1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

106 508 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết của đề tài: ............................................................................... 1 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 2 3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 2 4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 2 5. Ý nghĩa của đề tài.......................................................................................... 3 6. Bố cục của đề tài ........................................................................................... 3 Chƣơng 1: TRUNG TÂM TT-TV TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI VỚI CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KTTT CHO SINH VIÊN.............. 4 1.1. Khái niệm kiến thức thông tin.................................................................... 4 1.1.1. Định nghĩa KTTT (Information Literacy) .............................................. 4 1.1.2. Các thành tố của KTTT........................................................................... 8 1.2. Vài nét về Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội................................................................................................................... 10 1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển ........................................................ 10 1.2.2. Cơ cấu tổ chức....................................................................................... 14 1.2.3. Nguồn lực thông tin .............................................................................. 15 1.2.4. Các nhóm người dùng tin và nhu cầu tin .............................................. 20 1.3. Vai trò của KTTT đối với công tác đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ........................................................ 23 1.3.1. KTTT đối với hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học ............... 23 1.3.2. KTTT với việc nâng cao chất lượng đào tạo ........................................ 26 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KTTT CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI ........................... 28 2.1. Công tác đào tạo KTTT của thư viện....................................................... 28 103 2.1.1. Đội ngũ cán bộ tham gia đào tạo KTTT ............................................... 28 2.1.2. Chương trình và nội dung đào tạo KTTT ............................................. 30 2.2 Năng lực KTTT của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội............ 35 2.2.1 Kỹ năng nhận dạng nhu cầu tin.............................................................. 35 2.2.2. Kỹ năng tìm và đánh giá thông tin....................................................... 42 2.2.2.1. Kỹ năng tìm tin................................................................................... 42 2.2.2.2. Kỹ năng đánh giá thông tin ................................................................ 60 2.2.3. Kỹ năng sử dụng và trao đổi thông tin.................................................. 64 2.3. Nhu cầu KTTT của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ............ 74 2.3.1. Nhu cầu tham gia các khóa học về KTTT ............................................ 74 2.3.2 Nhu cầu về kiến thức và kỹ năng thông tin ........................................... 75 Chƣơng 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KTTT CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI..... 79 3.1. Nhận xét ................................................................................................... 79 3.1.1. Về công tác đào tạo KTTT.................................................................... 79 3.1.2. Về năng lực KTTT của sinh viên.......................................................... 80 3.1.3. Về nhu cầu KTTT của sinh viên ........................................................... 82 3.2. Giải pháp .................................................................................................. 82 3.2.1. Nâng cao trình độ của cán bộ thư viện.................................................. 82 3.2.2. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo KTTT .......... 85 KẾT LUẬN .................................................................................................... 88

Trang 1

u n v n t t n p Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên

Trường Đại học Sư p ạm Hà Nội

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong xu hướng toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức hiện nay, giáo dục đại học có vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia Giáo dục đại học được công nhận là một công cụ hiệu quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển xã hội trên nhiều phương diện Tuy nhiên, chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng nhu cầu xã hội và là thách thức với quá trình hội nhập quốc tế

Một trong những hướng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học mà nhiều nước phát triển trên thế giới rất coi trọng là phát triển kiến thức thông tin (KTTT) và khả năng tự học suốt đời GS.TS Phạm Tất Dong cho rằng:

“Học tập suốt đời là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập Nền giáo dục trong xã hội học tập, hướng vào việc xây dựng cho con người năng lực tiếp nhận, xử lý, sử dụng, tạo ra, truyền bá thông tin để hình thành tri thức mới Việc đề cao phương thức học tập suốt đời phải đồng thời đề cao năng lực

tự học mà chủ yếu học cách học (Learning how to learn)

Hơn thế nữa, ngày nay, các hoạt động học tập đang diễn ra không chỉ tại giảng đường đại học mà còn theo sinh viên đến hết cuộc đời Bởi, họ chính

là những người lao động cần phải nhận biết, đánh giá, phân tích, tiếp cận và quản lý thông tin một cách có hiệu quả để thành công trong việc giải quyết các vấn đề, cung cấp các giải pháp, các sáng kiến cải tiến công việc trong cuộc sống Xuất phát từ thực tế đó, các trường đại học cần phải có chiến lược trong đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập cho sinh

Trang 2

viên bằng cách trang bị kiến thức thông tin cho sinh viên Bởi lẽ, việc trang bị kiến thức thông tin trở nên ngày càng quan trọng, nó giúp cho sinh viên chủ động tiếp cận các nguồn thông tin, tri thức mới thông qua các khả năng xác định nhu cầu tin, đánh giá thông tin và sử dụng chúng một cách hiệu quả

Qua quá trình khảo sát tại Trung tâm Thông tin - Thư viện (TT – TV) trường Đại học Sư phạm Hà Nội – nơi đã và đang triển khai đào tạo KTTT cho sinh viên, tác giả nhận thấy hoạt động này của thư viện chưa thực sự có

hiệu quả Với lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Công tác phát triển kiến thức

thông tin cho s n v ên Trường Đại học Sư p ạm Hà Nội” làm khóa luận tốt

nghiệp của mình Với hy vọng kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác phát triển KTTT cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và nhu cầu KTTT của sinh viên

 Phạm vi nghiên cứu: Trường Đại học Sư phạm trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về KTTT như: khái niệm KTTT, các thành tố của KTTT, vai trò của KTTT đối với giáo dục đại học

 Tìm hiểu thực trạng KTTT, nhu cầu KTTT của sinh viên Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội và công tác đào tạo KTTT cho sinh viên của Thư viện trường

 Kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phát triển KTTT cho sinh viên Nhà trường

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả có sử dụng các phương pháp

Trang 3

nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu;

- Phương pháp điều tra bảng hỏi;

- Phương pháp quan sát;

- Phương pháp phỏng vấn

5 Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lý luận: Đề tài góp phần làm đầy đủ và phong phú hơn các khái niệm về KTTT, đồng thời nắm bắt được công tác đào tạo người dùng tin của thư viện

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của khóa luận là cơ sở để khẳng định tầm quan trọng của KTTT, đồng thời sẽ giúp Trung tâm TT – TV ĐHSP

HN và Ban giám hiệu Nhà trường nhận ra thực trạng công tác đào tạo KTTT cũng như năng lực KTTT của sinh viên Trên cơ sở đó, Nhà trường và thư viện đề ra những giải pháp giúp sinh viên có khả năng tốt hơn trong việc nhận biết nhu cầu thông tin, khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung bài khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội với công tác phát triển KTTT cho sinh viên

Chương 2: Thực trạng công tác phát triển KTTT cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao KTTT cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 4

Chương 1 TRUNG TÂM TT-TV TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI VỚI

CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KTTT CHO SINH VIÊN

1.1 Khái niệm kiến thức thông tin

1.1.1 Địn n ĩa KTTT (Information Literacy)

Thuật ngữ “Information Literacy” xuất hiện từ khá sớm và đã được Quốc tế hóa Nhưng, ở Việt Nam, KTTT được dịch theo nhiều nghĩa khác nhau và còn khá mới mẻ trong hoạt động thông tin thư viện.TS Lê Văn Viết, cho rằng nên dịch KTTT là “kiến thức thông tin” [2] Nhưng, trong bài tham luận “Những tiêu chuẩn kiến thức thông tin trong giáo dục đại học Mỹ và các chương trình đào tạo kỹ năng thông tin cho sinh viên tại Trung tâm thông tin-thư viện, ĐHQGHN” của TS Nguyễn Huy Chương và CN Nguyễn Thanh

Lý lại không nêu khái niệm kiến thức thông tin mà chỉ có khái niệm về kỹ năng thông tin “Kỹ năng thông tin là tập hợp các yêu cầu về khả năng nhận biết thông tin cần thiết, xác định, đánh giá và sử dụng một cách hiệu quả các thông tin cần thiết” [5] Trong khi đó, ông Nguyễn Hữu Viêm - một người có nhiều công trình nghiên cứu về thư viện học lại cho rằng thuật ngữ

“Information Literacy” nên dịch là “xóa mù thông tin” vì Literacy cũng có một nghĩa là xóa mù [2] Thực chất, KTTT là một khái niệm mang tính chất liên ngành (thông tin thư viện và giáo dục), do đó việc chuẩn hóa nó càng trở nên phức tạp và không nên có một khái niệm chuẩn tuyệt đối cho toàn cầu Lí

do đơn giản là vì đặc thù văn hóa và triết lý giáo dục của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức ảnh hưởng mạnh mẽ đến nội hàm của khái niệm KTTT mà quốc gia, tổ chức đó dự định áp dụng Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả cho rằng KTTT được hiểu và dịch thành kiến thức thông tin mới thỏa đáng và hợp lý hơn

Trang 5

Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), kiến thức thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” [13] Kiến thức thông tin chính là chìa khóa để mọi người nói chung và các nhà nghiên cứu nói riêng làm chủ được kho tàng tri thức của nhân loại Sự bùng

nổ thông tin như hiện nay đã cho ra đời một lượng thông tin khổng lồ hỗn loạn và vô cùng phức tạp Làm thế nào để tìm đúng và đủ thông tin mà mình cần, đồng thời đánh giá được sự phù hợp, sử dụng chúng một cách hiệu quả? Không khó để trả lời nếu chúng ta có hiểu biết sâu sắc về kiến thức thông tin

Tại Hội nghị về KTTT và kỹ năng học tập suốt đời ( Information Literacy and Lifelong learning) diễn ra vào ngày 6 – 9 tháng 11 năm 2005 tại Alexandria, Ai Cập, KTTT được định nghĩa “ là khả năng tìm kiếm đánh giá,

sử dụng và tái tạo thông tin một cách hiệu quả phục vụ mục đích cá nhân, xã hội, công việc và học tập” Trong thời đại công nghệ số, con người có hiểu biết, kiến thức về công nghệ, kỹ thuật thôi chưa đủ mà cần phải học cách tìm kiếm, truy cập, tổ chức, phân tích và đánh giá thông tin nhằm sử dụng vào việc ra quyết định và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất [17]

