng
dự phòng cho bên mua hưởng.Trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng thương mại đã ký kết gây thiệt hại cho họ thì ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán đền bù những thiệt hại đó L/C điều khoản đỏ(Red Clause L/C) : Đây là loại L/C mà theo đó người mở L/C cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay sau khi thư tín dụng được mở Hai bên đối tác phải có quan hệ làm ăn lâu dài và
uy tín Phía nhập khẩu phải là công ty đủ vốn, phía xuất khẩu phải có nguồn hàng hoá, sản xuất nhưng thiếu vốn
Với điều khoản Đỏ, ngân hàng phát hành cam kết ứng một số tiền nhất định( khoảng 10,20,30% trị giá L/C)khi nhận được các chứng từ, thông thường là: hối phiếu của số tiền ứng trước,hoá đơn, cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng và các chứng từ khác tuỳ theo thoả thuận Bên cạnh đó còn có một số loại L/C khác như :
- Phân loại theo thời điểm thanh toán (payment) có L/C trả ngay ; L/C kỳ hạn ; L/C hỗn hợp trả ngay và trả chậm.
- Phân loại theo hình thức thanh toán có L/C trả ngay ; L/C chiết khấu ; L/C chấp nhận;L/C cam kết trả chậm.
1.2.5 Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ
A.Ưu điểm.
- Đối với người mua : Phương thức thanh toán L/C giúp người mua có thể mở rộng nguồn cung
Trang 11cấp hàng hoá cho mình mà không phải tốn thời gian, công sức trong việc tìm đối tác uy tín và tin cậy Bởi lẽ, hầu hết các giấy tờ chứng từ đều được Ngân hàng đối tác kiểm tra và chịu trách nhiệm hoàn toàn về sai sót này Người mua được đảm bảo về mặt tài chính rằng bên bán giao hàng thì mới phải trả tiền hàng Ngoài ra, các khoản ký quỹ mở L/C cũng được hưởng lãi theo quy định
- Đối với người bán : Người bán hoàn toàn được đảm bảo thanh toán với bộ chứng từ hợp lệ Việc
thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu Người bán sau khi giao hàng tiến hành lập bộ chứng
từ phù hợp với các điều khoản của L/C sẽ được thanh toán bất kể trường hợp người mua không có khả năng thanh toán Do vậy, nhà xuất khẩu sẽ thu hồi vốn nhanh chóng, không bị ứ đọng vốn trong thời gian thanh toán
- Đối với Ngân hàng phát hành : Thực hiện nghĩa vụ thanh toán này, Ngân hàng thu được các
khoản phí thủ tục, ngoài ra, Ngân hàng còn thu hút được một khoản tiền khá lớn (Khi có ky quỹ) Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng còn thực hiện được một số nghiệp vụ khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận, mua bán ngoại tệ Hơn nữa, thông qua nghiệp vụ này uy tín và vai trò của Ngân hàng trên thị trương tài chính quốc tế được củng cố và mở rộng
B Nhược điểm
- Nhược điểm lớn nhất của hình thức thanh toán này là quy trình thanh toán rất tỷ mỷ, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và kiểm tra chứng từ Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra chứng từ cũng là nguyên nhân để từ chối thanh toán,dẫn đến hậu quả rất lớn
- Với các phương thức thanh toán quốc tế đề cập ở trên, việc lựa chọn phương thức nào trong hoạt động thanh toán quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các Ngân hàng thương mại Hiện nay, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện hầu hết các hình thức nêu trên Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế khách quan cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức mà phương thức thanh toán theo tín dụng chứng từ hiện là phương thức thanh toán phổ biến tại các NHTM Việt Nam.
CHƯƠNG
II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH HÀ NAM.
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH HÀ NAM.
