Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế, các chợ truyền thống trên địa bàn Hà Nội đang bộc lộ những điểm bất cấp trên nhiều khía cạnh như vấn đề vệ sinh môi trường, chất lượng hàng hóa,…Cùng với đó là sự phát triển tràn làn của các chợ truyền thống không đảm bảo tiêu chuẩn gây ảnh hưởng không nhỏ tới mỹ quan của thành phố. Vì vậy, làm sao để có thể vừa duy trì được chợ truyền thống mà vẫn đảm bảo phát triển mô hình bán lẻ hiện đại, thì đó là một bài toán nan giải với các sở, các ban ngành chức năng. Một mô hình mới đã được hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng để đáp ứng được cả hai mục tiêu nêu trên, đó là mô hình kết hợp giữa chợ với trung tâm thương mại Có thể điểm danh một số chợ truyền thống vốn là nơi mua sắm sầm uất tại Hà Nội, nay được nâng cấp lên mô hình chợ hỗn hợp như : Chợ Hàng Da, chợ Cửa Nam quận Hoàn Kiếm, chợ Ô Chợ Dừa quận Đống Đa, chợ Thanh Trì huyện Thanh Trì,.. Việc xây dựng mô hình này nhằm mục đích nâng cao hoạt động thương mại theo hướng văn minh, hiện đại. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, các chủ đầu tư cũng như các tiểu thương đã tỏ ra vô cùng thất vọng vì chợ sau chuyển đổi không được người dân đón nhận. Chợ Hàng Da vốn là một trong những chợ nổi tiếng sầm uất nhất chốn Hà thành trước kia, nay cũng rơi vào vắng khách, nhiều tiểu thương sau một thời gian hoạt động đã rút lui. Hoạt động kinh doanh đi xuống tại chợ Hàng Da cũng như các chợ chuyển đổi khác có nhiều lí do mà chủ yếu là do thiết kế mô hình không phù hợp với thói quen của người dân. Gần đây, thành phố Hà Nội đã tiến hành rà soát lại các dự án chuyển đổi chợ thành mô hình chợ kết hợp trung tâm thương mại và quyết định ngừng thực hiện các dự án chưa triển khai như chợ Nghĩa Tân,...Do đó với các dự án chuyển đổi chợ chưa triển khai sẽ không bị ảnh hưởng nhiều. Điều đáng lo ngại là các dự án chợ đang và đã chuyển đổi, nếu thành phố không đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời sẽ gây ra sự lãng phí trong sử dụng đất cũng như tác động tiêu cực đến người mua, người bán tại chợ. Ý thức được sự cấp thiết này, tác giả xin đề xuất đề tài “Chuyển đổi mô hình Chợ truyền thống thành mô hình kết hợp Chợ với Trung tâm thương mại Thực trạng và giải pháp cho mô hình tại chợ Hàng Da” với mong muốn tìm hiểu rõ thực trạng hoạt động kinh doanh tại Chợ Hàng Da và từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chợ.Thực tế đã có đề tài” Phương hướng và biện pháp chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” nghiên cứu về mô hình chợ kết hợp trung tâm thương mại. Tuy nhiên, đề tài này tiếp cận theo khía cạnh chuyển đổi mô hình tổ chức, quản lí từ ban quản lí sang hợp tác xã hoặc doanh nghiệp quản lí. Trong khi đó, tác giả tập trung vào nghiên cứu khía cạnh kinh tế xã hội của mô hình thiết kế của các Chợ kết hợp Trung tâm thương mại trên địa bàn Hà Nội. Đặc biệt, tác giả chú trọng nghiên cứu việc chuyển đổi chợ thành mô hình Chợ kết hợp Trung tâm thương mại tại chợ Hàng Da. Những dữ liệu thực tế thu thập được là cơ sở giúp tác giả đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh tại chợ Hàng Da nói riêng và các Chợ kết hợp Trung tâm thương mại trên địa bàn Hà Nội nói chung.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU 5
Bảng 1.1: Số lượng trung tâm thương mại trên cả nước và Hà Nội từ năm 2008-2011 5
Bảng 1.2: Số lượng siêu thị trên cả nước và Hà Nội từ năm 2008-2011 6
Bảng 1.3: Bảng thống kê số lượng các gian hàng tại tầng hầm của chợ Hàng Da mới 7
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 12
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
Bảng 3.1: Cơ cấu đối tượng được điều tra phân chia theo giới tính 19
Bảng 3.2: Số lượng mua hàng tại các tầng 22
Bảng 3.3: Các mặt hàng người dân thường xuyên mua tại chợ Hàng Da hiện nay 23
Bảng 3.4 : Case Processing Summary 25
Bảng 3.5: Tần suất mua * Khoảng cách từ nhà tới chợ Crosstabulation 26
Bảng 3.6: Thống kê số liệu về tần suất mua và khoảng cách từ nhà tới chợ Hàng Da của người mua 26
Bảng 3.7: Lý do mua hàng tại chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi 28
Bảng 3.8: Mức độ hài lòng của khách hàng khi mua hàng tại chợ Hàng Da 31
Bảng 3.9: Thời gian gửi xe * Phương tiện Crosstabulation 33
Bảng 3.10: Mức độ hài lòng của khách hàng ở từng tiêu thức 34
Bảng 3.11: Mối quan hệ giữa quan điểm về chuyển đổi chợ với Thu nhập của người mua 36