Theo UNESCO, KTTT là sự kết hợp của kiến thức, sự hiểu biết, các kỹ năng và thái độ mà mỗi thành viên cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thông tin Khi mỗi cá nhân có kiến thức thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, tiếp biến, đánh giá, thao tác và trình bày thông tin Theo khái niệm này, người sử dụng thông tin không chỉ cần có trình độ để lựa chọn thông tin phù hợp mà còn phải có thái độ đúng đắn trong việc sử dụng thông tin Nói cách khác, người

có KTTT phải sử dụng thông tin một cách có đạo đức Hơn ai hết, đối với người làm công tác nghiên cứu càng phải chứng tỏ được việc sử dụng thông tin một cách hợp pháp luật, hợp đạo đức của mình Sẽ không quá khó khăn

Trang 6

nếu chúng ta có hiểu biết về KTTT Quan trọng hơn cả, kiến thức này cũng giúp cho các nhà nghiên cứu có một thái độ nghiên cứu nghiêm túc, giúp họ tránh được những vi phạm liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghiên cứu Và đó cũng chính là cơ sở để chúng ta tính tới vấn đề hội nhập và hợp tác bình đẳng với bạn bè quốc tế trên mặt trận nghiên cứu khoa học Với

ý nghĩa này, KTTT có lẽ là mảng kiến thức cần được đặc biệt nhấn mạnh trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ trở thành vấn đề toàn cầu

Kiến thức thông tin chính là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu trong bối cảnh xã hội thông tin và kinh tế tri thức Mỗi quốc gia cần phải có một chiến lược phát triển kiến thức thông tin phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội

và giáo dục của mình nhằm tạo ra một lực lượng lao động có khả năng thích ứng và tính sáng tạo cao Đây cũng chính là khẳng định của tác giả Alan Bundy (2003) khi ông cho rằng kiến thức thông tin được xem như một hệ kiến thức nền tảng, và do đó các chính phủ cần phải xây dựng các chính sách

và chiến lược thông tin phù hợp, lấy kiến thức thông tin là nhân tố cốt lõi Tác giả này cũng kêu gọi các nhà giáo, nhà khoa học, và các nhà quản lý giáo dục ngay bây giờ nên thống nhất coi kiến thức thông tin như là ưu tiên đầu tư cao nhất về mặt sư phạm và nguồn lực [1] Riêng đối với Việt Nam, cần phải có những chính sách cụ thể trong việc phổ biến KTTT cho tất cả mọi người ở từng vùng kinh tế, đặc điểm xã hội Từ đó, xây dựng chiến lược phù hợp với đặc điểm, nhu cầu đặc thù của người sử dụng ở mỗi khu vực xã hội khác nhau.Đây là công việc cần thiết và cấp bách, đặc biệt khi nước ta đang tiến hành việc ứng dụng CNTT một cách rộng khắp

Boekhorst (2003), tìm thấy trong tất cả các định nghĩa và mô tả về KTTT được tóm tắt thành ba khái niệm cụ thể:

Trang 7

Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): KTTT đề cập đến khả năng sử dụng ICT để tra cứu và phổ biến thông tin

Khái niệm các nguồn thông tin: KTTT đề cập đến khả năng tìm tin và

sử dụng thông tin một cách độc lập với sự trợ giúp của trung gian

Khái niệm tiến trình thông tin: KTTT đề cập đến tiến trình nhận ra nhu cầu tin, tra cứu, đánh giá, sử dụng và phổ biến thông tin theo yêu cầu hoặc mở rộng kiến thức [16] Khái niệm này bao gồm cả khái niệm ICT và khái niệm các nguồn tin và cá nhân được xem như các hệ thống thông tin có khả năng tra cứu, đánh giá, xử lý và phổ biến thông tin để ra các quyết định nhằm tồn tại [3]

Qua các định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng KTTT không chỉ đơn thuần là khai thác thông tin trên mạng hay chỉ khai thác thông tin trong các tài liệu truyền thống KTTT đòi hỏi những kỹ năng như định hướng nhu cầu thông tin, sử dụng các công cụ tìm tin hiệu quả và khả năng thẩm định các nguồn tin KTTT đòi hỏi khả năng khá toàn diện với mục tiêu giúp con người chủ động hơn trong việc học tập, nghiên cứu; chú trọng tới rèn luyện kỹ năng tiếp nhận thông tin có chọn lọc hay tư duy phê phán của người dùng tin Đồng thời KTTT cũng là điều kiện đầu tiên để mọi người tham gia có hiệu quả vào

xã hội thông tin và là yếu tố để con người thực hiện quyền học tập suốt đời

Mục tiêu hướng tới của KTTT là tạo ra khả năng cho các cá nhân nhận ra nhu cầu thông tin của họ và tìm kiếm thông tin một cách có hiệu quả; quản lý thông tin thu thập được, đánh giá có phê phán thông tin và các nguồn tin; ứng dụng thông tin trong việc học tập, sáng tạo tri thức mới; nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị, văn hóa và xã hội trong việc sử dụng thông tin hợp pháp

Trang 8

1.1.2 Các thành t của KTTT

Tháng 9 năm 2003, dưới sự tài trợ của UNESCO, Ủy Ban quốc gia về khoa học thư viện và thông tin và Diễn đàn quốc gia về KTTT (Hoa Kỳ) đã tổ chức hội thảo bàn về KTTT Hội thảo này đã ra một tuyên bố, gọi là Tuyên bố Praha: Tiến tới xã hội KTTT (The Prague Declaration: Towards an Information Literate Society) Tuyên bố Praha đã đưa ra 6 nguyên tắc cơ bản của KTTT Trong đó, nguyên tắc thứ hai đề cập: “KTTT bao gồm kiến thức

về nhu cầu và yêu cầu tin, khả năng xác định, định vị, đánh giá, tổ chức và sáng tạo, sử dụng có hiệu quả và truyền thông tin tới các địa chỉ Đây là điều kiện đầu tiên để tham gia có hiệu quả vào xã hội thông tin và là một phần trong quyền cơ bản của con người được học tập suốt đời” Căn cứ nội dung của nguyên tắc nêu trên, có thể khẳng định rằng, tuy KTTT là một thuật ngữ mới nhưng nội hàm của nó lại rất quen thuộc Bởi vì, phần lớn nội dung của khái niệm này trùng hợp với khái niệm trước đó đã sử dụng rộng rãi trong tài liệu nghiệp vụ thư viện của nước ta và quốc tế Điều này cũng đã được tác giả Nguyễn Hoàng Sơn nhắc đến trong bài viết của mình: vào cuối thập niên

1980, các nhà thư viện ở các trường học đã chuyển khái niệm kiến thức thư viện thành KTTT [4] Tất nhiên, vốn tri thức của khái niệm này càng ngày càng phong phú hơn do được bổ sung các nội dung mới Từ nội dung trên, KTTT có thể chia thành 2 lĩnh vực, đó là: hiểu biết (kiến thức, lý luận) và thực hành (kỹ năng)

Về hiểu biết: Phải có hiểu biết về:

 Quá trình hình thành thông tin, tri thức; vai trò của thông tin, tri thức trong đời sống mỗi người và trong toàn xã hội;

 Thư viện, cơ quan thông tin, trong đó bao gồm cả những hiểu biết về mạng lưới thư viện, thông tin của đất nước (vùng, huyện, tỉnh), của thế giới, đặc biệt là của thư viện, cơ quan thông tin cụ thể nơi bạn đọc đang sử dụng;

Trang 9

 Những nhu cầu và yêu cầu tin của mỗi người, mỗi cộng đồng, tập thể;

 Vốn tài liệu-thông tin, các dịch vụ, sản phẩm thư viện-thông tin của từng thư viện và của cả ngành thư viện-thông tin trong cả nước;

 Bộ máy tra cứu-tìm tin truyền thống và hiện đại;

 Các công cụ, chiến lược tìm và các phương pháp tìm tin; tin học, Internet, web, tuy nhiên chỉ ở mức kiến thức về lưu trữ, tìm và khaithác tin trên mạng;

 Pháp luật thư viện, luật bản quyền

Về kỹ năng, bao gồm các kỹ năng sau:

 Kỹ năng công cụ: biết định hướng trong các bộ máy tra cứu- tìm tin của các thư viện và cơ quan thông tin trong và ngoài nước tìm kiếm thông tin bằng phương pháp truyền thống và hiện đại; Các phương pháp làm việc với vật mang tin khác nhau, kỹ thuật đọc để thu nhận thông tin từ những gì đã đọc,…

 Kỹ năng về nguồn tin: Xác định , đánh giá đúng nguồn thông tin, nguồn tài liệu cần thiết cho quá trình tìm kiếm thông tin

 Kiến thức về cấu trúc xã hội: Tính chính xác và chân thực của thông tin phù hợp với nhu cầu tin của toàn xã hội, của tập thể, nhóm người, của từng

cá nhân

 Các kỹ năng nghiên cứu và đánh giá thông tin thông qua công tác xử

lý, đánh giá, tổng hợp và phân tích tin;

 Kỹ năng truyền đạt, phổ biến thông tin;

 Kỹ năng tạo lập các sản phẩm thông tin, thư viện đặc biệt như cách lập bản thư mục, giới thiệu sách, biên soạn bài tóm tắt, các bài tổng luận,…

 Kỹ năng về xuất bản, công nghệ…

Trang 10

1.2 Vài nét về Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Hình 1.1 : Trung tâm TT – TV trườn Đại học Sư p ạm Hà Nội

Quá trình thành lập

Trung tâm TT-TV Trường ĐHSPHN ra đời ngày 11/10/1951, cùng với

sự ra đời của trường ĐHSPHN, đây là đơn vị phục vụ đào tạo trực thuộc Ban giám hiệu Nhà trường

Ngày 10/12/1993, theo Nghị định 97/CP của Chính phủ, trường ĐHSPHN là một trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, thời điểm này, Thư viện trường là một Phòng phục vụ bạn đọc trong Trung tâm Thông tin - Thư viện của Đại học Quốc Gia Hà Nội

Ngày 12/10/1999, theo Quyết định số 201/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trường được tách ra khỏi Đại học Quốc Gia Hà Nội và mang tên là trường Đại học Sư phạm Hà Nội Thư viện lúc này được gọi là Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường ĐHSPHN

