Thế nào là đầu tư phát triển? Ý nghĩa của đầu tư phát triển trong nền kinh tế như thế nào? Đó là một câu hỏi có rất nhiều câu trả lời khác nhau.
Trang 1Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
I.Đầu tư phát triển và đặc điểm của đầu tư phát triển 3
1.Khái niệm đầu tư,đầu tư phát triển 3
2.Đặc điểm của đầu tư phát triển 4
2.1Quy mô tiền vốn,vật tư,lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn 4
2.2 Thời kỳ đầu tư kéo dài 4
2.3.Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài 5
2.4.Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,do đó,quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên,kinh tế,xã hội vùng 6
2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao 6
3.Ảnh hưởng của đầu tư phát triển đến công tác quản lý đầu tư 7
3.1Ảnh hưởng của đặc điểm thứ nhất đến công tác quản lý đầu tư 7
3.2Ảnh hưởng của đặc điểm thứ hai đến công tác quản lý đầu tư 8
3.3 Ảnh hưởng của đặc điểm thứ ba đến công tác quản lý đầu tư 8
3.4 Ảnh hưởng của đặc điểm thứ tư đến công tác quản lý đầu tư 11
3.5 Ảnh hưởng của đặc điểm thứ năm đến công tác quản lý đầu tư 11 II.Thực trạng của đầu tư phát triển và tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác đầu tư ở Việt Nam từ 1998 đến nay 12
1.Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam 12
1.1.Huy động vốn cho đầu tư phát triển 12
1.2.Huy động nguồn nhân lực cho đầu tư phát triển 16
2.Thực trạng về quản lý đầu tư ở Việt Nam 24
3.Tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác đầu tư ở Việt Nam hiện nay 25
3.1.Tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hiện nay 25
3.2 Đánh giá thực trạng sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển vào công tác quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam 29
KẾT LUẬN 46
Tài liệu tham khảo 47
Trang 3Lời mở đầu
Thế nào là đầu tư phát triển? Ý nghĩa của đầu tư phát triển trong nền kinh
tế như thế nào? Đó là một câu hỏi có rất nhiều câu trả lời khác nhau Nềnkinh tế Việt Nam kể từ ngày chuyển từ kinh tế tập trung sang nền kinh tế thịtrường có nhiều biến đổi vô cùng to lớn Điêù này không có thể ai phủ nhận.Đời sống của người dân không ngừng được nâng cao,chúng ta đă đần thoátkhỏi giai đoạn khó khăn, sản phẩm hàng hoá trên thị trường ngày càng đadạng Những kết quả trên có được là có sự đóng góp vô cùng lớn lao của hoạtđộng đầu tư phát triển Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và thực hiệnmục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vấn đề đầu tư phát triển luôn
là vấn đề được quan tâm hàng đầu.Vi chỉ cần một hướng phát triển sai lầmhậu quả sẽ vô cùng to lớn làm cho nứơc tụt hậu hơn Vì vậy chúng ta phảinghiên cứu thật kĩ các đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển và ý nghĩacủa nó trong quản lí kinh tế để có hướng đúng đắn cho hoạt động đầu tư pháttriển, làm cho nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển và đạt đượcnhững mục tiêu mà Đảng và nhà nước đã đạt ra
Sau đây là nội dung đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển, sự quántriệt những đặc điểm trong hoạt động quản lí kinh tế
Trang 4I.Đầu tư phát triển và đặc điểm của đầu tư phát triển
1.Khái niệm đầu tư,đầu tư phát triển
Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đónhằm thu về, đem lại I.Đầu tư phát triển và đặc điểm của đầu tư phát triển lợiích cho chủ đầu tư trong tương lai
Đầu tư là một hoạt động kinh tế của đất nước; một bộ phận của hoạt độngsản xuất kinh doanh của cơ sở, một vấn đề trong cuộc sống được mọi giađình, mọi cá nhân quan tâm khi có điều kiện nhằm tăng thu nhập và nâng caođời sống vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình
Bản chất thuật ngữ “đầu tư” là sự bỏ ra, sự chi phí, sự hy sinh và hoạtđộng đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh sự chi phí các nguồn lực (tiền, của cải vậtchất, sức lao động, ) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt đượcnhững kết quả lớn hơn (các chi phí đã bỏ ra) trong tương lai (như thu về được
số tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra, có thêm nhà máy, trường học, bệnh viện, máymóc thiết bị, sản phẩm được sản xuất ra, tăng thêm sức lao động bao gồm cả
số lượng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sức khoẻ)
* Đầu tư phát triển
Xét về bản chất chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đóngười có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo
ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lựcsản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạoviệc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Đó chính là việc
bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trangthiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thựchiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản nàynhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ
Trang 5sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hộicủa đất nước
Tóm lại đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốnhiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tàisản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vìmục tiêu phát triển
2.Đặc điểm của đầu tư phát triển
2.1Quy mô tiền vốn,vật tư,lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung vốn đầu tưphát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để tạo ra nănglực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các khoản đầu
