LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI Trong thời kì mà hầu như địa hạt nào c ng được toàn cầu hóa, người ta không ngại ngần khẳng định r ng văn học của mọi uốc gia không thể đứng biệt lập, tách rời khỏ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN NGỌC KIM NGÂN
LINH SƠN (CAO HÀNH KIỆN) VÀ SÔNG (NGUYỄN NGỌC TƯ) TỪ CÁI NHÌN SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2014
Trang 2NGUYỄN NGỌC KIM NGÂN
LINH SƠN (CAO HÀNH KIỆN) VÀ SÔNG (NGUYỄN NGỌC TƯ) TỪ CÁI NHÌN SO SÁNH
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Trà My
HÀ NỘI, 2014
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn TS Lê Trà My giảng viên trường Đại
học Sư phạm Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, nên em rất mong nhận được ý kiến và đánh giá của các thầy cô trong hội đồng để giúp em hoàn thiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Kim Ngân
Trang 4Tôi xin cam đoan r ng số liệu và kết uả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không tr ng l p với các đề tài khác Tôi c ng xin cam đoan r ng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Kim Ngân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 2
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3
3 MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: VĂN HỌC SO SÁNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU “LINH SƠN’ VÀ “SÔNG" 9
1.1 Văn học so sánh và các khuynh hướng nghiên cứu 9
1.1.1 Văn học so sánh trong bối cảnh hội nhập uốc tế 9
1.1.2 Các khuynh hướng nghiên cứu 12
1.2 Một vài nét về “Linh sơn” và “Sông” 16
1.2.1 Tác phẩm “Linh sơn” của Cao Hành Kiện 16
1.2.1 Tác phẩm “Sông” của Nguyễn Ngọc Tư 21
CHƯƠNG 2: BỨC TRANH THẾ GIỚI TRONG “LINH SƠN” VÀ “SÔNG” 27
2 1 Mô hình thế giới thực - ảo 27
2 1 1 Mô hình thế giới thực - ảo trong “Linh sơn” 27
2 1 2 Mô hình thế giới thực - ảo trong “Sông” 31
2 2 Không gian văn hóa dân gian 34
2 2 1 Không gian văn hóa dân gian trong tiểu thuyết “Linh sơn” 34
2 2 2 Không gian văn hóa dân gian trong tiểu thuyết “Sông” 41
2 3 Không gian nội tâm 48
2 3 1 Không gian nội tâm trong “Linh sơn” 48
2 3 2 Không gian nội tâm trong “Sông” 51
2 4 Biểu tượng trung tâm của bức tranh thế giới 53
2 4 1 Biểu tượng núi trong “Linh sơn” 53
2 4 2 Biểu tượng sông trong “Sông” 55
CHƯƠNG 3: CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT “LINH SƠN” VÀ “SÔNG” 58
3 1 Cốt truyện 58
3 1 1 Cốt truyện “Linh sơn” và “Sông” - Mô hình cốt truyện phi cốt truyện 60
3 1 2 Tiến trình sự kiện theo hướng mở 73
3 2 Nhân vật 75
3 2 1 Nhân vật trốn chạy và nhân vật kiếm tìm 79
3 2 2 Nhân vật chỉ đường – nhà hiền triết dân gian 96
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời kì mà hầu như địa hạt nào c ng được toàn cầu hóa, người ta không ngại ngần khẳng định r ng văn học của mọi uốc gia không thể đứng biệt lập, tách rời khỏi văn chương thế giới Nói cách khác, d muốn d không thì văn học của mỗi đất nước không thể thu mình trong tòa tháp ngà của dân tộc mình, mà nó n m trong mối uan hệ đa chiều phức tạp Các nền văn học, các trào lưu văn học, các nhà văn, các văn bản văn học tiếp xúc với nhau, giao thoa nhau, ảnh hưởng tới nhau, thậm chí xung đột với nhau… Bản thân văn học c ng không thể co ro trong chiếc áo khoác của mình mà c ng chịu sự ảnh hưởng từ các loại hình nghệ thuật khác và những yếu tố phi văn học khác Văn học so sánh là một chuyên ngành có khả năng giải thích và nghiên cứu những mối uan hệ đó Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu những mối uan hệ tương đồng, uan hệ họ hàng hay ảnh hưởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác, giữa các sự kiện hay văn bản văn học, những mối uan hệ này có thể gần hay xa, trong không gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, ho c
nhiều văn hoá khác nhau, cho d có chung một truyền thống
“Linh sơn” của Cao Hành Kiện và “Sông” của Nguyễn Ngọc Tư là
hai cuốn tiểu thuyết có nhiều điểm tương đồng nhau Hơn nữa, cả hai tác phẩm
đều có một vị trí đáng ngưỡng mộ trên văn đàn thế giới và ở Việt Nam “Linh sơn” là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của một nhà văn Trung Quốc đạt giải Nobel – giải thưởng cao uý nhất của văn học thế giới Còn “Sông” là cuốn tiểu
thuyết đầu tay của tác giả đang được coi là nhà văn nữ hàng đầu hiện nay của văn học Việt Nam Nhìn một cách bao uát hơn thì hai tác phẩm đều hướng
về cội nguồn lịch sử, văn hóa của dân tộc, mà Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng, vậy nên sự tương đồng trong văn hóa có thể dễ dàng nhận thấy Sự tương đồng này dẫn đến sự g p gỡ về m t thể loại, cấu trúc cốt truyện và tư tưởng, đưa đến cho chúng tôi nhận thức về một số vấn đề về m t
Trang 7thi pháp của kiểu loại truyện không có cốt truyện và những nét đẹp trong văn hóa của từng dân tộc M c d có nhiều nét tương đồng, nhưng mỗi tác phẩm lại có sự khác biệt và dấu ấn đ c sắc trong văn phong của mỗi tác giả Như
vậy, “Linh sơn” và “Sông” – hai tác phẩm văn học đương đại – có nhiều nét
tương đồng với nhau, tuy nhiên, đọc mỗi tác phẩm, chúng ta đều có thể nhận thấy được những nét độc đáo riêng, phản ánh về đời sống tinh thần, tâm linh của mỗi dân tộc
Đây chính là lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài “ Linh sơn của Cao Hành Kiện và Sông của Nguyễn Ngọc Tư từ cái nhìn so sánh’’ để nghiên
cứu
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong lời dẫn nhập cho cuốn Văn học so sánh lý luận và ứng dụng, PGS TS Lưu Văn Bổng đã viết: “Văn học so sánh xuất hiện như một sự giác ngộ tính chất thế giới của văn học, cộng với ý tưởng nghiên cứu tính chất này
về m t lịch sử Có so sánh thì mới tránh được sự đánh giá thuần túy dựa vào thị hiếu “ngoài thời gian”, “ngoài điều kiện xã hội” So sánh là phương tiện để khẳng định tính ưu việt riêng biệt của dân tộc, và đề xuất một lý tưởng nghệ thuật thống nhất So sánh là sự mở rộng cảm nhận nghệ thuật biện hộ cho những hình thái nghệ thuật mới mẻ của dân tộc khác Văn học so sánh là nghiên cứu hai hay nhiều nên văn học dân tộc trong tương uan, trong ảnh hưởng hai hay nhiều chiều, trong tương tác lẫn nhau”
Giáo sư Hồ Á Mẫn trong Giáo trình Văn học so sánh đã trích dẫn định nghĩa được in tại cuốn Trung Quốc đại bách khoa toàn thư như sau: “Văn học
so sánh – một phân nhánh của nghiên cứu văn học, xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Nó là một khoa học nghiên cứu so sánh một cách lịch sử
uá trình có tác dụng tương hỗ giữa hai nền văn học dân tộc trở lên, nó nghiên cứu uan hệ tương hỗ hình thức nghệ thuật và hình thái ý thức của các nền văn học dân tộc đó”
Trang 8Như vậy, văn học so sánh không đơn thuần, không phải là sự so sánh điểm giống và khác nhau giữa hai hay nhiều tác phẩm, mà thông ua tác phẩm tìm ra những nét tương đồng giữa những nền văn học của mỗi dân tộc Sự tương đồng ấy phải được toát lên từ gốc rễ văn hóa, văn học của dân tộc và được thể hiện thông ua tư tưởng, phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ
Về “Linh sơn”, vì đây là tác phẩm đoạt giải Nobel văn học năm 2000
nên có rất nhiều tài liệu nghiên cứu b ng tiếng Trung, tiếng Anh và tiếng Việt uan tâm đến đề tài này như: “Gao Xingjian and Soul Muontain: Ambivalent Storytelling” của Robert Nagle, “My Writing, your Pain and her Trauma: Pronouns and Gendered Subjectivity in Gao Xingjian’s Soul Muontain and One man’s Bible” Modern Chinese Literature của Xu Gang Gary, “Huyền
thoại trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện” của Lưu Thị Thanh Thủy, “Tính thông tục trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện” của
Trần Hoài Anh, “Kết cấu tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện” của Trịnh Thị Hiền, “Biểu tượng Linh Sơn trong tác phẩm c ng tên của Cao Hành Kiện
và cuộc hành trình tìm kiếm chính mình” của Nguyễn Diệu Linh…
Về nội dung của tác phẩm thì bản thân Cao Hành Kiện từng bộc bạch
trên một tờ báo Trung Quốc: “Khi viết Linh sơn tôi không nghĩ đến tác động
của nó gây ra trong văn giới, và thật là tôi c ng không nghĩ đến độc giả cả Thực tế là tôi chỉ viết cho mình tôi thôi Khi đó tôi đang uan tâm tìm hiểu văn hóa Trung Hoa, lịch sử Trung Hoa và tôi biết r ng lịch sử Trung Hoa là lịch sử uyền lực Thế là tôi đi sâu vào ngọn nguồn văn hóa Trung Hoa và tôi lang thang đến những nơi mà cuốn tiểu thuyết diễn ra để phát hiện ra cho mình ngọn nguồn ấy là gì Khi đó tôi rất uan tâm đến hoàn cảnh xã hội và tình trạng diễn ra ở Trung Quốc Tôi không nghĩ đấy là của riêng Trung Quốc,
mà là những vấn đề chung đ t ra cho cả nhân loại Và một điều khác tôi c ng
đ t ra trong cuốn sách đó là sự tự hoài nghi giá trị của con người trong thế giới, sự hoài nghi của con người ta về chỗ đứng của mình trong thế giới, vì thế cuốn tiểu thuyết là sự phân tích uá trình phát triển của cá nhân Một