Bảng 3.12: Ý kiến về việc chuyển đổi chợ thành mô hình Chợ kết hợp Trung tâm thương mại của người mua 37
CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
PHỤ LỤC 1 64
PHỤ LỤC 2: 71
Mẫu 2: Phiếu phỏng vấn sâu người mua tại chợ Hàng Da 71
PHỤ LỤC 3 73
Mẫu 3: Phiếu phỏng vấn sâu người bán 73
KẾT QUẢ PHỎNG VẤN SÂU 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Chuyên đề thực tập” Phương hướng và biện pháp chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy - Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của sinh viên Kiều Thị Bùi Hằng 81
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế, các chợ truyền thống trên địa bàn Hà Nội đang bộc lộ những điểm bất cấp trên nhiều khía cạnh như vấn đề
vệ sinh môi trường, chất lượng hàng hóa,…Cùng với đó là sự phát triển tràn làn của các chợ truyền thống không đảm bảo tiêu chuẩn gây ảnh hưởng không nhỏ tới mỹ quan của thành phố Vì vậy, làm sao để có thể vừa duy trì được chợ truyền thống mà vẫn đảm bảo phát triển mô hình bán lẻ hiện đại, thì đó là một bài toán nan giải với các sở, các ban ngành chức năng Một mô hình mới
đã được hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng để đáp ứng được cả hai mục tiêu nêu trên, đó là mô hình kết hợp giữa chợ với trung tâm thương mại Có thể điểm danh một số chợ truyền thống vốn là nơi mua sắm sầm uất tại Hà Nội, nay được nâng cấp lên mô hình chợ hỗn hợp như : Chợ Hàng Da, chợ Cửa Nam - quận Hoàn Kiếm, chợ Ô Chợ Dừa - quận Đống Đa, chợ Thanh Trì
Trang 3- huyện Thanh Trì, Việc xây dựng mô hình này nhằm mục đích nâng cao hoạt động thương mại theo hướng văn minh, hiện đại Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, các chủ đầu tư cũng như các tiểu thương đã tỏ ra vô cùng thất vọng vì chợ sau chuyển đổi không được người dân đón nhận Chợ Hàng Da vốn là một trong những chợ nổi tiếng sầm uất nhất chốn Hà thành trước kia, nay cũng rơi vào vắng khách, nhiều tiểu thương sau một thời gian hoạt động
đã rút lui Hoạt động kinh doanh đi xuống tại chợ Hàng Da cũng như các chợ chuyển đổi khác có nhiều lí do mà chủ yếu là do thiết kế mô hình không phù hợp với thói quen của người dân Gần đây, thành phố Hà Nội đã tiến hành rà soát lại các dự án chuyển đổi chợ thành mô hình chợ kết hợp trung tâm
thương mại và quyết định ngừng thực hiện các dự án chưa triển khai như chợ Nghĩa Tân, Do đó với các dự án chuyển đổi chợ chưa triển khai sẽ không bị ảnh hưởng nhiều Điều đáng lo ngại là các dự án chợ đang và đã chuyển đổi, nếu thành phố không đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời sẽ gây ra sự lãng phí trong sử dụng đất cũng như tác động tiêu cực đến người mua, người bán
tại chợ Ý thức được sự cấp thiết này, tác giả xin đề xuất đề tài “Chuyển đổi
mô hình Chợ truyền thống thành mô hình kết hợp Chợ với Trung tâm
thương mại - Thực trạng và giải pháp cho mô hình tại chợ Hàng Da” với
mong muốn tìm hiểu rõ thực trạng hoạt động kinh doanh tại Chợ Hàng Da và
từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chợ
Thực tế đã có đề tài” Phương hướng và biện pháp chuyển đổi mô hình tổ
chức quản lý chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy - Hà Nội trong giai đoạn hiện
nay” nghiên cứu về mô hình chợ kết hợp trung tâm thương mại Tuy nhiên, đề
tài này tiếp cận theo khía cạnh chuyển đổi mô hình tổ chức, quản lí từ ban quản lí sang hợp tác xã hoặc doanh nghiệp quản lí Trong khi đó, tác giả tập trung vào nghiên cứu khía cạnh kinh tế- xã hội của mô hình thiết kế của các Chợ kết hợp Trung tâm thương mại trên địa bàn Hà Nội Đặc biệt, tác giả chú
Trang 4trọng nghiên cứu việc chuyển đổi chợ thành mô hình Chợ kết hợp Trung tâm thương mại tại chợ Hàng Da Những dữ liệu thực tế thu thập được là cơ sở giúp tác giả đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh tại chợ Hàng Da nói riêng và các Chợ kết hợp Trung tâm thương mại trên địa bàn Hà Nội nói chung.
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo bài nghiên cứu sẽ gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về cuộc nghiên cứu
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Thảo luận về kết quả nghiên cứu
Với kiến thức, khả năng nghiên cứu và nguồn lực có hạn nên đề tài sẽ không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy, tác giả kính mong sẽ nhận được ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô Đồng thời tác giả cũng muốn gửi lời cám ơn đến Th.s Nguyễn Thị Nguyệt Anh đã hướng dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn thành
đề tài này!