Mặt khác, các dự án đầu tư cũng cần một số lượng lao động rất lớn, đặcbiệt là các dự án trọng điểm quốc gia
2.2 Thời kỳ đầu tư kéo dài
Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi
dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Do quy mô các dự án đầu tư thườngrất lớn nên thời gian hoàn thành các dự án thường tốn rất nhiều thời gian, cókhi tới hàng chục năm như các công trình thuỷ điện, xây dựng cầu đường
Trang 6Thời gian thực hiện các dự án đầu tư dài kéo theo sự ảnh hưởng đến tiến
độ nghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng, do đó có thể làm giảm hiệu quảđầu tư, thời gian thu hồi vốn chậm.Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro cũngnhư chi phí đầu tư lại càng lớn, hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp.Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quátrình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hànhphân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểmtừng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch vốn đầu tư, khắcphục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm hạn chếthấp nhất những mặt tiêu cực có thể xảy ra trong thời kỳ đầu tư
2.3.Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạtđộng cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình.Các thành quả củahoạt động đầu tư có thể kéo dài hàng chục năm hoặc lâu hơn thế như Vạn lýtrường thành ở Trung Quốc, nhà thờ và đấu trường La Mã ở Italia trong quátrình vận hành các kết quả của đầu tư phát triển chịu tác động cả hai mặt, tíchcực và tiêu cực của nhiêù yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội Do đó,yêu cầu đặt ra đối với công tác đầu tư là rất lớn, nhất là về công tác dự báo vềcung cầu thị trường sản phẩm đầu tư trong tương lai, quản lý tốt quá trình vậnhành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư đưa vào sử dụng, hoạt động tối đacông suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao mòn vô hình, chú ý đến cả
độ trễ thời gian trong đầu tư Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến côngtác quản lý hoạt động đầu tư
Trang 72.4.Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,do đó,quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên,kinh tế,xã hội vùng
Các điều kiện tự nhiên của vùng như khí hậu, đất đai có tác động rấtlớn trong việc thi công, khai thác và vận hành các kết quả đầu tư Đối với cáccông trình xây dựng, điều kiện về địa chất ảnh hưởng rất lớn không chỉ trongthi công mà cả trong giai đoạn đưa công trình vào sử dụng, nếu nó không ổnđịnh sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất lượng công trình Tình hình pháttriển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra quyết định và quy môvốn đầu tư Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc thựchiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình độ văn hóa
2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnhhưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý củakhông gian Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gianvận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt độngđầu tư phát triển thường rất cao, nhiều vấn đề phát sinh ngoài dự kiến buộccác nhà quản lý và chủ đầu tư cần phải có khả năng nhận diện rủi ro cũng nhưbiện pháp khắc phục kịp thời Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả trươchết cần nhận diện rủi ro Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư,các rủi ro
về thời tiết ví dụ như trong quá trình đâu tư gặp phải mưa bão, lũ lụt làmcho các hoạt động thi công công trình đều phải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đếntiến độ và hiệu quả đầu tư Các rủi ro về thị trường như giá cả, cung cầu cácyếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra thay đổi, ví dụ như do thông tin trong sữaTrung Quốc có chất gây bệnh sỏi thận mà cầu về sữa giảm sút nghiêm trọng,hoạt động đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất chế biến sữa của một số doanh
Trang 8nghiệp vỡ thế cũng bị ngưng trệ Ngoài ra quỏ trỡnh đầu tư còn thể gặp rủi ro
do điều kiện chớnh trị xó hội khụng ổn định Khi đó nhận diện được cỏc rủi ronhà đầu tư cần xõy dựng cỏc biện phỏp phòng chống rủi ro phự hợp với từngloại rủi ro nhằm hạn chế thấp nhất tỏc động tiờu cực của nú đến hoạt động đầutư
3.Ảnh hưởng của đầu tư phỏt triển đến cụng tỏc quản lý đầu tư
3.1Ảnh hưởng của đặc điểm thứ nhất đến cụng tỏc quản lý đầu tư
Vốn đầu t lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu t Quy mô vốn đầu t lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp
lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch kế hoạch đầu t đúng đắn, quản lý chặtchẽ tổng vốn đầu t, bố trí vốn theo tiến độ đầu t, thực hiện đầu t trọng tâm ,trọng điểm
Nguồn vốn huy động cho dự án có thể do ngân sách nhà nớc cấp phát ,ngân hàng cho vay, vốn góp cổ phần, vốn liên doanh do các bên liên doanhgóp, vốn tự có hoặc vốn huy động từ các nguồn khác Để đảm bảo tiến độthực hiện đầu t của dự án ,vừa để tránh ứ đọng vốn nên các nguồn tài trợkhông chỉ xem xét về mặt số lợng mà về cả thời điểm nhận đợc tài trợ Cácnguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn Sự đảm bảo này thể hiện ởtính pháp lí và cơ sở thực tế của các nguồn vốn huy động