Trang 9chuyện khác nữa là vấn đề ngôn ngữ thể hiện ua các chủ đề đó và vấn đề người ta có thể sử dụng ngôn ngữ rõ ràng đến mức nào Vậy nên đối với tôi, cuốn sách này là viết về những thay đổi đang diễn ra Nó không phải là một tác phẩm, nó là một uá trình” Chính những bộc bạch này của tác giả đã lí giải những nguyên nhân thôi thúc ông viết tác phẩm này, đồng thời nó c ng
hé lộ nhiều vấn đề trọng tâm của tác phẩm
Về m t phương diện nghệ thuật của “Linh sơn” thì Lưu Thị Thanh Thủy trong “Huyền thoại trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện” có
chỉ ra r ng: “Phương thức huyền thoại được Cao Hành Kiện sử dụng trong tác
phẩm Linh sơn đã giúp nhà văn nắm bắt được các chiều kích khác nhau của
hiện thực, hướng người đọc tới những giá trị văn hóa lâu bền của dân tộc… Bên cạnh đó, thân phận con người c ng được thể hiện với nhiều bi kịch khác nhau Đó là bi kịch cô đơn, con người không thể tìm kiếm bất cứ sự chia sẻ nào, trở nên lạc lõng, luôn có cảm giác bất an, bị rình rập, bị đe dọa, bị bỏ rơi, không có điểm tựa tinh thần Trên các cuộc hành trình đi tìm kiếm sự bình an trong tâm hồn, đi tìm cái tự ngã của chính mình, con người vẫn không tìm được sự giải thoát hoàn toàn”
Về cốt truyện, kết cấu tác phẩm “Linh sơn” Trương Thái Du với “Đọc Linh sơn của Cao Hành Kiện” trên báo vietnamnet vn có nhận định “81
chương sách của nhà văn kiêm họa sĩ họ Cao chứa 81 l y thừa, 81 nét màu đan xen, chồng chéo, hòa lẫn mất hút trong nhau rồi lại hiển hiện tinh khiết đến tột c ng ở đâu đó Hơn thế nữa, bức tranh còn bị che mờ b ng vô số cơn mưa, màn sương, bóng tối và cả rêu phong ướt át hai bên trung lưu dòng Trường Giang h ng vĩ Cộng thêm cơ man những huyền thoại, truyền thuyết, truyện hoang đường, sinh hoạt thần bí cạnh các con người tận thủy c ng sơn như mới bước ra từ thời ăn lông ở lỗ, bàng bạc sắc màu dân v , dân ca
nguyên sơ “Linh sơn”, do đó, hiện lên thật lung linh hư ảo và có thể nói nó
uá uyến r ” Điều này cho thấy bức tranh thế giới trong “Linh sơn” vô
c ng phong phú và độc đáo
Trang 10Tác giả Nguyễn Diệu Linh trong bài viết “Biểu tưởng Linh sơn trong
tác phẩm c ng tên của Cao Hành Kiện và cuộc hành trình tìm kiếm chính mình” trên báo vst vista gov vn đã cho chúng tôi những gợi mở khi tìm hiểu
những hành trình tạo nên cốt truyện trong Linh sơn: “Đồng thời với việc nhắc
đến Linh Sơn như một địa danh, tìm đường đến Linh Sơn như tìm đến một
uả núi, tác giả không ngừng d ng mọi cách để huyền thoại hóa nó, gán cho
nó nhiều ý nghĩa biểu tượng khác nhau”, “Con đường tới Linh Sơn dường như được chia làm hai ngả: một ngả hướng ra bên ngoài, ra thế giới, một ngả hướng vào thế giới bên trong, vào nội tâm” và “nhân vật chính ua việc leo núi, vừa tìm kiếm một cái gì siêu nhiên, vừa muốn thể nghiệm chính bản thân mình” Tác giả c ng chỉ ra “hành trình leo núi được đan lồng trong một kết cấu truyện không phân biệt được rõ ràng thực với hư, uá khứ với hiện tại, tưởng tượng với kinh lịch”
Trần Hoài Anh trong luận văn “Tính thông tục trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện” cho r ng: “văn học đương đại Trung Quốc trong cơ
chế thị trường có những xu hướng sáng tac để thỏa mãn thị hiếu của người đọc, trong đó có xu hướng rời xa ý thức hệ để uay về với dân gian, sáng tác các tiểu thuyết lịch sử mới Trong bối cảnh đó, Cao Hành Kiện đã đưa các chất liệu dân gian vào trong tác phẩm của mình Trong cuộc hành trình về với cội nguồn văn hóa dân tộc, người viết đã khẳng định “truyền thuyết, dã sử, chuyện hoang đường, bí ẩn ken dày trong tác phẩm khiến đường đến Linh Sơn như đường về với văn hóa truyền thống đậm màu sắc kì ảo của một dân tộc vốn có tính hiếu kì” Tác giả đã chỉ ra cuộc phiêu lưu của tư tưởng hoài nghi khi tìm về với huyền thoại dân gian: “tựa lưng vào uá khứ nhưng uá khứ trong cổ tích và huyền thoại của dân tộc Trung Hoa uá rối rắm, nhiều dị bản Vì vậy mà nhân vật hoài nghi tất thảy, hoài nghi cả tổ tông, cả thần tượng dân tộc như một kẻ phản tử cực đoan” Chính thái độ hoài nghi đó đã thể hiện “nỗi hoang mang trong tâm trí Cao Hành Kiện Mệt mỏi, chán nản, hoài nghi và hoang mang tạo nên một sự khủng hoảng trong ông”
Trang 11Về nhân vật, Trịnh Thị Hiền trong “Kết cấu tiểu thuyết Linh sơn của
Cao Hành Kiện” đã tìm hiểu hệ thống nhân vật với kiểu nhân vật đào vong, nhân vật tìm kiếm sự giải thoát và nhân vật chỉ đường Luận văn c ng tìm hiểu các phương thức nghệ thuật trong tác phẩm với các kiểu không gian – thời gian đ c th Thế giới đó cho thấy “bi kịch của con người đang cô đơn, bất an, hoảng loạn”
Những nhận định trên đã gợi mở cho chúng tôi tìm hiểu về bức tranh thế giới và về nhân vật của tác phẩm
Còn “Sông” – một tác phẩm mới ra đời, vẫn còn “nóng hổi” trên văn
đàn, tuy chưa có công trình công phu nào nghiên cứu nhưng c ng nhận được nhiều phản hồi từ độc giả và giới nghiên cứu Trên trang inlook vn có nhận định: “Nguyễn Ngọc Tư có tài viết những chuyện bình thường, giản dị nhưng
không đơn giản Trong Sông vẫn là không gian sông nước uen thuộc trong
những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Viết một cách hồn nhiên, chân thành, nghiệp viết như một mối duyên tiền định với chị, đến nỗi chị bảo mình không
làm được việc gì tốt hơn là viết Và ở Sông, chị đã thực hiện một cuộc hành
trình đi tìm chính mình, cho d có vất vả, mệt mỏi nhưng để tìm ra được mình, biết mình cần gì, làm gì là điều cần nhất” Còn nhà biên tập Trần Ngọc
Sinh rất xác đáng khi nhận xét về Sông: “Đẹp Đáo để Trần tục và hư ảo” Hay như tác giả bài báo “Đi dọc Sông của Nguyễn Ngọc Tư” thấy r ng: “Độc giả sẽ không tìm thấy trong Sông một hình ảnh nào là của “hiện thực đời
sống”, những địa danh trong tác phẩm đều lạ lẫm và xa xôi, kiểu như: Băng Khâu, M Sa, Ể Ưu, Di Ổ… Nhưng kì lạ là mọi nơi chốn đều h n lên cái hiện thực ngồn ngộn”
Trên đây là những công trình nghiên cứu, là những sự gợi mở và chỉ
dẫn cho chúng tôi xây dựng đề tài “Linh sơn (Cao Hành Kiện) và Sông (Nguyễn Ngọc Tư) từ cái nhìn so sánh”
Trang 124 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong công trình này để đạt được mục đích nghiên cứu đã đ t ra cho luận văn, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như sau:
Phương pháp so sánh: So sánh văn chương là một phương pháp nghiên
cứu văn học có đối tượng bất kì Mục đích của so sánh văn học là từ những đối tượng nghiên cứu rút ra được bản chất, uy luật tồn tại và phát triển của văn học So sánh văn học có thể đi từ phạm vi nội bộ dân tộc tiến tới phạm vi rộng hơn bên ngoài dân tộc
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp luận giải, phương pháp tổng hợp để đạt được hiệu uả tốt nhất trong uá trình
nghiên cứu
5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được triển khai thành ba chương như sau:
Chương 1: Văn học so sánh và hướng nghiên cứu “Linh sơn” và
“Sông”
Chương 2: Bức tranh thế giới trong “Linh sơn” và “Sông”
Chương 3: Cốt truyện, nhân vật trong “Linh sơn” và “Sông”
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VĂN HỌC SO SÁNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN
CỨU “LINH SƠN’ VÀ “SÔNG"
1.1 Văn học so sánh và các khuynh hướng nghiên cứu
1.1.1 Văn học so sánh trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Là một ngành học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu là điều kiện
cơ bản mà ngành học đó phải thành lập được Đối với văn học so sánh, việc xác định được đối tượng một cách rõ ràng không phải là việc dễ và việc trình bày văn học so sánh theo kiểu bách khoa toàn thư không phải là cách thức sáng suốt Vì vậy, từ góc độ phương pháp luận để nghiên cứu tính chất của văn học so sánh là cách thức tương đối thích hợp
Phương pháp so sánh là một biện pháp nhận thức của nhân loại, nó đã xuất hiện từ lâu và có tính phổ biến Nghiên cứu văn học so sánh, tất nhiên không tách rời sự so sánh, nhưng “so sánh” ở đây là một cách thức cụ thể của văn học so sánh, mang hàm ý khác với sự vận dụng chung chung, mà phải tuân thủ nghiêm ng t theo các nguyên tắc của văn học so sánh, thông ua những uy định nghiên cứu ảnh hưởng, nghiên cứu song song, nghiên cứu liên ngành để so sánh văn học của hai nước trở lên Trong văn học so sánh, nghiên cứu ảnh hưởng và nghiên cứu song song có ý nghĩa phương pháp luận
Hội nhập uốc tế là một uá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và uan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường c ng là động lực hàng đầu thúc đẩy uá trình hội nhập Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến uan hệ uốc tế và đời sống của từng uốc gia Ngày nay, hội nhập uốc tế là lựa chọn chính trong chính sách của hầu hết các uốc gia để phát triển
Trang 14Hội nhập về văn hóa-xã hội là uá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã hội khu vực và hợp tác ch t chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-
xã hội với các nước