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU
1.1 Bối cảnh cuộc nghiên cứu
Theo báo cáo của Sở Công Thương năm 2012, Hà Nội hiện có khoảng 20 trung tâm thương mại lớn nhỏ (chiếm khoảng 17% con số này của cả nước)
và khoảng 110 siêu thị (chiếm khoảng 19% cả nước) Diện tích đất trung tâm thương mại trên đầu người chỉ đạt 0,077m2, con số của siêu thị là 0,019 m2 Đây là mức thấp so với yêu cầu phát triển thương mại của một đô thị lớn Hơn nữa, loại hình bán lẻ hiện đại vẫn chiếm tỷ trọng quá ít ỏi, khoảng chưa đến 20% so với các loại hình bán lẻ truyền thống là các chợ, cửa hàng nhỏ lẻ Theo quy hoạch của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, từ nay đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 thành phố sẽ thúc đẩy, tạo sự đột phát mạnh mẽ trong phát triển, hiện đại hóa ngành thương mại Trong đó sẽ xây dựng thêm
956 siêu thị, 35 trung tâm thương mại, 45 trung tâm mua sắm tại các khu vực trên địa bàn
Theo CBRE Việt Nam nhận định, thị trường bán lẻ trong tương lai vẫn sẽ phát triển mạnh ở Việt Nam nói chung và ở thị trường Hà Nội nói riêng
Bảng 1.1: Số lượng trung tâm thương mại trên cả nước và Hà Nội từ năm
2008-2011 Năm
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 6Bảng 1.2: Số lượng siêu thị trên cả nước và Hà Nội từ năm 2008-2011
có chung một tình trạng vắng khách Do thời gian có hạn nên tác giả tập trung nghiên cứu sâu thực trạng hoạt động hiện nay của mô hình chợ kết hợp trung tâm thương mại Hàng Da
Trung tâm thương mại chợ Hàng Da đã đi vào hoạt động vào tháng
10/2010, tuy nhiên hiện nay số lượng tiểu thương kinh doanh tại chợ đã giảm xuống nghiêm trọng Theo thống kê của phòng kinh tế quận Hoàn Kiếm, khi đi
Trang 7vào họat động có 544 tiểu thương kinh doanh tại chợ, đến tháng 5/2012 đã có hơn 220 hộ thuộc nhiều ngành hàng đã xin tạm nghỉ kinh doanh.
Sau đây là số liệu cụ thể các gian hàng kinh doanh từng loại mặt hàng tại ngày 4/3/2013 do tác giả quan sát thực tế tại chợ Hàng Da
Bảng 1.3: Bảng thống kê số lượng các gian hàng tại tầng hầm của chợ
Hàng Da mới
STT
GIAN HÀNG
SỐ GIAN CÒN HOẠT ĐỘNG
Trang 814 Hàng hóa khác 0 56 56
Nguồn: Kết quả điều tra thực tế
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu các loại gian hàng tại tầng hầm chợ Hàng Da hiện nay
Nguồn: Kết quả điều tra thực tế
Nhận xét: Từ bảng trên có thể thấy hiện nay có gian hàng đã ngừng kinh doanh, chủ yếu là các mặt hàng mà mua ở ngoài thuận tiện hơn như trang sức, hoa quả, nước giải khát,…
Trang 9Trong số các các gian hàng, quần áo hàng thùng có số lượng gian nhiều nhất và tỉ lệ gian ngừng kinh doanh so với tổng số các gian kinh doanh mặt hàng này là ít nhất Lý do vì chợ Hàng Da trước đây là một trong những nơi nổi tiếng
về kinh doanh quần áo hàng thùng, đây là mặt hàng mà ở các chợ khác không có nên đã thu hút người dân vào chợ Hàng Da ngay cả sau khi chợ chuyển đổi
Ngoài ra, các gian kinh doanh thực phẩm như rau, thịt, đậu, …cũng là các gian không bị ảnh hưởng nhiều sau khi chợ chuyển đổi
Biểu đồ 1.2: Cơ cấu của từng loại gian hàng tại tầng 1 chợ Hàng Da hiện
nay
Nguồn: Kết quả điều tra thực tế Nhận xét:
Trang 10Biểu đồ trên cho thấy tầng 1, gian hàng chiếm tỷ lệ nhiều nhất hiện nay vẫn là gian hàng kinh doanh quần áo, tiếp theo là các gian kinh doanh rượu, bia.
Ngoài ra, theo quan sát của tác giả, hiện nay số lượng gian hàng bỏ trống tại tầng 1 là 41 gian trong đó có 1 dãy gồm 22 gian gần lối ra khu để xe tất cả đều bỏ trống Phía tầng sảnh hiện cho 1 công ty kinh doanh dịch vụ thuê
Các gian từ tầng 2 đến tầng 4 hầu hết đã ngừng kinh doanh, mỗi tầng chỉ còn vài ba gian hàng bán quần áo, mỹ phẩm, nước hoa Tầng 4 hiện đang được tiến hành sửa chữa Tầng 5 đã chuyển sang kinh doanh dịch vụ tổ chức đám cưới
Hiện nay hoạt động kinh doanh được duy trì tại Chợ Hàng Da chủ yếu là nhờ hoạt động cho thuê đám cưới, dịch vụ bãi đỗ xe, tiền thuê gian hàng tại tầng
1 và tầng hầm 1
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Theo tìm hiểu của tác giả, hiện chỉ có 1 đề tài nghiên cứu về mô hình
Chợ truyền thống kết hợp Trung tâm thương mại có tên là “ Phương hướng
và biện pháp chuyển đổi mô hình tổ chức quản lí chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy Hà Nội trong giai đoạn hiện nay ” Đây là bài chuyên đề tốt nghiệp của
sinh viên Kiều Thị Bùi Hằng lớp Quản lí kinh tế 44 A
Thành tựu của báo cáo này:
Đánh giá hiện trạng của hệ thống các chợ trên địa bàn cầu giấy hiện nay trên nhiều phương diện như:
Trang 11+ Quy mô các loại chợ theo tiêu thức diện tích và số lượng người bán.
hàng, việc khai thác mặt bằng kinh doanh, các dịch vụ được cung cấp
mại tại các chợ
Phân tích và đánh giá được thực trạng của mô hình tổ chức quản lí tại các chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy Từ đó tác giả này đã đề xuất phương hướng, các biện pháp chuyển đổi mô hình tổ chức quản lí để đạt hiệu quả cao trong thời gian tới
- Hạn chế của nghiên cứu này:
+ Dữ liệu trong báo cáo chỉ có dữ liệu thứ cấp mà tác giả thu thập từ phòng kinh tế - kế hoạch quận Cầu Giấy, chưa có các kết quả
nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp Do đó, báo cáo chưa phân tích được ý kiến của các đối tượng hữu quan về việc chuyển đổi mô hình tổ chức quản lí
tích sự tác động, mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi mô hình tổ chức quản lí
hình chuyển đổi chợ và chưa nghiên cứu vấn đề thiết kế của mô hình Chợ kết hợp Trung tâm thương mại
Trang 12+ Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chợ tại quận Cầu Giấy.