Lao động sử dụng cho các dự án là rất lớn, đặc biệt với các dự án trọng
điểm quốc gia Do đó công tác quản lý đầu t cần chú ý đến công tác tuyển
dụng, đào tạo và sử dụng, đãi ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trớc sao cho
đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu t, đồng thời, hạnchế đến mức thấp nhất những ảnh hởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra
nh việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôi d
3.2Ảnh hưởng của đặc điểm thứ hai đến cụng tỏc quản lý đầu tư
Thời kỳ đầu t tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoànthành và đa vào hoạt động Nhiều công trình kéo dài hàng chục năm Vì vậytrong công tác quản lý đầu t ta cần chú ý thực hiện :
Xây dựng lịch trình thực hiện dự án
Trang 9Hoạt động đầu t phát triển là hoạt động rất phức tạp, làm nhiều công việc
từ khâu chuẩn bị cho đến khi đa thành quả vào khai thác do đó mà thời kì đầu
t thờng kéo dài Lập lịch trình của dự án đảm bảo cho dự án rút ngắn đợc thờigian đa dự án đi vào hoạt động thực hiện đúng tiến độ theo kế hoạch đề ra
Đồng thời là căn cứ quan trọng để bố trí vốn đầu t hợp lí theo từng hạng mụccông trình, thực hiện phân kì đầu t dứt điểm từng hạng mục công trình tránhtình trạng vốn nằm ứ đọng không sinh lời
Trong giai đoạn thực hiện đầu t dựa trên giai đoạn chuẩn bị đã làm đợcchi tiết và rõ ràng Giai đoạn này cần tuân thủ đúng lịch trình của dự án.Trong giai đoạn này gồm cơ bản các bớc thực hiện sau đây: hoàn tất các thủtục để triển khai thực hiện dự án, thiết kế và lập dự toán thi công xây dựngcông trình, thi công xây lắp, nghiệm thu và đa vào vận hành thử Trong giai
đoạn này vốn nằm ứ đọng không sinh lời, các công trình máy móc nguyên vậtliệu chịu sự tác động của tự nhiên dẫn đến hao mòn về mặt lí hóa Do đó tronggiai đoạn này cần phải nhanh chóng thực hiện xong nhng vẫn phải đảm bảochất lợng công trình Tiến hành giải ngân vốn hoàn tất dứt điểm từng hạngmục công trình Trong giai đoạn này cần phải có sự phân kì đầu t một cáchkhoa học
3.3 Ảnh hưởng của đặc điểm thứ ba đến cụng tỏc quản lý đầu tư
Thời gian vận hành cỏc kết quả đầu tư tớnh từ khi cụng trỡnh đi vào hoạtđộng cho đến khi hết thời gian sử dụng và đào thải cụng trỡnh Vận hành khaithỏc kết quả đầu tư, mục tiờu của dự ỏn cú đạt được hay khụng phụ thuộc trựctiếp vào giai đoạn này
Nếu như cỏc kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tớnhđồng bộ, giỏ thành thấp, chất lượng tốt, đỳng tiến độ, tại địa điểm thớch hợp,với quy mụ tối ưu thỡ hiệu quả đầu tư của cỏc kết quả này và mục tiờu của dự
ỏn chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quỏ trỡnh quản lý hoạt động cỏc kết quả đầu
tư Làm tốt cụng việc của giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư tạothuận lợi cho quỏ trỡnh tổ chức quản lý phỏt huy tỏc dụng của cỏc kết quả đầu
tư Vận hành kết quả đầu tư là quỏ trỡnh sản xuất kinh doanh và dịch vụ Quỏtrỡnh này trải qua cỏc giai đoạn: sử dụng chưa hết cụng suất, sử dụng cụng
Trang 10suất ở mức cao nhất, công xuất giảm dần và kết thúc dự án Các giai đoạn đógắn liền với chu trình sống của sản phẩm do dự án tạo ra Để sản xuất kinhdoanh dịch vụ đạt kết quả tốt thực hiện được mục tiêu của dự án thì nổi bậtlên vai trò quan trọng trong công tác tổ chức quản lý vận hành.
Có thể nói công tác tổ chức quản lý giữ vai trò quan trọng trong quátrình hình thành và thực hiện dự án đầu tư Xuyên suốt các giai đoạn kể từ khixuất hiện cơ hội đầu tư cho đến khi dự án đi vào thi công và đưa vào chínhthức hoạt động vai trò của nó ngày càng rõ nét và cuối cùng hình thành một
bộ máy quản lý chỉ đạo toàn bộ hoạt động của dự án Do giai đoạn vận hành
và khai thác là giai đoạn mà hiệu quả khai thác nguồn lực được thể hiện rõ nét
và phụ thuộc nhiều vào năng lực tổ chức, quản lý và điều hành Để thích ứngvới đặc điểm trên, công tác quản lý hoạt động đầu tư cần quán triệt một số nộidung cơ bản sau:
Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học ở cấp
vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư trong tươnglai ,dự kiến khả năng cung hàng năm và toàn bộ vòng đời dự án Nếu như sảnphẩm không có toàn bộ thông tin về nhu cầu thị trường thì hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp sẽ không được đảm bảo theo đúng quy luậtcung - cầu , đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay của nước ta Mặckhác nếu như việc dự báo không được khoa học và chính xác thì hoạt độngcủa doanh nghiệp có thể sẽ bị mất phương hướng
Thứ hai , quản lý tốt quá trình vận hành nhanh chóng đưa các thành quảhoạt động đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất, nhanh chóng thuhồi vốn đầu tư tránh hao mòn vô hình Đồng thời tuân thủ chiến lược về côngsuất, sử dụng công suất ở mức thấp để đối phó với những thay đổi của thịtrường.Vì trong giai đoạn đầu này sản phẩm mới được tung ra thị trường cần
có thời gian để sản phẩm thích ứng với người tiêu dùng Phần nữa do máy
Trang 11móc mới được đưa vào sử dụng cần phải hoạt động dưới mức công suất đểđảm bảo cho máy móc lâu bền và cũng cần thời gian để người công nhân laođộng quen với tay nghề
Sau khi qua giai đoạn này, cần nhanh chóng sử dụng hết công suất đểtránh hao mòn vô hình, chiếm lĩnh thị trường Giai đoạn này nhà đầu tư cốgắng duy trì trong một thời gian càng dài càng tốt, kéo dài chu kì sống của sảnphẩm Nâng cao công tác quản lí hoạt động sản xuất kinh doanh như đẩymạnh công tác nghiên cứu thị trường, tăng cường tìm kiếm đối tác mở rộngthị trường, sử dụng quảng cáo, tiếp thị sản phẩm