Hội nhập văn hóa-xã hội có ý nghĩa rất uan trọng trong việc làm sâu sắc uá trình hội nhập, thực sự gắn kết các nước với nhau b ng chất keo bền vững hơn cả Quá trình này giúp các dân tộc ở các uốc gia khác nhau ngày càng gần g i và chia sẻ với nhau nhiều hơn về các giá trị, phương thức tư duy
và hành động; tạo ra sự hài hòa và thống nhất ngày càng cao hơn giữa các chính sách xã hội của các nước thành viên; đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụ hưởng tốt hơn các giá trị văn hóa của nhân loại, các phúc lợi xã hội đa dạng; đ c biệt, hình thành và củng cố tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng chung rộng lớn hơn uốc gia của riêng mình (ý thức công dân khu vực/toàn cầu)
Hội nhập uốc tế là một uá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và uan hệ giữa con người Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải
có uan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các uốc gia-dân tộc Các uốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể uốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới
Văn học so sánh là một môn học có tính uốc tế, “tiêu chuẩn phân loại uốc tế của giáo dục” thuộc tổ chức UNESCO của Liên hiệp uốc có uy định rất cụ thể về uá trình học tập và nội dung nghiên cứu về bộ môn văn học so sánh Văn học so sánh có ý nghĩa uan trọng trong việc đào tạo nhân
Trang 15tài và giao lưu văn hóa… Văn học so sánh giúp mở rộng tầm mắt nghiên cứu
và cải tiến phương pháp nghiên cứu học thuật Văn học so sánh d ng con mắt xuyên uốc gia để nghiên cứu hiện tượng văn học và hiện tượng văn hóa liên uan với nhau, tinh thần cơ bản của nó là coi văn học toàn thế giới là một chỉnh thể, đ t văn học các nước vào một kết cấu chỉnh thể để nhận thức và so sánh, từ hai ho c nhiều hệ thống văn hóa để uan sát hiện tượng văn học, phát hiện mối uan hệ giữa các nền văn học với nhau và giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật khác
Một ý nghĩa khác của văn học so sánh là giúp ta nghiên cứu sâu sắc văn học của đất nước mình và cả văn học của các nước khác trên thế giới Văn học so sánh có chức năng cung cấp cho các nhà nghiên cứu một cách nhìn và một lập trường của “người khác” Văn học so sánh lấy văn học thế giới làm bối cảnh, tham chiếu với các nền văn học khác để nhận thức và đánh giá lại nền văn học của chính đất nước mình Đồng thời, đây c ng là cách để đưa văn học của uốc gia mình đến với văn đàn thế giới
Văn học so sánh giúp ta nhận thức rõ lịch sử văn học và lý luận văn học Bởi từ khi loài người bước vào thời kì văn minh đến nay, văn hóa – văn học của một dân tộc không thể tránh khỏi việc chịu ảnh hưởng từ văn hóa, văn học của dân tộc khác Lịch sử phát triển của văn học là lịch sử của sự không ngừng giao lưu, tiếp thu và cải tạo văn học các nước trên thế giới Văn học so sánh đi vào lịch sử văn học, trọng điểm nghiên cứu là sự thẩm thấu của ngoại lai, ảnh hưởng đối với bên ngoài ở trong lịch sử văn học Về m t kết cấu lý luận, uy luật chung của văn học c ng không thể hoàn thành trong hệ thống văn hóa bị phong bế mà phải tìm tòi trong sự đối thoại với các hệ thống văn hóa khác Chỉ có thể tổng hợp suy ngẫm về các hiện tượng văn học của các dân tộc thì mới có thể giải uyết một số vấn đề chung về văn học Do đó, muốn rõ sự phát triển của văn học trong nước không thể không nhắc đến văn học nước ngoài
Trang 16Văn học so sánh giúp thúc đẩy mối liên hệ và giao lưu văn học – văn hóa giữa các nước với nhau Bộ môn này ra đời trong uá trình chủ nghĩa tư bản mở rộng thị trường thế giới, nó phát triển trên cơ sở giao lưu văn học và văn hóa Trong khoa học nhân văn, văn học so sánh đứng ở hàng đầu trong việc giao lưu văn hóa, một sứ mệnh uan trọng của nó là thúc đẩy mối liên hệ
và giao lưu văn hóa – văn học các nước Hiện nay là thời đại giao lưu văn hóa rộng rãi chưa từng thấy trong lịch sử loài người Bất kể là sáng tác văn học hay lý luận phê bình đều không thể là hiện tượng văn hóa độc lập Quan sát lịch sử văn học các nước, sự phát triển văn học của từng uốc gia, ta thấy, không đơn giản chỉ là sự kế thừa lịch sử theo chiều dọc mà đó còn là sự thẩm thấu theo cả bề ngang và có sự tác động tương hỗ giữa văn học với các m t khác của xã hội Nếu nghiên cứu văn học truyền thống thường đứng ở phạm
vi văn học riêng của từng nước, khiến đối tượng nghiên cứu bị thu hẹp; thì văn học so sánh d ng phương thức liên hệ, khảo sát và so sánh các hiện tượng văn học trên phạm vi toàn thế giới
Văn học so sánh không theo đuổi ý nghĩa chung cực mà là thông ua mối uan hệ và sự so sánh để tìm ra cách hiểu và những điểm chung hài hòa giữa các nền văn hóa với nhau Một m t, làm cho chúng ta hiểu thêm về văn hóa – văn học của các nước trên thế giới, từ bỏ được cảm giác xa lạ, giảm thiểu được ý nghĩ th địch, không tốt về nhau M t khác, văn học so sánh mượn con mắt của người ngoài, nhận thức và đánh giá lại những đ c sắc văn hóa – văn học của đất nước mình để những điều đó trở nên xác thực hơn
1.1.2 Các khuynh hướng nghiên cứu
1.1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng
Nghiên cứu ảnh hưởng là chỉ việc d ng các phương pháp lịch sử để xử
lý các mối liên hệ thực tế tồn tại giữa các nền văn học của các dân tộc khác nhau, căn cứ của nó là sự tiếp xúc, giao lưu lẫn nhau giữa các nền văn học dân tộc Nghiên cứu ảnh hưởng nhấn mạnh đến thực chứng và liên hệ thực tế Các suy luận, phán đoán thiếu căn cứ thực tế đều không thuộc về phạm tr nghiên
Trang 17cứu ảnh hưởng Nghiên cứu ảnh hưởng là phương pháp đáng tin cậy và có sức thuyết phục, đây c ng là phương pháp nghiên cứu xuất hiện sớm nhất, cơ bản nhất trong lĩnh vực văn học so sánh
Thế nào là nghiên cứu ảnh hưởng? Ảnh hưởng được hiểu là khái niệm hạt nhân của phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng Khái niệm “ảnh hưởng” của văn học so sánh khác với khái niệm ảnh hưởng chung chung Thông thường, khi nói ảnh hưởng là chỉ sự việc này có tác động đến sự việc khác, rồi dẫn đến sự phản ứng, phản hồi của sự vật bị tác động; còn “ảnh hưởng” của văn học so sánh uan tâm đến “tính ngoại lai”, sự xâm nhập của “tính ngoại lai” Ảnh hưởng mà văn học so sánh nghiên cứu khác với các khái niệm tương uan như: tiếp nhận, mô phỏng hay tương tự
Điều kiện để sinh ra ảnh hưởng luôn bao gồm hai yếu tố: vật gây ảnh hưởng và vật chịu ảnh hưởng Vật gây ảnh hưởng phải có sức lan tỏa, về m t nào đó phải có vị trí hơn hẳn ho c dẫn đầu, đồng thời, vật gây ảnh hưởng phải
có yếu tố nào đó tương đồng với vật chịu ảnh hưởng và ph hợp với điều kiện của nước tiếp nhận Nhưng về căn bản mà nói, sản sinh ra ảnh hưởng còn chịu phụ thuộc vào trình độ tiếp thu của vật chịu ảnh hưởng Do đó, ở đây chủ yếu
từ góc độ của nước tiếp nhận để khảo sát điều kiện khách uan của việc sản sinh ra ảnh hưởng, bao gồm: hoàn cảnh xã hội, truyền thống nghệ thuật, thói uen thưởng thức, điều kiện nội tại của cá nhân người chịu ảnh hưởng
Ảnh hưởng trong văn học là mối uan hệ nhân uả phức tạp, ở đây chủ yếu bàn về hai loại hình: ảnh hưởng trực tiếp - ảnh hưởng gián tiếp, ảnh hưởng chính – ảnh hưởng phụ
Tuy nhiên, nghiên cứu ảnh hưởng c ng có những hạn chế nhất định Bản chất của nghiên cứu ảnh hưởng là tính thực chứng Nghiên cứu ảnh hưởng thiên về mối liên hệ thực tế, chú trọng nghiên cứu nguồn gốc và ảnh hưởng, trọng tâm của nghiên cứu được đ t ở sự phát hiện và kiểm chứng tư liệu Nhưng tác phẩm văn học lại không phải là sự tổng hợp các loại tài liệu,
mà là một chỉnh thể hữu cơ Như vậy, nghiên cứu ảnh hưởng đã bỏ ua tính
Trang 18chỉnh thể của tác phẩm văn học, c ng như cá tính sáng tạo của nhà văn Trong khi đó, nghiên cứu văn học chân chính còn cần phải chú ý đến giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ, tính tư duy, sáng tạo của nhà văn
1.1.2.2 Nghiên cứu song song
Nghiên cứu song song là d ng phương pháp suy luận logic để nghiên cứu hai nền văn học dân tộc, ho c hai nền văn học dân tộc trở lên mà giữa chúng không có uan hệ trực tiếp So với nghiên cứu ảnh hưởng, phạm vi nghiên cứu song song rất rộng, nó có thể nghiên cứu văn học các dân tộc khác nhau từ nhiều góc độ, nhiều phương diện Đồng thời, nghiên cứu song song chú trọng đến tính văn học của đối tượng, chú trọng so sánh chủ đề, thể tài, thể loại văn học, hình tượng nhân vật, đ c điểm phong cách
Đối tượng so sánh của nghiên cứu song song là hai đối tượng không có mối liên hệ trực tiếp, không có những chứng cứ xác thực Để nghiên cứu song song có thể tồn tại như một phương hướng nghiên cứu chủ đạo cần dựa vào một số tính chất, đó là tính phổ uát và khác biệt của văn hóa, văn học