Trang 122.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh Hà nam - Ngân hàng ĐT&PT VN
Lịch sử xây dựng, trưởng thành của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
là một chặng đường đầy gian nan thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào gắn vớitừng thời kỳ lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước củadân tộc Việt Nam Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam ( NHĐT&PTVN) là một trong những định chế tài chính hàng đầu Việt nam với hơn 100 chinhánh tại các tỉnh thành phố, gần 15.000 cán bộ, quan hệ đại lý với gần 800 ngânhàng trong và ngoài nước, với 53 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng Đầu
tư và phát triển Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nóichung và sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng VN nói riêng
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam với tư cách là một NHTM củaNhà nước được thành lập để thực hiện chức năng nhiệm vụ Nhà nước giao Vìvậy cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Ngân hàng đã có những bước thayđổi có tính chất lịch sử nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ mới đề ra Ngày26/4/1957, theo quyết định số 177- TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàngKiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập với nhiệm vụ chính
là cấp phát vốn xây dựng đầu tư cơ bản theo kế hoạch Nhà nước
Năm 1981, với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý vốn xâydựng đầu tư cơ bản, Chính phủ ra quyết định 259- CP chuyển Ngân hàngKiến thiết trực thuộc Bộ Tài Chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước,Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được thành lập Nhiệm vụ củaNgân hàng là cho vay vốn đầu tư cho các công trình XDCB không do NSNNcấp và cho vay vốn lưu động đối với các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vựcXDCB, bên cạnh hoạt động cho vay từ nguồn vốn do Ngân sách cấp
Năm 1990 cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế đất nước, Ngânhàng đổi mới theo mô hình đa năng và chính thức lấy tên là Ngân hàng Đầu tư vàphát triển Việt Nam ( BIDV ) với chức năng nhiệm vụ sau:
- Huy động vốn trung dài hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển.
- Nhận vốn ngân sách cấp để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch
- Kinh doanh lĩnh vực tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh
vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển
Từ năm 1995 hoạt động cấp phát vốn đầu tư xây dựng được giao hoàn toàncho Tổng Cục đầu tư bên cạnh nghiệp vụ cho vay đầu tư XDCB theo kế hoạchNhà Nước
Ngày 28/3/1996 theo quyết định 186- TTg cho phép Ngân hàng hoạt độngnhư một doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ Quyết
Trang 13định này chính thức đưa NHĐT&PT chính thức trở thành một bộ phận trong hệthống NHTM, tạo điều kiện cho Ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũngnhư các hình thức huy động vốn để đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như cáchình thức huy động vốn để tăng khả năng cạnh tranh, củng cố vị thế của mìnhtrên thị trường góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
Đến nay, sau 53 năm xây dựng và trưởng thành gắn liền với các giai đoạnlịch sử của đất nước, NHĐT&PTVN trở thành một trong những Ngân hàng có uytín lớn trong nước và quốc tế
Chi nhánh Hà nam là một đại diện pháp nhân của NHĐT&PTVN, hạch toánphụ thuộc trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, trụ sở tại 210 đường
Lê Hoàn Thành phố Phủ lý Tỉnh Hà nam.Chi nhánh Hà nam được thành lậpcùng với sự tái lập tỉnh Hà nam năm 1997 với các chức năng chủ yếu của Chinhánh là :
Huy động vốn trung và dài hạn , ngắn hạn bằng VNĐ và ngoại tệ dưới cáchình thức chủ yếu sau:
- Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanhtoán của các tổ chức, dân cư
- Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu dưới tên
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và các loại giấy tờ có giá khác
Các nghiệp vụ tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu Chi nhánh thực hiện là: Cho vay ngắn trung dài hạn theo cơ chế tín dụng hiện hành ;chiết khấu các hình thức có giá ; các nghiệp vụ bảo lãnh ; mua bán, chuyển đổingoại tệ và các dịch vụ ngoại hối ; dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước ; thamgia đấu thầu mua trái phiếu, tín phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân hàng Nhànước tổ chức khi được phép và dịch vụ tư vấn cho khách hàng
Từ khi thành lập C h i n h á n h không ngừng phát triển và lớn mạnh gópphần không nhỏ vào sự thành công của BIDV cũng như nâng cao uy tín, thươnghiệu của Ngân hàng
2.1.2.Mô hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Hà nam.