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Từ thực tế các dự án chuyển đổi Chợ thành Chợ kết hợp Trung tâm
thương mại đều kinh doanh không hiệu quả, cuộc nghiên cứu của tác giả
nhằm hướng tới ba mục đích chính như sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu thực trạng kinh doanh hiện nay tại các chợ sau khi chuyển
đổi thành Chợ kết hợp Trung tâm thương mại tại Hà Nội và tác động của mô hình mới tới các đối tượng hữu quan
Thứ hai: Tìm hiểu các nguyên nhân khiến mô hình Chợ kết hợp Trung tâm
thương mại hoạt động kém hiệu quả tại chợ Hàng Da
Thứ ba: Thông qua phân tích việc chuyển đổi chợ thành chợ kết hợp trung tâm
thương mại, cụ thể tại chợ Hàng Da trên các khía cạnh văn hóa, giá trị kinh tế và hiệu quả đầu tư sẽ là căn cứ để các chủ đầu tư và các cơ quan quản lí nà nước rút kinh nghiệm khi tiến hành chuyển đổi chợ
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiên kể trên, cuộc nghiên cứu phải trả lời được các câu hỏi sau đây:
Câu 1: Tình trạng kinh doanh tại chợ Hàng Da thay đổi như thế nào sau khi
chuyển đổi?
Câu 2 : Những nguyên nhân nào khiến chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi lại
không thành công?
Trang 13Câu 3 : Có nên tiến hành chuyển đổi mô hình Chợ thành Chợ kết hợp Trung
tâm thương mại như Hàng Da?
2.3 Các thông tin cần thu thập
2.3.1 Thông tin thứ cấp
Các thông tin thứ cấp cần được thu thập cho cuộc nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất: Các cuộc nghiên cứu cùng đề tài hoặc có nội dung liên quan: các
kết quả đạt được và giới hạn của các cuộc nghiên cứu đã tiến hành
Thứ hai: Các thông tin thống kê:
- Số lượng các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, các dự án chuyển đổi chợ trên địa bàn thành phố Hà Nội và trên cả nước
- Thu nhập bình quân đầu người qua các năm gần đây
- Cơ cấu các loại mặt hàng tại mỗi tầng
- Thông tin chung về hoạt động của các chợ kết hợp Trung tâm thương mại
2.3.2 Thông tin sơ cấp
Các thông tin sơ cấp cần thu thập để trả lời các câu hỏi cho các vấn đề nghiên cứu đã đưa ra về:
- Tần suất mua hàng tại chợ Hàng Da
- Mặt hàng thường xuyên mua tại chợ
- Mức độ hài lòng khi mua hàng tại chợ Hàng Da
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc mua hàng tại chợ Hàng Da
Trang 14- Tỷ lệ các đối tượng tán thành với việc chuyển đổi chợ truyền thống thành mô hình Chợ kết hợp Trung tâm thương mại.
2.4 Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Đối với các thông tin thứ cấp đã được liệt kê từ trên, việc thu thập thông tin thứ cấp được thực hiện bằng phương pháp thu thập thông tin tại bài dựa trên các nguồn chính sau đây:
Thứ nhất: các báo cáo nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan bao gồm
các nghiên cứu của tổ chức hoặc cá nhân, đã được công bố và chứng nhận Các nghiên cứu là các nghiên cứu trong nước với đề tài tương tự hoặc có một phần tương ứng Đối với các nghiên cứu nước ngoài là các nghiên cứu có nội dung tương ứng
Thứ hai: các ấn phẩm báo chí bao gồm cả các ấn phẩm báo chí điện tử có
liên quan đã được xuất bản và phát hành
Thứ ba: ác website nghiên cứu với đề tài hoặc nội dung liên quan Các
website hoạt động độc lập và nội dung rõ ràng
2.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp
2.4.2.1 Phỏng vấn chuyên sâu
Quá trình phỏng vấn chuyên sâu nhằm cung cấp các cơ sở cho việc thiết kế bảng hỏi cho điều tra định lượng và phát hiện các vấn đề cụ thể trong điều tra định lượng Phỏng vấn chuyên sâu dưới hình thức phỏng vấn riêng từng đối tượng Số lượng phỏng vấn sâu là 2 người mua, 15 người bán, 1 nhân viên bảo vệ với thời gian phỏng vấn từ 20 phút đến 45 phút
Trang 15Đối tượng phỏng vấn là những người mua tại chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi và mua cả trước và sau khi chuyển đổi.