Nghiên cứu song song không giống như nghiên cứu ảnh hưởng là dùng phương pháp lịch sử, khảo cứu, chú trọng những vấn đề bên ngoài văn học như nguồn gốc, liên hệ… mà là d ng phương pháp của triết học, thẩm mĩ, phê bình để nghiên cứu văn học Nghiên cứu song song có phương pháp tư biện suy luận logic, đó là một trong những m t có giá trị nhất của phương pháp này Nghiên cứu song song không bị chi phối bởi liên hệ thực tế, nó mở rộng không gian nghiên cứu cho văn học so sánh, cung cấp lý luận cho việc tìm hiểu văn học các nước, đ c biệt là văn học phát triển từ trong những truyền thống văn hóa độc lập riêng rẽ Tức là, nghiên cứu song song có thể đưa các hiện tượng văn học các nơi trên thế giới vào lĩnh vực nghiên cứu ở mức cao nhất Như vậy, so với nghiên cứu ảnh hưởng chỉ chú trọng đến mối liên hệ thực tế, thì lĩnh vực nghiên cứu song song rộng hơn nhiều Đồng thời, với những ưu điểm trên, nghiên cứu song song còn đề xuất việc so sánh giữa văn học với các môn nghệ thuật khác
Trang 19Tuy nhiên, nghiên cứu song song c ng mang trong mình những hạn chế của nó Do nghiên cứu song song mở rộng không gian văn học so sánh, nên đối tượng nghiên cứu thiếu những hạn định nghiêm ng t Nói cách khác, đối tượng của nghiên cứu song song có thể trở nên uá nhiều và phức tạp, dẫn đến việc sai lầm trong uá trình nghiên cứu, khảo sát Vì vậy, nghiên cứu song song cần bám sát hai tiêu chí hạn định đó là thời đại và hệ thống Một vấn đề nữa của nghiên cứu song song là vấn đề làm thế nào để xử lý tính khác biệt của văn học các dân tộc khác nhau Những điều này cho thấy, các phán đoán và kết luận của nghiên cứu song song cần phải hết sức tỉ mỉ và kĩ lưỡng
1.1.2.3 Nghiên cứu liên ngành
Nghiên cứu liên ngành là do các trường phái nghiên cứu khoa học Hoa
Kỳ nêu ra, nó mở rộng phạm vi nghiên cứu văn học so sánh Nghiên cứu liên ngành là dưới điều kiện duy trì tính chủ thể văn học, tìm tòi mối liên hệ giữa văn học với các ngành có liên uan Mục đích là đ t văn học vào bối cảnh lịch
sử, văn hóa rộng lớn, thông ua việc khảo sát mối liên hệ và tác dụng của văn học đối với các môn học khác, làm rõ nội hàm bản chất của văn học, từ đó hiểu rõ hơn về phương hướng phát triển văn học
Quan hệ giữa văn học và nghệ thuật rất đa dạng, và c ng rất phức tạp Nghiên cứu mối uan hệ giữa văn học và nghệ thuật có thể cung cấp cho chúng ta vô số đề mục nghiên cứu Loại nghiên cứu này có thể tổng kết được
uy luật đ c th của văn học không giống với nghệ thuật khác, c ng có thể
ua nghệ thuật khác và phương pháp biểu hiện để hiểu được sự thẩm thấu và ảnh hưởng của nó đối với văn học Mỗi loại hình nghệ thuật trong uá trình phát triển đều chịu ảnh hưởng của ngành nghệ thuật khác nhau ở mức độ khác nhau, từ đó hình thành nên sự vay mượn, sự giao thoa về kĩ xảo, công năng và hiệu uả Những thành tựu nghiên cứu này góp phần mở rộng lĩnh vực nghiên cứu của văn học so sánh
Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu liên ngành còn nghiên cứu về mối uan hệ giữa văn học với các hình thái ý thức và khoa học kĩ thuật Bản thân
Trang 20văn học c ng là một bộ phận của hình thái ý thức c ng như các hình thái khác như chính trị, tôn giáo, triết học, đạo đức Do đó, giữa văn học và các hình thái ý thức có mối uan hệ ảnh hưởng, tác động đến nhau Còn văn học với các ngành khoa học kĩ thuật khác, tưởng chừng như khác biệt và không liên uan gì đến nhau, nhưng thực chất mối uan hệ giữa văn học và khoa học kĩ thuật lại là sự thẩm thấu lẫn nhau và diễn ra một cách vô c ng phức tạp
Tóm lại, văn học so sánh đã phá vỡ giới hạn nghiên cứu của các ngành học thuật, nó liên thông toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, làm cho nghiên cứu văn học bước sang giai đoạn mới mang tính tổng hợp
1.2 Một vài nét về “Linh sơn” và “Sông”
1.2.1 Tác phẩm “Linh sơn” của Cao Hành Kiện
Cao Hành Kiện được coi là một hiện tượng độc đáo trên văn đàn thế giới Cao Hành Kiện sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940 Ông sinh ra và lớn lên ở Cống/Cám Châu, Giang Tây, Trung Quốc Ông tốt nghiệp trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh năm 1962 ngành tiếng Pháp Sau khi tốt nghiệp ông được phân công đến Cục xuất bản ngoại văn làm phiên dịch Trong thời
kỳ Cách mạng Văn hóa (1966-1976) ông đã bị đưa vào trại học tập cải tạo và phải âm thầm thiêu hủy cả một va-li đầy bản thảo tác phẩm của mình, trong
đó có một vài cuốn tiểu thuyết chỉ chờ ngày xuất bản và 15 vở kịch Sau đó, ông bị gửi vào trại cải tạo giáo dục mất 7 năm Năm 1975 ông trở về Bắc Kinh, làm việc tại Cục xuất bản Ngoại văn Đến năm 1978 ông nhận chức phiên dịch cho Hiệp hội tác gia Trung Quốc Năm 1980 ông về làm công tác biên kịch tại Kịch viện Nghệ thuật Nhân dân Bắc Kinh Cao Hành Kiện là một trong những văn nghệ sĩ tiền phong của Trung Quốc đã cổ v , đấu tranh cho uyền sáng tác văn nghệ tự do và đích thực
Năm 1988, Cao Hành Kiện sang, ngụ cư tại Pháp và đến năm 1998 thì chính thức nhập uốc tịch Pháp Ông vừa là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, vừa là dịch giả, đạo diễn, họa sĩ Trong sự nghiệp của mình, Cao đã nhận được nhiều giải thưởng như: Huân chương về văn học nghệ thuật
Trang 21(1992), Giải thưởng cộng đồng Pháp ngữ (1994) với tác phẩm “Người mộng
du”, Giải Năm mới của Trung Quốc (1997) với tác phẩm “Linh sơn” Đ c
biệt, năm 2000, ông được trao giải Nobel văn học Như vậy, Cao Hành Kiện
là nhà văn người Trung Quốc đầu tiên và là công dân Pháp thứ 13 được nhận giải thưởng danh giá này Viện Hàn lân khoa học Thụy Điển đã tuyên dương ông là một nhà văn có “sự nghiệp tầm cỡ thế giới, mang dấu ấn cay đắng trong nhận thức và nét tinh tế của ngôn từ, mở ra nhiều nẻo đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết và sân khấu”
M c d vậy, nhưng chính tại uê hương mình, Cao Hành Kiện lại không được biết đến rộng rãi Bởi trước đó, Cao là một trong những văn nghệ
sĩ tiền phong của Trung Quốc đã cổ v , đấu tranh cho uyền sáng tác văn nghệ tự do và đích thực Ông luôn luôn tìm cách bảo vệ vị trí độc lập và tiếng nói cá nhân của mình trong mọi hoàn cảnh bởi vì theo ông, sáng tác văn học
là cơn sóng trào từ tâm huyết của người viết văn Vào năm 1981 sau khi xuất bản cuốn "Thảo Luận đầu tiên về Nghệ Thuật của Tiểu Thuyết Mới" (Hiện Đại Tiểu Thuyết Kỹ Xảo Sơ Thám), nhà văn Cao Hành Kiện bị gán cho nhãn hiệu thuộc về trường phái "hiện đại", rồi sau vở kịch "Các Kẻ Chạy Trốn" (Đào Vong) phổ biến vào năm 1990, tác giả bị xếp vào loại "phản cách mạng" Chính phủ Trung Quốc đã từng coi ông là một phần tử chống đối và các tác phẩm của ông đã bị cấm lưu hành từ năm 1986 Giới nghiên cứu trong Trung Quốc c ng không đánh giá cao về ông, họ cho r ng nền văn học của họ còn nhiều tác giả xứng đáng được nhận giải Nobel hơn ông Sau khi ông đoạt giải Nobel năm 2000, báo chí Trung Quốc không rầm rộ về việc này, nhưng tờ báo ra h ng ngày Tin tức buổi chiều Dương Thành, vào năm 2001,
trong một cuộc chỉ trích về “Linh Sơn” đã gọi ông là một "nhà văn dở tệ" và
nói r ng việc ông đoạt giải Nobel thật là lố bịch Thậm chí, khi tin tức Cao nhận được giải thưởng phát đi từ Stockholm (Thụy Điển), chính uyền Bắc
Kinh đã lên tiếng phản đối Tờ Bắc Kinh văn báo viết: “Việc tác gia Trung
Quốc đầu tiên được phong t ng giải thưởng Nobel là một kẻ vô danh nếu
Trang 22không muốn nói là một sự sỉ nhục thì c ng là một sự khinh thường với chúng
ta” Tờ Văn hồi báo viết: “Đây là một trò đ a không đúng chỗ, nó làm mất uy
tín của Ủy ban Nobel dưới con mắt của một bộ phận dư luận Trung Quốc” Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc còn tuyên bố việc Cao Hành Kiện nhận giải Nobel “một lần nữa chứng tỏ giải thưởng Nobel được sử dụng
vì mục đích chính trị và không đáng để bình luận”
Là tác giả lưu vong, ông coi công việc sáng tác văn chương là một phương thức sống, một cách tự cứu mà không mưu cầu việc cải tạo thế giới Ông đã từng nói "Tôi viết cho chính tôi, để làm dịu đi những khổ đau của tôi" Quả vậy, cuộc đời của ông bắt đầu trong bom đạn, tiếp diễn trong các hoàn cảnh xáo trộn, đàn áp, chống đối, trốn chạy và ông c ng cho biết "tôi là một
kẻ tị nạn từ khi lọt lòng mẹ" Do lòng say mê kịch nghệ, văn chương và hội họa, Cao Hành Kiện đã viết văn, viết kịch, là kẻ cô đơn trong hành trình đi tìm kiếm chính mình và còn là một nghệ sĩ d ng nghệ thuật để chống đối bạo quyền và hận th , để nói lên tiếng nói của tự do
M c d vấp phải dư luận phản đối của một bộ phận trong nước, nhưng
tài năng của Cao Hành Kiện và giá trị của tác phẩm “Linh sơn” đã được nhân
loại ghi nhận và được thời gian kiểm chứng
Tác phẩm uan trọng nhất của Cao Hành Kiện là cuốn tiểu thuyết
"Linh sơn" (Ngọn Núi của Tâm Hồn) “Linh sơn” là dạng tiểu thuyết siêu
hư cấu hay còn gọi là siêu tiểu thuyết
Đây là cuộc hành trình của một tâm hồn ua thời gian và không gian trong các khung cảnh đồi núi, đồng cỏ, làng mạc Trung Hoa, để tìm kiếm cội
rễ, sự an bình và tự do của nội tâm Đây c ng là câu chuyện của một người đi tìm ngọn núi thiêng, nơi cất dấu và chôn v i thế giới cát bụi Qua tác phẩm, tác giả đã trình bày nhiều vấn đề lịch sử, văn hóa c ng với đời sống tinh thần của người dân Trung Quốc sau nhiều thời đại, tại nhiều v ng địa dư khác nhau với nhiều chủng tộc và tệ nạn, và người đọc được dẫn vào kho tàng văn hóa rực rỡ, pha trộn cả thực tế hiện tại với uá khứ huy hoàng và trí tưởng