Đến khi chu ki sống của sản phẩm kết thúc chủ đầu tư cần phải dự báođược Chu kì của sản phẩm kết thúc khi có những dấu hiệu cơ bản sau: sốlượng sản phẩm tiêu thụ giảm xuống một cách rõ rệt giá thị trường của sảnphẩm giảm dẫn tới sự giảm sút của doanh thu và lợi nhuận, sự xuất hiện nhiềusản phẩm cùng loại trên thị trường nhưng mẫu mã, chất lượng vượt trội Khi
đó chủ đầu tư phải nhanh chóng cắt giảm sản lượng, giảm công suất, chuẩn bịmọi điều kiện cần thiết để kết thúc thanh lý dự án Nhà quản lý muốn nắm bắttốt được thời điểm của thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanhphù hợp thì đòi hỏi phải quản lý quá trình vận hành theo một trình tự và mộtphương pháp khoa học Đồng thời cũng đòi hỏi một khả năng nhạy bén sắcsảo của đội ngũ bộ máy quản lý
Thứ ba, phải chú ý đúng mức đến độ trễ thời gian trong đầu tư Đầu tưtrong năm nay nhưng thành quả đầu tư có thể phát huy tác dụng chỉ từ nhữngnăm sau và kéo dài trong nhiều năm Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến công tácquản lý hoạt động đầu tư
3.4 Ảnh hưởng của đặc điểm thứ tư đến công tác quản lý đầu tư
Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng
sẽ hoạt động ngay tại nơi nó được tạo dựng nên.Do đó, các yếu tố về địa
Trang 12hỡnh,địa chất,sẽ ảnh hưởng khụng chỉ tới quỏ trỡnh thực hiện đầu tư mà cònảnh hưởng tới cả quỏ trỡnh vận hành khai thỏc sau này
Khụng thể dờ̃ dàng di chuyển cỏc cụng trỡnh đó đầu tư từ nơi này sangnơi khỏc nờn cụng tỏc quản lý đầu tư phỏt triển cần phải quỏn triệt đặc điểmnày trờn một số nội dung sau:
-Cần phải cú chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đỳng Đầu tư cỏi gỡ,cụngsuất bao nhiờu là hợp lý ,cần phải nghiờn cứu kỹ lưỡng,dựa trờn những căn cứkhoa học
-Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý,để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đỳngphải dựa trờn những căn cứ khoa học,dựa vào một hệ thống cỏc chỉ tiờu KT-CT-XH,mụi trường văn húa
3.5 Ảnh hưởng của đặc điểm thứ năm đến cụng tỏc quản lý đầu tư
Hoạt động đầu t phát triển đòi hỏi quy mô vốn lớn, thời kì đầu t kéo dài
và thời gian vận hành các kết quả đầu t cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của
hoạt động đầu t phát triển thờng cao Đặc biệt trong hoạt động tài chính của
doanh nghiệp chịu rất nhiều sự tác động của các yếu tố khách quan, rủi ro là
điều chủ đầu t không mong muốn nhng cũng cần phải tính đến do đó cần quảntrị rủi ro trong hoạt động tài chính của dự án đầu t
Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu t Có nhiều nguyên nhân rủi ro, do vậy,xác định đợc đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ragiải pháp khắc phục
Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro đầu t Rủi ro xảy ra có khi rất nghiêmtrọng, nhng có khi cha đến mức gây nên những thiệt hại về kinh tế Đánh giá
đúng mức độ rủi ro sẽ giúp đa ra biện pháp phòng và chống phù hợp
Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro Mỗi loại rủi ro vàmức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tơng ứng nhằm hạnchế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi ro này gây ra
Trang 13II.Thực trạng của đầu tư phát triển và tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác đầu tư ở Việt Nam từ 1998 đến nay
1.Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam
1.1.Huy động vốn cho đầu tư phát triển
Thực tiễn Việt Nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa ,bêncạnh việc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế Việt Nam còn đạt đựoc thành tíchtăng trưởng kinh tế cao liên tục(bình quân GDP hàng năm trong giai đoạn1991_2005 đạt 7.5%có những giai đoạn cá biệt 2 năm tăng liên tục trên 9%mỗi năm) Điều đó làm cho khả năng huy động ,khai thác và sử dụng cácnguồn vốn đầu tư được mở rộng hơn.Tốc độ gia tăng quy mô đầu tư gia tăngđáng kể trung bình tăng hơn 20%/năm).Tỷ trọngvốn đầu tư phát triển gia tăngmạnh mẽ (năm 1991 chỉ khoảng 17.6% GDP thì đến năm 2005 đã đạt xấp xỉ38.7%GDP).Trong đó cả nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài đều
có sự chuyển biến về quy mô và tốc độ tăng trưởng
Trong nguồn vốn đầu tư của nước ta nguồn vốn trong nước chiếm 70%tổng sổ vốn đầu tư và 30% tổng vốn đầu tư là huy động từ nước ngoài Trongnguồn vốn trong nứoc thì vốn tư ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệpNhà nước là chủ yếu,chiếm khoảng 53.7%.Trong đó vốn đầu tư từ ngân sáchNhà nứơc chiếm khoảng 22.5%trong tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xãhội, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước chiếm tỷ 15,7%, vốn đầu tư của nhữngdoanh nghiệp Nhà nước chiếm 17.1%.Vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân
cư chiếm 25,3%,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,8%,các nguồn vốnhuy động khác chiếm khoảng 4,7%
Tổng vốn đầu tư toàn xã hôi tăng đáng kể năm 2005 số vốn đầu tư toàn
xã hội là 3.301,780 tỷ đồng; năm 2006 tổng số vốn đầu tư tòan xã hội là4.027,166 tỷ đồng; và năm 2007 con số đó là 4.851,917 tỷ đồng(tính theo giátrị hiệ hành) Như vậy trong vòng 3 năm 2005-2007 tổng số vốn đầu tư toàn
Trang 14xã hội tăng khoảng 46,95%.