Trang 11

 Quá trình phát triển

Giai đoạn từ 1951-1965: Thư viện thời kỳ đầu thành lập, cơ sở vật chất hầu như chưa có gì, đội ngũ cán bộ còn rất mỏng, tài liệu phục vụ học tập, giảng dạy chưa nhiều, nhưng bằng lòng yêu nghề, ngay từ những ngày đầu, thư viện đã hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ đào tạo nhà trường giao cho Thời kỳ này, Thư viện trực thuộc Phòng Đào tạo của Trường

Giai đoạn 1965-1975: Đây là giai đoạn trường ĐHSPHN có sự chuyển hướng về cơ cấu tổ chức để phù hợp với tình hình thực tế của cách mạng cả nước ở thời điểm đó Chính vì thế, trường đại học Sư phạm được tách ra thành 3 trường: Đại học Sư phạm Hà Nội I, Đại học Sư phạm Hà Nội II và Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Giai đoạn này, đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh đánh phá miền Bắc, cán bộ, giảng viên và sinh viên toàn trường phải đi

sơ tán về nhiều tỉnh khác nhau Trong hoàn cảnh đó, để đáp ứng tốt nhiệm vụ phục vụ đào tạo, Thư viện cũng chia tài liệu và phân công cán bộ theo các khoa về nơi sơ tán để cán bộ, giảng viên và sinh viên không thiếu tài liệu học tập, giảng dạy, thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”

Giai đoạn 1975–1993: Giai đoạn này, trường có tên là trường Đại học

Sư phạm Hà Nội I trên cơ sở sát nhập 2 trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Đại học Sư phạm Hà Nội II Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nhà trường trong giai đoạn này là chi viện cho việc xây dựng trường ĐHSPHN2 mới được thành lập ở Xuân Hoà (1976) và các trường đại học Sư phạm, cao đẳng Sư phạm ở miền Nam, Lào, Campuchia… Thực hiện nhiệm vụ của Nhà trường giao cho, Thư viện vừa phải đảm bảo tài liệu phục vụ cho học tập, giảng dạy, nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, sinh viên của trường ĐHSPHN

I vừa phải chia sẻ tài liệu cho các trường bạn

Giai đoạn 1993 – 1999: Thời điểm này, trường Đại học Sư phạm là một trường thành viên thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội Thư viện của trường sát

Trang 12

nhập vào Trung tâm Thông tin Thư viện – Đại học Quốc Gia Hà Nội, vẫn duy trì tốt nề nếp phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường một cách hiệu quả

Giai đoạn 1999 đến nay: Tháng 12/1999 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trường ĐHSPHN tách ra khỏi Đại học Quốc Gia Hà Nội, theo đó Thư viện cũng được tách khỏi Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội Đây là giai đoạn Thư viện nhận được sự quan tâm đầu tư lớn của Nhà trường từ phát triển đội ngũ cán bộ đến cơ sở vật chất, trang thiết bị…Từ đây Thư viện đã có những chuyển biến mạnh mẽ, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào các mặt hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu tài liệu, thông tin của đông đảo bạn đọc phục vụ hiệu quả yêu cầu đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường trong giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng trường Đại học Sư phạm trọng điểm

Gắn liền với 50 năm lịch sử phát triển của Nhà trường, từ một thư viện truyền thống còn nghèo nàn về cơ sở vật chất cũng như vốn tài liệu, Trung tâm TT-TV trường ĐHSPHN ngày nay đã được đầu tư một cơ ngơi khang trang gồm khu nhà 4 tầng khép kín với 5000m2 sử dụng Đội ngũ cán bộ đa số được đào tạo đúng chuyên ngành, có năng lực đáp ứng cơ bản cho yêu cầu hoạt động của Trung tâm

Những thành tích khen thưởng được ghi nhận:

 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo cho cá nhân: 04

 Bằng khen của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo cho tập thể: 02

 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch: 01

 Huy chương vì sự nghiệp Giáo dục: 18

 Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Giáo dục: 15

 Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn hóa Thể thao và Du lịch: 24

 Bằng khen của Công đoàn Giáo dục Việt Nam: 02

 Bằng khen của Thành đoàn thành phố Hà Nội: 01

Trang 13

 Huy chương vì thế hệ trẻ do BCH Trung ương đoàn tặng cho cá nhân: 01

 Tập thể lao động xuất sắc cấp Bộ năm 2006 - 2007

Ngoài ra, cán bộ của Trung tâm được tặng nhiều Giấy khen của nhà trường do có nhiều thành tích trong hoạt động chuyên môn phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động đoàn thể khác

 Chức năng

Trung tâm TT – TV trường ĐHSPHN là thành phần cơ bản và không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nhà trường Trung tâm có chức năng thu thập, bổ sung, xử lý và cung cấp các tài liệu về lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và các khoa học khác, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, giảng dạy và nghiên cứu của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong và ngoài trường ĐHSPHN

 Nhiệm vụ

Với vai trò là giảng đường thứ hai trong trường đại học, là cầu nối giữa tri thức với con người, là đầu mối quan trọng về công tác Thông tin - Tư liệu phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học Trung tâm Thông tin – Thư viện trường ĐHSPHN phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:

 Tham mưu lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin tư liệu phục vụ học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường

 Thu thập, bổ sung, trao đổi và xử lý tài liệu nhằm cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu tra cứu tìm tin của bạn đọc

 Tổ chức sắp xếp, lưu trữ và bảo quản nguồn tư liệu của trường bao gồm các loại hình ấn phẩm và vật mang tin

 Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin theo phương pháp truyền thống và hiện đại nhằm phục vụ và phổ biến thông tin

 Thu thập, lưu chiểu những ấn phẩm do nhà trường xuất bản, các luận văn Thạc sĩ, các luận án Tiến sĩ được bảo vệ tại trường và của các cán bộ nhà

Trang 14

trường bảo vệ tại các cơ sở đào tạo khác

 Nghiên cứu khoa học TT-TV, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào việc xử lý và phục vụ nhu cầu thông tin của bạn đọc

 Duy trì và phát triển các mối quan hệ nhằm trao đổi và chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ quan TT-TV Trường ĐHSPHN, các tổ chức khoa học trong và ngoài nước

 Đảm bảo cung cấp thông tin cho NDT một cách đầy đủ, chính xác, đúng đối tượng, điều tra đánh giá đúng nhu cầu thông tin của cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu, học viện cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên trong trường Từ đó có thể tổ chức và ngày càng hoàn thiện hoạt động tạo điều kiện để cung cấp thông tin một cách chính xác, phù hợp với nhu cầu thông tin của người dùng tin

1.2.2 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT-TV Trường Đại học Sư phạm Hà

Nội được thể hiện qua sơ đồ sau:

Hình 1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức TTTT-TV Đại học Sư p ạm Hà Nội

Trang 15

P òn N p vụ: Thực hiện việc nghiên cứu thu thập, chọn lựa, bổ

sung, xử lý tài liệu và xây dựng các hệ thống tra cứu tìm tin truyền thống và hiện đại Ngoài ra, đây là nơi tiến hành làm thủ tục cần thiết cho bạn đọc khi mới nhập học như: Xây dựng hồ sơ bạn đọc của Trung tâm, làm thủ tục nhận

và thanh toán tiền cược sách của sinh viên khi nhập học và trước khi tốt nghiệp ra trường, xử lý các vi phạm nội quy của bạn đọc và thanh toán ra trường cho bạn đọc Phòng Nghiệp vụ được bố trí tại các phòng 103, 104 -

tầng 1 của Trung tâm

P òn Đọc: Là nơi tổ chức, lưu trữ, bảo quản tài liệu và cung cấp

cho bạn đọc những tài liệu cần thiết để đọc tại chỗ với các phòng đọc sách (kho đóng, kho mở - phòng 301, 302 - tầng 3), phòng đọc báo, tạp chí, luận

án, luận văn (kho đóng – phòng 401, tầng 4) và phòng đọc báo, tạp chí (kho

mở - phòng 203 - tầng 2) của Trung tâm

P òn Mượn: Là nơi tổ chức, lưu trữ, bảo quản tài liệu và phục vụ

cho bạn đọc mượn tài liệu về nhà theo thời gian quy định, với 2 phòng: phòng Mượn giáo trình (phòng 101 - tầng 1) và phòng Mượn tham khảo (phòng 201

- tầng 2) của Trung tâm

P òn T n ọc: Phục vụ bạn đọc sử dụng, khai thác Internet và hệ

thống thiết bị đa phương tiện với nguồn tài liệu điện tử, được bố trí tại phòng

402, 403, 404, 405 - tầng 4 của Trung tâm

1.2.3 N uồn lực t ôn t n

Nguồn lực thông tin là một trong những yếu tố tiên quyết cấu thành hoạt động thông tin thư viện và cũng là tài nguyên vô cùng quan trọng để phục vụ nhu cầu của bạn đọc Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lực thông tin Trung tâm Thông tin -Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã không ngừng xây dựng và phát triển được một nguồn lực tài nguyên thông tin

Trang 16

tương đối lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin trong trường Vốn tài liệu của trung tâm rất phong phú bao gồm tất cả các ngành đào tạo và nghiên cứu của trường hiện nay Trong khóa luận này tác giả tạm chia thành 2 loại là: Tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử Cụ thể như sau:

Tài li u truyền th ng :

Trung tâm có khối lượng tài liệu truyền thống với khoảng 103.246 tên, với khoảng 386.975 bản (tính đến tháng 04 năm 2014) bao gồm các sách thuộc các lĩnh vực giáo dục, sách tham khảo, sách tra cứu, giáo trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các tài liệu bằng các thứ tiếng như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Trung Quốc…

Cụ thể số tài liệu truyền thống được thống kê qua bảng sau:

Bảng 1.1: Th ng kê s lượng tài li u truyền th ng

STT Loại hình tài liệu Số lƣợng tên tài liệu Số bản Tỷ lệ

 Kho tài liệu tiếng Việt

Gồm 49.170 tên tài liệu tương đương với 235.960 bản chiếm khoảng 61% tài liệu truyền thống Trong đó chủ yếu tập trung các sách về các ngành KHXH, KHTN, các sách về lí luận sư phạm và đổi mới phương pháp giảng dạy Kho sách Việt còn có tài liệu tham khảo, sách tra cứu như từ điển, bách khoa toàn thư, niên giám, thống kê, sổ tay, sách giáo trình - đây là loại tài liệu tương đối