Với người bán tại chợ là những người bán tại chợ sau khi chuyển đổi và mua cả trước và sau khi chuyển đổi, mỗi đối tượng sẽ kinh doanh mặt hàng khác nhau
2.4.2.2 Điều tra bằng bảng hỏi
Việc điều tra bằng bảng hỏi là hình thức điều tra định lượng nhằm đánh giá các vấn đề đã được xác định dựa trên các thông tin sơ cấp cần thu thập và kết quả phỏng vấn chuyên sâu
Việc điều tra bằng bảng hỏi được thực hiện thông qua việc phát phiếu hỏi trực tiếp tại chợ Hàng Da, tác giả hỏi và ghi chép giúp các đối tượng Đơn
vị điều tra là những người mua và bán tại chợ Hàng Da Mẫu điều tra được thiết kế là 154 phiếu hỏi người mua và 50 phiếu đối với người bán, 100 phiếu đối với người dân
- Hình thức chọn mẫu: lấy mẫu phi xác xuất (mẫu phi ngẫu nhiên)
- Bảng hỏi được thiết lập dựa trên câu hỏi nghiên cứu
2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu
- Thông tin thứ cấp: phương pháp tổng hợp, phân tích
- Thông tin sơ cấp: thông tin được tổng hợp thông qua sử dụng phần mềm spss 20.0 để thực hiện các phân tích thống kê mô tả, phân tích các nhân tố
2.6 Phạm vi và hạn chế của cuộc nghiên cứu
Trang 16Cuộc nghiên cứu chỉ nghiên cứu nhóm đối tượng là người mua, các hộ kinh doanh mua/ bán tại chợ Hàng Da hiện nay, trước chưa mua/ bán hoặc mua/ bán
cả trước và sau khi chợ chuyển đổi Nghiên cứu đã không xem xét đối tượng người mua hoặc bán tại chợ trước đây mà sau khi chuyển đổi không mua/ bán tại chợ Do đó, tác giả không tìm hiểu được nguyên nhân và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc người mua và người bán không mua/ kinh doanh tại chợ sau khi chuyển đổi
Dự án chuyển đổi chợ bao gồm dự án đã hoàn thành, dự án đang thi công xây dựng và dự án đang trong quá trình xin giấy phép Trong đề tài này tác giả có giới thiệu tổng quan về một số chợ tiến hành chuyển đổi và tập trung nghiên cứu tại một chợ cụ thể - chợ Hàng Da thuộc dự án chuyển đổi chợ đã đưa vào sử dụng Vì vây, các kết quả nghiên cứu đưa ra liên quan đến thực
trạng tại chợ Hàng Da, không đánh giá và phân tích cụ thể về các dự án tại
các chợ khác
2.7 Kế hoạch nghiên cứu
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ ngày 26/11/2012 đến ngày
2013
20/1/
16/1-2013
21/1-27/1/2013
28/1-7/2/
2013
2/3/2013
20/2-4/3-10/
3/2013
15/3-20/3/2013
Trang 171 Thu thập thông tin
Bảng hỏi
Thông tin
sơ cấp
Kết quả phân tích
Báo cáo
Trang 18CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Quá trình thu thập thông tin
Quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện trong vòng 1 tháng Phiếu điều tra được tác giả hỏi trực tiếp và điền vào phiếu khi hỏi các đối tượng tại Chợ Hàng Da
Bước 1: Tiến hành phỏng vấn sâu một vài khách hàng tại chợ Hàng Da để
thu thập thông tin Chẳng hạn, các nhân tố ảnh hưởng đến việc mua hàng tại chợ sau khi chuyển đổi, các lí do không mua tại chợ, ưu nhược điểm của mô hình chợ mới,…
Bước 2: Căn cứ vào các dữ liệu thu thập được từ bước 1, tác giả tiến hành
thiết lập bảng hỏi Tuần thứ nhất sẽ tiến hành phát phiếu thử nghiệm 15 đối tượng Các ý kiến phản hồi của các đối tượng là cơ sở giúp tác giả hiệu chỉnh lại nội dung và hoàn thiện phiếu điều tra
Bước 3: Tiến hành phát phiếu chính thức để thu thập thông tin, việc phát
phiếu này được diễn ra trong 3 tuần
3.2 Đặc điểm nhóm đơn vị điều tra
Đơn vị điều tra là những người mua hàng tại chợ Hàng Da trước đây và hiện nay Đây là nhóm đối tượng đa dạng về giới tính, nghề nghiệp, thu nhập
Do chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi không phù hợp với nhu cầu của người dân nên số lượng người mua đã giảm đi nhiều so với trước khi chuyển đổi Đối tượng người mua đã từng mua tại chợ cũ và hiện nay không còn mua rất hiếm và khó xác định nên tác giả không phỏng vấn được nhiều đối tượng này
Đa số là đối tượng người đã mua tại chợ cũ và hiện nay vẫn mua Cơ cấu nhóm đối tượng phỏng vấn được biểu diễn qua biểu đồ sau đây:
Trang 19Bảng 3.1: Cơ cấu đối tượng được điều tra phân chia theo giới tính
Total N
%Đối tượng được
điều tra
Người mua tại chợ cũ
Giới tính
Trang 20Biểu đồ 3.1: Cơ cấu các đối tượng được điều tra
Nguồn: Kết quả điều tra.
Trang 21Biểu đồ 3.2: Địa điểm mua sắm thường xuyên của đối tượng điều tra
Nguồn: Kết quả điều tra.
Đặc điểm của các đối tượng được phỏng vấn:
Đa số người mua hàng tại chợ là nữ giới, chiếm 81.3% (tức là có 122 nữ trong tổng số 150 người được hỏi)
Người mua hàng tại cả 2 thời điểm trước khi chuyển đổi chợ và chợ sau chuyển đổi chiếm tỷ lệ cao nhất tới 61.69%
Chợ là địa điểm có tỷ lệ người thường xuyên mua hàng nhất sau đó là hàng rong, siêu thị và trung tâm thương mại Hiện nay do nền kinh tế suy
Trang 22thoái có ảnh hưởng đến thu nhập nên chi tiêu của người dân bắt đầu thắt chặt
và xu hướng đến các trung tâm thương mại đã giảm sút
3.3 Phân tích thực trạng kinh doanh tại chợ Hàng Da
Bảng 3.2: Số lượng mua hàng tại các tầng
Count
Nguồn: Kết quả điều tra.
