- Phù hợp với mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: + Xây dựng khái niệm văn hóa pháp lý và truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam; + Nghiên cứu khái quát những giá trị tru
Trang 1Luận văn Vận dụng truyền thống văn hóa pháp
lý Việt Nam trong xây dựng văn hóa
pháp lý hiện nay
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có nền văn hóa riêng của quốc gia, dân tộc mình Nền văn hóa của bất cứ quốc gia, dân tộc nào cũng là sự kết tinh những giá trị qua nhiều thế hệ trong suốt quá trình hình thành, tồn tại
và phát triển lịch sử lâu dài của quốc gia, dân tộc đó Nền văn hóa của quốc gia, dân tộc nào phát triển, thì quốc gia đó, dân tộc đó văn minh, hùng mạnh Chính vì thế, nhiều quốc gia, dân tộc hiện nay đã có sự quan tâm đặc biệt đến chiến lược bảo vệ, phát triển nền văn hóa dân tộc, trong đó bao gồm cả văn hóa pháp lý Đưa nền văn hóa phát triển là cách tạo đà phát triển về mọi mặt của đất nước
Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã luôn coi trọng và phát triển nền văn hoá dân tộc, gắn chủ trương
"xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", với mục tiêu trên, xây dựng đất nước “ phồn thịnh, công bằng, văn minh và dân chủ” Văn hóa pháp lý là một bộ phận hợp thành của nền văn hóa ấy Văn hóa pháp lý cao là nền tảng tinh thần, bảo đảm sự thành công của sự nghiệp xây dựng đất nước theo mục tiêu trên, tạo ra những tiền đề quan trọng thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Có thể khẳng định, trong những năm qua, việc thực hiện chủ trương trên của Đảng "xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đã được triển khai toàn diện, trên cả lĩnh vực lý luận, cả lĩnh vực thực tiễn Về lý luận đã có nhiều công trình nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, như những vấn đề văn hoá chính trị, văn hoá cầm quyền, văn hoá ứng xử của công chức với nhân dân…đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, với nhiều công trình, bài viết Trong khi đó, việc nghiên cứu phát triển nền văn hóa pháp lý tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam lại chưa được giới luật học trong nước
Trang 3quan tâm đúng mức, ngay cả những vấn đề lý luận về văn hóa pháp lý cũng đang còn nhiều quan điểm khác biệt Trong khi đó, theo quan điểm của Đảng
tại Nghị quyết 48/ NQ –TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
đã xác định xây dựng hệ thống pháp luật “ kết hợp hài hoà bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật” Việc thực hiện quan điểm của Đảng không thể không nghiên cứu các giá trị làm nên bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc, trong đó có truyền thống văn hoá pháp lý
Về mặt thực tiễn, trong bối cảnh toàn cầu hoá, trước sự tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội; ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, lối sống thực dụng, phân hoá giàu, nghèo, nguy cơ biến dạng và đảo lộn của thang giá trị truyền thống đang diễn ra gay gắt, làm phai nhạt những truyền thống văn hoá dân tộc Đấu tranh nhằm giữ gìn, cũng cố những giá trị truyền thống đó trở thành nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Phương thức
có hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này là nghiên cứu, đưa ra các
cơ chế, giải pháp kế thừa những giá trị truyền thống đó trong nền văn hoá đương đại, trong đó có văn hoá pháp lý
Từ những tiếp cận trên cho thấy nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật, truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam, đề xuất các giải pháp vận dụng những truyền thống văn hoá pháp lý đó trong xây dựng nền văn hoá pháp
lý hiện nay là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: "Vận dụng truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam trong xây dựng văn hóa pháp
lý hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Văn hóa và truyền thống văn hóa Việt nam được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, với nhiều công trình quý giá Tuy nhiên những vấn đề về văn hóa
Trang 4pháp lý, nhất là về truyền thống văn hoá pháp lý, kế thừa và phát huy truyền thống đó trong xây dựng văn hoá pháp lý hiện nay như đề tài luận văn thì hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện Có thể
kể đến một số công trình liên quan đến đề tài như sau:
- Đề tài khoa học:
+ Chuyên đề: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện
nay, thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX 07, Đề tài KX
07-02, chuyên đề do Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang (chủ biên), Hà Nội, 1994
Ở chuyên đề này, các tác giả làm sáng tỏ khái niệm giá trị truyền thống,
cơ sở hình thành các truyền thống dân tộc, các giá trị truyền thống tiêu biểu và mối quan hệ giữa truyền thống với hiện đại
+ Đề tài nghiên cứu cấp bộ: Góp phần đẩy lùi nguy cơ, bảo đảm ổn
định và phát triển đất nước, Viện Khoa học Chính trị (chủ trì), Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, TS Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ nhiệm đề tài, nghiệm thu năm 2004
Trong đề tài nghiên cứu này đã chỉ rõ tư tưởng coi thường pháp luật ở nước ta hiện nay là một trong những nguy cơ làm mất ổn định xã hội, phải đẩy lùi nguy cơ này nhằm bảo đảm ổn định đời sống pháp luật và phát triển đất nước
- Luận văn thạc sĩ luật học
+ Luận văn Thạc sĩ luật học “ Văn hóa pháp lý và xây dựng văn hóa
pháp lý ở Việt Nam hiện nay” của Phan Bạt Tố, bảo vệ tại Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2005 Nội dung luận văn nghiên cứu một số vấn
đề lý luận về văn hoá pháp lý, thực trạng văn hoá pháp lý nước ta hiện nay
Từ đó tác giả đề xuất những phương hướng chủ yếu mang tính pháp lý nhằm xây dựng văn hoá pháp lý ở nước ta hiện nay
+ Luận văn Thạc sĩ luật học “Văn hóa pháp lý trong hoạt động quản
lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình hiện nay” của Trần thị
Trang 5Phương Thu, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007
Ở đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu lý luận về văn hoá pháp lý trong hoạt động quản lý nhà nước; thực trạng văn hoá pháp lý trong hoạt động quản lý nhà nước của tỉnh Thái Bình và đề xuất năm nhóm giải pháp bảo đảm văn hoá pháp lý trong hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình
- Sách chuyên khảo
+ Sách “ Việt nam văn hóa sử cương” (1998) của tác giả Đào Duy
Anh, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Tác giả nghiên cứu văn hoá ứng xử của người Việt Nam, trong đó có kết luận: Người Việt sống lấy tình cảm làm bản vị Kết luận này rất có ý nghĩa trong đề xuất giải pháp xây dựng nền văn hoá pháp lý nước ta hiện nay
+ Sách “Chúng ta kế thừa di sản nào?”(2008), tác giả Văn Tạo, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung tác phẩm, tác giả nghiên cứu, làm sáng
tỏ nhiều di sản trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Đồng thời cho thấy, việc kế thừa và phát huy những di sản truyền thống có vai trò vô cùng quan trọng trong việc góp phần đưa đất nước phát triển Trong đó tác giả khẳng định phải kế thừa và phát huy những di sản truyền thống pháp luật và hương ước Việt Nam
+ Sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt nam” (2001) của Trần Ngọc
Thêm, Nxb TP.Hồ Chí Minh Nội dung tác phẩm, tác giả xuất phát từ quan điểm giá trị, đưa ra khái niệm và cấu trúc văn hoá Việt Nam, đồng thời chứng minh bản sắc văn hoá Việt Nam gắn liền với nền văn minh lúa nước, cuộc sống cộng đồng làng xã truyền thống
+ Sách “Văn hóa pháp lý Việt Nam” (2005), của Luật sư Lê Đức Tiết,
Nxb Tư pháp Ở công trình này, xuất phát từ góc độ tiếp cận các bộ phận cấu trúc văn hoá pháp lý, tác giả đưa ra khái niệm văn hoá pháp lý Từ đó đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc văn hoá pháp lý trong lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Trang 6+ Sách “Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam - những suy
ngẫm” (2007) của Bùi Xuân Đính, Nxb Tư pháp Tác phẩm tập hợp những sự
kiện về nhà nước pháp luật thời phong kiến Việt Nam, nhằm phản ánh đời sống pháp luật thời bấy giờ; đồng thời đưa ra giải pháp vận dụng những kinh nghiệm của ông cha trong xây dựng đời sống pháp luật hiện nay
- Các bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành
+ Vấn đề văn hóa pháp luật nước ta trong giai đoạn hiện nay (1998),
của PGS.TS Lê Minh Tâm, Tạp chí Luật học số 5 Bài viết đã đưa ra định nghĩa văn hoá pháp luật, đồng thời chỉ ra các bộ phận hợp thành của văn hoá pháp luật
+ Văn hoá pháp lý Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá (2007) của Lê
Vương Long, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 4 Ngoài việc đưa ra định nghĩa
về văn hoá pháp lý, trong bài viết này, tác giả còn khẳng định Việt Nam có truyền thống văn hoá pháp lý lâu đời…
Từ nội dung các công trình trên cho thấy đề tài luận văn không trùng lặp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về văn hoá pháp lý, truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam, yêu cầu và giải pháp vận dụng những
truyền thống đó trong xây dựng nền văn hoá pháp lý ở Việt Nam hiện nay
- Phù hợp với mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: + Xây dựng khái niệm văn hóa pháp lý và truyền thống văn hóa pháp
lý Việt Nam;
+ Nghiên cứu khái quát những giá trị truyền thống văn hóa pháp lý nổi bật trong lịch sử Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam và yêu cầu vận dụng những truyền thống đó trong xây dựng văn hoá pháp lý Việt Nam hiện nay