Vốn nhà nước tăng liên tục qua các năm;năm 2005 là 1.198,814 tỷđồng, năm 2006 là 1.244,303 tỷ đồng, năm 2007 là 1138,762 tỷ đồng Ngânsách nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển và vốnngân sách nhà nước chiếm khoảng 70% vốn nhà nước.Trong ngân sách nhànước thì nguồn thu chủ yếu là từ thuế và phí (chiếm tới 90%),tăng trung bình17%/năm.Trong đó ngân sách trung ương chiếm khoảng 10%(năm 2007 vốnngan sách trung ương là 74,911 tỷ đồng trong tổng ngân sách nhà nước là778,46 tỷ đồng, chiếm khoảng 9,624%);ngân sách địa phương đóng gópkhoảng 90%(năm 2007 vốn ngân sách đia phương là 703,549 tỷ đồng, chiếmkhoảng 90,376%) GDP đóng góp vào ngân sách nhà nứơc khoảng 23.5%.Tỷ
lệ đầu tư phát triển chiếm 29.7% trong tổng vốn ngân sách nhà nước Nguồnvốn tín dụng đầu tư cũng cố những chuyển biến tiến bộ, tuy nhiên trongnhững năm gần đây nguồn vốn đầu tư tín dụng Nhà nước xu hướng giảm dần
do nhà nước có chủ trương thu hẹp đối tương cho vay ,hạn chế cho vay theo
dự án và đẩy mạnh thực hiện hỗ trợ lãi suất đầu tư.Năm 2005 số vốn tín dụngnhà nước là 159,816 tỷ đồng, năm 2006 là 117,554 tỷ đồng,, và năm 2007 là91,877 tỷ đồng; giảm khoảng 42,5% trong vòng 3 năm Nguồn vốn tín dụng
từ các nguồn khác tăng lên rất nhanh;năm 2005 là 122,317 tỷ đồng, năm 2006
là 288,165 tỷ đồng;năm 2007 là 221,608 tỷ đồng; mức tăng khoảng 81,17%.Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đâyđược chú trọng, tăng khoảng 78,5%trong vòng 3năm 2005-2007 (năm 2005 là2024,563 tỷ đồng và năm 2007 là 3613,629 tỷ đồng).Theo điều tra thực tếnăm 2007 thì số vốn của các hộ gia dình là 1283,919 tỷ đồng và vốn của các
tổ chức doanh nghiệp là 2329,71 tỷ đồng
Để tăng vốn cho đầu tư phát triển, chính phủ thực hiện huy động vốnthông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ từ năm 2003.Năm 2003 là 8.1
Trang 15nghìn tỷ đồng, năm 2004 là 6.5 nghìn tỷ đồng và năm 2006 khoảng 13.1 tỷđồng.
Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bênngoài Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật và cơ chế chính sách vớimục đích khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài mang vốn,công nghệ quản lýhiện đại vào Việt Nam.Cùng với đó là tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi chocác nhà đầu tư nước ngoài,giữ vững môi trường kinh tế vĩ mô ổn định,giảmchi phí đầu tư,giải quyết những vướng mắc cụ thể cho các nhà đầu tư trongnước và ngoài nước Đặc biệt từ khi Việt Nam là thành viên của tổ chúcthương mại thế giới WTO vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đángkể.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2005 là 78,400 tỷ đồng, năm 2006 là97,175 tỷ đồng, năm 2007 99,525 là tỷ đồng.Vốn đầu tư nước chiếm khoảng30% tổng vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế.Ngoài các nguòn vốn chủ yếu
là ODA và FDI,vào Việt Nam còn có lượng vốn mà doanh nghiệp tự đi vaynước ngoài hoặc vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu chính phủ bằngngoại tệ ra nước ngoài.Tuy nhiên chúng ta cũng chỉ mới phát hành tráiphiếuchính phủ ra nước ngoài nên nguồn vốn này chưa đáng kể
Nguồn vốn ODA trong thời gian qua đạt thành tựu quan trọng.tổng mứcODA các nhà tài trợ cam kết cho nước ta trong giai đoạn 2000-2006 ước tính đạt
31 tỷ USD,trong đó các khoản viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%.Nguồnvốn ODA đã được giải ngan khoảng 15.5 tỷ USD ,chiếm khoảng 50% giá trịODA cam kết tài trợ,trong đó 80% nguồn vốn đầu tư cho đầu tư phát triển cònlại là chi cho sự nghiệp,tốc độ giải ngân là 11.3%.Hiện nay có 25 nhà tài trợsong phương,14 tổ chức tài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại ViệtNam
Thu hút vốn FDI cũng đạt kết quả tích cực khoảng 298,4 nghìn tỷđồng,tương ứng khoảng 19.5% nguồng vốn đầu tư phát triển của toàn nền
Trang 16kinh tế.Trong số 64 nước đầu tư tại Việt Nam ,các nước châu Á chiếm trên76% số dự án và trên 70% số vốn đăng kí,trong đó Nhật Bản, Đài Loan, HànQuốc ,Hồng Kông chiếm trên 605 số dự án và đăng kí còn các nước EUchiếm khoảng 16% vê số dự án và 24% số vốn đăng kí,Hoa Kì chiếm khoảng19.55 số dự án va 2.7%sô vốn đăng kí.
