1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB

40 1,2K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB
Tác giả Trần Thị Thùy Mai
Người hướng dẫn PGS.Ts Thái Bá Cẩn
Trường học Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 383 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước ta từ khi thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của nền kinh tế, chuyển nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng và có ý nghĩa , được dư luận trong và ngoài nước đánh giá là hết sức đúng đắn.

Trang 1

Đường lối kinh tế của Việt Nam hiện nay là “ tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010, muc tiêu Nhà nước đặt ra là sự CNH _ HĐH đất nước Đây là mục tiêu quan trọng của đất nước ta trong quá trình vươn lên thoát khỏi sự tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên Thế giới.

Để thực hiện được CNH- HĐH, “vốn” là một nhân tố được đặt lên hàng đầu Tiềm năng kinh tế nước ta có, nguồn lao động trong nước lại dồi dào , câu hỏi cấp thiết đặt ra hiên nay là làm sao để có vốn đầu tư khai thác? Tựu chung lại là có hai loại nguồn vốn có thể thu hút là vốn trong nước và vốn nước ngoài Trong đó, vốn trong nước giữ vai trò chủ yếu, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng Vốn trong nước có rất nhiều nhưng bằng cách nào để khơi thông, thu hút được? Thực tế trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay, có rất nhiều chủ thể, thông qua các con đương khác nhau có khả năng cung cấp dẫn vốn đáp ứng nhu cầu về vốn Tuy nhiên một điều không thể phủ nhận được là huy động vốn qua các trung gian tài chính – NHTM – là kênh quan trọng nhất Nền kinh tế của một nước chỉ phát triển với tốc độ cao và

ổn định khi có chính sách tài chính, tiền tệ đúng đắn và hệ thống NH hoạt động đủ mạnh, có hiệu quả cao, có khả năng thu hút, tập trung các nguồn vốn và phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn vào các ngành sản xuất

Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở trường, cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế tại

SHB vừa qua, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB”

Luận văn được trình bày theo 3 chương với nội dung cơ bản như sau:

Chương I : Những vấn đề cơ bản về huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Chương II : Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB)

Chương III : Giải pháp nâng cao chất lượng huy động vốn tại Ngân hàng SHB.

Trang 2

Qua đề tái nghiên cứu này, dựa vào cơ sở phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại chi SHB để tìm ra nguyên nhân của những tồn tại từ đó em xin đưa ra các giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của SHB.

Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tần tình của thầy giáo PGS.Ts Thái Bá Cẩn - sự tạo điều kiện giúp đỡ của các anh, chị làm việc tại hội sở trong suốt quá trình em làm luận văn này Song do trình độ kiến thức và thời gian còn hạn chế nên việc nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp của các thầy cô trong khoa TCNH trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trần Thị Thùy Mai

Trang 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH

DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Ngân hàng thương mại

1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Có thể nói NHTM ra đời và phát triển gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế NHTM là sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế

Theo pháp lệnh ngân hàng nhà nước Việt Nam, định nghĩa :”Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay,thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”

1.2 Vai trò của NHTM

a. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.

Mọi hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế,hộ gia đình,cá nhân đều cần có vốn.Mà với nguồn vốn tự có thì không đủ để duy trì mọi hoạt động như mua sắm nguyên vật liệu,máy móc trang thiết bị,nguồn lao động vì vậy việc tìm đến nguồn vốn từ bên ngoài là việc cần thiết Mặt khác, lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình tích lũy,tiết kiệm của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời đó và sử dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng câc doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất,cải tiến máy móc công nghệ tăng năng suất lao động,nâng cao hiệu quả kinh tế,thúc đẩy nền kinh tế phát triển

b. NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh mạnh

mẽ Áp lực sản phẩm tung ra thị trường là rất lớn Sản phẩm đòi hỏi các yếu tố: chất lượng sản phẩm, thị hiếu người tiêu dùng, giá cả, mẫu mã làm sao có thể chiếm lĩnh được thị phần Đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự đầu tư lớn về trang thiết bị, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực muốn vậy vốn luôn là yếu tố quan trọng Để đáp ứng thì vốn từ ngân hàng là nguồn vốn

mà các doanh nghiệp thường nghĩ tới đầu tiên

c. NHTM lầ công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 4

Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM

đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.Mặt khác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường,điều khiển chúng một cách hiệu quả, bảo đảm cung cấp kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế

d. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế

Ngày nay, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là bộ phân cấu thành nên sự phát triển đó Nền tài chính của mỗi quốc gia cần phải hòa nhập với nền tài chính thế giới và các NHTM đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự hòa nhập này thông qua các hoạt động: Thanh toán, chuyển đổi tiền, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NH nước ngoài

2 Vốn của ngân hàng thương mại

2.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại

NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi NHTM phải có một lượng vốn hoạt động nhất định

Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau:

“ Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác ”

Về thực chất vốn của NHTM là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng Đây chính là họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả hay làm các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ

đó Nhờ việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM

2.2 Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại

Vốn của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay, vốn khác

Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân

Trang 5

hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM.

a Vốn chủ sở hữu

Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa Đây là nguồn vốn khá quan trọng đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường

b Vốn huy động

Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội với nhiều hình thức khác nhau

* Tiền gửi thanh toán ( tiền gửi giao dịch )

Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là

sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi ( trả lãi thấp ) hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng Người gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền với một mức phí thấp Các ngân hàng

có thể sử dụng các số dư tiền gửi khách hàng vào các hoạt động của mình

* Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán ( do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút ) nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng

* Tiền gửi tiết kiệm của dân cư

Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này các ngân hàng luôn đưa ra các hình thức huy động đa dạng như tiết kiệm bằng VNĐ, bằng vàng và bằng ngoại tệ, với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều kỳ hạn để người gửi có nhiều cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất

Trang 6

* Tiền gửi của các ngân hàng khác

Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình

c Vốn đi vay

Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi vay để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc Các ngân hàng có thể vay ở:

* Vay ngân hàng Nhà nước ( ngân hàng trung ương )

Khi các NHTM có nhu cầu cấp bách về vốn thì người dang tay cứu giúp sẽ là ngân hàng trung ương Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu ( hay tái cấp vốn ) Các NHTM sẽ mang các trái phiếu mà mình đã chiết khấu lên NHTW để tái chiết khấu Thông thường các NHTW chỉ cho tái chiết khấu những trái phiếu có chất lượng, thời hạn ngắn và phù hợp với mục tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ

* Vay các tổ chức tín dụng khác

Đây là các khoản vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng Hình thức vay này rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý Các khoản vay có thể không cần thế chấp hoặc thế chấp bằng các chứng khoán của kho bạc Các khoản vay này thông thường có thời hạn ngắn chủ yếu chỉ để giải quyết những nhu cầu tức thời

* Vay trên thị trường vốn

Các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn để huy động vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu cho vay trung và dài hạn và các nhu cầu đầu tư khác Những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ có khả năng vay được nhiều hơn các ngân hàng nhỏ Các ngân hàng nhỏ thường vay gián tiếp thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng đầu tư Khả năng vay mượn này phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, các hình thức phát hành, chuyển đổi, thời hạn của các công cụ nợ

d Vốn khác

* Nguồn uỷ thác

NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác qua đó làm tăng nguồn vốn của NH như uỷ thác đầu tư, uỷ thác cho vay, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ

Trang 7

* Nguồn trong thanh toán

Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt như: L/C, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi hay ngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ cũng giúp ngân hàng làm tăng nguồn vốn của mình