Trang 17

lớn của Trung tâm, cung cấp cho học viên, sinh viên những kiến thức cơ bản, có

hệ thống về các chuyên ngành thuộc lĩnh vực giáo dục mà họ đang theo học

 Kho sách ngoại

Gồm 37.144 tên tài liệu tương đương với 85.000 bản, chiếm 22% lượng tài liệu truyền thống Chủ yếu là các sách tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Trung, tiếng Nga Tài liệu Hán Nôm lưu giữ khoảng 700 bản và hiện nay chưa được đưa ra phục vụ

 Kho tài liệu luận án, luận văn

Gồm 13.071 tên tài liệu tương đương với 15.875 bản, chiếm 4% lượng tài liệu truyền thống Đây là hệ thống luận án, luận văn do trường ĐHSPHN đào tạo, đây có thể coi là kho tài liệu quý của Trung tâm Chính vì vậy, hàng năm Trung tâm có trách nhiệm thu thập, lưu giữ và bảo quản tất cả những sản phẩm được bảo vệ tại trường Đây loại hình tài liệu được nghiên cứu sinh và học viên cao học sử dụng tham khảo thường xuyên và rất hữu ích cho các đề tài nghiên cứu của họ

 Kho báo, tạp chí

Có 46.000 cuốn tạp chí chuyên ngành với khoảng 935 đầu tạp chí chiếm 11.9% gồm: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga Chủ yếu là các tạp chí chuyên ngành về các lĩnh vực như vật lí, toán học, văn học, giáo dục, lịch sử, triết học, ngôn ngữ,…

Trong đó các tạp chí tiếng Việt được lưu giữ từ rất lâu và tương đối đầy đủ các số trong năm như tạp chí Nghiên cứu văn học được lưu giữ từ năm

1960, tạp chí Nghiên cứu giáo dục từ năm 1969, Nghiên cứu lịch sử từ năm

1959, Ngôn ngữ từ năm 1969 cho đến nay Các loại báo được lưu giữ đầy đủ,

có loại từ năm 1958 như báo Văn nghệ, Nhân dân,…

 Đề tài nghiên cứu khoa học

Gồm 2.926 tên tài liệu tương đương với 4.140 cuốn chiếm 1% lượng tài liệu truyền thống tại Trung tâm

Trang 18

Tỷ lệ nguồn tài liệu truyền thống được thể hiện ở biểu đồ sau:

B ểu đồ 1.1 Tỷ l các loạ ìn tà l u truyền t n

Tà l u đ n tử:

Tại Thư viện, nguồn lựa thông tin điện tử được thể hiện dưới dạng thức

các CSDL trong đó có CSDL tự làm (nội sinh) và CSDL nhập (ngoại sinh)

Vì bước đầu ứng dụng phần mềm Libol 6.0, Thư viện mới xây dựng được CSDL thư mục tra cứu trực tuyến với 83.019 biểu ghi (tính đến tháng 04 năm 2014), cụ thể như sau:

Trang 19

Hiện nay Trung tâm có một số lượng tương đối lớn sách ngoại như: tiếng Nga, Đức, Trung Tuy nhiên, Trung tâm chưa xử lý để đưa vào CSDL vì còn nhiều khó khăn như: phần mềm chưa có ngôn ngữ tiếng Nga, Đức, Trung, nhu cầu sử dụng các sách tiếng Nga, Đức còn hạn chế

+ CSDL sách tiếng Việt: Trung tâm đã xây dựng được 49.170 biểu ghi, trong đó bao gồm cả các tài liệu tham khảo, sách tra cứu chiếm 59,2% tổng số các loại CSDL

+ Bài trích tạp chí: Hiện nay Trung tâm đã xây dựng được 16.917 biểu ghi chiếm 20,4% tổng số các loại CSDL

+ Tạp chí: Gồm 935 biểu ghi chiếm 1,1% trong tổng số các loại CSDL tại Trung tâm

+ Luận án, luận văn: Gồm 13.071 biểu ghi chiếm 15,7% trong tổng số các loại CSDL tại Trung tâm

+ Đề tài nghiên cứu khoa học: Gồm 2.926 biểu ghi chiếm 3,6% tổng số các loại CSDL

Số lượng tài liệu điện tử được thể hiện qua biểu đồ sau:

B ểu đồ 1.2: Tỷ l các loạ CSD

Sách Việt Bài trích tạp chí Luận án, luận văn

Đề tài NCKH Tạp chí

59.2%

20.4%

15.7%

Trang 20

Các loại CSDL mà Trung tâm đã mua để bạn đọc tra cứu bao gồm:

- Tạp chí khoa học Giáo dục Anh Mỹ (1983-2007)

- Tạp chí tiếng Việt

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và Nhà nước từ 1984 đến 2008

- Tạp chí điện tử trực tuyến của Viện Vật lý Mỹ (IOP)

- Tạp chí điện tử trực tuyến của Hội hóa học Hoàng Gia Anh (RSC)

Ngoài ra còn có một số lượng nhỏ tài liệu điện tử như:

- Băng video: 87 băng

- Băng cassette: 157 băng

- Đĩa CD - ROM: 1.300 đĩa

1.2.4 Các n óm n ười dùng tin và nhu cầu tin

Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượng phục vụ của công tác thông tin tư liệu Người dùng tin vừa là khách hàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới Người dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin và luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin

Ngoài đối tượng phục vụ chính là sinh viên, nghiên cứu sinh và cán bộ giáo viên trong Trường, Trung tâm Thông tin -Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội còn phục vụ đối tượng là học sinh các lớp chuyên do trường Đại học Sư phạm Hà Nội đào tạo Và một số là bạn đọc ngoài trường khi có nhu cầu tài liệu của Trung tâm Thông tin-Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 21

Hiện nay, bạn đọc đến Thư viện được đọc, mượn tài liệu với các hình thức tra cứu khác nhau: trên máy tính, trên mục lục truyền thống, qua thư mục thông báo sách mới… Hình thức phục vụ cũng được mở rộng như hệ thống kho đóng, kho mở giúp bạn đọc có thể tự lựa chọn tài liệu mình cần Hơn nữa, trong quá trình lựa chọn tài liệu có thể giúp bạn đọc nảy sinh những nhu cầu mới

Việc nắm bắt đặc điểm nhu cầu của người dùng tin (NDT) có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động thông tin thư viện Qua đó, Trung tâm có thể đáp ứng đầy

đủ và chính xác những nhu cầu tin của từng đối tượng NDT Đây là nhiệm vụ hàng đầu của các thư viện nói chung và của trường ĐHSPHN nói riêng

Xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu giáo dục đào tạo và NCKH của trường ĐHSPHN trong giai đoạn hiện nay có thể chia NDT thành 3 nhóm sau:

Nhóm 1: Nhóm cán bộ lãn đạo, quản lý ( Ban giám hi u; trưởng, phó các khoa; các phòng ban chức n n )

Nhóm NDT gồm cán bộ lãnh đạo , quản lý, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu; Cán bộ là chuyên viên các phòng chức năng Nhóm NDT này chỉ chiếm khoảng 6,25% số NDT tại Trung tâm Tuy chỉ chiếm số lượng nhỏ nhưng vai trò của nhóm bạn đọc này đối với hoạt động của nhà trường là hết sức quan trọng Nhóm NDT này có chức năng tổ chức quản lý, chính vậy nhu cầu thông tin của họ chủ yếu là những thông tin mang tính chất chỉ đạo, điều hành, những thông tin về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và đặc biệt của ngành giáo dục Đồng thời nhu cầu tin của họ cũng mở thêm ở lĩnh vực nghiên cứu giáo dục, giảng dạy chuyên môn

Căn cứ vào đặc điểm của nhóm NDT này mà Trung tâm có những cách phục vụ riêng: Thông tin phục vụ chính xác, có độ tin cậy cao, có tính chất khách quan, có độ cô đọng, xúc tích Hình thức phục vụ thường là các thông tin chuyên đề, tổng quan, tổng luận, ấn phẩm thông tin, bản tin,… Phương

Trang 22

pháp phục vụ chủ yếu mà Trung tâm áp dụng là phục vụ từ xa với cá nhân từng người theo những yêu cầu cụ thể mà họ gửi tới

Nhóm 2 : Nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

Đây là nhóm NDT chiếm số lượng khá lớn, chiếm khoảng 18,75% số lượng NDT thường xuyên tại Trung tâm Họ là lực lượng nòng cốt quyết định tới quá trình đào tạo và NCKH cơ bản, khoa học giáo dục của Nhà trường Nhà trường luôn dành những điều kiện thuận lợi nhất trong việc bổ sung và trao đổi tài liệu, phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của trường ĐHSPHN là nhóm NDT tích cực, họ vừa là người sang tạo ra thông tin ( bằng việc trực tiếp tham gia NCKH, viết giáo trình…) vừa là người chuyển giao thông tin, tri thức tới người học Họ là những người

có trình độ chuyên môn và trình độ học vấn cao Hoạt động chủ yếu của nhóm này là giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhiều người trong số họ thường xuyên tham gia các đề tài NCKH cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước… Nhu cầu thông tin của nhóm NDT này chủ yếu là các loại sách tham khảo, đặc biệt

là các tài liệu nước ngoài Ngoài ra các tài liệu như: Từ điển, bách khoa toàn thư, sổ tay, sách tra cứu , các tài liệu phi ấn phẩm: băng đĩa, băng hình, CD-ROM, các CSDL cũng là tài liệu có giá trị mà họ quan tâm

Nhóm 3: Nhóm nghiên cứu sinh, học v ên sau đại học và sinh viên

Hiện nay, tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đối tượng NDT chiếm tỷ lệ số lượng đông đảo nhất là sinh viên, chiếm khoảng 75% trên số lượng NDT Ngoài ra, thuộc nhóm NDT này còn có bạn đọc là học sinh các lớp chuyên do trường ĐHSPHN đào tạo và một số là bạn đọc ngoài trường Nhóm bạn đọc này có thời gian phụ thuộc chặt chẽ vào chương trình đào tạo và thời khóa biểu do nhà trường quy định, đồng thời họ cũng tham gia một số hoạt động ngoại khóa, thực tế khác Tuy nhiên, họ là nhóm