Từ bảng thống kê trên ta có số lượng như sau:
+ Không mua ở tầng nào có 4 người
+ Chỉ mua tại tầng trên có 2 người
+ Chỉ mua tại tầng 1 có 14 người
+ Mua tại tầng và tầng trên có 2 người
+ Chỉ mua tại hầm có 85 người
Trang 23+ Mua tại hầm và tầng trên 3 người.
+ Mua tại hầm và tầng 1 có 43 người
+ Mua cả ở 3 tầng có 1 người
Trong 154 đối tượng được phỏng vấn có 4 người không mua tại tầng nào
vì đó là người mua hàng tại thời điểm chợ chưa chuyển đổi nên không trả lời các câu hỏi này Đa số là mua tại hàng tại tầng hầm, nếu chỉ mua tại tầng hầm
có 85 người (85/154= 55,2 %), ngoài ra có 43 người mua tại tầng hầm vừa mua tại tầng 1, 3 người vừa mua tại tầng hầm vừa mua tại tầng trên Trong khi đó số lượng người mua hàng tại tầng trên rất ít (2 người chỉ mua tại các tầng trên và 5 người mua tại tầng trên và 2 tầng thuộc khu chợ dân sinh) Từ
đó có thể thấy rằng, tại chợ Hàng Da tầng hầm là tầng thu hút khách hàng
mua sắm nhiều nhất, sau đó đến tầng 1, còn lại các tầng trên hiện trong tình trạng vắng khách
Bảng 3.3: Các mặt hàng người dân thường xuyên mua tại chợ Hàng Da
Không mua
Quần áo
Không mua
Hàng hóa khác
Hàng hóa khác
Không
Trang 24Quần áo
Không mua
Hàng hóa khác
Hàng hóa khác
Nguồn: Kết quả điều tra.
Về cơ cấu các loại mặt hàng: Những người dân sống gần chợ thường đến chợ hàng ngày để mua thực phẩm tươi sống cho gia đình nên thực phẩm là loại hàng hóa được mua nhiều nhất (95 người chọn) Tiếp theo là hàng hóa khác như giày dép, mỹ phẩm, đồ khô,…(56), mặt hàng quần áo (28), cuối cùng là rượu bia (16)
3.4 Phân tích mối quan hệ của các nhân tố
Trang 25Từ sau khi chợ chuyển đổi số lượng người dân mua hàng tại chợ giảm dần, chủ yếu đối tượng mua hàng thường xuyên là những người dân sống gần chợ Để chứng minh cho nhận định này, tác giả sử dụng số liệu từ phiếu điều tra
2 câu hỏi về tần suất mua và nơi ở hiện tại ở bảng hỏi ( phụ lục 1) với số lượng mẫu là 154 người mua hàng tại Chợ Hàng Da Cụ thế kết quả như sau:
Bảng 3.4 : Case Processing Summary
Cases
Khoảng cách từ nhà
tới chợ * tần suất
mua
Trang 26Bảng 3.5: Tần suất mua * Khoảng cách từ nhà tới chợ Crosstabulation
500m-2km
5km
2km-10km
Nguồn: Kết quả điều tra.
Bảng 3.6: Thống kê số liệu về tần suất mua và khoảng cách từ nhà tới chợ
Hàng Da của người mua
Tần suất
mua
Khoảng cách từ nhà đến chợ Hàng Da Hàng
Ngày
Hàng tuần
Hàng tháng
Trang 27121 5.5
11
121 5.26
3613.65 0.38
101.79 0.18
Nguồn: Kết quả điều tra
Sau đó tác giả sử dụng công thức trong giáo trình “Xã hội học” để xử lí số liệu và tìm mối liên hệ giữa các biến
Trang 28gần chợ thường đi bộ đến chợ nên họ không mất thời gian, tiền gửi xe, thuận tiện khi đi đến chợ Mặt khác xét về giá cả ở chợ Hàng Da không chênh lệch nhiều so với bên ngoài, điều kiện vệ sinh, chất lượng hàng hóa lại tốt hơn Vì vậy những người sống gần khu vực chợ Hàng Da là đối tượng mua hàng chủ yếu, thường xuyên mà các hộ kinh doanh, chủ đầu tư cần có biện pháp để kích thích họ đến mua hàng tại chợ.