Trang 23tượng Sau khi nhà văn Cao Hành Kiện đoạt Giải Thưởng Nobel Văn
Chương, tờ báo Le Monde của nước Pháp đã giới thiệu tác phẩm "Linh sơn"
b ng đoạn văn mô tả như sau: "Một người với túi xách trên vai, đã ngược xuôi trên các cánh đồng lúa chín vàng hay những khu rừng tre xanh biếc, khi thì đi chân đất, khi thì ngồi trên xe đạp, để đi tìm một ngọn núi bí mật, một nơi lý tưởng để con người có thể r sạch bụi trần"
thể loại văn chương gồm hồi ký, chuyện tình, phóng sự xã hội, thực tế, hư cấu, triết lý, đối thoại, độc thoại hoà uyện vào nhau Giáo sư Lee Mabel, người dịch
tác phẩm “Linh sơn” sang tiếng Anh (Soul Mountain) đã nhận định: "Linh sơn là câu chuyện của người đi tìm sự an bình và tự do bên trong"
“Linh sơn” – tác phẩm chính đưa lại giải thưởng văn học cao uý nhất
cho Cao Hành Kiện có thể gọi là “cuốn tiểu thuyết khủng khiếp” Tiểu thuyết này được tác giả bắt đầu cấu tứ từ m a hè năm 1982 Trong những năm 1983,
1984, để viết cuốn tiểu thuyết này, Cao Hành Kiện đã di du lịch ba lần dến lưu vực Trường Giang, dạo khắp rừng núi, hành trình dài nhất có đến 15 000 cây số Tiểu thuyết này hoàn thành tháng 9 năm 1989 tại Paris, được Công ty xuất bản Liên Kinh, Đài Loan xuất bản lần đầu vào tháng 12 năm 1990 Tác phẩm này được Cao Hành Kiện viết với ý định ban đầu là bày tỏ nỗi cô đơn nội tâm và để viết riêng cho ông chứ không hy vọng tác phẩm sẽ được xuất bản Ban đầu, cuốn sách chỉ bán 90 bản, nhưng sau đó nó đã được xuất bản ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, và trở thành một trong những cuốn tiểu
thuyết bán chạy nhất Tờ Boston Globe khẳng định: “Một thứ ngôn ngữ giàu
chất thơ đến kinh ngạc… giọng kể chuyện làm say đắm lòng người… một sự đắm chìm kéo dài trong những vỉa tầng bị chôn v i trong lịch sử và tinh thần” Mục điểm sách của Thời báo New york: “Duyên dáng và lịch lãm, có
thể nói r ng đó là tác phẩm hay nhất của ông” Tờ SanDiego Union Tribune
nhận định: “Núi thiêng mang đến những điều thật thú vị và sâu sắc, chứa
Trang 24đựng cả lịch sử và thần thoại, phong tục đời xưa và tính hiện đại, tình dục và tinh thần, lí thuyết văn học và làm nghề báo”
Trong bài “Đọc Linh sơn của Cao Hành Kiện”, Trương Thái Du đã
viết: “Khép lại 81 chương của Linh Sơn tôi mới hiểu mình chỉ bắt đầu đọc truyện Nói đây là 81 truyện ngắn in cạnh nhau thì hơi uá Thực ra, dễ thấy chúng cố ý rời rạc Độc giả phải biến mình thành kẻ đồng sáng tác với nhà văn, đây là công việc thật nhọc nh n Tiểu thuyết hiện đại là vậy Nó kén công chúng nhưng luôn giả vờ khuất phục ngoại cảnh b ng các tiểu đoạn đơn
lẻ Nó hầu như không có mở đầu và chẳng thèm kết thúc Chỉ cần đọc xong chương đầu, một cú điện thoại không chờ đợi sẽ ném nó lăn lóc giữa chồng nhật báo, đ c san đầy tin tức nóng hổi và các khung uảng cáo bắt mắt Những ngày sau, trong khoảng khắc hiếm hoi vô định, bạn lôi tiểu thuyết ấy
ra từ cuối đống ấn phẩm hỗn độn, bạn có thể bắt đầu đọc tiếp chương hai,
ho c nhẩy đến hẳn chương 52 c ng chẳng sao 81 chương sách của nhà văn kiêm họa sĩ họ Cao chứa 81 l y thừa 81 nét màu, đan xen, chồng chéo, hòa lẫn mất hút trong nhau rồi lại hiển hiện tinh khiết đến tột c ng ở đâu đó Hơn thế nữa, bức tranh còn bị che mờ b ng vô số cơn mưa, màn sương, bóng tối
và cả rêu phong ướt át hai bên trung lưu dòng Trường Giang h ng vĩ Cộng thêm cơ man những huyền thoại, truyền thuyết, truyện hoang đường, sinh hoạt thần bí, cạnh các con người tận thủy c ng sơn như mới bước ra từ thời ăn lông ở lỗ, bàng bạc sắc màu dân v , dân ca nguyên sơ Linh sơn, do đó, hiện lên thật lung linh hư ảo và có thể nói nó uá uyến r ”
“Linh sơn” là một tích hợp văn hóa, một nghiệm sinh cuộc đời với tất
cả trầm tư về phận người Cuốn tiểu thuyết vừa là khảo cứu văn hóa, vừa là phân tích lịch sử, vừa là tiểu thuyết, vừa là du ký… Tác phẩm chứa đựng nhiều tâm tư trải nghiệm của một thân phận làm người, của một con người sống xa uê hương nhưng lại luôn hướng về Tổ uốc, của một nhà văn, nhà cách mạng văn hóa hết lòng vì cuộc đời, vì văn chương
Trang 251.2.1 Tác phẩm “Sông” của Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư (sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau) là một nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam, được biết đến nhiều nhất bởi tập truyện gây tranh cãi mang tên Cánh đồng bất tận Tập truyện, d vậy, đã nhận được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2006 và truyện ngắn Cánh đồng bất tận được chuyển thể
thành phim điện ảnh c ng tên, được đạo diễn bởi Nguyễn Phan Quang Bình năm 2010 Hiện chị đang sinh sống và công tác ở Đầm Dơi, Cà Mau
Nguyễn Ngọc Tư đã tạo được một chỗ đứng khu biệt cho mình Nhiều người cho r ng cái độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư là sự chân chất mộc mạc toát
ra từ mỗi truyện chị viết Song, trước hết, cái đầu tiên làm người đọc choáng váng là nồng độ phương ngữ miền Nam trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư Nếu bạn là người Nam, và nhất là nếu bạn đã xa uê hương lâu năm, thì chỉ những chữ mà Nguyễn Ngọc Tư d ng c ng đủ làm bạn sống lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy Từ vựng của Nguyễn Ngọc Tư không uý phái hay độc sáng nhưng đó là một từ vựng dân dã, lấy thẳng từ cuộc sống chung uanh Sự phong phú của phương ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là tích tụ của một thính giác tinh nhạy và trọn vẹn: nghe và nhớ Nhiều người nghĩ r ng, nói chung, văn chương miền Nam (d gì c ng là v ng đất mới) không thể so được với sự chỉn chu truyền thống của văn chương miền Trung, miền Bắc Nguyễn Ngọc Tư sẽ làm những người đó phải nghĩ lại Đọc truyện của Nguyễn Ngọc
Tư, họ sẽ khám phá r ng nếu d ng đúng chỗ, trong tay một tác giả cẩn trọng, phương ngữ mộc mạc miền Nam, giọng điệu dân dã miền Nam hoàn toàn có khả năng cấu tạo một nhánh văn chương đ c biệt, chuẩn mực không kém những miền khác Mỗi truyện viết của Nguyễn Ngọc Tư là một bữa ăn văn chương thịnh soạn, dọn bày chu đáo, gồm toàn đ c sản miệt vườn, với những vật liệu hảo hạng Hiển nhiên, cái bất lợi của một tác phẩm nhiều phương ngữ
là nó khó được những người không uen với phương ngữ ấy cảm nhận hoàn toàn Đối với những độc giả này, tác phẩm ấy chỉ là một công trình gợi tò mò,
Trang 26ho c hấp dẫn vì lý do khác, mà phương ngữ là một chướng ngại cảm nhận Song, nhìn kỹ, sự hấp dẫn của truyện Nguyễn Ngọc Tư không phải ở kho từ vựng miền Nam dồi dào của cô, nhưng ở chỗ sử dụng phương ngữ tối đa và đúng chỗ vào những câu chuyện thật “miền Nam” Đó là miền Nam của tỉnh lẻ,
của ruộng vườn, và nhất là của sông, của mưa (Dòng Nhớ, Chợ nổi Cà mau- chút tình sông nuớc, Qua cầu nhớ người, Nhớ sông, Nước chảy mây trôi) Đó
là miền Nam đã thái bình nhưng vẫn còn dấu chiến tranh - không ở sự điêu tàn
vì bom đạn mà ở những vết thương trong đời người (Ngọn đèn không tắt, Mối tình năm cũ) Trong cách chọn lựa tình tiết, cốt truyên, Nguyễn Ngọc Tư đã
trung thành với cái “tình tự” Nam bộ của uê hương chị Chỉ những người sống
và lớn lên ở một địa phương, thật sự mến yêu họ hàng làng xóm của mình, mới thể hiện tình tự với uê hương mình được như thế Và, bởi ở đâu c ng có cái
đ c th , chính tính đ c th lại là cái phổ uát nhất Sự cá biệt của phương ngữ, khi được sử dụng để diễn đạt những tình tự phổ uát của con người, có khả năng vạch ra cái chung của cái riêng
Số phận văn chương của nhà văn đất Cà Mau này c ng có nhiều nét
chuân chuyên Khi tác phẩm “Cánh đồng bất tận” gây được tiếng vang và
được đông đảo độc giả đón nhận, thì chính uyền lại lên tiếng chỉ trích, kiểm điểm, thậm chí từng đưa ra đề nghị trục xuất chị khỏi Cà Mau Lý do là bởi bối cảnh được chị lựa chọn để xây dựng câu chuyện buồn thương của những
con người trong “Cánh đồng bất tận” là v ng sông nước Cà Mau Nhưng cuối
c ng thì nghệ thuật chân chính đã chiến thắng Ngoài giải thưởng văn học được trao vào năm 2006, tác phẩm còn được chuyển thể, dựng thành phim và nhận được nhiều giải thưởng cao uý
Sau những sóng gió ấy, chị vẫn không ngừng sáng tạo để cho ra đời
những tác phẩm mới, trong đó “Sông” là cuốn tiểu thuyết đầu tay của chị
Với nhà văn từng đạt giải nhất ở thể loại truyện ngắn, thì việc cho ra đời một cuốn tiểu thuyết đã thu hút được sự chú ý của đông đảo độc giả, c ng như giới chuyên môn
Trang 27Tựa sách trong phác thảo ban đầu là Ngàn d m sông, nhưng sau chỉ
gọn một chữ “Sông”, là con sông Di, “dòng sông của những mảnh đời con
con” Nguyễn Ngọc Tư đã bộc bạch về nhan đề của tác phẩm như sau: “Ngàn dặm sông chỉ là cái tên cúng cơm để tôi dễ bề trả lời nếu bạn bè có hỏi dạo này viết gì À, tui đang mần cuốn này này này Kiểu vậy Rồi cũng thử vài cái
tên khác, bạn bè kêu sến Thế thì “Sông” thôi Sông chỉ là bối cảnh, một dòng
chảy nửa thực, nửa mang tính tượng trưng Đây là cái cớ để những nhân vật của tôi bước vào cuộc phiêu lưu của họ, kể chuyện đời họ và những người sống ở hai bên bờ.”