Bên cạnh ODA và FDI thì một lượng vốn không nhỏ được chuyển vàonước ta là kiêu hối chuyển về hàng năm Lượng kiều hố năm 2006 dạt 4.5 tỷUSDvà năm 2007 lên tới 10 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.So với tổngmức ngoại tệ Việt kiều gửi về nước năm 2006, lượng kiều hối năm 2007 tănggần 50% Nguyên nhân là do chính phủ Việt Nam áp dụng các quy chế mới đốivới Việt kiều trong các lĩnh vực đầu tư, bất động sản và miễn thị thực nhập cảnh.Đặc biệt gần đây quốc hội thông qua điều luật cho Việt kiều mua nhà tại ViệtNam
Ngoài các nguồn vốn trên thì còn một lượng vốn vay của nước ngoài Tuynhiên, lượng vốn này không đáng kể, chỉ đạt khoảng 50 nghìn tỷ đồng Lượngtrái phiếu chính phủ phát hành ra nước ngoài bằng ngoại tệ khoảng 5.5 nghìn tỷđồng
1.2.Huy động nguồn nhân lực cho đầu tư phát triển
Phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia phải dựa trên nhiều nguồn lực:nhân lực, vật lực, tài lực… Song yếu tố chính vẫn là nguồn lực con người, vìchỉ có nguồn lực con người mới tạo ra sự phát triển Những nguồn lực khácmuốn phát huy tác dụng phải thông qua nguồn lực con người Nguồn lực conngười chính là động lực của mọi sự phát triển
Từ xa xưa con người đã tự tạo ra những công cụ lao động thủ công đểphục vụ cuộc sống của mình Khi sản xuất phát triển, phân công lao độngngày càng chi tiết làm cho năng suất lao động đuợc cải thiện rõ rệt Bên cạnh
đó, sự thay thế của máy móc đã làm cho tính chất lao động có phần thay đổi,
Trang 17từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và trí tuệ Và chúng ta không thểkhông nhắc tới vai trò của con người trong việc sáng tạo ra những trang thiết
bị hiện đại cũng như vận hành chúng hoạt động Nguồn nhân lực của mỗiquốc gia nếu biết khai thác hợp lý sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự pháttriển, nhất là với những quốc gia đang phát triển, có dân số đông và nguồnnhân lực dồi dào như nước ta hiện nay
Nước ta đã có những đầu tư đáng kể cho các lĩnh vực như
+Đầu tư cho giáo dục
+Đầu tư cho phát triển y tế,chăm sóc sức khỏe,xóa đói giảm nghèo
+Đầu tư cho điều kiện việc làm,tiền lương người lao động
Năm 2007 dân số của Việt Nam ước tính có khoảng 85,3 triệu người(đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 khu vực Đông-Nam á) và trung bình mỗinăm sẽ tiếp tục tăng thêm 1,1-1,2 triệu người; tăng 2,8% so với năm 2006.Bình quân mỗi năm cả nước tăng 1,05 triệu lao động Đây là nguuồn lao độngthay thế rất lớn cho lượng lao động già Tuy nhiên, chinh sự gia tăng đó tạonên sức ép lớn đối với cầu lao động, do đó sức ép về việc làm gia tăng Hệquả là việc làm không ổn định hoặc thiếu việc làm, thu nhập thấp và tạo nêntình trạng bất bình đẳng trong quan hệ xã hội
Theo điều tra về tỷ lệ LLLĐ theo độ tuổi có sự biến động không lớn, nhưng
xu hướng thay đổi đáng kể
Trang 18Bảng 2: Tỷ lệ LLLĐ chia theo nhóm tuổi (Nguồn Bộ lao động thương binh xã hội) Chất lượng lao động của nguồn nhân lực tuy đã có bước chuyển biến đáng
kể do có sự cải cách và tăng cường đầu tư trong công tác giáo dục, đào tạo,dạy nghề, song nhìn chung còn thấp, chưa thể đáp ứng tốt và kịp thời nhữngyêu cầu của công cuộc đổi mới và quá trình hội nhập Chất lượng nguồn nhânlực của VN hiện nay mới chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong
số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng, theo đánh giá mới của Ngân hàng Thếgiới (WB) 1 nghiên cứu khác cho thấy lao động VN chỉ đạt 32/100 điểm.Trong khi đó, những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều cónguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Nguồn lao động củanước ta có năng suất lao động quá thấp, đứng thứ 77/125 nước và vùng lãnhthổ, sau cả Indonesia, Philippine và Thái Lan
Trình độ văn hoá chung của nguồn nhân lực Việt Nam cao hơn so với mứcbình quân của thế giới, tuy nhiên vẫn còn thấp hơn các nước trong khu vựcchâu Á: Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin,… Ngay tại Thủ đô, có chưa tới 15%lực lượng lao động biết tiếng Anh và sử dụng thành thạo máy vi tính, tỉ lệ laođộng không có chuyên môn ở Hà Nội hiện là 41,4%, Hải Phòng 64%, ĐàNẵng 54,4%, TP.HCM 55% và Bà Rịa Vũng Tàu là 62,9%
Việc thực hiện những mục tiêu cải cách giáo dục đã thực sự đem lại nhữngchuyển biến về trình độ học vấn trong cộng đồng người dân, đây là một yếu tốthuận lợi mang tính nội sinh trong việc đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghềcũng như giải quyết việc làm cho LLLĐ ở nước ta hiện nay Xét về tổng thểthì trình độ học vấn của LLLĐ đã được nâng cao hơn, tỷ lệ lao động tốtnghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông đã tăng đáng kể