+ Đánh giá thực trạng văn hoá pháp lý Việt nam, những giải pháp vận dụng truyền thống văn hóa pháp lý từ lịch sử Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam trong xây dựng nền văn hóa pháp lý ở nước ta hiện nay
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam được hun đúc qua nhiều thế
hệ người Việt Nam, qua nhiều thời đại, là kho tàng vô giá Trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sĩ luật học, trong điều kiện nguồn tài liệu nghiên cứu còn hạn chế, được sự gợi ý của Thầy hướng dẫn, và với những tri thức mà bản thân thu nhận được, tác giả xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là những truyền thống văn hoá pháp lý trong lịch sử Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam, nhưng chủ yếu là thời Lê sơ Từ đây, luận văn làm rõ những giá trị truyền thống văn hoá pháp lý, đồng thời trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về văn hoá pháp lý để đề xuất và luận chứng các giải pháp kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá pháp lý trong xây dựng văn hoá pháp lý Việt Nam thời kỳ đổi mới hiện nay
Việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là xuất phát từ những lý do sau:
Một là, về nhà nước: Nhà Hậu Lê là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch
sử nhà nước phong kiến Việt Nam Sau khi lãnh đạo nhân dân cả nước đánh đuổi giặc Minh đô hộ ra khỏi bờ cõi, lãnh tụ phong trào khởi nghĩa Lam Sơn
là Lê Lợi đã lên ngôi Hoàng đế, sáng lập ra nhà Hậu Lê, triều đại trị vì 360 năm (1428 - 1788) trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam Trong thời gian đó, ở 100 năm đầu, tức là thời Lê sơ đã để lại nhiều giá trị truyền thống văn hoá pháp lý đặc sắc
Hai là, về pháp luật, trong lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, các
công trình Hình thư đời Lý, Hình luật thư đời Trần không còn tư liệu gốc để nghiên cứu, giá trị các Bộ luật này chủ yếu được tiếp cận qua tư liệu lịch sử Trong đó, quan trọng là Bộ Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều Hiến chương loại chí Hơn nữa, theo các nhà nghiên cứu, so với các triều đại phong kiến Việt Nam, thời Lê sơ, văn hóa pháp lý phát triển mạnh, được kết tinh và thể hiện rực rỡ trong Bộ luật Hồng Đức, trong những thành tựu cải cách bộ máy nhà nước, là những truyền thống văn hóa pháp lý nổi bật nhất trong lịch sử
Trang 8nhà nước và pháp luật phong kiến, là khuôn vàng, thước ngọc truyền lại cho các triều đại phong kiến về sau Cốt lõi truyền thống văn hoá pháp lý thời Lê
sơ được phản ánh qua Bộ luật Hồng Đức, là công trình pháp điển hoá đồ sộ trong thế kỷ 15, đỉnh cao của lịch sử pháp luật phong kiến Việt Nam Đánh giá về Bộ luật này Nhà sử học Phan Huy Chú trong tác phẩm Lịch triều Hiến chương loại chí đã viết: "là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân" [7, tr.94]
Ba là, tại cuộc hội thảo "Quốc triều hình luật-những giá trị lịch sử và
đương đại góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam", được tổ chức tại Thanh Hoá ngày 17-18/3/2007, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng
và các nhà khoa học đều chung khẳng định: Quốc triều hình luật là một di sản pháp luật đặc sắc và độc đáo của dân tộc ta Đây là bộ luật không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới Truyền thống pháp lý thời Lê sơ là giá trị mà các nhà luật học, nhà
sử học, cán bộ quản lý nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng những tư tưởng luật pháp tiến bộ, những bài học, kinh nghiệm quý báu của cha ông ta trong thời đại mới Đây cũng là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân [19, tr.1]
Ngoài ra, truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam còn được kết tụ trong các lệ làng, hương ước, phản ánh sống động đời sống cộng đồng làng xã Việt Nam Vì lẽ đó, hương ước, lệ làng cũng là đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Tuy nhiên do khuôn khổ hạn chế của một luận văn Thạc sĩ, nên tác giả cũng chỉ kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó của các nhà khoa học
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận:
Việc nghiên cứu đề tài luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan
Trang 9điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới nhà nước và pháp luật, về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được Đảng
đề ra tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành TW Đảng (Khoá VIII)
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ yếu sử dụng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác, như phương pháp lịch sử, so sánh, hệ thống hóa, logic
+ Luận thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở hai chương Trong đó, chương 1 chủ yếu dùng phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử cụ thể; chương 2 kết hợp giữa lý luận và thực tiễn là phương pháp được sử dụng chủ yếu nhằm bảo đảm đánh giá thực trạng khách quan và toàn diện
+ Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng phương pháp hệ thống hoá, so sánh để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn có những điểm mới sau:
- Xây dựng khái niệm văn hoá pháp lý và truyền thống văn hoá pháp
lý từ lịch sử Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam
- Khái quát các giá trị truyền thống văn hoá pháp lý và yêu cầu vận dụng truyền thống văn hoá pháp lý từ lịch sử Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam trong xây dựng nền văn hoá pháp lý Việt Nam hiện nay
- Đánh giá thực trạng văn hoá pháp lý Việt Nam và giải pháp vận dụng truyền thống văn hoá pháp lý trong xây dựng văn hoá pháp lý Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận văn
-Việc nghiên cứu truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam trong nhà
nước phong kiến Việt Nam nhằm bổ sung những vấn đề lý luận về văn hoá
Trang 10pháp lý, truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam, cũng như làm sáng tỏ những truyền thống văn hoá pháp lý tiêu biểu thời Lê sơ
- Những giải pháp và kiến nghị của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan, tổ chức trong xây dựng, phát triển nền văn hóa pháp lý nước ta hiện nay trong điều kiện đổi mới, phát triển ổn định, bền vững và hội nhập quốc tế
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành hai chương, 5 tiết
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG TRUYỀN THỐNG
VĂN HÓA PHÁP LÝ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG VĂN HOÁ
PHÁP LÝ HIỆN NAY
1.1 VĂN HÓA PHÁP LÝ VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA PHÁP LÝ VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm văn hóa pháp lý và truyền thống văn hoá pháp lý
1.1.1.1 Khái niệm văn hoá pháp lý
Văn hóa là một khái niệm rộng, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Có quan niệm cho rằng văn hóa là tổng thể những hoạt động tinh thần, trí tuệ của xã hội, thể hiện phong tục tập quán, ngôn ngữ, ứng xử, hành vi phổ biến của xã hội Cũng có quan điểm cho rằng, văn hóa là một quá trình nhận thức, phản ánh trong đời sống xã hội của con người Có quan niệm lại chia văn hóa thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể; văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, đồng thời đưa ra các quan niệm về những loại hình văn hoá đó….Năm 1977, D Paul Scheffer, chuyên gia của UNESCO đã thống kê được 256 định nghĩa khác nhau về văn hóa [51, tr.16] Tuy nhiên, trong các
quan niệm về văn hoá đó đều có một điểm chung: Văn hóa gắn liền với sự
phát triển của xã hội loài người và phản ánh trình độ văn minh của xã hội Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra, tích lũy
và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác phản ánh nhu cầu và năng lực của con người hướng tới Chân, Thiện, Mỹ; là giá trị tồn tại trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
Văn hoá với quan niệm trên được thể hiện trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra, từ công cụ sản xuất đến các vật dụng sinh hoạt, từ tri thức khoa học, tác phẩm nghệ thuật, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Văn hóa pháp lý là một bộ phận của nền văn hoá nói chung, là kết quả của bản thân hoạt động pháp luật của mỗi quốc gia, một dân tộc, một cộng đồng người
Trang 12Về phương diện lý luận, văn hóa pháp lý ngày càng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, theo PGS.TS Lê Minh Tâm:
Văn hóa pháp luật, nói một cách tổng quát là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật… [42, tr.18]
TS Lê Thanh Thập viết:
Văn hóa pháp luật là những giá trị nhân đạo, tiến bộ, tích cực của hệ thống pháp luật trong xã hội được thể hiện trong các đạo luật và thiết chế xã hội Đồng thời, các giá trị đó còn đươc thể hiện trong các hoạt động pháp luật, thẩm thấu vào nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ [47, tr.26] Với PGS, TS Nguyễn Văn Mạnh:
Văn hoá pháp luật là một bộ phận của nền tảng tinh thần xã hội, biểu hiện trình độ văn minh của đời sống pháp luật trong xã hội bao gồm tư tưởng, quan điểm khoa học về pháp luật gắn với hệ thống pháp luật, được đưa vào vận hành trong đời sống cộng đồng thông qua các thiết chế chính trị - xã hội và được biểu hiện bằng hành vi thực hiện pháp luật của cá nhân, tổ chức và cộng đồng xã hội nhằm phục vụ cho đời sống của con người và sự phát triển của
xã hội [34, tr.13]
Xuất phát từ các yếu tố hợp thành, LS Lê Đức Tiết cho rằng:
Văn hóa pháp lý là một dạng, một bộ phận hợp thành của nền văn hóa dân tộc Cũng như các dạng, thành phần văn hóa khác, văn hóa pháp lý bao gồm trong nó ba yếu tố: Ý thức pháp luật của Nhà nước, của dân tộc, của các cộng đồng và của các công dân qua các thời kỳ lịch sử; nền pháp luật bao gồm pháp luật thành văn và chưa