Về cơ cấu tổ chức, hiện nay Chi nhánh có trụ sở chính tại 210 đường Lê HoànThành phố Phủ lý - Tỉnh Hà nam Có 10 phòng ban với 94 CBCNV trong đó có
02 phòng giao dịch tại Đồng văn và Thành phố Phủ lý, 03 quỹ tiết kiệm Ban Giámđốc gồm Giám đốc và 2 Phó giám đốc Cơ cấu tổ chức bộ máy hiện tại theo môhình TA2 nhằm tiến tới một hệ thống Ngân hàng hoạt động chuyên nghiệp, táchbạch giữa các khâu nghiệp vụ, mục tiêu hoạt dộng rõ ràng, hạn chế tối đa mọi rủi
ro trong hoạt động, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
Trang 14SƠ ĐỒ 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
đó các doanh nghiệp đã bước đầu thoát khỏi những khó khăn và dần đi vào hoạtdộng ổn định Các nhà đầu tư đã bắt đầu quay trở lại thị trường Việt nam do tìnhhình kinh tế trong nước đã có những dấu hiệu khả quan.Ngân hàng ĐT&PT ViệtNam đã thể hiện được vai trò tiên phong trong việc thực hiện chính sách tiền tệquốc gia, góp phần bình ổn thị trường tiền tệ, tuân thủ và thực hiện tốt các giải phápcủa Chính Phủ và NHNN trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế, chặn đã suygiảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô
Với tinh thần nỗ lực phấn đấu theo định hướng của ngành,của Chính Phủ vàNHNN Trong những năm qua, Chi nhánh Hà nam đã không ngừng mở rộng vàphát triển các hoạt động dịch vụ kinh doanh tiền tệ, nâng cao chất lượng phục
vụ, ứng dụng các công nghệ dịch vụ ngân hàng hiện đại tiên tiến, đổi mới phongcách giao dịch, tạo uy tín với khách hàng, kết quả Chi nhánh đã đạt được nhữngthành tích nhất định như sau:
A Hoạt động nguồn vốn - Huy động vốn.
Bắt nhịp với động thái điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, sự chỉ đạo
Ban Giám Đốc
Khối
QHKH
Khối QLRR
Khối Tác Nghiệp
Khối quản lý nội bộ
Trang 15trực tiếp của BIDV và căn cứ diễn biến thị trường, Chi nhánh Hà Nam cũng thựchiện chính sách điều hành lãi suất huy động và cho vay linh hoạt, cạnh tranh đểthu hút tiền gửi của khách hàng Ban lãnh đạo Chi nhánh xác định công tácnguồn vốn đã trở thành một công cụ điều hành quan trọng, nhiệm vụ huy độngvốn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, tăng trưởng huy động vốn để đáp ứng nhucầu tăng trưởng tín dụng, tạo lập nền vốn ổn định là góp phần phát triển Ngânhàng bán lẻ.
Bảng 1:Tình hình huy động vốn qua các năm tại Chi nhánh(đơn vị: Tỷ VNĐ)
Tổng nguồn vốn huy động cuối năm 2007 đạt 1.350 tỷ đồng, trong đó tiền gửiTCKT đạt 800 tỷ đồng chiếm 59 % tổng nguồn vốn của Chi nhánh Đây là nguồntiền gửi mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng tuy nhiên nguồn tiền gửi nàykhông ổn định, dễ biến động do các khách hang có nhu cầu sử dụng thườngxuyên
Năm 2008, nhờ có chính sách huy động vốn tương đối nhạy bén, linh hoạttổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh đạt 1.620 tỷ đồng, tăng 20% so vớinăm 2007, Trong đó, tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm 60 %, tiền gửi TCKTđạt 620 tỷ đồng chiếm 38% tổng nguồn huy động và tăng 12 % so với 2007
Đến 31/12/2009, nguồn vốn huy động là 2.350 tỷ đồng, tăng 45 % so với năm