Trang 23

NDT có quỹ thời gian tương đối lớn và phong phú để sử dụng thư viện, phần lớn sinh viên chưa có khả năng cao trong khai thác thông tin, khái quát tổng hợp và sử dụng tài liệu một cách có hiệu quả

Nhu cầu tin của nhóm NDT này bao gồm các tài liệu mang tính chất giáo khoa, giáo trình đến các tài liệu có tính chất tham khảo về mọi lĩnh vực chuyên ngành phục vụ cho học tập và nghiên cứu Cụ thể:

 NDT là học viên cao học, nghiên cứu sinh, nhu cầu thông tin chủ yếu là: sách tham khảo quốc văn, ngoại văn, báo tạp chí và nhiều nhất là các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ…

 NDT là sinh viên :

+ Sinh viên năm 1 và sinh viên năm 2, nhu cầu thông tin chủ yếu là: sách giáo trình về các môn học đại cương như: Tâm lí, triết học, lịch sử Đảng…Ngoài ra cũng quan tâm đến các tài liệu tham khảo

+ Sinh viên năm 3 và sinh viên năm 4 nhu cầu thông tin chủ yếu là: các sách chuyên ngành mà sinh viên theo học và các tài liệu tham khảo, ngoài tiếng Việt còn có tiếng Anh, tiếng Pháp

Đối với NDT là sinh viên, hàng năm Trung tâm luôn tổ chức liên tục các lớp học đầu năm, đầu khóa nhằm đào tạo, hướng dẫn và cung cấp những hiểu biết về cơ chế hoạt động của Trung tâm và các sản phẩm dịch vụ thông tin hiện

có Đồng thời hướng dẫn cho họ biết cách sử dụng các hệ thống tra cứu thông tin của Thư viện Bên cạnh đó, hướng dẫn sinh viên cách khai thác thông tin trên mạng internet, các CSDL và các loại hình thông tin phi truyền thống khác

1.3 Vai trò của KTTT đối với công tác đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

1.3.1 KTTT đ i với hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học

KTTT với hoạt động giảng dạy

Cán bộ giảng dạy không chỉ được coi là người cung cấp kiến thức cho

Trang 24

sinh viên mà còn là người giúp sinh viên tự tiếp cận, đánh giá, sử dụng thông tin có hiệu quả Từ đó, thúc đẩy quá trình tự học, tự tìm hiểu tri thức và sáng tạo tri thức mới Một trong những nguyên tắc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay chính là đổi mới phương pháp dạy – học Song song với mục tiêu đó, phương pháp giáo dục không còn là phương pháp tiếp cận thông tin một cách thụ động “ thầy đọc trò chép” nữa mà người học trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Người học có những cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin, các

cơ sở dữ liệu… để tự chủ trong học tập và sáng tạo Chính phương pháp giáo dục này đòi hỏi cán bộ giảng dạy phải luôn cập nhật thông tin, đổi mới kiến thức, tự nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu của người học Vì vậy, việc trang

bị KTTT cho sinh viên và giáo viên chính là chìa khóa giúp cho cả thầy và trò làm chủ thông tin, tri thức, làm chủ quá trình tự học và tự học suốt đời

Tuy nhiên, hiện nay KTTT vẫn thiếu sự tập trung vào công tác giảng dạy vốn được coi là một chức năng chủ chốt của thư viện đại học Sự hợp tác giữa cán bộ giảng dạy, ban quản trị nhà trường với cán bộ thư viện trong công tác đào tạo KTTT cho sinh viên là hết sức cần thiết Bawden ( 2001) cho rằng: “ KTTT phải được coi như một khái niệm có liên kết chặt chẽ đến cải tiến chương trình đại học và nó không chỉ được coi như một con ngựa gỗ của cán bộ thư viện Hiểu một cách rộng rãi kiến thức thông tin nên được coi như một chiến lược để nâng cao năng lực lĩnh hội của sinh viên” [15]

Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học

Hoạt động nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh Hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao

Trang 25

chất lượng giáo dục, đào tạo trong trường đại học Nó được xem như là thước

đo của sự phát triển trong một trường đại học, một nền giáo dục và một quốc gia Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và phải rèn luyện được tính tự lực, có phương pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Sự bùng nổ thông tin hiện nay đặt ra yêu cầu bức thiết đối với người làm NCKH phải luôn luôn cập nhật thông tin, tri thức mới nhất, chính xác và hiệu quả nhất nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, thực nghiệm tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị thực tiễn cao Như vậy, để có những sản phẩm khoa học có chất lượng cao phục vụ cho xã hội, người làm nghiên cứu phải thực hiện quá trình nghiên cứu một cách nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm cao Đặc biệt, trong bối cảnh có khá nhiều công trình và đề tài nghiên cứu thuộc đủ các cấp có tính khả thi rất thấp như hiện nay thì trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ nghiên cứu càng được chú trọng

Đối với trường Đại học Sư phạm Hà Nội, hoạt động nghiên cứu khoa học đã trở thành thế mạnh của sinh viên và cán bộ giảng viên trong trường với nhiều công trình nghiên cứu được giải thưởng cấp Bộ, cấp Nhà nước Tuy nhiên, không phải bất cứ sinh viên nào cũng NCKH một cách thuận lợi mà không có sự rèn luyện của giáo viên về kỹ năng KTTT Bởi, để tiến hành NCKH, trước hết người nghiên cứu phải trang bị cho mình những kiến thức

và kỹ năng về KTTT như:

 Nhận biết : Thông tin cần khi nào, đặt giả thuyết cho vấn đề

 Khả năng định vị : Xác định được nguồn cung cấp thông tin và tìm được nguồn tin cần có

 Đánh giá thông tin: Thẩm định tính chính xác của các thông tin

 Khả năng phê phán : Tư duy nhận xét, phê bình trước các vấn đề, hiện tượng

Trang 26

 Khả năng sáng tạo : Đặt ra câu hỏi với những kiến thức, lý thuyết đã được đúc kết, tìm ra hướng đi mới

 Tổ chức thông tin : Chọn lọc và tổ chức thông tin phù hợp

 Khả năng ứng dụng: Vận dụng hiệu quả thông tin đó vào thực tế

Do đó, KTTT là một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực và hiệu quả giúp hoạt động NCKH diễn ra một cách thường xuyên và thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, rút ngắn quá trình ứng dụng khoa học vào thực tiễn

1.3.2 KTTT với vi c nâng cao chất lượn đào tạo

Trong dòng chảy chung của đổi mới giáo dục đại học ở nước ta, trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học đang ngày trở nên bức thiết Việc đào tạo bậc đại học chỉ thực sự có chất lượng khi tạo ra những con người có khả năng tự định hướng học tập, tự học thường xuyên, biết chọn lọc, xử lý thông tin và có khả năng sáng tạo tri thức, tự tin hội nhập vào thị trường lao động quốc tế đầy tính cạnh tranh Rõ ràng, để đạt được mục tiêu đó, cả thầy

và trò cần phải được trang bị những kỹ năng về KTTT trong quá trình giảng dạy và học tập Hoạt động giảng dạy, học tập thực chất là một quá trình truyền đạt và tiếp nhận thông tin Nếu giáo viên nắm bắt, cập nhật được những thông tin mới thường xuyên và vận dụng phù hợp với quá trình giảng dạy thì bài giảng sẽ sinh động, phong phú và đi sát với thực tế hơn Nếu sinh viên tìm tài liệu, khai thác thông tin - tư liệu hiệu quả thì chất lượng học tập

và khả năng nghiên cứu khoa học sẽ được nâng cao rõ rệt Trong trường đại học, hoạt động khai thác thông tin đóng vai trò tích cực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp dạy – học Phương pháp dạy - học mới sẽ rút ngắn thời gian giảng dạy lý thuyết trên cơ sở sinh viên tự khai thác,

Trang 27

tìm hiểu nguồn thông tin dồi dào trước khi lên lớp, tăng thời gian tự học của sinh viên với sự trợ giúp của thư viện Và cùng với học trò, người thầy lại tiếp thu những kiến thức mà chính mình đang giảng dạy, nhìn nhận chúng qua lăng kính của người học Có thể nói đó là quá trình truyền thụ – tiếp thu kiến thức một cách chủ động và có tính sáng tạo Chính vì vậy, để thực hiện tốt sứ mệnh của mình, người thầy không thể không đọc tài liệu, cập nhật và sử dụng thông tin Cũng có thể nói rằng, trường đại học sẽ không thể làm tốt nhiệm vụ đào tạo của mình nếu không có vai trò đóng góp của KTTT

Hòa chung vào dòng chảy của đổi mới giáo dục đại học ở nước ta, bắt đầu áp dụng cho sinh viên từ K59, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã triển khai hình thức đào tạo theo tín chỉ Việc dạy và học theo hình thức tín chỉ đã đem lại nhiều hiệu quả không chỉ riêng mỗi cá nhân sinh viên mà còn đối với các cán bộ giảng viên Sinh viên ý thức cao việc tự học và tìm kiếm thông tin cho các bài tập của cá nhân cũng như của tập thể Họ sử dụng thư viện thường xuyên, do đó KTTT đóng vai trò quan trọng giúp cho họ hoàn thành quá trình tìm kiếm, thu thập và xử lý thông tin cho quá trình tự học của mình, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KTTT CHO SINH VIÊN

mà chính họ còn là một trong những chủ thể hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại học Từ đó tác động trực tiếp tới sự phát triển của sự nghiệp giáo dục

và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong quá trình đổi mới

Trường ĐHSPHN là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường sư phạm, là trung tâm lớn nhất về đào tạo giáo viên, nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục của cả nước Sứ mạng của Trường là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ đại học và trên đại học, bồi dưỡng nhân tài cho hệ thống giáo dục quốc dân và xã hội Nhưng sứ mạng đó

sẽ không thể hoàn thành nếu thiếu đi sự đóng góp của cán bộ thư viện Qua nghiên cứu và khảo sát cho thấy: nguồn nhân lực trong Thư viện Trường ĐHSPHN, phần lớn có tuổi đời còn khá trẻ , có chuyên môn nghiệp vụ cao, năng động, luôn tiếp thu công nghệ và tác phong làm việc mới Họ có thế mạnh về tuổi, có điều kiện và khả năng tiếp nhận những tri thức mới, kỹ năng mới theo hướng hiện đại của nghề nghiệp; phục vụ có hiệu quả công tác đào tạo KTTT cho người dùng tin Hiện nay, Trung tâm TT – TV có 33 cán bộ