Trang 19Đầu tư cho giáo dục đào tạo để đào tạo lao động chuyên môn kỹ thuật lànhiệm vụ hàng đầu của đầu tư phát triển nguồn nhân lực Có thể thấy rõ sựtiến bộ qua bảng sau:
Bảng 6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật (%) qua các năm
(Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam các năm)
Tính đến 2005, lao động qua đào tạo rất thấp (25%), lao động chưa quađào tạo còn chiếm một tỷ lệ rất cao (75%) Đối với công nhân kỹ thuật(CNKT), tỷ lệ tăng dần từ 1989 trở đi Giai đoạn 1999 đến 2005 có sự tăngđột biến (một phần do số liệu năm 2005 có tính cả số người có chứng chỉnghề và sơ cấp) Trong thời gian đó, tỷ lệ số lao động có trình độ trung họcchuyên nghiệp cũng tăng, nhưng tăng chậm hơn (+1,3%/6 năm)
Đối với lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên, tỷ lệ này so với tổng số lao động (năm 2005: 44,4 triệu người) tăng nhanh nhất Giai đoạn 1999 – 2005 tăng bình quân 0,43% Như vậy, trong 5 năm gần đây có sự tăng nhanh về quy mô đào tạo cao đẳng, đại học trở lên đến 5,4 lần, so với tốc
độ tăng trung bình thời kỳ 1989 – 1999 (0,08%) Tình hình đó đưa đến sự chuyển dịch theo xu hướng từ “hình thang thuận sang hình thang ngược” Cấu trúc giữa công nhân kỹ thuật, trung cấp
và cao đẳng, đại học trở lên trong thời gian 1979 đến nay được thể hiện qua bảng sau:
ĐH
THCN/1CĐ, ĐH
Số lượng trên CNKT (nghìn người)
Tỷ lệ CNKT trở lên trong LLLĐ
(%)
Trang 201979 3,06 2,17 830,4 3,13
Bảng 7: So sánh các loại lao động theo trình độ CMKT qua các thời kỳ.
(Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam các năm)
Số liệu trong bảng cho thấy: tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹthuật từ công nhân kỹ thuật trở lên trong tổng lực lượng lao động (15 – 59tuổi) đã tăng lên: 3,13% (1979); 5,21% (1989); 6,44% (1999) và 6 năm sau(2005) đạt 30,00%, lao động chân tay là 70,00% Nếu duy trì mức gia tăng đóthì dự báo đến năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo là 40%, trong đó côngnhân kỹ thuật chiếm 332% Trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ đó tươngứng là 72% và 28% Tỷ lệ này phản ánh sự lạc hậu về kỹ thuật, công nghệ củanền sản xuất và trình độ thấp của lực lượng lao động Xu hướng chuyển dịch
đó ở nước ta là có tiến bộ nhưng mức tăng của nguồn nhân lực tri thức nàyvẫn còn xa mới đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH
Về cấu trúc cao đẳng, đại học trở lên/ trung học chuyên nghiệp/ công nhân
kỹ thuật qua 4 mốc thời gian trên: 1/2,17/3,06 (1979); 1/1,74/2,13 (1989);1/1,14/1,36 (1999); 1/0,82/2,88 (2005) cho thấy, chỉ số lao động có trình độtrung học chuyên nghiệp giảm liên tục từ 2,17 (1979) xuống còn 0,82 (2005);chỉ số công nhân kỹ thuật có xu hướng giảm (1979 – 1999), sau đó 6 năm lạiđây có tăng lên nhưng tăng với tốc độ chậm, năm 2005 chiếm chỉ số là 2,88
Có nghĩa là, cơ cấu các loại lao động này năm 2005, cứ một lao động có trình
độ từ cao đẳng, đại học trở lên thì chỉ có 0,82 lao động có trình độ trung cấp
và 2,88 lao động có trình độ công nhân kỹ thuật (1:0,82:2,88) Sự dịch chuyểnnày, chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ lao động trong
Trang 21nền kinh tế giai đoạn công nghiệp hóa hiện nay Các chuyên gia quốc tế chorằng, ứng với giai đoạn tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam hiện nay,
cơ cấu trình độ CMKT phải là 1:4:20 mới hợp lý
Về trình độ khoa học công nghệ chất lượng cao, Tính tới tháng 12-2000,Việt Nam đã có trên 1,3 triệu người có trình độ đại học – cao đẳng; trên10.000 thạc sỹ; 13.500 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học (trong đó 610 tiến sỹ khoahọc) Bình quân 190 cán bộ khoa học công nghệ/10.000 dân (năm 1989 là105) Theo đó, cơ cấu tỷ lệ cán bộ (theo trình độ chuyên môn): 98% đại học,cao đẳng; 0,75% thạc sỹ; 0,97% tiến sỹ và tiến sỹ khoa học (tiến sỹ khoa học:0,05%) Tỷ lệ đó thể hiện mối tương quan giữa các loại trình độ là: 1 tiến sỹ:0,8 thạc sỹ: 105 đại học, cao đẳng
Đến 2006, Việt Nam đã đào tạo ra được trên 1,8 triệu cán bộ đại học, caođẳng trở lên, trong đó có trên 14 nghìn tiến sỹ và 16 nghìn thạc sỹ Số lượngcán bộ khoa học công nghệ trên đại học đã tăng từ 23,500 nghìn (2000) lêntrên 20 nghìn (2006) Theo thống kê của Bộ Nội vụ, tính đến 11-2004, cảnước có khoảng 5.479 giáo sư, phó giáo sư được công nhận, trong đó sốlượng giáo sư, phó giáo sư đang làm việc là 3.075, chiếm 56,1% Mối tươngquan giữa các loại trình độ ở thời điểm năm 2006 là: 1 tiến sỹ : 1,14 thạc sỹ :