3.5 Lý do người dân mua hàng tại chợ
Tác giả tiến hành điều tra với quy mô mẫu là 154, trong đó có 4 đối tượng là người mua tại chợ cũ, 55 người mua tại chợ mới, 95 người mua cả khi chợ chưa chuyển đổi và đã chuyển đổi Dưới đây là bảng thống kê cụ thể về các lí do
khiến người dân mua hàng tại chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi
Các lý do bao gồm : 1 là Hàng hóa đa dạng, 2 là Hàng hóa đảm bảo chất lượng, 3
là Thói quen, 4 là Sạch sẽ, 5 là Ngẫu hứng và 6 tươn ứng là Lý do khác
Bảng 3.7: Lý do mua hàng tại chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi
PercentValid
Trang 29Total 154 100.0
Nhận xét: Với nhóm đối tượng chỉ mua tại chợ Hàng Da cũ, tác giả ngừng
phỏng vấn một số câu hỏi tiếp theo nên trong bảng có giá trị missing bằng 4
Biểu đồ 3.3: Lý do người dân mua hàng tại chợ Hàng Da sau chuyển đổi
Trang 30Nguồn : Kết quả điều tra Nhận xét:
Tuy đa số người dân thích chợ Hàng Da trước kia hơn và số lượng người mua tại chợ đã giảm đi nhưng khu chợ dân sinh vẫn thu hút khá nhiều người đến đây mua sắm
Trong đó có 4.55% người mua vì hàng hóa đa dạng, 22.7 % vì hàng hóa tại chợ đảm bảo chất lượng, 24.03% mua vì thói quen, điều kiện mua sắm sạch sẽ là
lý do mà 37.01% khách hàng lựa chọn, 4.55% do ngẫu hứng và lí do khác cũng chiếm 4.55% , ngoài ra có 2.6% (tức là 4/154 ) là do giá trị missing
Lý do được nhiều đối tượng chọn nhất là điều kiện vệ sinh sạch sẽ, chiếm tới 37.01% So với chợ trước kia, nhìn chung chợ mới có không gian sạch sẽ,thoáng mát,các gian hàng được bố trí khoa học, điều kiện cơ sở hạ tầng tốt hơn đã góp phần thu hút có khách hàng đến chợ Xung quanh chợ Hàng Da có tồn tại rất nhiều chợ cóc, chợ tạm trên đường Ngô Văn Tố, Cửa Đông, gây ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả kinh doanh của các hộ kinh doanh tại chợ Hàng Da Tuy nhiên, chợ hàng da có lợi thế cạnh tranh so với các chợ cóc, chợ tạm là mặt hàng được đảm bảo chất lượng Hàng ngày ban quản lý đều tiến hành kiểm tra chất lượng, điều kiện vệ sinh của các mặt hàng được bày bán tại chợ đặc biệt là các mặt hàng thực phẩm Chính vì vậy mà có 22.73% người dân mua hàng tại chợ là
vì chất lượng hàng hóa
Tại tầng hầm có đa dạng hàng hóa hơn so với các chợ cóc bên ngoài và có một số sản phẩm mà các chợ khác không bán Do đó, với những người muốn mua nhiều loại hàng hóa hoặc mua sắm thực phẩm cho cả tuần, việc mua tại chợ giúp họ tiết kiệm thời gian hơn, họ có thể mua được các loại hàng hóa mình cần
Trang 31mà không phải đi nhiều Ngoài ra còn một số lí do khác như tiện đường đi qua hay vì chợ Hàng Da có bán nhiều quần áo hàng thùng,…
3.6 Mức độ hài lòng của người mua tại chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi
Để đánh giá được tác động của chợ Hàng Da sau khi chuyển đổi đối với người mua, tác giả đã thực hiện cuộc điều tra bằng bảng hỏi với người đã hoặc đang mua hàng tại chợ Hàng Da( Xem bảng hỏi tại phụ lục số 1) Với số lượng phiếu phát ra là 154, số lượng phiếu thu về là 154 (100%) trong đó có 154 phiếu hợp lệ (đạt 100 %) phiếu không hợp lệ (0%)
Bảng 3.8: Mức độ hài lòng của khách hàng khi mua hàng tại chợ Hàng Da
Trang 32Nguồn: Kết quả điều tra.
Với thang điểm đánh giá về mức độ hài lòng cao nhất là 10, kết quả cho thấy giá trị trung bình là 6.1667 tức là mức độ hài lòng của khách hàng khi mua hàng tại chợ ở mức độ trung bình Mức độ hài lòng dao động từ 3 cho đến 10, giá trị xuất hiện nhiều nhất là 5 Hệ số nhọn K = - 0.513< 0 chứng
tỏ đồ thị thoải hơn so với phân phối chuẩn tức là mức độ hài lòng phân tán, ít tập trung vào giá trị trung bình Hệ số bất đối xứng Skewness = 0 488 > 0 tức
là dãy phân phối có dấu hiệu lệch phải, đa số mức độ hài lòng của khách hàng nhỏ hơn giá trị trung bình
Trang 33Bảng 3.9: Thời gian gửi xe * Phương tiện Crosstabulation
Nguồn: Kết quả điều tra.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người mua đi bộ đến mua sắm chợ Hàng Da chiếm tỉ lệ lớn nhất 82 người trong tổng số 150 người được hỏi (tức 54.7% ), sau đó là xe máy, xe đạp còn lại chỉ có 3 người đi ô tô Điều này cũng chứng tỏ đa số những người mua hàng tại chợ là những người sống gần chợ
Về Thời gian gửi xe tại chợ: Vì những người đi bộ không sử dụng phương tiện giao thông nên không có ý kiến đánh giá về thời gian gửi xe Những người mua đi xe đạp đến chợ đa số đánh giá về tốc độ gửi xe, lấy xe
Trang 34tại chợ Hàng Da mất ít thời gian Do bãi đỗ xe ở trên mặt đất có sức chứa rất
ít nên ô tô, trong trường hợp những ngày đông khách có thể cả xe máy phải để
xe ở dưới tầng hầm, nên việc gửi xe lấy xe mất khá nhiều thời gian Vì vậy, các khách hàng sử dụng các phương tiện như xe máy, ô tô thường không hài lòng về thời gian lấy xe
Bảng 3.10: Mức độ hài lòng của khách hàng ở từng tiêu thức
Trang 35Nguồn: Kết quả điều tra
Mức độ hài lòng tăng từ 1-5, trong đó 1 là rất không hài lòng và 5 là rất hài lòng
Số lượng cổng ra vào chợ, không khí mua sắm trong chợ, vị trí khu chợ truyền thống tại tầng hầm, sự đa dạng của hàng hóa là các nhân tố người mua không hài lòng cần được khắc phục
Giá cả của hàng hóa, diện tích của các gian hàng, khoảng cách giữa các gian hàng, phong cách phục vụ của người bán hàng, thái độ của nhân viên bảo
vệ, cơ sở vật chất, trang thiết bị có mức độ hài lòng trung bình nên cần cải thiện thêm
Trang 36Sự bố trí các gian hàng, điều kiện vệ sinh của khu vực mua sắm trong chợ
và vấn đề đảm bảo trật tự, an ninh là những ưu điểm của chợ Hàng Da đã góp phần thu hút khách hàng đến chợ
3.7 Quan điểm về việc chuyển đổi Chợ thành mô hình Chợ kết hợp
Trung tâm thương mại
3.7.1 Về phía người mua
Bảng 3.11: Mối quan hệ giữa quan điểm về chuyển đổi chợ với Thu nhập
của người mua
< 5 triệu
5-10 triệu
10-20 triệu
>20 triệu
Đối tượng có thu nhập trong khoảng <5 triệu thì có tỷ lệ tán thành là
35.7%, thu nhập từ 5-10 triệu có 36% tán thành, thu nhập khoảng 10-20 triệu tán thành việc chuyển đổi chiếm 54.5%, còn lại có tới 80% tán thành là nhóm
có thu nhập >20 triệu Từ đó thấy rằng những người có thu nhập càng cao thì
Trang 37càng tán thành việc chuyển đổi chợ tức là 2 nhân tố trên có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau.