Trang 29

chuyên môn Trong đó, có 13 Thạc sĩ TT-TV và 20 cử nhân (17 cán bộ tốt nghiệp đại học Thư viện còn lại là tốt nghiệp các chuyên ngành khác) Cụ thể:

có 7 cán bộ (21,2%) có trình độ Ngoại ngữ hệ tại chức, 2 cán bộ (6,1%) có bằng Thạc sĩ Công nghệ thông tin, và 5 cán bộ (15,1%) có chứng chỉ nghiệp

vụ sư phạm, còn lại 19 cán bộ ( 57,6%) chưa có trình độ về ngoại ngữ, tin học

và nghiệp vụ sư phạm

Trình độ chuyên môn của cán bộ thư viện được thể hiện qua biểu đồ:

Biểu đồ 2.1 Trìn độ c uyên môn của cán bộ tạ Trun tâm

Với đội ngũ cán bộ như hiện nay, có khả năng đáp ứng được các yêu cầu về đào tạo KTTT cho sinh viên trong Trường Công tác đào tạo KTTT cho sinh viên có sự tham gia của tất cả các cán bộ chuyên môn ở các phòng ban của Trung tâm, nhằm giúp cho sinh viên có thể tiếp thu toàn diện nội dung chương trình được đào tạo Qua đó, sinh viên có điều kiện trao đổi trực tiếp với cán bộ của từng phòng ban để hiểu rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ của từng phòng, thuận tiện cho quá trình khai thác thông tin của bản thân

Cán bộ có trình độ Ngoại ngữ

Cán bộ có trình độ tin học

Cán bộ có nghiệp vụ sư phạm

Cán bộ chưa có trình độ Ngoại ngữ, tin học, nghiệp

Trang 30

2.1.2 C ươn trìn và nộ dun đào tạo KTTT

Trường ĐHSPHN có vai trò nòng cốt cho hệ thống các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, phát triển các chương trình đào tạo, biên soạn chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, cho các bậc học, tư vấn các cấp quản lý xây dựng chính sách giáo dục

Ở bậc đào tạo đại học, cao đẳng, Trường có 42 ngành đào tạo hệ chính quy, trong đó có 8 ngành đào tạo chất lượng cao và liên kết nước ngoài; 22 ngành đào tạo không chính quy Ở bậc sau đại học có 49 ngành đào tạo thạc sĩ, 41 ngành đào tạo tiến sĩ và một số ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ liên kết với nước ngoài Trường là cơ sở đào tạo sau đại học đầu tiên ở Việt Nam Đến nay, Trường đã đào tạo được hơn 81.000 cử nhân khoa học, hơn 9.000 thạc sĩ và trên 830 tiến sĩ Trường ĐHSPHN còn là một trung tâm NCKH lớn Chỉ tính từ năm 2000 đến nay, Trường đã có hơn 100 đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước; gần 600 đề tài và nhiệm vụ cấp Bộ, trong đó có hơn 50 đề tài trọng điểm, gần 850 đề tài cấp Trường Tầm nhìn chiến lược của Nhà trường tính đến năm 2020, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực có uy tín trong khu vực và Thế giới Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phát triển theo hướng đại học nghiên cứu với quy mô trên 35.000 sinh viên; là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học hàng đầu của quốc gia

Được sự ủng hộ từ Ban Giám hiệu Nhà trường và Ban lãnh đạo Trung tâm TT-TV, hoạt động đào tạo NDT của Trung tâm luôn diễn ra một cách đều đặn và thường kì Với số lượng sinh viên đông đảo, hàng năm Trung tâm TT – TV Trường Đại học Sư phạm Hà Nội luôn tổ chức đào tạo KTTT cho sinh viên mới nhập trường Thời điểm đào tạo vào khoảng đầu tháng 11- khi sinh viên đã ổn định các lớp học chính quy Thời gian đào tạo tập trung trong khoảng gần 2 tháng, tùy thuộc vào số lượng sinh viên nhập trường hàng năm

Trang 31

Các lớp học được chia theo ca, mỗi lớp được đào tạo một buổi trong 2 giờ

đồng hồ, bao gồm cả học lý thuyết và thực hành trực tiếp trên máy tính

Trong bất cứ thời điểm nào của năm học thì số lượng sinh viên là nhóm

bạn đọc luôn chiếm số lượng đông nhất Căn cứ vào kết quả điều tra ngẫu

nhiên dựa trên bảng khảo sát của Thạc sĩ Trương Đại Lượng, được thực

hiện vào ngày 04/04/2014 cho NDT tới Thư viện Số phiếu phát ra là 200,

số phiếu thu về là 162 Kết quả điều tra cho thấy: Độc giả đến thư viện chủ

yếu là sinh viên, chủ yếu là sinh viên năm thứ 3 và năm cuối (chiếm

66,7%); số sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai chiếm số ít (33,3%) Do

sinh viên năm thứ 3 và năm cuối có nhu cầu tìm hiểu tài liệu cao hơn để

NCKH, làm khóa luận hay ôn thi cao học Bạn đọc của thư viện chủ yếu là

sinh viên các ngành về sư phạm ngữ văn, công nghệ thông tin, sư phạm

sinh học, sư phạm toán, giáo dục công dân, Trong đó, do đặc thù đào tạo

của ngành cần phải tìm hiểu số lượng lớn tài liệu nên sinh viên ngành sư

phạm ngữ văn luôn chiếm số lượng cao nhất

Phần lớn các lớp hướng dẫn KTTT được tổ chức theo nhu cầu của sinh

viên, chỉ riêng lớp giới thiệu tổng quan về thư viện là bắt buộc tham dự đối

với tất cả sinh viên năm nhất theo yêu cầu của Trường Tuy nhiên vẫn có một

phần không nhỏ số lượng sinh viên khi được khảo sát nói rằng chưa từng

được tham gia đào tạo KTTT Theo số liệu điều tra thì có 63,6% NDT (

Nhóm 1 ) đã tham gia vào các chương trình đào tạo KTTT của thư viện, còn

lại 36,4% NDT ( Nhóm 2 ) là chưa tham gia

Trong số NDT đã tham gia các hoạt động đào tạo NDT của thư viện ( Nhóm 1), kết quả khảo sát cho thấy:

Trang 32

Nội dung các khóa học về KTTT:

Bảng 2.1: Nội dung các khóa học về KTTT do t ư v n tổ chức

phiếu

Tỷ lệ (%)

Hướng dẫn tìm thông tin trên các cơ sở dữ liệu CD-ROM

hoặc CSDL trực tuyến

Hướng dẫn phương pháp trích dẫn và lập danh mục tài

liệu tham khảo

Khi khảo sát các nội dung cụ thể mà Trung tâm TT-TV Trường ĐHSPHN đã triển khai trong công tác đào tạo NDT, trong số những NDT được hỏi đã tham gia đào tạo có tới 89,3% số NDT đã tham gia lớp giới thiệu thư viện và hướng dẫn sử dụng thẻ bạn đọc Đây là nội dung đào tạo có số lượng người tham gia đông đảo nhất do yếu tố bắt buộc là sinh viên phải tham gia lớp tập huấn giới thiệu thư viện và hướng dẫn sử dụng thẻ bạn đọc thì mới được cấp thẻ thư viện, từ đó mới được sử dụng thư viện trong suốt quá trình học tập tại Trường Có 72,9% NDT đã học lớp hướng dẫn sử dụng mục lục thư viện hoặc OPAC 64% đã tham gia vào lớp hướng dẫn tìm các bài báo, tạo chí khoa học; 57,2% đã học lớp hướng dẫn sử dụng tài liệu tra cứu; 37,9% NDT đã tham gia vào lớp hướng dẫn tìm và đánh giá thông tin trên Internet; Nội dung hướng dẫn tìm thông tin trên các cơ sở dữ liệu CD-ROM hoặc

Trang 33

CSDL trực tuyến và hướng dẫn phương pháp trích dẫn và lập danh mục tài liệu tham khảo chỉ có16,5% NDT tham gia học

Qua số liệu khảo sát ta thấy, hầu hết các sinh viên đều có nhu cầu được

sử dụng thư viện Khi tham gia vào các lớp học và được học các nội dung này sinh viên mới có thể nắm bắt được phương thức tổ chức và hoạt động của thư viện, cách tra cứu tài liệu trong kho tự chọn và tra cứu tài liệu trên OPAC cũng như các cách thức khai thác và sử dụng thông tin trên Internet…Từ đó,

họ sẽ dễ dàng xác định được nhu cầu tin của mình Bên cạnh đó, số lượng sinh viên tham gia vào lớp hướng dẫn phương pháp trích dẫn và lập danh mục tài liệu tham khảo cũng chưa cao ( 16,5%) Như vậy, kỹ năng trích dẫn và việc thực hiện trích dẫn tài liệu, ý tưởng của người khác trong quá trình học tập, nghiên cứu, làm topic… vẫn chưa được sinh viên chú trọng Đây là nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng các nguồn thông tin tùy tiện, không tôn trọng bản quyền và xa hơn nữa là hình thành nạn “ đạo văn” trong môi trường học tập và nghiên cứu

P ươn p áp giảng dạy:

Trang 34

Ngoài các yếu tố như nội dung khóa học, trình độ của cán bộ giảng dạy, thì phương pháp giảng dạy của cán bộ thư viện cũng là một nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo kiến thức thông tin Phương pháp đào tạo đóng vai trò quan trọng trong công tác đào tạo kỹ năng thông tin tại các thư viện đại học Phương pháp giảng dạy sinh động, ấn tượng là một trong những nhân tố then chốt giúp truyền tải hiệu quả lượng kiến thức đến người dùng tin