Trang 13thành văn được xây dựng nên qua các thời kỳ lịch sử; trình độ, kỹ năng, nghệ thuật với vai trò là vũ khí bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là công cụ quản lý thống nhất của nhà nước, là căn
cứ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động của Nhà nước, của xã hội, là mực thước xử xự đúng pháp luật của mọi công dân [51, tr.34,35] Năm 2001, tại Hội thảo khoa học của Viện nghiên cứu Khoa học pháp
lý thuộc Bộ Tư pháp về Văn hóa tư pháp, các nhà khoa học đã đề cập đến nên diễn đạt thuật ngữ “văn hóa pháp luật” hay “văn hóa pháp lý” và đi đến thống nhất sử dụng thuật ngữ “ văn hóa pháp lý”, bởi khái niệm pháp lý rộng hơn khái niệm pháp luật, phù hợp hơn [61, tr.16] Tác giả hoàn toàn thống nhất với nhận thức văn hoá pháp lý tại cuộc Hội thảo này
Như trên đã đề cập, nói văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị sáng tạo về tinh thần và vật chất, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm
về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn ở mỗi con người Văn hoá góp phần trực tiếp tạo nên bản sắc của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Văn hóa pháp lý là một bộ phận của văn hóa nói chung Vì lẽ đó, văn hóa pháp lý phải là những giá trị, là thành quả của quá trình lao động và sáng tạo của con người
Từ những cách tiếp cận như trên, tác giả cho rằng khái niệm văn hóa pháp lý của các tác giả trong Từ điển Luật học - Viện khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp là đầy đủ nhất, theo đó:
Văn hoá pháp lí là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính pháp lí không có sẵn trong thiên nhiên mà do nhà nước
và nhân dân tạo ra Do pháp luật có một vị trí đặc biệt trong đời sống của một quốc gia, có quan hệ mật thiết với cuộc sống con người, gắn liền hữu cơ với những phạm trù có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của một cá nhân như công bằng, lẽ phải, công lí, dân chủ tự do, nên ở mỗi con người, nhìn từ nhiều góc độ, có mối quan tâm đặc biệt đối với pháp luật, đời sống pháp luật của xã hội
Trang 14làm hình thành ở mỗi con người những quan niệm, nhận thức, có khi cả những lí tưởng đối với những giá trị của pháp luật; đồng thời, cũng làm hình thành thói quen, ham muốn, thích thú được sống và
và làm việc theo hiến pháp và pháp luật và qua pháp luật qua thời gian được nâng lên thành lí tưởng, thành nhân sinh quan pháp luật
có tính văn hoá và giá trị văn hoá cao, đặc thù ở cả một bộ phận, có khi không nhỏ của dân cư, trở thành một bộ phận không thể tách rời của văn hoá dân tộc Văn hoá pháp lí là một bộ phận cấu thành của một nền văn hoá dân tộc văn hóa pháp lí bao gồm hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật (gồm tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp luật), thể hiện ở tri thức pháp luật, thói quen, lối sống theo pháp luật, nghệ thuật vận dụng pháp luật trong đời sống hàng ngày [62, tr.840]
Từ đó, có thể hiểu văn hóa pháp lý là sự phản ánh và thể hiện một
cách tổng quát, sống động mọi mặt của đời sống pháp luật (của cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ và hiện tại, nó cấu thành một hệ thống giá trị và lối sống pháp luật của một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc Văn hóa pháp lý có cấu trúc gồm: hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật (gồm tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp luật) và hành vi, lối sống theo pháp luật
1.1.1.2 Khái niệm truyền thống văn hóa pháp lý và vận dụng truyền thống văn hoá Việt Nam trong xây dựng văn hoá pháp lý hiện nay
Thứ nhất, khái niệm truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam
Truyền thống trong gốc chữ La -tinh là: "Traditio", dịch nghĩa là: Nối đời, nối truyền, truyền lại…Truyền thống là những gì được truyền từ đời này sang đời khác Với người Trung Quốc: " Truyền thống là sức mạnh của tập quán của xã hội đươc lưu truyền lại từ lịch sử Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế
độ, tư tưởng văn hóa, đạo đức Truyền thống có tác động khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người Truyền thống biểu hiện tính kế thừa của lịch sử [30, tr.10] Bách khoa từ điển Xô - Viết quan niệm, Truyền thống:
Trang 15Đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục tấp quán và lối sống…Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội
và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội [30, tr.10]
Giáo sư Trần Quốc Vượng chỉ rõ:
Có thể hiểu "truyền thống" như là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử,
trong một môi trường sinh thái và nhân văn nhất định, trở nên ổn
định, trường tồn, nhưng không vĩnh cửu, có thể định chế hóa bằng
luật hay lệ (phong tục tập quán) và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác - Có thể gọi là di truyền văn hóa, bên cạnh sự di truyền sinh vật về thân xác - để bảo đảm tính đồng nhất của một
cộng đồng [68, tr.102]
Từ những quan niệm trên, cho thấy khái niệm truyền thống không đồng nhất với những gì diễn ra trong quá khứ Truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội từ đời này sang đời khác Nó là sản phẩm của sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và chủ quan, chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử xã hội…và luôn mang các đặc trưng: Cộng đồng, ổn định và lưu truyền Truyền thống mang tính chất ổn định, trường tồn và được chuyển trao (truyền) và nối tiếp (thống) từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống bao hàm cả mặt tốt và mặt xấu, có cả truyền thống tốt đẹp và truyền thống tiêu cực (yếu tố tiêu cực) Các truyền thống tiêu cực là lực cản (cản trở) văn hoá phát triển Những truyền thống tốt đẹp đó chính là những giá trị truyền thống của một cộng đồng được hình thành, giữ gìn và phát huy trong quá trình lịch sử, gắn liền với giá trị Chân, Thiện, Mỹ, phù hợp với chuẩn mực của đời sống xã hội, thúc đẩy con người phát triển, vươn tới những phẩm chất tốt đẹp Hay nói cách khách, khi
đề cập đến những giá trị truyền thống của một cộng đồng, là không tính đến những
Trang 16truyền thống tiêu cực Chỉ những gì tốt đẹp mới được gọi là giá trị, mang danh giá trị, tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đó bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới Còn văn hóa gắn liền với giá trị
Vì vậy khi nói truyền thống văn hóa pháp lý, hàm ý nói đến những giá trị tương đối ổn định, những gì tốt đẹp, là tích cực, là tiêu biểu của đời sống pháp luật
Như thế, có thể hiểu truyền thống văn hóa pháp lý Việt là một hệ thống các giá
trị văn hóa pháp lý Việt Nam biểu hiện bằng tính cách, các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử, phản ánh đời sống pháp luật, mang tính ổn định có thể được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Đời sống pháp luật biểu hiện bằng các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, thông qua các hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật
và bảo vệ pháp luật
Lịch sử Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam đã để lại cho hậu thế nhiều truyền thống văn hóa pháp lý tiêu biểu, phản ánh đời sống pháp luật của dân tộc ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể, và được các triều đại phong kiến sau kế thừa, phát huy, vận dụng có hiệu quả trong xây dựng, thực hiện và bảo
vệ pháp luật Đồng thời nhiều giá trị truyền thống văn hoá pháp lý còn nguyên giá trị trong xây dựng văn hóa pháp lý nước ta hiện nay
Cùng với truyền thống văn hóa pháp lý, trong nhà nước phong kiến Việt Nam còn tồn tại những yếu tố tiêu cực, lực cản văn hóa pháp lý phát triển Những yếu tố tiêu cực ấy vẫn còn tồn tại và cản trở sự phát triển của văn hoá pháp lý nước ta hiện nay Vì vậy, để xây dựng văn hóa pháp lý cần kế thừa truyền thống văn hóa pháp lý của cha ông, đồng thời với đẩy lùi tiến đến xóa bỏ những yếu tố tiêu cực của của văn hoá pháp lý
Thứ hai, khái niệm vận dụng truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam trong xây dựng văn hoá pháp lý
Theo Từ điển tiếng Việt, vận dụng là: “đem tri thức lý luận dùng vào thực tiễn” [24, tr 909] Văn hoá pháp lý, về cấu trúc gồm: Hệ thống pháp luật,
Trang 17ý thức pháp luật và hành vi, lối sống theo pháp luật Vì vậy, vận dụng truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam trong xây dựng văn hoá pháp lý nước ta hiện nay, là đưa những giá trị truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam vào xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; nâng cao ý thức, hành vi và lối sống pháp luật cho các thành viên trong xã hội Tuy nhiên, văn hoá pháp lý là sự thống nhất hữu cơ những giá trị có được từ hoạt động của con người qua các quan hệ pháp luật (hành vi, lối sống) trong đời sống xã hội Do vậy, phát triển văn hoá pháp lý cũng là góp phần nâng phát triển con người, nâng cao sức mạnh và nguồn lực con người trong phát triển xã hội
Thực tế lịch sử cho thấy, không có truyền thống của dân tộc nào chỉ đơn thuần tốt cả Truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam cũng nằm trong nguồn mạch ấy Nó bao gồm những giá trị truyền thống văn hoá pháp lý tích cực, thúc đẩy văn hoá pháp lý phát triển, đồng thời tồn tại những yếu tố tiêu cực, cản trở văn hoá pháp lý phát triển trong đời sống pháp luật trong xã hội đương thời và truyền lại đến tận đời sống xã hội hiện nay
Vận dụng truyền thống văn hoá pháp lý trong xây dựng văn hoá pháp lý
là quá trình gìn giữ, cũng cố những những truyền thống tích cực, vừa là quá trình đấu tranh hạn chế, xoá bỏ những yếu tố tiêu cực, cản trở văn hoá pháp lý phát triển của lịch sử để lại