2008, trong đó huy động vốn dân cư tăng 22 %, tiền gửi TCKT tăng 37% , đặcbiệt năm 2009 với chính sách lãi suất linh hoạt, thực hiện chiến lược Marketing,quảng bá sản phẩm chuyên nghiệp gây ấn tượng để thu hút khách hàng đồngthời theo thoả thuận hợp tác giữa các cơ quan Tài chính – Ngân hàng - Thuế -Hải quan, Chi nhánh đã ký thoả thuận hợp tác với KBNN để phối hợp thu NSNN
vì vậy góp phần tăng nguồn huy động của các ĐCTC như Kho bạc NN, BHXHViêt nam, BHTG Việt nam …, tiền gửi của các ĐCTC là 300 tỷ đồng tăngtrưởng vượt bậc so với 2008, đây là nguồn vốn huy động hiệu quả, có ảnh hưởnglớn đến tổng nguồn huy động của Chi nhánh
B Hoạt động tín dụng
Trên cơ sở nguồn huy động vốn như trên Chi nhánh cũng đã thực hiện hàngloạt danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính chất của một Ngân hàng kinhdoanh đa năng, đa lĩnh vực, một Ngân hàng hiện đại, đáp ứng một phần nhu cầu
Trang 16vốn của các doanh nghiệp, của nền kinh tế như tín dụng ngắn, trung, dài hạn, chovay đồng tài trợ, tăng cường sản phẩm tín dụng bán lẻ…
Với tổng nguồn vốn huy động được tăng đều qua các năm, đáp ứng đủ nhucầu vốn vay của khách hàng Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác sử dụng vàquản lý vốn Tính đến 31/12/2009, dư nợ tín dụng là 1.700 tỷ đồng, tăng 41 %
so với 2008 tương đương với tăng 500 tỷ đồng, trong đó dư nợ có TSĐB thườngxuyên chiếm từ 90-98% đến tổng dư nợ toàn Chi nhánh , chú trọng phát triểncác doanh nghiệp ngoài quốc doanh vì đây là nhóm khách hàng có khả năngthích nghi nhanh với thị trường, đ ến 31/12/2009 dư nợ tín dụng ngoài quốcdoanh đạt 1.500 tỷ đồng chiếm 88% tổng dư nợ Với đặc điểm tại địa bàn
Hà nam có nguồn tài nguyên đá vôi dồi dào, chất lượng tốt đảm bảo chất lượngcho phát triển công nghiệp VLXD nên các sản phẩm tín dụng của Chi nhánh chủyếu đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất VLXD như xi măng, đá, cát….đặc biệtchất lượng tín dụng được đảm bảo, nhiều năm liền Chi nhánh không có nợ xấu,
nợ quá hạn phát sinh
+ Tín dụng ngắn hạn: Trong các năm qua Chi nhánh đã đặc biệt chú trọngđến công tác Marketing, phục vụ tốt khách hàng sẵn có, mở rộng tìm kiếm kháchhàng mới,Dư nợ tín dụng ngắn hạn tăng đều qua các năm tuy nhiên vẫn chiếm tỷtrọng chưa cao trong tổng dư nợ.Chi nhánh đã thực hiện chính sách khách hàngtheo quy định của BIDV trên cơ sở các chỉ tiêu phân loại đánh giá kháchhàng theo định hạng tín dụng, xây dựng và thực hiện cho vay theo hợp đồngkhung, hợp đồng hạn mức tín dụng thường xuyên với các khách hàng có quan hệvay khép kín cả ngắn, trung và dài hạn, vay trả sòng phẳng, có uy tín với Ngânhàng, giảm thiểu hồ sơ thủ tục vay vốn nhưng vẫn bảo đảm an toàn tín dụng, ápdụng nhiều hình thức cho vay linh hoạt, cải tiến và nâng cao chất lượng giaodịch
Kết quả là có nhiều khách hàng có doanh số và dư nợ thường xuyên lớn, có
Trang 17khả năng tài chính lành mạnh như: Công ty Xi măng Bút sơn, Công ty TNHHThi Sơn, Xi măng Hoàng Long, Công ty TNHH Nam sơn… với doanh số vayngắn hạn hàng năm hàng trăm tỷ đồng.