Theo số liệu khảo sát cho thấy, phương pháp giảng dạy của thư viện được NDT đánh giá khi sử dụng trong quá trình giảng dạy chiếm tỷ lệ lớn ( 91,2% ) là phương pháp thuyết trình Thuyết trình được coi là phương pháp dạy truyền thống khi cán bộ thư viện biên soạn bài giảng của mình trên máy tính và trình chiếu cho sinh viên quan sát và ghi chép Phương pháp này dễ thực hiện song tính hiệu quả không cao do sinh viên thụ động và mơ hồ về cách kỹ năng tìm tin Trong khi đó, các phương pháp giảng dạy được cho là

có hiệu quả lại chiếm tỷ lệ khá thấp Phương pháp thực hành nhóm chỉ chiếm 3,9%; Bài tập chiếm 15,5%; Phương pháp giảng dạy bằng phương pháp đặt vấn đề/ giải quyết tình huống chiếm 18,4%; Còn lại là phương pháp nêu câu hỏi trong quá trình giảng dạy chiếm 17,5% Các phương pháp này chiếm tỷ lệ không cao do thời gian đào tạo của Trung tâm quá hạn chế ( chỉ 2 giờ đồng hồ/ 1 lớp ), gây khó khăn cho cán bộ đào tạo triển khai chương trình giảng dạy Từ đó, Ban lãnh đạo Trung tâm cần phải có sự quan tâm và chú trọng hơn nữa đến công tác đào tạo KTTT cho sinh viên

Mức độ thỏa mãn của sinh viên về các khóa học KTTT của t ư v n:

Khi được hỏi : “Bạn có hài lòng với nội dung khóa học và phương pháp giảng dạy của thư viện không?” có 1,9% các bạn sinh viên cho rằng rất hài lòng, hài lòng chiếm 45,6 %; tạm hài lòng chiếm 43,7% và không hài lòng là 8,7%

Trang 35

Bảng 2.3: Mức độ hài lòng của sinh viên về các khóa học KTTT của t ư v n

2.2 Năng lực KTTT của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2.2.1 Kỹ n n n n dạng nhu cầu tin

Hiện nay, với lượng thông tin phong phú và liên tục được cập nhật thì người dùng tin có thể tìm được thông tin mà mình cần một cách nhanh chóng Tuy nhiên để tìm được thông tin phù hợp với yêu cầu của mình thì đòi hỏi người dùng tin phải biết chính xác nhu cầu của bản thân Cụ thể hơn là họ phải biết mình cần thông tin gì? Để NDT có thể tìm kiếm được thông tin thỏa mãn yêu cầu tin của bản thân đòi hỏi họ phải nhận dạng được các nhu cầu tin của mình Một trong những công việc quan trọng nhưng khó thực hiện là xác định rõ được nhu cầu tin NDT có những mức độ nhận thức về nhu cầu tin khác nhau:

Trang 36

Ở mức đầu tiên, do có hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức nên NDT cần có sự giúp đỡ trao đổi mới có thể diễn đạt được nhu cầu tin của mình

Ở mức độ tiếp theo, NDT đã có khái niệm nhất định về vấn đề họ quan tâm và có thể diễn đạt được nhu cầu tin sau khi đã tham khảo ý kiến của chuyên gia

Ở mức cuối cùng, NDT có thể trình bày nhu cầu tin của mình một cách độc lập

Trên thực tế phần lớn NDT ở mức độ đầu tiên Vì vậy họ rất cần sự hỗ trợ của cơ quan thông tin trong việc xác định nhu cầu tin của mình Do đó người dùng tin sẽ có thể không thể hiện đúng được nhu cầu tin của mình trong câu hỏi đặt ra với người tìm tin Để có thể xác định rõ nhu cầu tin của NDT,

cơ quan thông tin cần có phương pháp phỏng vấn, trao đổi với NDT Trước khi thực hiện tìm kiếm thông tin cần xác định rõ những yêu cầu sau:

 Lĩnh vực quan tâm;

 Nội dung thông tin quan tâm;

 Mục đích sử dụng thông tin;

 Ai sẽ sử dụng thông tin;

 Loại tài liệu thích hợp nhất;

 Các hình thức cung cấp thông tin thích hợp;

 Mức độ xử lý thông tin thích hợp;

 Thời hạn đáp ứng yêu cầu tin;

 Mức độ cấp bách của yêu cầu tin;

 Trong quá trình phỏng vấn hoặc trao đổi phải xác định rõ mục tiêu mà NDT muốn đạt được Mục tiêu này có thể chia thành 3 dạng:

- Đạt độ đầy đủ cao về thông tin tìm kiếm;

- Đạt độ chính xác cao về thông tin tìm kiếm;

- Đạt được sự chọn lọc cao về thông tin;

Trang 37

Việc xác định đúng yêu cầu tin, mục tiêu tìm kiếm sẽ giúp cho việc xác định chiến lược tìm phù hợp, thỏa mãn cao nhất được nhu cầu tin của NDT

Để đánh giá về khả năng nhận dạng nhu cầu tin của sinh viên Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả đã đưa ra câu hỏi về: Đề tài “Nghiên cứu

thực trạng văn hóa Việt Nam” Kết quả nhận được có 60,2% các bạn sinh viên

của nhóm 1 cho rằng đây là “ đề tài quá rộng”; 35% cho rằng “đề tài nghiên cứu phù hợp”; 2,9% cho rằng “ đề tài không thể nghiên cứu” và có 1,9% cho rằng đây là “ đề tài quá hẹp”

Kết quả được biểu hiện thông qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.2: Khả n n n n dạng nhu cầu tin của sinh viên nhóm 1

Nhóm 2 cho kết quả như sau: có tới 55,9% các bạn sinh viên nhóm 2 cho rằng đây là “ đề tài quá rộng”; có 40,7% cho rằng “ đề tài nghiên cứu phù hợp”; có 1,7% cho rằng đây là “đề tài không thể nghiên cứu” và là “đề tài quá hẹp” Kết quả cũng được biểu hiện thông qua biểu đồ sau:

Nhóm 1

Đề tài quá rộng

Đề tài nghiên cứu phù hợp

Đề tài không thể nghiên cứu

Đề tài quá hẹp

60.2%

35%

2.9% 1.9%

Trang 38

Biểu đồ 2.3: Khả n n n n dạng nhu cầu tin của sinh viên nhóm 2

Chúng ta có thể thấy rằng “Nghiên cứu thực trạng văn hóa Việt Nam”

là một đề tài nghiên cứu quá rộng, như vậy hầu hết sinh viên của cả 2 nhóm

đã trả lời đúng câu hỏi này Chỉ có số ít sinh viên cho rằng đây là “ đề tài nghiên cứu phù hợp” Từ đó cho thấy khả năng nhận dạng nhu cầu tin của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là khá tốt Trái ngược với điều này thì vẫn có sinh viên cho rằng đây là “đề tài quá hẹp” hay “đề tài không thể nghiên cứu”, tuy nhiên số lượng sinh viên này chiếm tỷ lệ rất nhỏ, không đáng kể Đây là một kỹ năng bước đầu vô cùng quan trọng trong quá trình tìm tin Bởi lẽ, nhu cầu thông tin của người dùng tin có được thỏa mãn là phụ thuộc vào việc họ có xác định được đúng nhu cầu thông tin của mình hay không Như vậy, hầu hết các bạn sinh viên đã bước đầu xác định được đúng nhu cầu tin của mình Hy vọng rằng trong thời gian tiếp theo thì tất cả sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có thể nắm chắc được kỹ năng này để

có thể tự thỏa mãn nhu cầu thông tin của bản thân

Xác định các khái niệm và thuật ngữ tìm tin

Để tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả và nhanh chóng cần phải xác định được chính xác từ khóa, từ đồng nghĩa, và các thuật ngữ liên quan đến

Nhóm 2

Đề tài quá rộng

Đề tài nghiên cứu phù hợp

Đề tài không thể nghiên cứu

Đề tài quá hẹp

55.9%

40.7%

1.7% 1.7%

Trang 39

nhu cầu tin, hay nói cách khác phải xác định chính xác thuật ngữ tìm tin Thuật ngữ tìm tin là những từ, những cụm từ, con số được lựa chọn để thể hiện yêu cầu tin Thuật ngữ tìm tin có thể là một từ cho nhan đề, từ khóa, từ chuẩn, chỉ số phân loại, tên tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản Thuật ngữ tìm còn có thể là ký hiệu mà hệ thống tìm tin sử dụng để thể hiện biểu thức tìm đã thực hiện trước đó

Khi được hỏi : Bạn phải làm bài tập về đề tài: “Các biện pháp được sử

dụng nhằm giảm thiệt hại cúm gia cầm ở nước ta trong thời gian gần đây”

Lựa chọn nào sau đây mô tả tốt nhất các ý trong đề tài của bạn? Kết quả nhận được từ nhóm 1 như sau: Có 63% sinh viên chọn cụm từ “ Thiệt hại, cúm gia cầm, biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây”; có 2 đáp án cụm từ “ Biện pháp, cúm gia cầm, Việt Nam” và cụm từ “ Biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây, nước ta” cùng được 14,6% các bạn sinh viên chọn; chỉ có 7,8% sinh viên chọn cụm từ “ Thiệt hại cúm gia cầm, Việt Nam”

Kết quả được biểu hiện thông qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.4: Khả n n xác định các khái ni m và thu t ngữ tìm tin của

sinh viên nhóm 1

Nhóm 1

Thiệt hại, cúm gia cầm, biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây

Biện pháp, cúm gia cầm, Việt Nam

Biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây, nước ta

Thiệt hại cúm gia cầm, Việt Nam

63%

14.6%

14.6%

7.8%

Trang 40

Kết quả thu được từ các bạn sinh viên nhóm 2 như sau: có 66,1% sinh viên chọn cụm từ “ Thiệt hại, cúm gia cầm, biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây”; 18,6% chọn cụm từ “ Biện pháp, cúm gia cầm, Việt Nam”; 8,5% chọn cụm từ “ Biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây, nước ta”

và chỉ có 6,8% sinh viên chọn cụm từ “ Thiệt hại cúm gia cầm, Việt Nam”