Nhận xét về “Sông”, biên tập viên Trần Ngọc Sinh của NXB Trẻ,
người biên tập bản thảo cho biết: “Sông là một sự đổi mới toàn diện của Nguyễn Ngọc Tư Đẹp Đáo để Trần tục và hư ảo Truyện kết thúc b ng dấu chấm hỏi về số phận một con người - Không hề do dự, cô đã đẩy cái mầm ý tưởng vừa nhú lên sang tay người đọc, để họ nuôi dưỡng chúng b ng trải nghiệm, ua việc đọc cuốn sách này”
“Sông” dày gần 300 trang kể về nhân vật chính c ng hai chàng trai dân
“phượt” trong hành trình khám phá sông Di Mỗi người một gương m t, một số phận với những câu chuyện thực ảo pha trộn được “rải” đều dọc theo hành trình, theo từng khúc, từng đoạn của dòng sông Di và ngoái lại nhẩn nha bộc lộ mình Nhân vật chính với danh xưng “cậu” bỏ lại sau lưng mối tình đồng tính vừa kết thúc do người yêu cưới vợ, bỏ lại công việc ở một công ty truyền thông, đi tìm uên với lý do viết một cuốn sách về sông Di do “sếp” đ t hàng kèm lời nhắn gửi tìm giúp dấu vết cô người tình tên Ánh, một người đã đi sông Di trước đó rồi không trở về Ở cuối tác phẩm, khi chưa đến thượng nguồn sông Di, “cậu” đã
uyết định kết thúc hành trình nơi rốn Túi, một rốn nước "mười người ra chín người mất" của sông Di, c ng những người đồng hành Trong tiểu thuyết đầu
tay, Nguyễn Ngọc Tư đã gửi nhân vật vào sông Di - con sông như một huyền thoại do tác giả dựng nên “Sông có khúc người có lúc”, ở mỗi “khúc” sông, tác giả lại để nhân vật lại bộc lộ một “lúc” của mình nhưng rồi đến cuối câu chuyện mọi thứ hiện lên hư thực, thật giả lẫn lộn khiến độc giả ngẩn ngơ khó mà nắm
Trang 28bắt Có thể nói, khi tiếp cận “Sông”, độc giả sẽ phải “dự phần” khá nhiều mới
mong giải mã được tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
1.3 “Linh sơn” và “Sông” từ bình diện so sánh song song
Tiểu thuyết “Linh sơn” ra đời trước và đạt được nhiều giải thưởng
uốc tế uy tín, trong đó giải thưởng cao nhất là giải Nobel văn học năm 2000
Do đó, sức ảnh hưởng của “Linh sơn” đối với văn chương thế giới là rất
mạnh mẽ Vì vậy không loại trừ khả năng Nguyễn Ngọc Tư đã chịu ảnh hưởng từ Cao Hành Kiện Song, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chung tôi đ t vấn đề nghiên cứu hai tác phẩm dưới hướng nghiên cứu song song, để thấy được những nét tương đồng của hai tác phẩm Từ đó, bước đầu khẳng định bước đi của tiểu thuyết đương đại trên phạm vi khu vực Vì vậy, người viết không nghiên cứu hai tác phẩm ở hướng nghiên cứu ảnh hưởng,
mà lựa chọn hướng nghiên cứu song song Nét tương đồng về nội dung, tư
tưởng, kết cấu ở “Linh sơn” và “Sông” là kết uả của sự tương đồng, giao
thoa về nhiều m t lịch sử, văn hóa, xã hội Do đó, khi xem xét hai tiểu thuyết dưới góc độ của văn học so sánh, không thể d ng phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng để triển khai, mà phải d ng phương pháp nghiên cứu song song Bởi lẽ, nghiên cứu song song là d ng phương pháp suy luận logic để nghiên cứu hai nền văn học dân tộc, ho c hai nền văn học dân tộc trở lên mà giữa chúng không có uan hệ trực tiếp
Hai tác phẩm “Linh sơn” và “Sông” được viết bởi hai tác giả mà con
đường văn chương của họ đều có những bước khởi đầu đầy chông gai, thử thách Họ thậm chí còn bị ruồng rẫy bởi những tư tưởng và lối viết phóng khoáng, sắc sảo, thẳng thắn của mình Hai tác giả - người thì lưu vong, xa Tổ uốc, người thì bị dọa trục suất, bị mang tiếng là bôi xấu uê hương – dẫu vậy vẫn một lòng hướng về nơi mình đã sinh ra, đem tình yêu uê hương gửi vào trang viết Và sau khi bão tố ua đi, tài năng và giá trị của những tác phẩm do
họ sáng tác, được đông đảo người đọc đón nhận, ủng hộ và được ghi nhận bởi những giải thưởng cao uý
Trang 29Đọc hai cuốn tiểu thuyết, độc giả dễ dàng nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mỗi nhân vật và cả nỗi cô đơn trong ngòi bút tác giả Nỗi cô đơn ấy có gì đó buồn thương, phẫn nộ, ai oán, có lúc b ng nổ như muốn phá tan mọi thứ để tự giải thoát chính mình Nỗi cô đơn của nhân vật là sự cô đơn giữa bề rộng của không gian và chiều dài của thời gian, còn nỗi cô đơn của tác giả là cả sự lạc lõng, bơ vơ giữa hiện tại của chính mình, cảm giác bị mảnh đất mình yêu uý
bỏ m c, uay lưng Hai tác phẩm chính là hành trình của nỗi cô đơn, hành trình của những đứa con bị bỏ rơi đang tìm lại nguồn cội của chính mình
Ở “Linh sơn” và “Sông”, hai tác giả đều đã xây dựng được trong tác
phẩm một bức tranh thế giới Bức tranh thế giới trong tác phẩm nghệ thuật bao giờ c ng có những giới hạn lịch sử, thời đại và số phận của con người mà tác giả đề cập đến trong tác phẩm Tìm hiểu bức tranh thế giới chính là đi tìm
sự kiến tạo về m t không gian, đồng thời cho thấy bối cảnh lịch sử - xã hội, số phận con người và nét đ c trưng trong văn hóa của từng dân tộc Việt Nam và Trung Quốc đều là những đất nước có nền văn minh gắn liền với nông nghiệp, mà cụ thể là văn minh lúa nước Cuộc sống của người dân gắn bó với những con sông, từ đó những cộng đồng dân cư được hình thành dọc theo những con sông lớn Hai tác giả Cao Hành Kiện và Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên một cuộc hành trình dọc theo những con sông để tìm về những miền kí
ức, tìm về với cái bản chất thật của con người, tìm về với nguồn cội Đây là
sự tương đồng của hai tác giả, hai người con của hai dân tộc có những nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng… Sự đồng điệu ấy ở hai tác giả đã tạo nên hai tác phẩm có những nét tương đồng
Việc nghiên cứu so sánh “Sông” của Nguyễn Ngọc Tư với “Linh sơn”
của Cao Hành Kiện còn giúp người viết nhận thấy được dấu ấn của sự hội nhập uốc tế trong văn học Việt Nam, thấy r ng văn học của chúng ta đang thoát ra khỏi khoảng không gian chật chội, nhỏ bé để đến với khoảng trời rộng lớn, mênh mông của văn đàn thế giới mà không làm mất đi những nét văn hóa riêng của dân tộc Đồng thời, công nhận đóng góp của các tác giả trẻ,
Trang 30trong đó có Nguyễn Ngọc Tư, trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy sự phát triển, hòa nhập của văn học nước nhà
Trang 31CHƯƠNG 2: BỨC TRANH THẾ GIỚI TRONG “LINH SƠN”
VÀ “SÔNG”
2.1 Mô hình thế giới thực - ảo
Hai tác giả Cao Hành Kiện và Nguyễn Ngọc Tư đều đã tạo nên trong tác phẩm của mình không gian mờ ảo mang tính biểu tượng, đó là ngọn Linh sơn, là con sông Di Trên thực tế, hai địa danh nay không có thật, nhưng lại được coi như nguồn cảm hừng cho bản thân tác giả và là mục đích cho cuộc hành trình của nhân vật Đọc tác phẩm, ta có thể thấy Linh sơn và sông Di được hiểu là nguồn cội của một dân tộc, là gốc rễ của văn hóa, là nơi tồn tại của bản ngã tự nhiên, hoang dã ở con người Ở nơi đó, con người có thể nhỏ nhoi giữa tự nhiên, giữa núi rừng, sông nước nhưng lại không gợi nên nỗi sợ hãi, nếu có thì chỉ là nỗi cô đơn vốn luôn thường trực trong con người
Tuy nhiên, độc giả c ng có thể thấy Linh sơn và sông Di c ng rất uen thuộc Linh sơn ở đâu không ai rõ, Linh sơn như thế nào, không ai biết, nhưng
để đến được ngọn Linh sơn, Cao Hành Kiện đã phải trải ua cuộc hành trình dài hơn một vạn cây số dọc theo con sông Trường Giang – một trong những con sông lớn nhất thế giới, con sông gắn liền với sự phát tích của nền văn
minh Trung Hoa Đọc “Sông”, bất cứ người con nào của v ng sông nước
Nam bộ c ng đều thấy thấp thoáng hình ảnh con sông nơi uê nhà của mình Sông Di không phải là dòng sông có thật nhưng lại được tạo nên từ những con sông có thật Nói cách khác, Nguyễn Ngọc Tư đã d ng con mắt, tâm hồn, tình yêu của mình đối với sông nước, con người Nam bộ để tạo nên dòng Di, khiến cho nó tuy mờ ảo nhưng lại thân thuộc Ở cả hai tác phẩm, không gian thực - ảo đan xen với nhau, điều này nh m làm tăng các chiều kích cho không
gian (như ở “Linh sơn”) ho c tạo cảm giác thật mà lại không phải là thật (như ở “Sông’’)
2.1.1 Mô hình thế giới thực - ảo trong “Linh sơn”
Trang 32Đó là sự đan xen giữa thế giới thực tại và thế giới của những điều mộng
mị, ma uái Thực và ảo trong “Linh sơn” không tách biệt rõ ràng, mà hòa
lẫn, tr ng lấp lên nhau Người đọc có lúc thấy mịt m nhưng rồi lại bắt g p được tín hiệu của sự rõ ràng, và ngược lại, có lúc thấy nhân vật đang đi trên con đường của cõi thực nhưng rồi lại bị cuốn vào cõi hư ảo từ lúc nào không hay Ở chương đầu tiên, ngay từ khi bắt đầu cuộc hành trình, bản thân nhân
vật “mi” không xác định điểm đến cụ thể và c ng “không biết rõ tại sao mi lại đến đây” Địa danh Linh sơn c ng chỉ là “tình cờ trên xe lửa đã nghe thấy một người nào đó nói đến” Chính nhân vật “mi” c ng khẳng định “đã đi từ bắc chí nam, khắp Trung Quốc, đã đến nhiều núi non nổi tiếng vậy mà mi chưa giờ nghe nói tới cái chỗ này” Theo như lời chú thích của người đồng
hành với nhân vật “mi” trên chuyến xe lửa thì Linh sơn ở đầu nguồn sông Vưu, và d không rõ con sông Vưu ở đâu thì nhân vật “mi” c ng bắt đầu cuộc hành trình của mình Đó là cuộc hành trình có nơi đến nhưng lại là một địa danh không rõ ràng, có điểm bắt đầu nhưng lại mờ ảo nơi kết thúc Bản thân nhân vật “mi” c ng có đôi chút hoài nghi về cuộc hành trình này bởi những gì