Từ những sự phân tích trên, văn hoá pháp lý của một cồng đồng, quốc gia, dân tộc vô cùng phong phú, diễn ra trên toàn bộ các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp; trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội…gắn
chặt với cuộc đời của con người, nhà nước và xã hội Vì vậy, vận dụng truyền
thống văn hoá pháp lý Việt Nam trong xây dựng văn hoá pháp lý nước ta hiện nay là hoạt động chuyển taỉ những giá trị truyền thống văn hoá pháp lý vào xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và phòng ngừa, chăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; xoá bỏ các yếu tố tiêu cực, cản trở văn hoá pháp
lý phát triển, bảo đảm hoàn thiện hệ thống pháp luật; nâng cao ý thức, hành
vi và lối sống pháp luật cho các thành viên trong xã hội
Trang 181.1.1.3 Đặc điểm truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam
sai quan Trung thư san định luật lệnh [7, tr.95] Trong thực hiện Hình thư, Lý
Thánh Tông cũng thể hiện lòng nhân từ, thương người ở chốn lao tù Mùa đông, tháng 10 (1055), đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng:
Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù còn bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót Vậy lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa [63, tr.271]
Tư tưởng này được nhà Trần tiếp nối, năm 1341, Trần Dụ Tông sai Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn khảo soạn bộ Hình thư để ban hành, tức là coi trọng việc pháp trị, nhưng đồng thời dưới thời vua làm thái thượng hoàng thì "Nguyễn Trung Ngạn kiến nghị lập tào thương chứa thóc tô
để chẩn cấp dân bị đói Xuống chiếu cho các lộ bắt chước thế mà làm" hay
như năm 1345 thì "Xuống chiếu soát tù, giảm tội bọn tội phạm" [63, tr.273], những hành động như thế chứng tỏ nhà vua cũng rất quan tâm tới đời sống nhân dân, thể hiện quan điểm nhân trị sâu sắc Đặc biệt hơn, dưới thời Trần,
cơ quan tư pháp được thành lập gồm Thẩm hình viện và Tam tư viện để bảo đảm việc xét xử án được công minh Sang thời nhà Lê, dưới sự ảnh hưởng của
tư tưởng Nho giáo, dù vẫn kế thừa truyền thống hình luật từ thời Lý - Trần, nhưng luật Hồng Đức có nhiều tính nhân đạo, nhiều quy định bảo vệ quyền
Trang 19con người “Cùng với quan điểm nhân trị, Bộ luật Hồng Đức chịu ảnh hưởng của quan điểm pháp trị” [3 tr.13] Đến nhà Nguyễn, với Bộ luật Gia Long, thực hiện chế độ hình phạt hà khắc, phản ánh tính chuyên chế, trừng trị rõ rệt, nên nó làm giảm dần tính nhân văn trong truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam Sự kết hợp đức trị với pháp trị trong thuật trị nước, không quá chuyên chế, độc đoán; quan tâm đến cuộc sống của dân đã phản ánh phần nào tính nhân văn trong truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam
Cùng với tư tưởng kết hợp đức trị và pháp trị, truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam luôn bảo vệ quyền con người Quyền con người dù tiếp cận
ở góc độ nào cũng phải thừa nhận rằng, cái cốt lõi và thực chất của quyền con người là quyền được sống, được chăm sóc, được bảo vệ và tất cả các quyền khác của con người chỉ được thực hiện và chỉ có ý nghĩa khi quyền sống, quyền được chăm sóc, được bảo vệ được tôn trọng, bảo đảm trong thực tế và được thể chế hoá bằng pháp luật, đạo luật Trong lịch sử nhà ước và pháp luật phong kiến Việt Nam đến thời nhà Tiền Lê chưa có pháp luật thành văn, quyền con người chưa được đảm bảo về mặt pháp lý Dưới triều Lý vì buổi đầu nhiều án oan sai, thương xót dân, Lý Thánh Tông ban hành Hình thư, dân
lấy làm tiện “ Đến đây phép xử án được bằng phẳng, rõ ràng, nên đổi niên
hiệu là Minh Đạo và đổi tiền Minh Đạo” [63, tr.271], phản ánh phần nào tư tưởng bảo vệ quyền con người ở thời Lý Nhà Trần tiếp nối nhà Lý cũng đã thể hiện một nhà nước thân dân, tôn trọng ý kiến nhân dân khi quyết định vấn
đề sống còn của chế độ bằng Hội nghị Diên Hồng, phát huy sức mạnh toàn dân trong kháng chiến chống quân Mông Nguyên…Đỉnh cao của truyền thống bảo vệ quyền con người được kết tinh trong luật Hồng Đức thời Lê sơ
Bộ Quốc triều hình luật có 6 quyển, 13 chương, 722 điều Dù luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đường và nhà Minh, nhưng khi nghiên cứu 722 điều của Bộ luật Hồng Đức với 502 điều trong luật nhà Đường và 460 điều của luật nhà Minh,
có 220 điều khác biệt hoàn toàn Trong đó có nhiều chế định pháp luật tiến
Trang 20bộ, giàu tính nhân văn, nhiều quy định bảo vệ quyền con người như về hôn nhân gia đình, thừa kế, bảo vệ quyền lợi người phụ nữ; xử nặng những người phạm tội xâm phạm luân thường đạo lý của dân tộc như tội ác nghịch: Đánh, mưu giết ông bà, cha mẹ, tội bất nghĩa: Giết quan lại, giết thầy học…
- Yếu tố dân chủ làng xã trong nhà nước quân chủ:
Năm 906, người Việt giành lại được chính quyền từ tay các quan đô
hộ của nhà Đường (Trung quốc) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch
sử dân tộc Nó chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc đen tối kéo dài hơn 1.000 năm mở
ra một kỷ nguyên mới cho đất nước Với nền tảng kinh tế là sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc đất nước luôn chứa đựng khuynh hướng phân tán, cát cứ Chính vì thế, sau khi Ngô Quyền qua đời, chính quyền trung ương không điều hành nổi đất nước nữa Các nhà sử học gọi đó là thời kỳ loạn 12 sứ quân Đất nước cần một chính quyền trung ương vững mạnh Sự kiện Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh bại 11 sứ quân khác, thống nhất lại đất nước vào năm 967, một mặt thể hiện tài năng quân sự của ông, nhưng mặt khác, đó còn là biểu hiện sự thắng thế của khuynh hướng thống nhất quyền lực Và từ đó về sau, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, tập quyền luôn là khuynh hướng chủ đạo Nhà nước trung ương tập quyền dựa trên sở hữu tối cao của nhà nước - đứng đầu
là vua - đối với ruộng đất công xã, bóc lột nông dân Đơn vị kinh tế – xã hội
cơ bản của nhà nước phong kiến từ thế kỷ X trở đi là các làng Dựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất – chế độ ruộng đất công làng xã, do vậy giữa các thành viên của làng xã luôn giữ được bầu không khí hoà đồng, thống nhất Làng với Nước có được sự hoà hợp và nhà nước lấy sức mạnh của làng xã làm sức mạnh quốc gia Nhà nước đã đồng nhất ruộng đất trong các làng xã với tài sản của nhà nước Làng cung cấp cho Nhà nước tô thuế, lao dịch, binh dịch Vì vậy, nhà nước phong kiến Việt Nam, về bản chất giai cấp là công cụ chuyên chính của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông dân và người lao động khác, nhưng chính xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhà nước với làng xã
mà từng thời kỳ cụ thể Nhà nước có những chính sách hài hoà giữa lợi ích
Trang 21Nhà nước với lợi ích làng xã Chính sự hài hoà này tạo ra tính dân chủ làng xã trong truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam, bởi hai lý do sau:
Thứ nhất, làng xã là đơn vị kinh tế - xã hội, hành chính của nhà nước
Làng xã Việt Nam đã xuất hiện từ cuối thời nguyên thuỷ, đầu thời dựng nước,
là sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nước Dưới các vương triều phong kiến nước ta xã là một đơn vị hành chính (xã có một làng hoặc nhiều làng) Làng
bỏ, nhưng không xoá được Hương ước là công cụ tự quản làng xã, có tính cụ thể, gắn với yêu cầu của từng làng, có tính cộng đồng và bảo đảm những điều kiện sống cơ bản cho người dân (ruộng đất, thuỷ lợi, môi trường, tín ngưỡng…), và được người dân tự nguyện thực hiện
Hương ước với luật nhà nước có điểm giống nhau, đều là những quy ước điều chỉnh các môí quan hệ xã hội ở nhiều lĩnh vực, như kinh tế, văn hoá…và một chế độ thưởng, phạt nghiêm ngặt Tuy nhiên, nôi dung văn bản hương ước đơn giản hơn so với luật nhà nước Chẳng hạn quy định về hôn nân và gia đình, luật Hồng Đức quy định 58 điều, từ điều 283 đến điều 340; trong khi đó hương ước chỉ ghi nhận thành một và điều ngắn gọn Hình phạt hương ước đơn giản hơn luật nước, chủ yếu là phạt tiền hay hiện vật (trâu, lợn, gà, trầu, rượu), bồi thường thiệt hại, đánh đập, hạ ngôi thứ, đuổi khỏi
Trang 22làng Hương ước điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng những lời khuyên răn
như: Không nên, không được làm…và thực hiện chủ yếu không những thông qua chế độ thưởng, phạt mà còn bằng sức ép dư luận của dân làng Chính
điều này góp phần giúp người dân bớt vi phạm lệ làng Từ đó giúp người dân hạn chế vi phạm luật nước và chịu tác động pháp luật nhà nước qua tổ chức làng xã của mình Xuất phát từ tính hiệu lực của hương ước và sự đồng thuận của cư dân làng xã, nhà nước phải phải dành cho làng xã tính tự quản, thực hiện dân chủ trong làng xã Với hệ thống cộng đồng làng xã tự quản, người nông dân có những quyền dân chủ nhất định Cho nên, C.E Bouilevauv, một học giả người Pháp nhận định rằng: Trong xã hội An Nam đã có sự pha trộn giữa cường quyền và những quyền tự do quý báu [27, tr.299] Quyền dân chủ làng xã được nhà nước phong kiến thừa nhận thông qua việc quản lý làng xã, đặt xã quan và đến thời Lê sơ về sau nhà nước kiểm soát quá trình soạn thảo, ban hành và thực hiện hương ước Khi nhà nước trung ương tập quyền càng phát triển thì mức độ tự quản làng xã càng thu hẹp nhưng hương ước vẫn là công cụ hữu hiệu để thực hiện dân chủ làng xã
- Tính dân tộc, tính nhân loại phổ biến:
Tính dân tộc của truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam đó là những nếp nghĩ, hành vi trong đời sống pháp luật được lưu giữ, kế thừa, phát huy qua nhiều thế hệ mang cốt cách con người Việt Nam Đó là ý thức tôn trọng quyền con người, pháp điển hoá pháp luật…Chính các yếu tố này đã hun đúc, kết tinh một nền văn hoá mang bản sắc đặc thù Việt Nam, tạo nên một sức sống lâu bền và hiện vẫn là nhân tố tích cực đóng góp vào diện mạo của nền văn hoá nước nhà trong thời kỳ đổi mới