Bảng 3.12: Ý kiến về việc chuyển đổi chợ thành mô hình Chợ kết hợp Trung tâm thương mại của người mua
Trang 38Biểu đồ 3.4: Thống kê số lượng các ý kiến về việc chuyển đổi Chợ thành chợ
kết hợp Trung tâm thương mại
Nguồn: Kết quả điều tra.
Nhận xét:
Trong số 154 người mua được điều tra có 46.1 % không tán thành chuyển đổi chợ thích, lí do đưa ra là chợ cũ giá rẻ hơn, thuận tiện, có thể đi luôn xe vào mà không phải gửi Trong khi đó, chợ mới được thiết kế gồm tầng trên bán hàng cao cấp thì lôm côm, không nhiều hàng hóa để lựa chọn, khu chợ dân sinh ở tầng hầm không phù hợp với thói quen đi chợ của người dân
Có đến 42.9 % người mua tán thành việc chuyển đổi chợ Trong số 42.9 % này (Tức là 66 người được điều tra tán thành) có 24 người thu nhập trên 10 triệu
Trang 39Lý do những người này tán thành việc chuyển đổi vì chợ mới sạch sẽ, có điều hòa, giá cả lại không chênh lệch nhiều so với mua ở bên ngoài.
Còn lại có 11 % người được hỏi không có ý kiến về việc chuyển đổi chợ, chợ mới hay chợ cũ đều không ảnh hưởng đến việc họ mua tại chợ Hàng Da Chợ cũ hay chợ mới đều có những ưu và nhược điểm riêng, chẳng hạn chợ cũ thì tiện lợi còn chợ mới thì sạch sẽ hơn
Bên cạnh đối tượng người mua, tác giả đã tiến hành hỏi ý kiến nhanh về việc chuyển đổi chợ thành mô hình Chợ kết hợp Trung tâm thương mại của 50 người bán hàng tại chợ Hàng Da và những người dân 100 người ( không mua hàng tại chợ và biết về mô hình chuyển đổi này) Kết quả được minh họa bằng biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.5: Ý kiến của người bán và người dân về việc chuyển đổi chợ
thành Chợ kết hợp Trung tâm thương mại
Trang 40Nguồn: Kết quả điều tra.
3.7.2 Ý kiến của Người bán
Cơ cấu người bán được điều tra gồm có 50 người trong đó 40 người bán tại tầng hầm, 7 người tại tầng 1, 3 người bán tại các tầng trên Nếu phân chia theo thời điểm kinh doanh thì có 20% là người mới kinh doanh tại chợ sau khi chuyển đổi, còn 80% đã bán hàng tại cả trước và sau chuyển đổi Vì chợ mới kinh doanh ế
ẩm hơn trước nên trong 80% này có 92% người bán thích chợ Hàng Da cũ hơn Tuy nhiên có 1 hộ kinh doanh tại tầng hầm chiếm 2% tán thành việc chuyển đổi chợ vì chợ mới sạch sẽ, văn minh hơn Còn lại 6% (1 người bán hàng rau, 1 người bán thịt, 1 hộ bán quần áo) không đưa ra ý kiến vì hiện tại việc kinh doanh vẫn bình thường, chợ mới hay chợ cũ đều mang lại lợi ích cho họ
3.7.3 Ý kiến của người dân
Theo thống kê có 67% thích chợ cũ, 23%thích chợ mới và còn lại là không có
ý kiến Phần lớn người dân xung quanh chợ Hàng Da thích chợ cũ hơn vì việc xây dựng chợ mới làm mất nơi để nơi mua sắm Bên cạnh đó cũng có một số người thích chợ mới hơn vì chợ mới sạch sẽ, đảm bảo an ninh vừa giúp họ có nơi mua sắm văn minh lại vừa không gây ô nhiễm môi trường, mất trật tự an ninh như trước, làm đẹp mỹ quan đô thị Còn lại không quan tâm và không đưa ra ý kiến vì điều đó không ảnh hưởng đến họ
Như vậy, từ các thống kê trên, có một số kết luận chính sau được rút ra:
1 Đa số khách hàng mua tại chợ Hàng Da là người sống gần chợ (cách chợ <2km)
2 Những người sống càng gần chợ có tần suất mua hàng càng lớn