+ Tín dụng trung và dài hạn: Chi nhánh đã triển khai tích cực công tác tíndụng đầu tư, chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, tiếp xúc và làm việc với cácdoanh nghiệp nhanh chóng làm hoàn thiện hồ sơ để có thể ký hợp đồng tín dụng
Dư nợ tín dụng trung dài hạn năm 2009 đạt 1.100 tỷ VND, đưa số dư tín dụngtrung và dài hạn chiếm 65 % tổng dư nợ Trong đó tập trung vào các dự án lớnnhư : nhà máy xi măng Bút sơn dây chuyền 2 số tiền 400 tỷ đồng và 5 triệuUSD, Dự án đầu tư dây chuyền nghiền Xi măng 77 60 tỷ đồng, Dự án chovay dồng tài trợ đầu tư xây dựng dự án Thuỷ điện Huội Quảng 200 tỷ đồng,Công ty TNHH FECON 35 tỷ đồng…………
+ Tín dụng bán lẻ: Chi nhánh đã có nhiều cố gắng trong việc phát triển tíndụng bán lẻ, đây là thị trường tiềm năng mà các Ngân hàng đều hướng tớinhất là tín dụng bán lẻ tiêu dùng, đây là nhóm khách hàng có tính linh hoạt,
độ rủi ro thấp, hiệu quả cao Dư nợ tín dụng bán lẻ của Chi nhánh tăng từ 90
tỷ đồng năm 2007 lên 280 tỷ đồng năm 2009, dần thực hiện mục tiêu củaBIDV là phát triển thành một trong những Ngân hàng bán lẻ hàng đầu, có uytín trên thị trường
C Các nghiệp vụ liên quan đến Thanh toán quốc tế
Cùng xu thế phát triển hoạt động XNK của các doanh nghiệp trên địa bàn,năm 2006 bộ phận TTQT tại Chi nhánh được thành lập trực thuộc phòng Tíndụng, sau đó theo mô hình TA 2 bộ phận TTQT chuyển sang trực thuộc phòngDịch vụ khách hàng để thuận tiện cho việc giao dịch, thanh toán chuyển tiềnquốc tế Để hoạt động TTQTcủa Chi nhánh diễn ra một cách an toàn, hiệu quả vàtuân thủ những quy định của pháp luật về TTQT, Chi nhánh đã tự xác định hoạtđộng TTQT phải phù hợp với quy định Quy tắc và Thực hành thống nhất về tíndụng chứng từ trong xuất nhập khẩu (UCP 600) do Phòng Thương mại Quốc tế(ICC) đã hoàn tất và ban hành bản sửa đổi áp dụng từ ngày 1/7/2007, cùng cácquy định của pháp luật, Chính phủ, NHNN Việt Nam và các hiệp định, thoảthuận quốc tế mà BIDV đã ký kết
Nhiệm vụ chính của bộ phận TTQT chủ yếu là thực hiện các hoạt động thanhtoán Quốc tế trong đó hoạt động thanh toán theo phương thức Tín dụng chứng từvẫn chiếm ưu thế hơn so với nhưng phương thức khác Có thể nói,tuy hoạt độngchưa lâu,lại do địa bàn hoạt động của tỉnh nhà còn khó khăn nên nhưng ngày đầuhoạt động,bộ phận gặp vô vàn khó khăn.Nhưng với tinh thần phục vụ hết mình
Trang 18cho khách hàng, giao dịch không để xảy ra sai sót, nên bộ phận TTQT–Chinhánh Hà nam rất được khách hàng tín nhiệm Hàng năm các cán bộ làm nghiệp
vụ TTQT đã đóng góp một phần không nhỏ vào thành quả chung của toàn Chinhánh.Phản ánh rõ nét nhất là thành tích kinh doanh đáng nể trong hoàn cảnh màthế giới nói chung ,Việt Nam nói riêng vẫn đang phải gánh chịu sự tàn phá dokhủng hoảng kinh tế mang lại
*) Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Bảng 3:Doanh số kinh doanh ngoại tệ tại CN Hà nam(Đơn vị: 1000 USD)