Không ai phủ nhận được truyền thống văn hoá pháp lý gắn liền với đời sống pháp luật của một cộng đồng, quốc gia, dân tộc Truyền thống văn hoá pháp lý của một dân tộc bao giờ cũng chứa đựng tư tưởng tiến bộ của nhân loại như công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế, nhằm đảm bảo thực
sự những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới - sự
Trang 23tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, sự ngự trị của pháp luật trong lĩnh vực hoạt động của nhà nước, mối quan hệ nhà nước với công dân….Vì vậy truyền thống văn hoá pháp lý ngoài tính dân tộc còn có tính nhân loại phổ biến
1.2 NỘI DUNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA PHÁP LÝ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM
Nhà nước và làng xã hài hoà về sở hữu ruộng đất: Ngoài ruộng công, ruộng tư phát triển từ thời Lý, đến thời Trần ruộng đất tư hữu phát triển hơn [43, tr.26] Từ đời Lê Thánh Tông (1477), chính sách "quân điền" thống nhất cho cả nước mới được ban hành và thực hiện Theo chính sách này, các quan chức từ tam phẩm, tứ phẩm (nếu ruộng lộc được ít) trở xuống cho đến binh sĩ dân đinh, phụ nữ goá chồng, trẻ mồ côi đều được chia một phần ruộng công theo vị thế của mình Chính sách quân điền của nhà nước thời Lê sơ không phải là chia đều ruộng đất công cho mỗi người, nhưng mỗi ngưòi dân lương thiện đều được chia ruộng, trong đó binh lính có phần ưu tiên đã giải quyết được vấn đề nhân công sau chiến tranh Làng cung cấp cho Nhà nước tô thuế, lao dịch, binh dịch Nhà nước cho làng có ruộng đất tư, tính tự quản làng xã, bảo đảm hòa lợi ích của làng xã và lợi ích nhà nước
Hài hoà trong trong xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật: Làng xây dựng, thực hiện và bảo vệ luật làng (hương ước) Hương ước được nhà nước
Trang 24thừa nhận Hương ước là văn bản bao gồm các quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong từng cộng đồng làng xã, do hội nghị làng
xã đặt ra Hương ước có nguồn gốc từ tục lệ làng, được nhà nước văn bản hoá vào thời Lê sơ trở đi, đánh dấu bằng sự kiện vua Lê Thánh Tông cũng cố lại
việc soạn và phê duyệt hương ước Sách Hồng Đức thiện chính thư chép lại
đạo dụ của Lê Thánh Tông có đoạn:
Các làng xã không nên có khoán ước riêng vì đã có pháp luật chung của Nhà nước Làng nào có phong tục khác lạ thì có thì có thể cho lập khoán Những người thảo ra hương ước phải là những người có trình độ nho học, có đức hạnh, có chức phận chính thức,
có tuổi tác Khoán ước thảo xong phải được quan trên kiểm duyệt cho phép hoặc bãi bỏ Khi khoán ước đã cho phép áp dụng, ai không tuân theo, quan trên sẽ trị tội [51, tr.116-117]
Từ sự kiện này hương ước thời Lê sơ không được khuyến khích tạo lập; nếu tạo lập hương ước thì hương ước phản ánh ít nhiều tinh thần pháp luật của triều đình Hương ước có giá trị như "bộ luật" của làng, biểu hiện tính "tự trị" làng xã và là sự dung hoà quyền lợi giữa nhà nước phong kiến và làng xã, nhưng sự "tự trị" này rất giới hạn vì quan trên (chứ không là trong làng xã)
kiểm duyệt cho phép hoặc bãi bỏ hương ước, cũng như trị tội người vi phạm hương ước
Luật nước từ nhà Lý đến nhà Nguyễn đều thừa nhận thiết chế làng xã, hương ước trong nhà nước phong kiến Việt Nam Trên thực tế nhà nước phong kiến không trực tiếp nắm người nông dân mà phải thông qua tổ chức làng xã
Song song đó, do nhu cầu trị thuỷ, trồng lúa nước và chống ngoại xâm, lấy nhân lực, tài lực từ làng xã, nên các nhà vua Việt Nam không chuyên chế như các vua Trung Quốc Do đó có người gọi đây là nền chuyên chế mềm [27, tr.298] Nhà nước phong kiến đã biết dựa vào các làng xã với tư cách là những khối kết cấu kinh tế – xã hội tương đối thống nhất và dựa vào mối liên kết liên làng vốn có từ ngàn xưa để thiết kế nên một hệ thống chính trị mà
Trang 25trong đó chính quyền trung ương là người đại diện những quyền lợi cơ bản của tất cả các làng xã Dù là nhà nước quân chủ, nhưng nhiều vị vua chăm lo đến mối liên hệ giữa nhà nước với làng xã, hướng đến lợi ích của nhân dân
Vì thế, trong nhà nước phong kiến, những vị hoàng đế có uy quyền thần thánh, nhưng cũng luôn quan tâm đến lợi ích làng xã, lợi ích dân nhất định theo một tinh thần gia trưởng, được coi như là một người cha trong một gia đình lớn, chứ không phải là bạo chúa
Tiếc rằng, đến thời nhà Nguyễn pháp luật thì hà khắc, quan lại “trừ một bộ phận quan chức thanh liêm như Phan Thanh Giản, Đặng Huy Trứ…chiếm số ít còn lại đa số quan chức nhà nước từ thượng thư đến tổng đốc,
từ tri huyện đến lính lệ đều sống bằng nhiều hình thức hối lộ…Đối với người dân hễ phải đến cửa quan thì đã là một điều đáng sợ” [67, tr.106], đã làm đời sống làng xã vô cùng ngột ngạt Cải cách hành chính của vua Minh Mạng và thí điểm chia lại ruộng đất theo hướng mở rộng ruộng đất công không phù hợp với thực tế làm cho nông dân nỗi dậy nhiều nơi, làm mai một dần truyền thống pháp luật nhà nước phong kiến Việt Nam có chính sách bảo đảm hài hòa lợi ích của làng xã và lợi ích Nhà nước
Tóm lại, nhà nước phong kiến ở những giai đoạn hưng thịnh đã tìm
được một phương thức xử lý tối ưu mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích nhà nước với làng xã trước yêu cầu tập trung quyền lực, yêu cầu phát triển kinh tế, tạo lập dân chủ làng xã Biểu hiện bằng việc hương ước tạo cho người dân có thói sống theo quy ước, phù hợp thực tế từng làng xã, không trái luật nước Mặt khác luật pháp nghiêm minh và tính chất tiến bộ của những bộ luật đó đã làm giảm thiểu đáng kể sự thao túng, lộng hành của các thành phần kinh tế tư nhân, nhất là hạn chế được nạn cường hào ở nông thôn, duy trì sự cân bằng giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân có vai trò tích cực đối với sản xuất tiểu nông
Sự hài hoà quan hệ giữa nhà nước với làng xã trong nhà nước phong kiến là cơ sở phát huy về mối quan hệ giữa nhà nước với công dân trong nhà
Trang 26nước pháp quyền, xã hội công dân, trong thực hiện dân chủ cơ sở xã, phường, thị trấn ở nước ta hiện nay
Thứ hai: Pháp luật hướng đến các giá trị nhân văn và quyền con người trong xã hội thần dân
Pháp luật thời Lý - Trần hướng đến các giá trị nhân văn và quyền con người ít nhiều đã phản ánh qua Bộ Hình thư, Hình luật thư, các các văn bản pháp luật khác của triều đình thời bấy giờ Tuy nhiên do thất truyền nguồn tư liệu
gốc, các giá trị nhân văn và quyền con người trong truyền thống văn hoá pháp lý
Việt Nam chủ yếu được nghiên cứu, tiếp cận qua luật Hồng Đức Các giá trị này
là một nét son trong đời sống pháp luật nhà nước phong kiến Việt Nam
Luật Hồng Đức còn chứa đựng nhiều yếu tố, giá trị tích cực, tiến bộ,
những quyền tối thiểu, nhưng cơ bản của con người Nhìn tổng thể, các điều
luật ở các chương trong Bộ luật Hồng Đức khẳng định, tất cả những hành vi
vi phạm đến quyền con người đều được coi là vi phạm pháp luật và đều bị nghiêm trị cho dù người vi phạm là ai đi chăng nữa (trừ nhà vua)
Trước hết, Bộ luật Hồng Đức đã đưa ra nhiều điều luật, quy phạm cụ
thể nhằm tạo ra môi trường, thể chế,… để những quyền cơ bản của con người
được tôn trọng và được bảo vệ, nhằm ràng buộc, bắt buộc tầng lớp quan lại,
người dân tuân thủ theo đúng tinh thần " bề tôi ra bề tôi", "cha ra cha, con ra con", trên dưới có trật tự,… để "tu thân" mà "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ"
Dù không tránh khỏi tính chất cứng nhắc và khắc nghiệt, nhưng rõ ràng, điều
đó đã tạo ra điều kiện, tính chất hợp lý để quyền con người được tôn trọng; các quyền được chăm sóc và được nuôi dưỡng, được bảo vệ của người già cả,
ốm yếu, người khó khăn, ông bà, cha mẹ, người trên được thực hiện Theo đó,
các tội bất hiếu, bất kính, bất nghĩa trong bộ luật này được xếp vào tội Thập
ác và bị nghiêm trị với những hình phạt rất nặng (đồ, lưu, tử hình) Như điều
475, 503, 504, … của bộ Luật này đã ghi rõ, nếu con cháu lăng mạ, tố cáo ông
bà cha mẹ, vợ tố cáo chồng (chỉ cho phép tố cáo khi ông bà, cha mẹ, chồng
phạm tội mưu phản, đại nghịch) thì bị đày đi nơi xa Điều 506 quy định, con
Trang 27cháu trái lời dạy bảo, không phụng dưỡng bề trên; con nuôi, con kế thất hiếu
với cha nuôi, cha kế bị xử tội đồ Hoặc nhiều điều khác cấm con dâu không
được chửi mắng, đánh đập, âm mưu giết ông bà, cha mẹ chồng và các hành động đánh đập anh chị, cậu dì, ông bà cha mẹ vợ, cùng chú bác, thím cô, anh
em trai, v.v Nếu phạm những tội này sẽ bị xử tội đồ, lưu;… (điều 476, 477,
478…) Bên cạnh đó, bộ Luật cũng đưa ra nhiều quy định cấm quan lại, những kẻ có chức quyền không được tự tiện quấy nhiễu nhân dân (các điều
304, 632,…); quan lại phải đảm bảo an ninh, an toàn cho dân (các điều 458,
645, 646, 647, 648, 648…), phải chăm sóc những người già cả, trẻ mồ côi, người tàn tật, thấp hèn… (các điều 294, 295,…), không được lợi dụng chức quyền để tham ô, chiếm đoạt tiền bạc, tài sản của dân, v.v
Rõ ràng, Bộ luật Hồng Đức với những điều luật của mình không chỉ nhằm bảo vệ địa vị thống trị và quyền lợi của nhà vua và giai cấp phong kiến, không chỉ duy trì và bảo vệ trật tự, kỷ cương của chế độ phong kiến, mà còn kiến tạo và duy trì một xã hội mà trong đó, những quyền cơ bản của con người, của mọi người được tôn trọng và được bảo vệ bằng pháp luật.[21]
Mặt khác, trong Bộ luật Hồng Đức, có nhiều điều luật với nhiều quy