nhân vật đồng hành trên chuyến tàu nói thì “chẳng cái gì chứng tỏ hắn nói thật” Thế nhưng, chính “mi” c ng tự khẳng định lại “dĩ nhiên người ta dễ dàng tìm thấy những địa điểm có tên Linh Đài, Linh Khâu, Linh Nham và thậm chí cả Linh Sơn nếu lật giở tập bản đồ Trung Quốc”, đó là nơi “đức Phật đã giáo hóa cho đấng sư tổ thứ nhất chí tôn Ma ha ca diếp” Từ đây, địa
danh Linh Sơn hiện ra rõ ràng hơn khi đã có điểm bắt đầu với một thị trấn nhỏ
có tên Ô Y, và tưởng như Ô Y đã xuất hiện rất rõ ràng nhưng rồi trong danh
sách các ga đến ở trạm xe lửa d có tên của nhiều địa danh như “Trương Xá,
Sa Phố, Thủy nê xưởng, Lò cũ, Ngựa vàng, Đại niên, Chướng thủy, Long loan, Đào hoa vực…” thì cũng “chẳng nơi nào ứng với cái nơi mi kiếm” Khi
độc giả còn đang hoang mang không rõ rốt cuộc Ô Y có thật hay không, thì
nhà văn lại đưa đến chi tiết “Ô Y lại chính là ở tận cùng tuyến đường” Để
thuyết phục người đọc tin r ng con đường dẫn đến Linh sơn có thật, nhân vật
Trang 33“mi” còn đưa ra b ng chứng lịch sử về một cây cầu với chú thích được ghi rất
rõ ràng “Cầu Vĩnh Ninh, xây dựng năm thứ ba thời đại Khai Nguyên nhà Tống, trùng tu năm 1962 Đặt bảng năm 1983” và còn khẳng định đó là “dấu hiệu thông báo ngành du lịch đã tới” Ngay ở chương đầu tiên của cuốn tiểu
thuyết, yếu tố thực tại và hư ảo đã được tác giả sắp đ t, đan xen nhau với mật
độ dày đ c, tạo cho người đọc cảm giác hồ nghi, hoang mang nhưng đồng thời c ng khơi gợi trí tò mò ở họ
Ở những chương sau, sự đan xen thực - ảo vẫn được tiếp tục với các mức độ khác nhau Trong chương 3, thị trấn nhỏ Ô Y được miêu tả cụ thể hơn với những vệt bánh xe h n in nơi con phố, những uán hàng tấp nập, thanh
âm “cót két của các trục bánh làm bắng gỗ táo bôi trơn bằng dầu đậu nành”, tiếng “huyên náo của tiếng cười, tiếng gọi của những người buôn bán khoe sản phẩm và các khách hàng mặc cả, những tiếng chuông đầy sức sống”, rồi
cả m i hương của “rau dưa muối, của lòng lợn, của da mới thuộc, của dầu khuynh diệp, cua rơm rạ, của vôi” Sự cụ thể đó đã gợi lên trong nhân vật
“mi” những liên tưởng về khung cảnh, kí ức gắn với tuổi thơ yên ả
Chương 25 của tiểu thuyết được là chương đậm đ c tính mộng mị nhất của tiểu thuyết với hành trình của nhân vật “ mi” và “nàng” đi tìm Linh Nham
“Trong ánh sáng vàng da cam của buổi sáng, các màu sắc của núi non thuần khiết tươi tắn, không khí trong lành, quang quẻ” nên kể cả khi nhân vật “mi”
có người đồng hành thì “mi không biết nàng có phải là cô gái mi đã mê thấy đêm qua không, mi không phân biệt được cô gái nào thực tại hơn trong hai cô” Chiều kích của không gian dường như được đẩy rộng ra hết mức có thể với “tầng tầng ruộng bậc thang tiếp nhau” và cả chiều sâu của thời gian với các vết tích xưa cũ “mảnh vỡ của sư tử đá, trống đá nằm rải rác”
Sự đan xen của không gian xác định – không gian phi xác định tạo nên kích thước huyền thoại cho không gian hiện thực C ng một không gian đó, nhưng nhân vật cảm nhận được hai chiều kích khác nhau: chiều kích của hiện thực và chiều kích của huyền thoại, của lịch sử Chẳng hạn, trong chương 25,
Trang 34khi nhân vật “mi” và “nàng” đi đến bình nguyên, nơi khung cảnh kéo dài như
vô tận, với thực tại là cảnh vật hoang tàn, đổ nát “cánh cổng đá được dựng lên từ ngày xưa”, “mảnh vỡ của con sư tử đá”, thì nhân vật đã có những suy
nghĩ về uá khứ của khung cảnh này, và thậm chí là hai dạng uá khứ của khung cảnh này Nếu “nàng” ngỡ r ng sự tan hoang này là do uân gi c Thái Bình Thiên uốc đốt phá, thì nhân vật “mi” lại lí giải r ng đó là nhà của một viên uan lớn dính vào án tham nh ng nên cả họ bị chu di Tuy nhiên, chính nhân vật c ng tạo ra mối nghi khi đưa ra thêm một lí giải khác, r ng đó là dinh cơ của một uan đại thần có công với triều, nhưng thức thời nên đã cáo uan trước khi bị mất đi sự sủng ái của nhà vua
Đó có thể là không gian rừng nguyên thủy mà nhân vật “mi” bị lạc vào
và không gian đầm lầy – nơi đã giam cầm nhân vật “mi” Rừng nguyên thủy theo địa lý là một không gian xác thực với những ranh giới xác định cụ thể và được nhắc đến ở chương 10 với ý nghĩa xác định đó Nhưng đến chương 66, khu rừng này xuất hiện nhưng với một màu sắc khác, tuy nhiên vẫn có những điểm đồng nhất với khu rừng – khoảng không gian xác định ở chương 10 Đó
là sự kiện nhân vật lạc lối trong rừng nguyên thủy, là chi tiết nhân vật ngồi dưới gốc cây đã chết… Tuy nhiên đến chương 66, rừng nguyên thủy được nhắc đến hoàn toàn là không gian phi xác thực, không gian ảo đầy huyền bí, là con
đường dẫn đến cõi âm phủ, nơi có dòng sông uên “nước không giới hạn, không sâu nhưng trải ra vô tận” Không gian này còn được nối với một không
gian khác – không gian sống của Thạch lão gia (vị thần trong truyền thuyết của dân tộc Khương) Đây là nơi mà mọi sự kết nối với cõi trần thế đều bị cắt đứt
Sự kết nối giữa các mảng không gian cho thấy nó chính là sản phẩm của những nỗi cô đơn trong tâm hồn của tác giả Đồng thời cho thấy, hành trình mà nhân vật thực hiện là hành trình đi từ sự lạc lối ở thực tại đến sự lạc lối trong tâm tưởng, và d cố gắng tìm cho mình lối thoát nhưng đều không thể Nhân vật lâm vào trạng thái bế tắc, rơi vào vòng xoáy của sự cô đơn
Trang 35Chương 18, nhân vật “ta” rơi vào tình huống bị sa xuống đầm lầy với cảm
nhận “Ta tê cứng Không tiếng dế rúc, không tiếng ếch nhái kêu Rút cục có thể đây chính là cái im lìm nguyên thủy trụi hết ý nghĩa mà ta nắm bắt được chăng?” Đến chương 19, tình huống này vẫn được tiếp tục, nhưng đã thay đổi
về ngôi xưng từ “ta” sang “mi”, vì vậy, không gian c ng đã thay đổi từ xác định
sang phi xác định Không gian trở nên hư ảo với “một màn tối dầy sâu dìm ngập cái bề mặt hỗn độn sơ khai, trời và đất, cây cối và núi đá hòa lẫn, con đường không thể nhìn thấy, mi chỉ có thể ở nguyên tại chỗ không thể rút chân ra,… chính là cái màn tối trong đó chẳng có trên có dưới, chẳng có trái có phải, chẳng có xa có gần, chẳng một trật tự nào nhất định nào, mi hòa trộn hoàn toàn vào trong cái hỗn mang ấy, mi chỉ biết thân hình mi có một đường viền nhưng ngay cả đường viền ấy cũng đang nhạt nhòa đi trong tâm tưởng của mi, một ánh sáng dâng lên trong mi, như đốm lửa cô đơn của một ngọn nến trong màn tăm tối, lửa đó tỏa ra ánh sáng nhưng không mang nhiệt, một ánh sáng băng giá đang đầy tràn cơ thể mi, trào ra khỏi đường viền cơ thể, những đường viền mà
mi bảo tồn trong tâm tưởng” Một đoạn văn dài nhưng nhà văn chỉ d ng dấu
phẩy để ngắt nhỏ, gợi lên cảm giác nhỏ nhoi, bơ vơ, cô độc
Hai cõi thực và ảo trong tác phẩm của Cao Hành Kiện hòa lẫn với nhau, dần đưa người đọc vào cõi của mê cung tâm tưởng, hết vòng này đến vòng khác Điều đó không chỉ thể hiện tâm trạng cô đơn, lạc lõng của nhân vật, và một phần nào đó của chính tác giả, mà còn có tác dụng khiến độc giả hoang mang, đồng thời có cả sự tò mò, muốn đi đến tận c ng tác phẩm để kiếm tìm Linh Sơn
2.1.2 Mô hình thế giới thực - ảo trong “Sông”
Nhà xuất bản Trẻ đã nhận xét về tác phẩm đầu tay này của nhà văn
Nguyễn Ngọc Tư “là sự đổi mới toàn diện của chính cô Đẹp Đáo để Trần
tục và hư ảo” “Sông” c ng kiến tạo thế giới b ng hình thái không gian thực -
ảo Trước hết, đó là tên gọi rất rõ ràng của những địa danh tưởng chừng là có thật như chợ Ch m, chợ Thương, Hồ Thiên, Túi… với những lễ hội cụ thể
Trang 36chẳng hạn như hội tắm lu Chợ Ch m là nơi mà con người ta không phân biệt
được đâu là âm đâu là dương: “Hồi xưa mua bán ở đó người ta còn thả tiền vào chậu nước, tiền chìm là tiền thật, ấy, là xưa dân mình dùng tiền xu Nếu không thì mang tiền về nhà chỉ thấy là nắm lá, nắm cỏ Chẳng nhận biết được
ai là người âm người dương” Khi hai nhân vật Ân và B ng đến chợ Ch m,
trong khi Ân thì làm tình – một hành vi thực – với chị bán hàng bánh rán ở
sau đụn rơm nát – địa điểm thực, thì B ng “đã từng gặp ông nội anh ở đó, ngồi rít thuốc lào trông rất là sảng khoái Gặp anh, ông còn hỏi sao phiên năm ngoái không đi thăm tao Anh bảo Tết trước con bận Ông cốc đầu anh đau điếng, điêu quá, mày trốn đi núi chơi với gái Tao mua đất cho mày dưới này rồi đấy, cất nhà xong vẫn còn thừa mảnh vườn để trồng đào Chừng mày xuống chắc đào đã cao khỏi đầu Rồi ông đi, để mình anh ngồi cùng mùi khói thuốc lào luẩn quẩn trong sương” Làn khói ấy là thực hay ảo, bản thân nhân
vật c ng không dám chắc, nhưng có một điều chắc chắn tồn tại, đó là những hình ảnh ấy luôn uẩn uanh trong kí ức của nhân vật
Chợ Thương c ng như chợ Ch m mang màu sắc bàng bạc, mờ ảo Hội tắm lu ở chợ Thương được tổ chức vào r m tháng hai âm lịch của năm chẵn Người ta đi gánh nước sông rồi đổ vào lưng lửng lu rồi từng đôi trèo vào tắm rửa
kì cọ cho nhau Hội này là dành cho những người yêu nhau mà không đến được với nhau, những người thích nhau mà không dám nói ra Thế nhưng đây c ng chỉ là những điều mà nhân vật được nghe người ta kể lại Còn khi Ân, Xu và Bối
đi tìm chợ Thương thì được đôi vợ chồng uét rác cho biết “Hội đó hả? Kỷ niệm quốc khánh năm chẵn thì có diễn ở sân bóng – hội thì sao lại diễn, hả trời?”