mà nền kinh tế đón nhận những thông tin khởi sắc về nền kinh tế thì doanh sốtăng mạnh.Cũng cần phải nhìn nhận thêm là tỷ giá USD/VND qua 3 năm 2007-
2009 có sự biến động rất lớn nên các mức doanh số tăng lên nếu quy ra VND sẽtăng nhiều hơn so với khi ta vẫn quy USD Về nguồn thì tại địa bàn Hà Nàm chủyếu là phục vụ cho các tổ chức tín dụng,còn khách hàng cá nhân thì rất ít,chiếmphần không nhiều
*) Tình hình huy động vốn ngoại tệ của chi nhánh Hà Nam:
Bảng 4: Doanh số huy động vốn ngoại tệ của Chi nhánh: (đơn vị : 1000 USD)
Năm 2007 2008 2009
DS huy động vốn ngoại tệ 12.306 12.382 13.800
Trang 19Nhìn chung tình hình huy động vốn ngoại tệ của chi nhánh khá khả quan nhất
là trong tình cảnh suy thoái kinh tế đang hành hạ các doanh ngiệp ngân hàng từngngày một.Đặc biệt trong năm 2007 khi mà nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái.Giaiđoạn 2006-2007 là nền kinh tế phát triển bùng nổ chi nhánh đã đạt được mứctăng doanh số huy động vốn ngoại tệ đáng nể 41,5 % đạt 12,306 triệu USD so vớimức 9,403 triệu USD cùng kỳ năm 2006.Tuy nhiên khi mà suy thoái kinh tế bắtđầu ảnh hưởng thì doanh số sụt giảm trông thẫy xuống mức 4,32 % năm 2008 đạt12,882 triệu USD.Chi nhánh đón nhận năm 2009 với nhiều thông tin tích cực từnền kinh tế,và đi đôi với nó là mức doanh số vốn huy động ngoại tệ gia tăng đáng
kể tăng 7,12% lên mức 13,8 triệu USD.Đó là một mức tăng rất tốt nếu như chúng
ta nhận ra là tỷ giá USD từ 2007 đến 2009 tăng lên rất nhiều
*) Doanh số thanh toán quốc tế.
Bảng 5: Doanh số thanh toán quốc tế của Chi nhánh: (đơn vị : 1000 USD)
Về doanh số TTQT: Năm 2007, doanh số TTQT của chi nhánh đạt được 19triệu USD tăng 61,22 %.Đó cũng là điều dễ hiểu vì giai đoạn 2006-2007 là giaiđoạn kinh tế bùng nổ mạnh mẽ,thêm nữa do năm 2007 là năm thứ 2 chi nhánhthực hiện nghiệp vụ TTQT,chi nhánh đã có các bước marketing,tuyên truyền…tạo hình ảnh,uy tín tốt với các doanh nghiệp bạn hàng Năm 2008, doanh số đó đãtăng 11,6 %, đạt 21,209 triệu USD.Bước sang năm 2009 doanh số TTQT đạt22,497 triệu USD, tăng 6,07 % so với năm 2008 Đây là kết quả tương đối tốttrong thời điểm mà thế giới vẫn đàn phải oằn mình gánh chịu những ảnh hưởngnặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mang lại,bên cạnh vấn đề khókhăn do yếu tố địa bàn mang lại Nhìn chung tốc độ tăng đã giảm khá nhiều qua
2 năm từ mức 61,22% của năm 2007 bùng nổ mạnh mẽ xuống còn có 6,07% năm
2009 do chịu ảnh hưởng mạnh của suy thoái kinh tế.Tuy nhiên cũng cần phảinhìn nhận lại rằng Giá USD qua 3 năm 2007-2009 biến động và tăng khánhiều,nên việc doanh số TTQT(tính ra USD) của chi nhánh sụt giảm nhiều cũng
Trang 20Chúng ta hãy cùng theo dõi số liệu ở bảng dưới đây,đó chính là sự phản ánhđậm nét nhất cho những gì mà cuộc khủng hoảng kinh tế để lại Trái hoàn toànvới giai đoạn kinh tế bùng nổ giai đoạn 2006-2007 thì từ năm 2007 đến 2008mức tăng doanh số hàng NK giảm từ 15,68% xuống mức 10,68% , doanh số hàng