định cụ thể đã chứng tỏ nhân phẩm con người và nhiều quyền tự do khác của con người được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ, như mọi người đều có các quyền: bình đẳng trong việc thực thi pháp luật, tự do hôn nhân, lựa chọn và bảo vệ hạnh phúc của mình, quyền được bảo vệ tính mạng, tài sản, v.v Điều
687 quy định, mọi người đều được kêu oan khi cảm thấy bị bắt bớ, giam cầm
vô cớ và khi bị xử phạt oan sai Hoặc ở các điều 206, 326, 335, 336, 338,… ghi rõ: mọi người có quyền tố cáo quan lại thu thuế trái quy định, chiếm đoạt ruộng đất, của cải, tiền bạc,… của mình, kể cả việc thu tiền của quân dân để làm lễ vật cung phụng nhà vua (điều 300)
Về quyền tự do hôn nhân, lựa chọn và bảo vệ hạnh phúc của con người, ngoài những điều luật cấm quan lại, người có quyền thế bắt ép để lấy con gái của lương dân, ngăn cấm người ngoài nài ép những người vợ thủ tiết,
Trang 28Bộ luật Hồng Đức còn đưa ra nhiều điều luật để thực hiện và bảo vệ quyền tự
do này Như điều 324 cấm anh, em, học trò lấy vợ của em, của anh, của thầy
đã chết; điều 294 quy định việc trừng trị những kẻ loạn luân, cùng tất cả những hành động gả, bán vợ cho người khác khi không được sự đồng ý của người phụ nữ Hoặc như các điều 320, 333 ghi rõ: người nào mà đã gả con gái rồi mà về sau vì thấy người chồng nghèo khổ, lại bắt con gái về thì bị xử phạt
60 trượng, biếm hai tư, người con gái đó phải bắt trở về nhà chồng Điều 315
quy định việc trừng trị tất cả những ai đã gả con gái rồi (tức đã nhận đồ sính
lễ) mà lại thôi không gả nữa thì bị phạt 80 trượng và đem gả cho người khác
mà đã thành hôn rồi thì bị xử tội đồ, người sau biết thế mà cứ lấy thì cũng bị
xử tội đồ, người con gái đó phải gả cho người hỏi trước, nếu người đó không
lấy nữa thì nhà người con gái phải bồi thường đồ sính lễ gấp đôi cho người
đó Còn điều 321 quy định, vợ cả vợ lẽ nếu tự tiện bỏ nhà chồng cũng như đi
lấy chồng khác đều bị xử tội đồ và họ cùng gia sản phải trả về cho nhà chồng
cũ Tất cả những người đàn ông nào biết mà vẫn lấy họ làm vợ đều bị xử tội
đồ Ngoài ra, các điều 308, 309, v.v còn yêu cầu người chồng phải luôn
thương yêu người vợ, phải chăm lo hạnh phúc cho gia đình Như điều 308 chỉ rõ: người chồng mà bỏ lửng vợ 5 tháng thì người vợ được trình báo với quan
sở tại và xã quan để từ đó người vợ được tự do, còn người chồng bị mất vợ;
nếu người chồng đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ thì bị tội
biếm Điều 309 quy định: Người nào mà quá say đắm với nàng hầu mà thờ ơ
với vợ thì bị xử tội biếm Bên cạnh đó, tất cả những hành vi gian dâm đều bị
nghiêm trị với khung hình phạt rất nặng
Mặc dù tuân thủ khá nghiêm ngặt những quan điểm của Nho giáo là địa vị, vai trò của người phụ nữ, người vợ bị coi thường và bị hạ thấp so với
người đàn ông, người chồng, v.v., nhưng trong Bộ luật Hồng Đức, có nhiều
điều thể hiện sự nới lỏng những ràng buộc đối với người phụ nữ, người vợ; người phụ nữ, người vợ đã ít nhiều có vai trò, quyền hạn nhất định trong việc lựa chọn, định đoạt và bảo vệ hôn nhân, hạnh phúc của mình Điều 322 quy
Trang 29định rõ ràng: người con gái nào đã hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá tán gia sản thì cho phép người con gái được kêu quan mà trả đồ lễ Ngoài ra, có nhiều điều trong bộ luật bảo đảm trong một chừng mực nhất định quyền tự do và bình đẳng của người phụ
nữ với người đàn ông, như cho phép người vợ được ly dị chồng trong một số trường hợp theo luật định; được đồng sở hữu tài sản với người chồng (nếu là tài sản chung của vợ và chồng), được quyền sở hữu tài sản riêng và một phần tài sản riêng của chồng nếu việc ly hôn không do lỗi của người vợ hoặc khi người chồng chết (điều 375); hoặc cũng như con trai, người con gái được phần thừa kế tài sản của bố mẹ để lại khi bố mẹ chết; trường hợp gia đình không có con trai thì được quyền kế thừa hương hoả (điều 391)
Rõ ràng là, nhân phẩm con người và các quyền tự do của con người được thừa nhận, bảo vệ thể hiện trong Bộ luật Hồng Đức còn là sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp và những thuần phong, mỹ tục của dân tộc
và con người Việt Nam Đây chính là một trong nhiều điểm tiến bộ của bộ luật này; do vậy, nó khác về cơ bản so với nhiều bộ luật Trung Quốc phong kiến
Song song đó, mọi người đều có quyền được sống, được chăm sóc,
được bảo vệ Đây có thể được coi là điểm nổi bật nhất, tiến bộ nhất của Bộ
luật Hồng Đức về vấn đề quyền con người.[21]
Quyền sống - một trong những quyền cơ bản của con người, Bộ luật
đã đưa ra khá nhiều điều luật thể hiện chủ trương của nhà vua, nhà nước phong kiến cùng những quy định để hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện quyền này ở hai mặt: mọi người phải có đời sống vật chất khá đầy đủ và được sống trong môi trường văn hoá lành mạnh Nhiều điều luật đã quy định, nhà vua, tầng lớp quan lại phải có trách nhiệm chăm lo và đảm bảo đời sống vật chất của người dân Theo đó, tất cả những hành động tự tiện chiếm ruộng đất, của cải, tiền bạc của dân, tự tiện thu thuế và thu thuế trái quy định của dân để làm của riêng, kể cả để làm lễ vật cung phụng nhà vua, đều vi phạm pháp luật và phải bị nghiêm trị; toàn bộ tài sản của dân bị chiếm đoạt hoặc thu sai quy định
Trang 30phải trả lại gấp đôi cho dân (các điều 181, 185, 186, 206, 300, 325, 326, 336, 338,…) Điều 325 còn hướng dẫn việc thu thuế phải công bằng; phải phân biệt người giàu, người nghèo, người khoẻ, người yếu mà thu thuế nhiều hay
ít, trước hay sau Ngoài ra, bộ luật còn đưa ra các điều luật để ngăn cấm và trừng phạt các tội tự tiện giết, bán súc vật, trâu ngựa; phá hoại hoa màu, đê điều, cầu cống,… ảnh hưởng đến công việc và đời sống của dân (các điều 573, 575,
578, 579, 580, 581, 596,…); yêu cầu quan lại địa phương phải chăm lo sửa sang đường xá, cầu cống để phục vụ tốt công việc nhà nông và cuộc sống của người dân (các điều 633, 635)
Ngoài những quy định nhằm bảo đảm đời sống vật chất cho mọi
người, trong luật còn có những quy định việc thực hiện quyền của con người được sống trong môi trường văn hoá lành mạnh Theo đó, mọi hành vi vi
phạm trật tự, kỷ cương, sự hoà mục trong gia đình, ngoài xã hội đều bị ngăn cấm và bị trừng trị Không những thế, bộ luật đã đưa ra nhiều điều ngăn cấm
và trừng trị tội nhận hối lộ, tội gian dâm, ăn mặc lố lăng càn dỡ (điều 640), tội dung nạp, chứa chấp bọn vô lại, bói toán, thầy phủ thuỷ, đồng cốt, bọn giang
hồ (điều 337); quan lại không ngăn cấm cũng như không trừng trị các hoạt động mê tín, dị đoan (các điều 332, 413, 538); tội không lùng bắt bọn trộm cướp trong địa hạt mà quan lại quản lý (điều 284) và nhiều điều luật khác khuyến khích tính trung thực, lòng vị tha của con người
Ngoài quyền sống, thì quyền được chăm sóc, được bảo vệ tính mạng
và tài sản của con người cũng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Đồng thời yêu cầu, đòi hỏi nhà vua, tầng lớp quan lại phải hết sức chăm lo cuộc sống, tính mạng của người dân, nhất là những người có hoàn cảnh đặc biệt Như điều 294 và 295 ghi rõ: Nhà nước và mọi người phải có trách nhiệm chăm sóc, nuôi nấng những người ốm đau không ai nuôi nấng, những người vô gia
cư, thấp hèn, những người tàn tật, goá vợ, goá chồng, những kẻ mồ côi, nghèo khổ không nơi nương tựa Và quy định, đối với những người này, quan sở tại phải thu nuôi mà không được bỏ rơi họ; nếu không như vậy sẽ bị nghiêm trị
Trang 31Ngoài các điều quy định về việc ngăn cấm, trừng trị các tội ngược đãi, vô cớ đánh đập, hành hạ tù nhân, giết chết hay bức tử tù nhân, xét xử oan sai, phạm tội không đáng giam cầm mà giam cầm,… như đã nói ở trên, bộ luật này còn
có những quy định, tù nhân phạm tội nếu bị thương hay ốm đau phải được chữa trị, chăm sóc (điều 663), không được tra tấn tù nhân tuổi cao hay vị thành niên (điều 665) Điều 16 còn quy định, những người từ 70 tuổi trở lên,
15 tuổi trở xuống và những người bị phế tật nếu phạm tội (trừ tội Thập ác)
đều cho chuộc tội bằng tiền; người từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống mắc tội chết đều được tha bổng Điều 17 chỉ rõ: người nào khi phạm tội chưa già cả, tàn tật đến khi già cả, tàn tật mới phát hiện thì xử tội theo luật già cả, tàn tật
và khi nhỏ mà phạm tội đến khi lớn mới phát giác thì xử tội theo luật khi còn
nhỏ Còn những người phạm tội (trừ tội Thập ác và giết người) chưa bị phát
giác mà tự thú trước đều được tha tội (điều 18) Đặc biệt bộ luật này đã đưa ra khá nhiều điều luật cho thấy, những hành vi chủ mưu, cố ý cướp của giết người, đánh đập, đe doạ đến sức khoẻ, tính mạng con người với tất cả những thủ đoạn và biểu hiện của các loại tội phạm này đều bị nghiêm trị đích đáng Theo đó, tất cả những ai tự huỷ hoại hoặc chủ mưu, cố ý huỷ hoại cơ thể mình
hoặc người khác đều bị phạt tội lưu, người nào biết mà không tố cáo, không phát giác hay chứa chấp kẻ ấy đều bị xử tội đồ (điều 305); quan lại cai quản
địa hạt của mình nếu có hổ, chó sói, lợn rừng cắn hại người dân mà không tìm
cách săn bắt thì bị tội biếm (điều 371) Hơn thế nữa, những người nào dùng
thuốc độc hại người hay bán thuốc độc (điều 421), nuôi trùng độc để hại người
cùng người dạy cách nuôi (điều 424) đều bị tội giảo (thắt cổ, chém) Còn tất cả
những hành vi cố ý làm bị thương hay giết người, kể cả kẻ chủ mưu và tòng
phạm, đều bị khép vào tội giết người và đều phải chịu hình phạt cao nhất là chém
đầu và những người nào biết mà không tố giác đều bị xử tội lưu (các điều 415,
420, từ điều 424 đến điều 428, điều 447, từ điều 474 đến điều 494…) Ngay cả những ai vì sự thù ghét mà dùng thuật tà ma, bùa chú để định giết người (dù
chưa dẫn đến chết người) cũng bị khép vào tội mưu sát và giảm nhẹ tội này hai