Kết quả được thể hiện qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.5: Khả n n xác định các khái ni m và thu t ngữ tìm tin của

sinh viên nhóm 2

Để mô tả tốt nhất các ý trong đề tài trên thì NDT phải sử dụng những cụm từ “ Biện pháp, cúm gia cầm, Việt Nam” Từ kết quả mà tác giả thu được thì chúng ta có thể nhận thấy chỉ có 14,6% số sinh viên của nhóm 1

và 18,6% số sinh viên của nhóm 2 cho kết quả đúng Số sinh viên còn lại không đưa ra được chính xác yêu cầu tin của mình và đa phần là thiếu cụm

từ hoặc không xác định được chính xác cụm từ tìm tin.Trong đó có hơn 60% số sinh viên của cả hai nhóm cho rằng cụm từ “ Thiệt hại, cúm gia cầm, biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây” là đáp án đúng để tìm tin Chúng ta có thể thấy hầu hết các bạn chưa xác định được chính xác các thuật ngữ, như một số thuật ngữ còn dài và xác định thiếu các thuật ngữ

Nhóm 2 Thiệt hại, cúm gia cầm, biện

pháp được sử dụng trong thời gian gần đây

Biện pháp, cúm gia cầm, Việt Nam

Biện pháp được sử dụng trong thời gian gần đây, nước ta

Thiệt hại cúm gia cầm, Việt Nam

66.1%

18.6%

Ngày đăng: 03/09/2015, 16:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Hải Chung (2006), Một số kinh nghiệm tìm tin trên Internet: Kỷ yếu Hội nghị khoa học sinh viên lần XI. –H.: ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN. -333tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm tìm tin trên Internet
Tác giả: Đào Hải Chung
Nhà XB: ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Năm: 2006
2. Lê Văn Viết (2008), Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến kiến thức thông tin ở Việt Nam,//Tạp chí Thông tin – Tư liệu.- (số 3),- tr.9 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến kiến thức thông tin ở Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Viết
Nhà XB: Tạp chí Thông tin – Tư liệu
Năm: 2008
3. Nghiêm Xuân Huy (2006), Kiến thức thông tin với giáo dục đại học//ngành thông tin – thư viện trong xã hội thông tin : kỷ yếu hội thảo khoa học. –H. : Khoa thông tin – thư viện ĐHKHXH&NV,ĐHQGHN,- tr135- 144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thông tin với giáo dục đại học//ngành thông tin – thư viện trong xã hội thông tin : kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Nghiêm Xuân Huy
Nhà XB: Khoa thông tin – thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Năm: 2006
4. Nguyễn Hoàng Sơn (2001), Tìm hiểu khái niệm kiến thức thông tin góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo cử nhân chuyên ngành khoa học thông tin – thư viện // Kỷ yếu hội thảo khoa học chuyên ngành thông tin – thư viện lần thứ nhất nhân dịp 5 năm thành lập bộ môn thông tin-thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN. – H.: NXB ĐHQGHN, – Tr. 86 – 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khái niệm kiến thức thông tin góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo cử nhân chuyên ngành khoa học thông tin – thư viện
Tác giả: Nguyễn Hoàng Sơn
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2001
5. Nguyễn Huy Chương (2006), Những tiêu chuẩn kiến thức thông tin trong giáo dục đại học Mỹ và các chương trình đào tạo kỹ năng thông tin cho sinh viên tại Trung tâm thông tin-thư viện, ĐHQGHN / Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Thanh Lý // Ngành thông tin-thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. – H.: Khoa Thông tin – Thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, – Tr. 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thông tin-thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Thanh Lý
Nhà XB: Khoa Thông tin – Thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Lan Thanh, Nguyễn Tiến Hiển (2004), Hướng dẫn sử dụng thư viện thông tin,: Tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng.–H.: Đại học Văn hóa Hà Nội,- 168tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng thư viện thông tin: Tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Thanh, Nguyễn Tiến Hiển
Nhà XB: Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 2004
7. Nghiêm Xuân Huy (2006), Kiến thức thông tin với giáo dục Đại học// ngành thông tin – thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học.–H.: Khoa thông tin – thư viện ĐHKHXH&NV,ĐHQGHN,- tr135-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thông tin với giáo dục Đại học// ngành thông tin – thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Nghiêm Xuân Huy
Nhà XB: Khoa thông tin – thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Năm: 2006
9. Trần Mạnh Tuấn (2006), Nội dung kiến thức thông tin// Bản tin thư viện công nghệ thông tin. ĐHQGTPHCM.-8/2006.-tr21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung kiến thức thông tin
Tác giả: Trần Mạnh Tuấn
Nhà XB: Bản tin thư viện công nghệ thông tin
Năm: 2006
10. Trần Thị Minh Nguyệt (2007), Bài giảng người dùng tin và nhu cầu tin (dành cho học viên cao học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng người dùng tin và nhu cầu tin (dành cho học viên cao học)
Tác giả: Trần Thị Minh Nguyệt
Năm: 2007
11. Trần Thị Quý (2006), Kiến thức thông tin, lượng kiến thức cần thiết cho người dùng tin trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay: kỷ yếu hội thảo khoa học. –H.: Khoa thông tin - thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN,- tr168 – 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thông tin, lượng kiến thức cần thiết cho người dùng tin trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay: kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Trần Thị Quý
Nhà XB: Khoa thông tin - thư viện ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Năm: 2006
12. Trương Đại Lượng (2009), Vai trò của thư viện trong việc phổ biến kiến thức thông tin, –Tạp chí thư viện Việt Nam,(số 4),-tr 17-25.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thư viện trong việc phổ biến kiến thức thông tin
Tác giả: Trương Đại Lượng
Năm: 2009
14. Andrew, Harnack; Eugene, Kleppinge (2000), Online: A reference Guide to using internet sourses. Boston: Bedford/ St. Martin’s.15. Bawden, D. (2001), Information and digital literacies: a review of Sách, tạp chí
Tiêu đề: Online: A reference Guide to using internet sourses
Tác giả: Andrew Harnack, Eugene Kleppinge
Nhà XB: Bedford/ St. Martin’s
Năm: 2000
16. Boekhorst, A.K.(2003), Becoming information literate in the Nertherlands. Library Review, 298-309 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Becoming information literate in the Nertherlands
Tác giả: Boekhorst, A.K
Nhà XB: Library Review
Năm: 2003
17. Garner, S.D (2005), High-level colloquium on information literacy learning: Report of a meeting spon- sored by the United Nations Education, and Cultural Organisation (UNESCO), National Forum on Information and the International Federation of Library Associations and Institutions Bibliotheca Alexandrina, Alexandria, Egypt Sách, tạp chí
Tiêu đề: High-level colloquium on information literacy learning: Report of a meeting sponsored by the United Nations Education, and Cultural Organisation (UNESCO)
Tác giả: Garner, S.D
Nhà XB: National Forum on Information and the International Federation of Library Associations and Institutions Bibliotheca Alexandrina
Năm: 2005
19. Spitzer, Eisenberg, M. B. & Lowe, C. A. (Eds) (1998), Information literacy: Essential skKTTTls for information age, Syracuse, New York, ERIC Clearinghouse on information & Technology, Syracuse University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information literacy: Essential skKTTTls for information age
Tác giả: Spitzer, Eisenberg, M. B., Lowe, C. A
Nhà XB: ERIC Clearinghouse on information & Technology
Năm: 1998
20. Virgnia, M. Tiefel (1995), Library user education: examing its past, projecting its future, pp.318 – 319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Library user education: examing its past, projecting its future
Tác giả: Virgnia, M. Tiefel
Năm: 1995
8. Tô Thị Hiền (2006), Tăng cường kiến thức thông tin cho sinh viên – giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường Đại học/ ngành thông tin-thư viện: kỷ yếu hội thảo khoa học . –H. :khoa thư viện thông tin, tr 108-114 Khác
13. ACRL (2000), Information Literacy Competency Standards for Higher Education, Chicago, Association of College and Research Libraries Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Trung tâm TT – TV trườn  Đại học Sư p ạm Hà Nội - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Hình 1.1 Trung tâm TT – TV trườn Đại học Sư p ạm Hà Nội (Trang 10)
Hình 1.2  Sơ đồ cơ cấu tổ chức TTTT-TV Đại học Sư p ạm Hà Nội - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Hình 1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức TTTT-TV Đại học Sư p ạm Hà Nội (Trang 14)
Bảng 1.2:  S  lượng các loại CSDL - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 1.2 S lượng các loại CSDL (Trang 18)
Bảng 2.1: Nội dung các khóa học về KTTT do t ư v  n tổ chức - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.1 Nội dung các khóa học về KTTT do t ư v n tổ chức (Trang 32)
Bảng 2.2: P ươn  p áp   ảng dạy - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.2 P ươn p áp ảng dạy (Trang 33)
Hình 2.1: Giao di n trang tra cứu trực tuyến OPAC - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Hình 2.1 Giao di n trang tra cứu trực tuyến OPAC (Trang 48)
Bảng 2.5: Khả n n  xây dựng chiến lược tìm tin của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.5 Khả n n xây dựng chiến lược tìm tin của sinh viên (Trang 58)
Bảng 2.7: Khả n n  đán    á c ất lượng tài li u của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.7 Khả n n đán á c ất lượng tài li u của sinh viên (Trang 61)
Bảng 2.8: Khả n n  đán    á t ôn  t n của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.8 Khả n n đán á t ôn t n của sinh viên (Trang 62)
Bảng 2.9: Khả n n    ểu biết về kỹ n n  sử dụng thông tin của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.9 Khả n n ểu biết về kỹ n n sử dụng thông tin của sinh viên (Trang 65)
Bảng 2.11: Khả n n    ểu biết về vấn đề bản quyền của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.11 Khả n n ểu biết về vấn đề bản quyền của sinh viên (Trang 67)
Bảng 2.12: Khả n n  tríc  dẫn tài li u của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.12 Khả n n tríc dẫn tài li u của sinh viên (Trang 70)
Bảng 2.13: Nhu cầu tham gia các khóa học về KTTT của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.13 Nhu cầu tham gia các khóa học về KTTT của sinh viên (Trang 74)
Bảng 2.14: Nhu cầu về kỹ n n  t ôn  t n của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.14 Nhu cầu về kỹ n n t ôn t n của sinh viên (Trang 76)
Bảng 2.15: Nhu cầu sử dụng công ngh  thông tin và truyền thông của sinh viên - Luận văn: Công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bảng 2.15 Nhu cầu sử dụng công ngh thông tin và truyền thông của sinh viên (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w