XK giảm từ mức 5,895 triệu xuống 4,655 triệu,mức giảm 21,03%.Đến năm 2009mức tăng doanh số hàng NK lại tăng lên tới 8,22%,và mức tăng hàng XK tăng12,13%
Bảng 6: Doanh số Thanh toán XNK của Chi nhánh Hà
nam :(đơn vị : 1000 USD)
Cũng cần phải nhìn nhận thêm là tỷ giá USD/VND qua 3 năm 2007-2009 có
sự biến động rất lớn nên các mức doanh số tăng lên nếu quy ra VND sẽ tăngnhiều hơn so với khi ta vẫn quy USD.Năm 2009, đã chứng kiến sự căng thẳngkéo dài về nguồn cung ngoại tệ và sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá niêm yết chínhthức và tỷ giá giao dịch thực tế Mặc dù NHNN liên tục có những biện pháp kiểmsoát chặt chẽ hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do cũng như tại cácNHTM nhưng mức chênh lệch đó vẫn tồn tại kéo dài Thanh khoản thị trườngmỏng, nhiều thời điểm mất thanh khoản do tâm lý găn giữ ngoại tệ trong khi
Trang 21doanh số xuất khẩu, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp và nguồn kiều hối giảmmạnh, nguồn ngoại tệ phục vụ khách hàng gặp nhiều khó khăn Trong khi đó cáccông cụ hỗ trợ thực hiện mua bán ngoại tệ với khách hàng bị hạn chế gây khókhăn cho các Ngân hàng trong hoạt động cung ứng ngoại tệ đáp ứng nhu cầu củakhách hàng.Thấu hiểu những khó khăn của doanh nghiệp cũng là khó khăn củangân hàng nhất là trong Thanh toán quốc tế nên Chi nhánh đã tìm nhiều biệnpháp khắc phục nhằm cung ứng đủ lượng ngoại tệ cần thiết cho doanh nghiệpthanh toán nhập khẩu Do đó phần lớn các nhu cầu về ngoại tệ trong năm đềuđược đáp ứng đầy đủ, không để xảy ra tình trạng thanh toán chậm xảy ra.
*) Hoạt động bảo lãnh nước ngoài.
Biểu đồ 1: Doanh số nghiệp vụ bảo lãnh nước ngoài tại
CN Hà Nam(Đơn vị Triệu USD)
§
Đối với địa bàn như Hà Nam thì nghiệp vụ bảo lãnh là một nghiệp vụ còn khá
mới và phức tạp.Trong những năm qua, Chi nhánh đã thực hiện một số nghiệp vụbảo lãnh trong và ngoài nước như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,bảo lãnh tiền tạm ứng… Trong đó bảo lãnh nước ngoài chỉ chiếm một phần rấtnhỏ Đến 31/12/2007, NH đã bảo lãnh nước ngoài với số tiền hơn 1,3 triệu USD
2,76
2007 2008 2009 1,36
1,59
Trang 22(gần 23 tỷ VNĐ) Sang năm 2008, tuy bị ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế giá trịbảo lãnh bị khựng lại đôi chút và đạt 1,59 triệu USD Và đến 31/12/2009 giá trịbảo lãnh nước ngoài của chi nhánh đạt 2,76 triệu USD,tăng 73,6 %.Mức tăng làrất cao xong thực tế nhìn vào thì cái mốc so sánh là quá thấp Nhìn chung đó làcác con số còn quá khiêm tốn và một mình cá nhân ngân hàng chưa thể khắc phụctình hình ngay được khi nằm trong một địa bàn còn nhiều khó khăn như Hà Nam.
*) Hoạt động nghiệp vụ chi trả kiều hối
Nhìn chung cũng giống như nghiệp vụ bảo lãnh, nghiệp vụ này doanh số quacác năm có tăng đều và tăng cao nhưng với con số quá nhỏ bé và thấp,chưa thể sođược với các ngân hàng khác.Để nhìn nhận cụ thể vấn đề ,hãy cùng xem biểu đồ:
Biểu đồ 2: Doanh số nghiệp vụ chi trả kiều hối tại CN Hà Nam(Đv : Triệu USD)
0,356
0,598
1,067
2007 2008 2009