2.3 Vai trò của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.

2.3.1 Đối với toàn bộ nền kinh tế

Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Các cơ hội đầu tư luôn có điều kiện để thực hiện Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn với việc huy động vốn của các NHTM Tuy việc huy động vốn có thể thực hiện bằng nhiều kênh: thị trường chứng khoán, NSNN nhưng trong điều kiện nước ta hiện nay thì huy động vốn qua các NHTM vẫn là hình thức chủ yếu

và quan trọng nhất

2.3.2 Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.

a.Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh

Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn Ngoài lượng vốn bắt buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác Ngân hàng đi vay để cho vay Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có thứ để mà cho vay Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng Đối với những ngân hàng lớn, việc tham gia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ dàng hơn các ngân hàng nhỏ Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM Nói cách khác, không có vốn thì ngân hàng không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh của mình

b Vốn quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng quyết định

Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng NH có nhiều

vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với NH ít vốn Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng Các ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng Phạm vi hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn nhiều các ngân hàng nhỏ Chính vì vậy càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

c.Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường

Các ngân hàng lớn trên TG là các ngân hàng có uy tín, luôn được ca ngợi và nể trọng Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của NH chính là vốn của ngân hàng Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm bảo, các khách hàng luôn cảm thấy

Trang 8

yên tâm khi giao thiệp với ngân hàng Trong nên kinh tế bất ổn hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn.

c Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để các ngân hàng tham gia cạnh tranh Nó giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường quan hệ với các đối tác Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ chân các khách hàng truyền thống Doanh số của ngân hàng tăng lên đồng thời làm tăng nguồn vốn của ngân hàng Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi Các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn

2.4 Các hình thức huy động vốn của NHTM

Một hoạt động không thể thiếu của các NHTM là tiến hành huy động vốn để ngân hàng

đi vào hoạt động Quá trình huy động vốn đó hầu như đều giống nhau ở các ngân hàng nhưng

để phân loại các hình thức huy động thì lại rất khác nhau Điều này còn phụ thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại

2.4.1 Phân loại căn cứ theo thời gian

Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời gian phải hoàn trả khách hàng Theo thời gian, hình thức huy động được chia thành:

2.4.1.1 Huy động ngắn hạn

Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các NHTM thông qua việc phát hành các công

cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm) hoặc được chuyển hoán

kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém

2.4.1.2 Huy động trung hạn

Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1-5 năm) Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao

Trang 9

2.4.1.3 Huy động dài hạn

Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên) Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao

2.4.2 Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động

2.4.2.1 Huy động vốn từ dân cư

Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định

2.4.2.2 Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội

Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng Các doanh nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần Chu kỳ rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau Vì vậy ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng các dịch vụ Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội gắn liền với việc

mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng

2.4.2.3 Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác

Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi ở lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động Điều này tuy không thường xuyên song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe doạ các NHTM có thể vay lẫn nhau Quá trình vay này là một thoả thuận tín dụng giữa hai bên Quá trình tăng vốn huy động này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay thị trường ngoại tệ Trong số những người cho ngân hàng vay có một người đặc biệt Đó

là NHTW NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để cứu cho các NHTM khỏi các trục trặc xảy ra Huy động vốn từ các ngân hàng và các TCTD khác tuy cũng khá dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn Do vậy, hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều

Trang 10

2.4.3 Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn

Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các NHTM sử dụng hiện nay Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động Các hình thức huy động bao gồm:

2.4.3.1 Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi

a. Huy động tiền gửi không kỳ hạn

Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là để lấy lãi

mà chủ yếu dùng để thanh toán Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho người thứ ba Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toàn bằng séc Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động ATM Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai:

+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có

+ Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được sử dụng cho các

tổ chức kinh tế Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số dư nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay

Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất

mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong đó có Việt Nam) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi này (có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn) Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền

b. Huy động tiền gửi có kỳ hạn

Là các tiền gửi của các TCKT, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời hạn nhất định Khoản này thường gắn với các TCKT có chu kỳ kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng

Trang 11

nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích kiếm lời Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi ( mà chúng ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích ) với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò hay việc tạo vốn cho các ngân hàng.

c. Huy động tiền gửi tiết kiệm

Đây là hình thức phổ biến nhất, lâu đời nhất của các NHTM Bao gồm:

- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Hình thức này gần giống như huy động tiền gửi không kỳ hạn Tuy nhiên so với tiền gửi không kỳ hạn thì số dư của phần này ổn định hơn, ít biến động hơn nên ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn

-Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất

ở nước ta Người gửi tiền gửi vào ngân hàng và rút ra sau những thời hạn xác định: 3 tháng, 6 tháng Người gửi không được rút trước, nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt Đây là những khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả khách hàng với lãi suất gần như là cao nhất Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnh tranh, thu hút được vốn các ngân hàng

đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút ra trước thời hạn Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn, có ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế

- Tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài: Loại hình này khá phổ biến ở những nước phát triển nhưng ở nước ta còn khá mới mẻ Người gửi có thể gửi tiền vào bất cứ lúc nào và chỉ được rút ra khi đến hạn Loại hình này giúp cho ngân hàng có nguồn vốn ổn định để có thể đầu tư trung và dài hạn

2.4.3.2 Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay

Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay Các NHTM có thể vay từ nhiều nguồn:

a. Vay từ các tổ chức tín dụng

Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ Các ngân hàng thường xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay NHTW

b. Vay từ ngân hàng trung ương

Trang 12

Khi NHTM xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là NHTW NHTW cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu Các NHTM có thể mang các thương phiếu lên NHTW để vay Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do NHTW chỉ cho NHTM một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong định hướng của chính sách tài chính quốc gia Dẫu sao đây cũng là một hình thức bổ sung vốn cho NHTM cực kỳ quan trọng trong những thời điểm nhất định.

2.4.3.3 Huy động qua phát hành các công cụ nợ

Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các NHTM Trong qúa trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn Điều đó có nghĩa là ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu ra mới tính đầu vào Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động và đưa ra các mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng thành công nhanh chóng Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu.Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huy động vốn trung và dài hạn

Kỳ phiếu: kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do NH phát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế

2.4.3.4 Huy động vốn qua các hình thức khác

Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, TCKT, các doanh nghiệp, các NHTM còn sử dụng các hình thức khác về dịch vụ xã hội: làm dịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp đồng đồng tài trợ Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ trên càng mang lại cho ngân hàng những nguồn huy động lớn giúp cho ngân hàng có thể kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả

Trang 13

Chương II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP

SÀI GÒN - HÀ NỘI

1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội

Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội

Tên giao dịch quốc tế: SAIGON- HANOI COMMERCIAL JOINT STOCK BANK

Trụ sở chính: 77 Trần Hưng Đạo – Hoàn Kiếm – Hà Nội

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà nội (SHB) tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông thôn Nhơn

Ái, hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5703000085 do Sở kế hoạch và đầu tư TP Cần Thơ cấp ngày 10/12/1993 và giấy phép số 0041/NN/GP do NHNN Việt Nam cấp ngày 13/11/1993 SHB chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/12/1993

Giai đoạn đầu với vốn điều lệ 400 triệu đồng; Mạng lưới ngân hàng chỉ có trụ sở chính đặt tại số 341- Ấp Nhơn Lộc 2 - Thị tứ Phong Điền - Huyện Châu Thành - Tỉnh Cần Thơ nay

là Huyện Phong Điền Thành phố Cần Thơ; Tổng số cán bộ nhân viên là 8 người; địa bàn hoạt động chỉ vài xã thuộc huyện Châu Thành; Đối tượng khách hàng là các hộ nông dân với mục đích vay vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn Đến nay, sau 16 năm hoạt động, vốn điều lệ của SHB đạt 2000 tỷ đồng; mạng lưới hoạt động kinh doanh đã có mặt tại các địa bàn thành phố chính như: TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội, TP Đà Nẵng, TP Cần Thơ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Vinh, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Lạng Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Chu Lai, Quy Nhơn, Bình Dương, Đồng Nai; Đối tượng khách hàng của SHB đa dạng gồm nhiều thành phần kinh tế, hoạt động trong nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau Với nhiều sản phẩm tiện ích, phù hợp, SHB đang ngày càng phát triển Thể hiện kết quả kinh doanh của năm sau luôn cao hơn năm trước, các chỉ tiêu tài chính đều đạt và vượt kết hoạch