Trang 32bậc so với tội giết người (điều 423) Đặc biệt, các hành động giết người tàn bạo (giết tới 3 người trong một gia đình, xả thây người ta - điều 420), ăn cướp lại giết người (điều 426), ăn cướp và ăn trộm mà lại hiếp dâm thì cả kẻ chủ mưu và kẻ
tòng phạm đều bị chém bêu đầu Đồng thời, nhiều điều luật trong bộ luật này
còn ngăn cấm và trừng trị quan lại nào có những hành động không biết làm lợi cho dân mà lại làm hại, sách nhiễu, quấy nhiễu, hà hiếp dân thường,…
Như vậy, Bộ luật Hồng Đức không chỉ nhằm bảo vệ địa vị và quyền lợi
của nhà vua, giai cấp phong kiến thống trị, mà còn thừa nhận và bảo vệ những quyền cơ bản nhất của con người, mọi người Mặc dù còn có những hạn chế nhất định không thể tránh khỏi, nhưng căn cứ vào nội dung, tính chất khi đề cập đến quyền con người, có thể khẳng định rằng, Bộ luật hướng đến các giá trị nhân văn
và quyền con người nhiều giá trị và ý nghĩa tiến bộ, tích cực, đặc sắc Đặc biệt,
nó có ý nghĩa, giá trị to lớn và là một trong những kinh nghiệm quý báu không chỉ trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân; trong việc hoàn thiện và chỉ đạo việc thực hiện thành công đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về con người, quyền con người, mà còn trong việc bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hoá nhiều đạo
luật, văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay Giáo sư Olivier Oldman, chủ nhiệm
khoa Luật Đông Á, thuộc trường Luật Đại Học Harward, đã đánh giá:
Bộ luật thời Lê của nước Việt Nam truyền thống là một công trình bất hủ ở vùng đại Đông Á truyền thống Chúng ta thấy triều
Lê vào những thế kỷ đặc sắc của mình đã nỗ lực xây dựng một quốc gia vững mạnh như thế nào để bảo vệ những quyền hợp pháp của con người thông qua một hệ thống pháp luật tiến bộ, trong đó có nhiều điều đã có thể sánh ngang về mặt chức năng với những quan điểm pháp luật phương Tây cận hiện đại [28, tr.102]
Bộ luật Hồng Đức đánh dấu một trình độ phát triển cao của tư tưởng phát lí của dân tộc Đại Việt, khá hoàn chỉnh, và được các triều đại phong kiến sau này kế thừa và phát huy trong tổ chức đời sống pháp luật cho triều đại mình
Trang 33Thứ ba: Truyền thống cải cách, đổi mới, hướng đến hoàn thiện bộ máy thực thi pháp luật và đội ngũ quan lại
Nhà nước phong kiến Việt Nam, sau khi một vương triều mới được thiết lập đều tiến hành những cải cách nhất định.Thời kỳ từ năm 967 – 1009: Đây là thời kỳ trị vì của hai triều đại Đinh và Tiền Lê duy trì vương quyền bằng sức mạnh quân sự Nhược điểm của kết cấu quyền lực dựa vào sức mạnh quân sự đã bộc lộ ra bằng sự rối loạn cung đình ở cuối thời Tiền Lê sau khi Lê Đại Hành qua đời Sự phát triển của đất nước đòi hỏi một phương thức tổ chức quyền lực khác, phù hợp hơn Bắt đầu là cuộc cải cách nhà Lý
- Cải cách thời Lý: Khác với những người cầm quyền trước, Lý Thái
Tổ đã không coi quân đội là chỗ dựa duy nhất cho chính quyền trung ương mà tìm mọi cách khai thác những yếu tố thuận nằm ngay trong nền tảng kinh tế –
xã hội của Việt Nam khi đó để củng cố thiết chế tập quyền Vì vậy nhà Lý tiến hành cải cách pháp luật - Bộ Hình thư ra đời Pháp luật thời Lý bảo vệ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất – chế độ ruộng đất công làng xã, cả sở hữu tư nhân về ruộng đất, tổ chức việc đắp đê trên qui mô lớn, khắc phục được tình trạng lụt lội vào mùa mưa lũ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp, thực hiện chính sách ngụ binh ư nông (gửi lính ở nhà nông) Nhà Trần thành lập vào năm 1225 vẫn tiếp tục phát huy thành tựu cải cách pháp luật từ thời Lý như về mối quan hệ giữa nhà nước với làng xã, phát triển nông nghiệp, chính sách ngụ binh ư nông…Đặc biệt nhà Trần đặt ra chức quan Hà đê sứ để trông coi việc trị thuỷ và sản xuất nông nghiệp Dưới nhà Trần, tổ chức chính quyền và quy chế hành chính đươc xác định rõ ràng trong Quốc triều thông chế và Quốc triều thường lễ, ghi chép sự việc của triều đình, quan lại bắt đầu có lương Qua đó, truyền thống cải cách được kế thừa
từ cải cách pháp luật thời Lý, thời Trần phát huy bằng việc bổ sung quy chế hành chính và chế độ cho quan lại
- Cải cách thời Hồ: Trước sự sa đoạ của tầng lớp quý tộc nhà Trần, đời sống nhân dân cơ cực, nhà nước trung ương tập quyền suy yếu, Hồ Quý
Trang 34Ly tiến hành cải cách đất nước Về chính trị, ông loại bỏ tầng lớp quý tộc nhà Trần ra khỏi bộ máy chính quyền trung ương, thay vào đó là những nho sĩ có
tư tưởng cải cách như như Phạm Cự Luận, Phạm Đà Phương Về quân sự, ông cải tiến vũ khí, chế tạo được súng thần cơ, là loại đại bác đầu tiên ở nước
ta [35, tr.79], lập kho vũ khí, đóng tàu chiến, cũng cố quân đội Về kinh tế thực hiện chính sách “hạn điền”, “hạn nô” nhằm phân phối lại đất đai và phát triển nông nghiệp, đặt chính sách thuế mới, phát hành tiền giấy Về văn hoá,
Hồ Quý Ly đề cao chữ Nôm, sữa đổi hình thức thi cử, triều đình sát hạch
trước khi trước khi bổ dụng quan lại [35, tr.83] Năm 1401, Hồ Hán Thương
định Đại Ngu quan chế hình luật, nhưng đến hiện nay chưa có tài liệu nào cho
ta biết rõ nội dung hình luật ấy [38, tr.81] Tuy nhiên năm 1006, 50 vạn quân Minh sang xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo thất bại,
đã làm kết thúc cộng việc cải cách còn đang dở dang của nhà Hồ
- Cải cách thời Lê sơ: Sau khi Lê Thái Tổ ra đời, các vua kế vị: vua Thái Tông, Nhân Tông lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi, không đủ khả năng kiềm chế tình trạng mâu thuẩn nội bộ, giết hại lẫn nhau Các công thần khai quốc lần lượt bị giết như Lưu Nhân Chú, Nguyễn Trãi, Trịnh Khả…Tình trạng quan lại lộng quyền, tham nhũng thường xuyên xảy ra Lê Thánh Tông đã nhận xét " Khoảng năm Thái Hòa, Diên Ninh (thời Thái Tổ, Nhân Tông) trên thì tể tướng, dưới đến trăm quan, mưu lợi lẫn nhau, bừa bãi hối lộ" [35, tr.87] Thực trạng đó làm cho nhà nước suy yếu dần Hơn nữa, cơ cấu kinh tế - xã hội của nhà nước, làng xã còn mang tính tự trị, tự quản ngày càng cao, trực tiếp nắm quyền quản lý và phân chia ruộng đất trong làng xã Từ đó làm ảnh
hưởng đến quyền lực kinh tế của chính quyền trung ương Nhà nước trung
ương cần có bệ đỡ kinh tế là chế độ công hữu ruộng đất
Từ những yếu tố trên, ngoài việc cải cách kinh tế, hài hoà lợi ích giữa nhà nước và làng xã, Lê Thánh Tông tiến hành cải cách toàn diện, trong đó chú trọng hoàn thiện pháp luật (pháp điển hoá pháp luật) đồng thời với cải bộ máy nhà nước và đội ngũ quan lại nói chung và quan lại trông coi pháp luật nói riêng để giải quyết những vấn đề trên
Trang 35+ Về bộ máy nhà nước: Lê Thánh Tông trước tiên bãi bỏ các quan chức
trung gian giữa vua và bộ phận thừa hành, đó là Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn hạ sảnh…Vua trực tiếp nắm toàn quyền kể cả quyền tổng chỉ huy quân đội Giúp việc có các đại thần như Thái sư, Thái phó, Thái bảo…Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương là 6 Bộ Giúp việc 6 Bộ là 6 Tự Giám sát, thanh tra hoạt động các quan ở 6 Bộ có 6 Khoa và Ngự sử đài Chính quyền địa phương có đạo, phủ, châu, huyện, xã Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí - Quan chức chí đã viết: Quan lại trong bộ máy nhà nước " các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng giữ gìn nhau, lẽ phải của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước không đến lung lay, không có lầm lỗi làm trái nghĩa, phạm hình"
+ Về đào tạo quan lại: Năm 1462, Thánh Tông đặt lệ "bảo kết thi Hương"quy định rõ thủ tục giấy tờ của những người ứng thí Sau đó, cứ 3 năm,
nhà nước mở 1 kì thi Nhà Lê sơ còn khuyến khích việc học tập thi cử bằng cách
đặt lệ xướng danh, treo bảng, ban mũ, áo, phẩm tước, dựng bia tiến sĩ và lệ vinh quy bái tổ Những biện pháp nói trên đã góp phần quan trọng phát triển giáo dục trong nước Có thể xem thời Lê sơ, đặc biệt là triều vua Lê Thánh Tông là thời phát triển cực thịnh của giáo đục thi cử phong kiến Tính riêng trong 38 năm dưới triều vua Lê Thánh Tông, nhà nước đã mở 12 khoa thi Hội, lấy đỗ 501 tiến
sĩ, trong đó có 9 trạng nguyên, chiếm gần 1/5 tiến sĩ Nho học cả nước và gần 1/3
số trạng nguyên (tính từ khoa thi Nho học đầu tiên thời Lý đến khoa thi năm
1919 có khoảng 2.335 tiến sĩ, 30 trạng nguyên) [60, tr.256]
+ Về cơ chế kiểm soát quan lại: Các quan chức ở cấp châu, huyện phải
là những người đã " có chân thi hội (Tiến sĩ) đỗ tam trường", cấp xã phải " xét những người biết chữ, có tài cán mới được bổ nhiệm Nếu không biết chữ thì cho nghỉ" Nếu " những người ỷ thế nhà quyền quí để cầu cạnh xin quan tước thì xử tội biếm hoặc đồ"… Quan lại từ địa phương này đến quản lý địa phương khác, Nhà nước ngăn cấm việc lấy vợ là người ở địa phương nơi làm quan " các quan ty ở trấn ngoài mà lấy đàn bà con gái ở trong hạt mình, thì
Trang 36xử phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức" (Điều 316 Bộ luật Hồng Đức); quan lại ở biên trấn không thông gia với tù trưởng ở vùng đó (Điều 316 Bộ luật Hồng Đức)…hình thành nên luật hồi tỵ
Hồi tỵ là một từ Hán Việt cổ, "hồi" là đi trở về; "tỵ" là lánh ra Hồi tỵ nghĩa là tránh ra, hay lánh đi Luật Hồi tỵ là một nguyên tắc quan trọng trong
tổ chức bộ máy chính quyền thời phong kiến Lê sơ, bắt đầu được đặt ra từ thời vua Lê Thánh Tông Luật quy định:
- Quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản;
- Không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm;
- Quan lại không được tậu đất, vườn ruộng, nhà tại nơi cai quản;
- Quan lại không được lấy người cùng quê làm người giúp việc;
- Người có quan hệ thầy trò, bạn bè không được làm việc tại cùng một công sở