Vậy là chợ Thương và hội tắm lu ở chợ Thương biến mất một cách kì là, chỉ còn trong lời kể, đó chính là yếu tố hư ảo mà nhà văn đã tạo dựng nên
Hồ Thiên xuất hiện như một huyền thoại ua lời kể của Bí Đỏ, đó là địa
điểm được công nhận một cách rất cụ thể là “100 điểm đến trước khi mất”
nhưng lại không rõ là tờ báo danh tiếng nào đã công nhận Địa điểm này c ng
có tên trong danh sách có cái tên rất lạ là “100 điểm đến biến mất trước khi
Trang 37đến” Hành trình của Ân đến với hồ Thiên có thể gọi là cuộc hành trình đến
với chốn thánh địa để mong được gột tẩy những bụi bẩn, ưu phiền chốn nhân gian Con người đến với hồ Thiên bất chấp cái giá lạnh căm buốt của v ng núi cao để ngâm mình, hòa trọn cả bản thể của mình vào dòng nước hòng mong gột hết đi những ưu tư, phiền muộn, để bản thân cảm thấy nhẹ nhàng, trong sạch hơn Những người đến với hồ Thiên đều có một niềm tin được gột rửa mãnh liệt r ng nguồn nước nơi đây sẽ xóa tan mọi nỗi buồn đau Ân c ng
muốn chen vào đám người đông “lúc nhúc” kia để được ngụp l n trong nước
hồ Thiên, nhưng ngay lúc đó anh lại nhận được tin nhắn níu kéo lại Đồng thời, một ông già đã khuyên Bí Đỏ, Ân và mọi người không nên xuống hồ
Thiên mà hãy uay về nơi họ đã xuất phát Tuy vậy, Ân “biết ông đã không
về đúng cái nơi mà ông đã ra đi dù ông cũng đã tắm hồ Thiên đúng vào trăng rằm đầy tháng chín năm nào” Hồ Thiên càng trở nên mờ ảo, không rõ ràng
khi mà không ai đảm bảo được sự chính xác của các huyền thoại về nó
Ngay cả nhân vật trong tác phẩm c ng có những nét pha trộn giữa thực
và ảo Cuộc hành trình của Ân có hai người bạn đồng hành là Bối và Xu, bản thân hai người này có những đường viền về nhân thân rõ ràng, có cả các trải nghiệm trong cuộc hành trình c ng với Ân Không chỉ vậy, cuộc hành trình ấy còn có thêm những con người khác, đó là một ông già và một cô gái có cái tên rất đ c biệt là Bí Đỏ Thế nhưng, đến chương 22 – chương cuối c ng của cuốn tiểu thuyết, khi nói về những người đồng hành với Ân, chị bán hàng hủ
tiếu nói r ng “đâu biết đâu, có thể cậu ta buồn quá nên tưởng tưởng ra vài ba người nữa đi cùng với mình cho vui thôi” Vậy là những nhân vật mà độc giả
tưởng như có thật trong cả chuyến hành trình, thì đến cuối tác phẩm, nhận định đó trở nên lung lay Người đọc lúc này uay lại nhìn toàn bộ tác phẩm với lớp khói của sự hư ảo, với sự hồ nghi không biết đâu là thật đâu là ảo
Như vậy, ở cả hai tác phẩm, không gian của hiện thực và hư ảo đều được trở thành không gian phục vụ đắc lực cho ý đồ dàn dựng của tác giả Bên cạnh những yếu tố, chi tiết tưởng chừng như rất thật, kích thích ở độc giả
Trang 38sự tò mò, hứng khởi, muốn khám phá, thì những màn sương của các chi tiết
hư ảo lại làm người đọc lạc vào mê cung mà nhà văn đã tạo ra Hư hư thực thực trong tác phẩm đưa người đọc vào cõi mê b ng con đường rất hiện thực rồi lại đột ngột kéo họ trở về Tuy có sự tương đồng trong dụng ý nghệ thuật, nhưng có thể thấy trong mỗi tác phẩm lại có những nét đ c sắc riêng khi nhà văn triển khai dụng ý nghệ thuật Cõi thực và ảo ở mỗi tác phẩm mang các
đ c trưng về không gian lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc, đó là không gian rộng lớn, vĩ đại và bề dày lịch sử của đất nước Trung Quốc; là không gian sông nước giản dị, mộc mạc, ngọt ngào , sâu sắc của con người, cảnh vật ở miền Nam bộ Việt Nam
2.2 Không gian văn hóa dân gian
Không gian văn hóa dân gian bảo tr m khá đậm nét ở cả hai tác phẩm, bởi không gian thực tế mà hai tác giả xây dựng đều gắn với những ẩn ức của nhà văn về uê hương, về một miền đất gắn với tuổi thơ của họ, là nơi mà họ luôn dành tình yêu thương và d ng trọn cả tấm lòng để hướng đến Không gian văn hóa dân gian được tạo nên từ những huyền thoại, những câu chuyện, phong tục tồn tại trong dân gian
2.2.1 Không gian văn hóa dân gian trong tiểu thuyết “Linh sơn”
2.2.1.1 Không gian của những huyền thoại, chuyện dân gian
Phương thức huyền thoại được Cao Hành Kiện sử dụng trong tác phẩm
Linh sơn đã giúp nhà văn nắm bắt được các chiều kích khác nhau của hiện
thực, hướng người đọc tới những giá trị văn hóa lâu bền của dân tộc… Màn sương của những huyền thoại, những câu chuyện dân gian bao tr m lên 81
chương của tiểu thuyết “Linh sơn” tạo nên sự hư ảo cho tác phẩm Không
gian của những huyền thoại, lịch sử được mở rộng đa chiều kích trong thế mâu thuẫn đối lập với những vấn đề, với nhu cầu nhận thức lại những giá trị
lịch sử Có thể nói, với “Linh sơn”, Cao Hành Kiện đã làm một cuộc lộn
ngược dòng lịch sử để tìm về lại với những giá trị đích thực của các huyền thoại, của nền văn hóa Rất nhiều nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử đã tồn tại
Trang 39hàng nghìn năm trong lớp trầm tích văn hóa Trung Hoa đã được đề cập đến và được nhìn nhận lại dưới con mắt đa chiều, đó là câu chuyện về Nhị Lão Gia, Đại Tư Mã, Chu Hoa Bà, Thạch Lão Gia, Hồng Hài Nhi, Phục Hy, Viên Hoàng Đế, Nữ Oa, Lý Tam, Đại V …
Trong thần thoại Trung Quốc, Đại V được xem là người có công trong việc trị thủy ở dòng Hoàng Hà Ông đã d ng thần lực của mình đào núi Long Môn, để tạo thành hai cửa cho sông Hoàng Hà có thể chảy xuôi Người đời sau nhận định ông là con người hết lòng vì dân vì nước Trên con đường trị thủy, Đại V đã để lại dấu chân của mình ở khắp nơi, đi đến đâu ông c ng thể hiện một thái độ tôn trọng đối với các phong tục bản địa Biết được công lao
to lớn ấy, vua Thuấn đã nhường ngôi lại cho Đại V và sau khi lên ngôi, Đại
V đã làm nhiều việc có ích cho đất nước Nhưng trong “Linh sơn”, Cao
Hành Kiện lại nhắc đến Đại V trên với những m t hoàn toàn khác Ở đây,
Đại V được nhìn dưới góc độ lịch sử là “vị hoàng đế đầu tiên của một triều đại đầu tiên trong lịch sử có thể tra khảo được” Nhân vật “mi” đã có cách
nhìn nhận riêng về cách thống trị của Đại V đối với người dân Bách Việt,
những lời “quát mắng, lệnh cho tả hữu chém đầu” khác hẳn vẻ m t hiền từ được khắc trên bức tượng của ông “Mi” đã bộc lộ r ng “công lao trị thủy của ông thường nói là việc khai thông sông Hoàng Hà, mi cũng hoài nghi” và cho rằng “ông Vũ này, dưới con mắt của vợ ông là một con gấu, dưới con mắt trăm họ, truyền miệng nhau là vị thần, dưới ngòi bút của sử gia, ông là một
đế vương, người viết tiểu thuyết thì có thể viết ông thành con người đầu tiên bóp chết người khác chỉ để thực hiện ý chí của mình Còn cái truyền thuyết hồng thủy mà ông trị thì như một người nước ngoài gợi ý, đó là sự hồi tưởng đến vỡ nước ối mà thôi”
Về nhân vật Phục Hy, “mi” cho r ng “ngày nay có học giả nghiên cứu người Di còn luận chứng rằng Phục Hy thủy tổ của người Hán cũng có nguồn gốc tô tem con hổ của người Di” C ng có một giả thiết nữa mà nhân vật
“mi” đưa ra đấy là “đem lại cho Phục Hy sức sống và trí tuệ lại phải là người
Trang 40phụ nữ, người phụ nữ tạo ra trí tuệ cho đàn ông được gọi chung là Nữ Oa
Nữ Oa, người phụ nữ có tên đầu tiên và Phục Hy, người đàn ông đầu tiên có tên, kì thực lại là ý thức tập hợp đàn ông và đàn bà” Rồi lần theo những hình
ảnh về thần thoại được khắc trên gạch thời Hán, “mi” đã có cái nhìn đầy táo
bạo “hình mình rắn đầu người của Phục Hy và Nữ Oa xuất phát từ xung đột giới tính của con người thời nguyên thủy, từ con vật biến thành linh quái, rồi bay lên thành thần thủy tổ, chỉ là sự hóa thân của bản năng dục vọng và cầu sinh”, “Nữ Oa khi tạo ra cả sự đau khổ của nó Con người do ruột gan Nữ
Oa biến thành, được sinh ra từ máu huyết đàn bà, không bao giờ rửa sạch”
Việc đưa ra những nhận định táo bạo ấy, thể hiện sự khác lạ với những lí giải
về các vị thần vốn có trong thần thoại, đây chính là cách tác giả d ng để giải thiêng các nhân vật thần thánh, là cách để gây hấn với lịch sử Đây là xu hướng chung của đại đa số các nhà văn khi viết về lịch sử nh m dân chủ hóa các thần thoại, truyền thuyết
Từ câu chuyện huyền thoại về một ni sư h ng ngày tự rạch bụng, rửa ruột gan của mình để khuyên nhủ vị uan không thực hiện mưu đồ soán ngôi,
tác giả đã đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau Đó có thể là “lời răn về chính trị”, “một lời khuyên giáo về đạo đức, nhắc nhở người đời đừng ham dâm hiếu sắc” nhưng c ng có thể là một lời khuyên mang tính chất tôn giáo
“khuyên người đời quy y cửa Phật”, hay “câu chuyện còn có thể là một triết
lí xử thế, dùng để khuyên người quân tử một ngày ba lần tự hỏi mình hoặc cuộc sống là đau khổ hoặc đau khổ là cuộc sống… đều do người kể chuyện cuối cùng giải thích ra sao” Việc đưa ra một câu chuyện lịch sử và chỉ ra
những cách diễn giải khác nhau là cách nhà văn trình bày các nhìn nhận của mình về lịch sử, về hiện thực và sự độc lập trong suy nghĩ của người đọc trước mỗi câu chuyện Đây c ng là cách hướng người đọc tới sự chủ động trong cách tiếp nhận các tác phẩm lịch sử
Chính vì hướng tới sự chủ động tiếp nhận các giá trị lịch sử từng được coi là vĩnh h ng, nên trong chương 71, Cao Hành Kiện đã đưa ra cách hiểu về