128 đại học, cao đẳng trên cho thấy số lượng tiến sỹ và tiến sỹ khoa học cótăng lên nhưng tăng chậm hơn so với sự tăng lên của cả đội ngũ; những con
số đó còn quá nhỏ bé so với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH, từng bướcphát triển kinh tế tri thức Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ số người
có trình độ trên đại học trên tổng số cán bộ giảng dạy hiện mới đạt 12,7%(cần đạt 30%)
Đến cuối năm 2007, tổng số lao động trong lĩnh vực KH-CN, bao gồmnhững người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai, cácviện, trung tâm nghiên cứu và triển khai ứng dụng KH-CN của cả nước là gần
Trang 2240.000 người Ngoài ra, còn một số lực lượng nhất định trong tổng số gần48.541 giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng và các chuyên gia, kỹ
sư làm việc trong các doanh nghiệp cũng được thu hút vào các hoạt động
KH-CN Hiện nay, lực lượng này phân bố rất không đều giữa các vùng trong cảnước Có tới 92,2% cán bộ có trình độ tiến sĩ và tiến sĩ khoa học tập trung ởcác cơ quan trung ương và hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh (HàNội có 63,8% TS và 75,9% TSKH), (thành phố HCM có19,33% TS và17,11% TSKH) Số tiến sĩ ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Nam Bộ chưatới 1% Trong số các giáo sư, phó giáo sư, có 86,2% ở Hà Nội và 9,5% ởthành phố HCM, các nơi khác còn lại là 4,3%
Nghiên cứu khoa học công nghệ và tham gia đào tạo là chức năng, nhiệm
vụ chính của đội ngũ cán bộ KH-CN chất lượng cao, nhưng tỷ lệ nhân lựctham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu khoa học và triển khai còn thấp
Cụ thể, ở đề tài cấp nhà nước chỉ có 30% cán bộ được tham gia, tương ứng đềtài cấp bộ có 48,1% và đề tài cấp cơ sở là 65,1% Xét tổng thể thì số lượngcán bộ KH-CN được tham gia nghiên cứu khoa học mới đạt 65,1%, còn lại34,9% không tham gia, đó là sự lãng phí lớn
Các đề tài nghiên cứu KH-CN của nước ta còn nhiều điểm chưa tiếp cậnđược trình độ khoa học công nghệ thế giới, khả năng hội nhập còn hạn chế
Cụ thể, việc tham gia hội thảo và các kết quả nghiên cứu được công bố trêncác tạp chí khoa học có danh tiếng trên thế giới còn ít Số bằng phát minh,sáng chế trong lĩnh vực KH-CN Việt Nam rất hạn chế Theo tài liệu của BanKhoa giáo Trung ương, thời kỳ 2001- 2005, Việt Nam chỉ có 11 đơn đăng kýsáng chế ở nước ngoài, trong khi đó Indonesia có 36, Thái Lan 39, Philipin có
85, Hàn Quốc có 15.000, Nhật Bản 87.620 Mỹ 206.710 Nếu căn cứ vào sốlượng các công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên tạp chí quốc tế vàbằng sáng chế được quốc tế công nhận thuộc 27 môn khoa học, thì Việt Nam
Trang 23chưa lọt vào danh sách của 50 nước được tính đến Trong khi đó, Singapo,Malaisia và Thái Lan đã có tên trong danh sách này Điều đó có nghĩa là,trình độ nguồn nhân lực KHCN nước ta còn rất thấp
Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của LHQ cho thấy, Việt Namhiện có chỉ số phát triển con người HDI ở hạng trung bình, với chỉ số là0,733 So với năm trước, Việt Nam đã tăng 4 bậc từ vị trí 109 lên vị trí 105trong tổng số 177 nước Việt Nam được xếp vào các nước có chỉ số phát triểncon người trung bình, và liên tục được cải thiện gần 20 năm qua
Chỉ số HDI không đơn thuần chỉ phản ánh GDP/đầu người, mà mô tả một bức tranh khá hoàn chỉnh
về sự phát triển của một đất nước Cùng một mức HDI nhưng thu nhập giữa các nước có sự khác biệt lớn, điển hình là trường hợp Nam Phi và Việt Nam Chỉ số HDI hai nước tương đương nhưng Nam Phi
có thu nhập bình quân đầu người gấp hơn 3 lần Việt Nam Việt Nam chỉ xếp thứ 122 trong số 177 quốc gia về thu nhập bình quân đầu người Tuy nhiên, so với nhiều nước có thu nhập thấp khác, Việt Nam
đi đầu về các chỉ số tuổi thọ, tỉ lệ biết chữ ở người lớn Xếp hạng tương ứng của Việt Nam ở hai chỉ
số này là 56 và 57 Trong khi đó, nhìn vào tổng tỉ lệ đi học tiểu học, trung học và đại học, Việt Nam xếp thứ 121, với 63,9% người trẻ được tiếp cận với giáo dục
2003 (Báo cáo năm 2005) 0,704 108/177
Bảng 12: Chỉ số phát triển con người Việt Nam
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới)
Các chuyên gia của LHQ chỉ rõ, trong các thành tố của HDI, thu nhập bình
quân đầu người và tổng tỉ lệ đi học có thể biến đổi theo những thay đổi chínhsách ngắn hạn Phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân và đầu tư chogiáo dục là hai giải pháp có thể làm thay đổi đáng kể chỉ số HDI Chỉ riêngviệc cải thiện tỉ lệ nhập học của trẻ em và nâng cao dân trí cho người dân sẽgiúp Việt Nam tăng nhanh HDI