+ Về bổ nhiệm quan lại: Quan lại phải qua khảo khóa để thăng, giáng, chuyển ngạch Từ thời Lý, Trần, lệ khảo khóa đã có, nhưng chưa rõ ràng, quy
củ Đến thời Lê Thánh Tông, lệ khảo khóa trở nên rõ ràng: cứ 3 năm một lần
sơ khảo, đến 9 năm thì thông khảo (xét toàn bộ) một lần nữa mới định việc thăng giáng Trong các lần khảo khóa, vấn đề liêm khiết luôn luôn là tiêu chí
hàng đầu - "…xét kỹ các quan trong bộ thuộc, hoặc có người liêm hay tham,
siêng hay lười" - như sắc dụ của vua Lê Thánh Tông vào năm 1478 cho các quan Đô, Thừa, Hiến ty Trong các lần khảo khóa, các cơ quan giám sát, các trưởng quan ở các cơ quan, các địa phương không chỉ xem xét báo cáo của các quan cấp dưới, mà còn xem xét cả dư luận trong nhân dân Nếu làm quan được dân mến thì tiếp tục giữ chức vụ, nếu tham ô, nhũng nhiễu, dân ghét, xem là không làm tốt phận sự [6, tr.567 -569]
+ Về quan trông coi pháp luật: Quan lại trông coi pháp luật nhà Lê sơ gọi là hình quan
Trang 37Hình quan là chức quan trọng, phải chọn người có sở trường Quan ở các ty Hình bộ, không kể nha hay lại, nếu tài năng, kiến thức nông cạn, không am hiểu hình danh thì phải lựa thải ra, làm bản tâu lên, giao cho Lại bộ đổi chức khác, rồi chọn các quan đủ hai kỳ khảo khóa trở lên đã thi đỗ và có tài năng, kiến thức cùng những người do lại viên xuất thân mà đã từng trãi việc hình danh để bổ vào đó [64, tr.483] Qua đó, Tiêu chuẩn của các quan lại trông coi pháp luật phải có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm làm việc và qua thi tuyển, Không đáp ứng được tiêu chuẩn thì đổi ngay Đầu năm Ất dậu (1465) vua lệnh cho triều thần chia Ngũ hình viện - cơ quan trông coi việc xét kiện làm ba loại: loại một gồm những người xét kiện không oan ức thì được khen thưởng, cất nhắc; loại hai
là những người xử kiện bình thường được giữ lại làm việc; loại thứ ba gồm những người làm việc " hèn kém" thì chuyển công việc khác Tháng 2 năm Đinh Hợi (1467) quan bộ Hình là Phạm Nại và Đoàn Văn Thông xử oan nhiều vụ, vua Lê Thánh Tông đã sai Thượng thư Nguyễn Như Đỗ " Chọn lấy người nhân hậu, khoan thứ sáng suốt, công bằng ở các nha môn trong ngoài
để thay" [64, tr.434] " Triều thần phải công bằng mà lựa chọn hoặc sa thải hình quan và quan thừa hiến phủ huyện các xứ để được người giỏi, xét xử đúng lẽ; phải tâu lên để thi hành" [64, tr.482 - 483] Đặc biệt, Lê Thánh Tông cho phép quan lại của Bộ Hình và các quan pháp luật ở các thừa tuyên (như cấp tỉnh ngày nay) tiến cử người qua hai lần khảo khóa trở lên, liêm khiết, từng trãi, am hiểu hình danh (tiêu chuẩn làm quan trông coi pháp luật) cho Bộ Lại xem xét, đủ tiêu chuẩn thì bổ nhiệm Đồng thời người nào vì tình riêng hay vì tiền bạc mà tiến cử không đúng sẽ bị trị tội theo pháp luật [64, tr.508] Không những thế, tháng 11 năm Giáp thìn (1484), nhà vua còn quy định viên quan nào tiến cử người khác phải ghi rõ tài năng, kiến thức và sự thanh liêm, sau này nếu người đó mắc tội bỉ ổi, tham lam, không làm được việc thì tâu lên
để xét xử viên quan tiến cử đó [12, tr.173] Tháng 11 năm Tân Hợi (1491), vua định lệ " Quan lại ở Hình bộ người nào mắc tội lười biếng, gian tham, buông tuồng phóng túng thì làm bản tâu lên theo luật mà trị tội [64, tr.513]
Trang 38+ Chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy nhà nước: Bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ là Bộ luật hoàn chỉnh nhất, quy định chống tham nhũng mạnh
mẽ nhất thời phong kiến Trong 722 điều của Bộ luật Hồng Đức thì có trên 40 điều có nội dung chống tham nhũng Điều 138 quy định: "Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ một đến 9 quan thì bị xử tội biếm hay bãi chức, từ 10 đến 19 quan thì bị xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém….những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho" [66, tr.75,76] Như vậy, chỉ tham nhũng 1 quan tiền đã bị cách chức, 20 quan tiền bị tử hình cho thấy phép nước thời ấy rất nghiêm minh Vua Lê Thánh Tông, năm 1481 đã xuống chiếu: Chọn thải bớt quan
và bổng lộc Phàm quan viên nhiều quá, phí hại lương lộc Quan viên nào đã từng phạm các tội hối lộ thì bắt phải thôi việc, để " triệt những quan tham nhũng cho bớt lộc" Tháng 8 năm Quý Mão (1483), Lê Thánh Tông ân xá cho các tù nhân, nhưng những người mắc tội tham nhũng, hối lộ thì không ân xá [12, tr.173]
- Cải cách thời Quang Trung: Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung cải cách kinh tế bằng “ chiếu khuyến nông”; về chính trị, chọn người tài đưa vào
bộ máy nhà nước như Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhậm…, về văn hoá, đề cao chữ Nôm…Tuy nhiên về mặt thực hiện, gặp nhiều khó khăn, thời gian thực hiện quá ngắn Quang Trung chết, triều Quang Toản bất lực, không thực hiện tiếp tục được chiến lược cải cách
- Cải cách thời Nguyễn: Đến thời Nguyễn, khi chế độ phong kiến Việt Nam đang trên đà suy thoái, vua Minh Mạng đã tiến hành cải cách hành chính, kinh tế Song với Bộ luật Gia Long hà khắc, mang tính chuyên chế trừng trị, quan lại thì nhũng nhiễu, ức hiếp dân, nên cuộc cải cách đó không thực hiện đồng bộ Kết quả của nó như một liều thuốc tăng lực cho một cơ thể đang trên đà hấp hối
Tóm lại, có thể nói đời sống pháp luật nhà nước phong kiến Việt Nam
có truyền thống cải cách, đổi mới Có những cuộc cải cách tác dụng tích cực,
thúc đẩy sự phát triển cua đất nước, điển hình cuộc cải cách thời Lê Thánh
Trang 39Tông Cũng có những cuộc cải cách thất bại, như cuộc cải cách của Hồ Quý
Ly, cuộc cải cách không có tác dụng tích cực của tiến trình đi lên của đất nước, dân tộc mà còn làm cho nó trị trệ, lạc hậu như cuộc cải cách hàng chính
thời Minh Mạng [35, tr.135] Trong tất cả các cuộc cải cách, vấn đề cải cách, đổi
mới, hướng đến hoàn thiện bộ máy thực thi pháp luật và đội ngũ quan lại luôn được chú trọng hàng đầu, nhất là thời Lê sơ Trong thời kỳ cai trị của mình, nhờ hoàn thiện đội ngũ quan lại, Lê Thánh Tông đã xây dựng được một bộ máy quan liêu hoàn bị tới mức như đánh giá của nhà sử học E O.Berzin là: “Có trình độ chuyên môn cao hơn hẳn so với các nước khác ở khu vực Đông Nam Á và thậm chí ngay cả ở phương Tây thời trung cổ cũng không biết tới một chính quyền với các cơ quan chức năng hoàn chỉnh đến như vậy” [15, tr.233];
Đặc biệt thời Lê sơ rất quyết tâm chống tham nhũng bằng việc áp dụng đồng loạt nhiều biện pháp như: cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ quan lại, nhất là quan trông coi pháp luật; thực hiện chế độ đãi ngộ và lương bổng cho quan lại thông qua lộc điền và bổng lộc; thực hiện chế độ khảo khóa nghiêm cẩn để chọn người tài, tạo điều kiện tối đa để nhân tài tham gia vào bộ
máy công quyền; có pháp luật ngăn ngừa quan lại phạm pháp (Luật hồi tỵ)
Thứ tư: Truyền thống pháp điển hóa pháp luật
Xã hội Việt Nam trong suốt một giai đoạn dài hơn mười thế kỷ đã rơi vào nạn Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Hán đến Đường lần lượt chiếm đoạt, nô dịch đất nước và con người Việt Nam Năm 938, khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam mới bắt đầu thời kỳ độc lập lâu dài Ngô, Đinh, Lê là ba triều đại độc lập, tự chủ đầu tiên, nhưng chỉ tồn tại được trong thời gian rất ngắn: Nhà Ngô 5 năm (939-944); nhà Đinh 12 năm (968-980); còn nhà Tiền Lê là 19 năm (981-1009) Tuy về công việc lập pháp chưa làm được gì nhiều, nhưng chắc chắn trong việc điều hành, quản lý xã hội, các triều đại này cũng đã dùng đến pháp luật, nhưng đó chủ yếu chỉ là những quy định có tính nhất thời, tình thế
Trang 40Hình thư đời Lý - Bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam, đã mở ra thời kỳ trở thành truyền thống pháp điển hóa pháp luật Việt Nam Năm 1009,
Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý (1009-1225) Sang đời Lý, nhất là trong khoảng thế kỷ XI, công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập Chính quyền trung ương tập quyền được củng cố; kinh tế phát triển, địa vị của nước Đại Việt so với các quốc gia láng giềng được nâng cao; hoạt động lập pháp của triều Lý bắt đầu được đẩy mạnh Năm
1042 (Minh Đạo nguyên triều), vua Lý Thái Tông - đời vua thứ hai của triều
Lý cho san định luật lệnh, ban hành Bộ Hình thư cho một triều đại Cùng với
những văn bản pháp điển hoá, theo Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến
chương loại chí, năm 1230, vua Trần định thể lệ làm ra các sách chép về việc
hình Năm 1244, lại định hình luật một lần nữa Năm 1341, vua Trần Dụ Tông giao cho Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu cùng soạn ra “Hình luật thư” để ban hành Lên ngôi sau chiến thắng quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi nhận thức được vai trò pháp luật trong việc trị nước, trong việc thiết lập lại kỷ cương, trật tự xã hội bị đảo lộn sau một thời gian kéo dài thấy sự cần thiết phải xây dựng ngay một hệ thống pháp luật Đầu năm 1428, ông giao việc xây dựng pháp luật cho các quan tư không, tư đồ, tư mã, thiếu úy, hành khiển Ông khẳng định: "Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, người
mà không có phép để trị thì loạn Cho nên học tập đời xưa đặt ra pháp luật, để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ, biết thế nào là thiện,
là ác, điều thiện thì làm, điều ác thì tránh, chớ có phạm pháp" [63, tr.292] Do nhu cầu phát triển của chế độ trung ương tập quyền đến đỉnh cao, các hoạt động lập pháp của nhà Lê sơ rất phong phú, thể hiện ở nhiều mặt, được đặc biệt tăng cường dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Năm 1843, Lê Thánh Tông sai sưu tập tất cả các điều luật đã ban hành rồi bổ sung thêm và hệ thống hóa, xây dựng thành Bộ luật Hồng Đức Đây là công trình pháp điển hóa lớn