đề ra, tạo tiền đề thuận lợi để ngân hàng phát triển bền vững

2 Chức năng, và mạng lưới hoạt động của ngân hàng SHB:

2.1 Chức năng hoạt động của Ngân hàng SHB

- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của các thành phần kinh tế và dân cư dưới

hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn; Phát hành kỳ phiếu có mục đích sau khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

- Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

- Thực hiện hoạt động vay vốn trên thị trường liên ngân hàng

- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ cá nhân gia đình trên địa bàn

Trang 14

- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá.

- Tham gia góp vốn và liên doanh theo pháp luật hiện hành

- Thực hiện việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích

2.2 Mạng lưới hoạt động của SHB:

Qua 16 năm hoạt động, đến nay mạng lưới hoạt động cảu SHB đã có mặt tại hầu hết các địa bàn thành phố chính như: TP Hố Chí Minh, TP Hà Nội, TP Đà Nẵng, TP Cần Thơ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Vinh, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Lạng Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Chu lai, Quy Nhơn, Bình Dương, Đồng Nai Trụ sở chính của ngân hàng đặt tại 77 Trần Hưng Đạo- Hoàn Kiếm – Hà Nội

2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của SHB

Cơ cấu tổ chức của SHB bao gồm các phòng ban,được chuyên môn hóa hoạt động theo những chức năng, nhiệm vụ riêng.Tuy nhiên,trong quá trình hoạt động kinh doanh các phòng ban luôn có mối quan hệ chặt chẽ,mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau vì mục tiêu phát triển chung của ngân hàng

Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Trang 15

2.4.Kết quả hoạt động kinh doanh SHB

T nừ ăm 2006 đến nay, SHB ã có nh ng chuy n bi n áng ghi nh n trong ch ng đ ữ ể ế đ ậ ặ đườ ng

kh c ph c khó kh n và kh ng nh v th c a mình trên thắ ụ ă ẳ đị ị ế ủ ương trường và v ng bữ ước pháttri n Luôn ể đảm b o k t qu kinh doanh t t, SHB ả ế ả ố được NHNN ánh giá là m t trong nh ngđ ộ ữ ngân hàng TMCP n i ho t ộ ạ động có hi u qu trong giai o n 2007-2009 ệ ả đ ạ

Bảng 1 : Kết quả hoạt động kinh doanh của SHB 2007 – 2009

3 Lợi nhuận trước thuế 176.2 269.4 303.7 93.2 52.9% 34.3 12.8%

(Nguồn Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh )

Theo bảng 5 trên ta thấy:

- Vốn điều lệ trong 3 năm 2007-2009 vẫn chưa có sự thay đổi nhưng theo như kế hoạch dự kiến đến năm 2010 vốn điều lệ ở SHB sẽ tăng lên 4.500 tỷ đồng

- Tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của đơn vị từ năm 2007 sang năm 2008 tăng rất mạnh (lần lượt đạt 82.2% và 52.9%) Việc tăng này nguyên nhân chính chủ yếu là do đơn vị tăng vốn điều lệ từ 500 tỷ lên 2.000 tỷ đồng Từ năm 2007 đến năm 2008 nhờ việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm, giảm thiểu các chi phí không cần thiết, nâng cao năng suất lao động cho nên dù không tăng vốn điều lệ nhưng doanh thu và lợi nhuận của đơn vị đều tăng

- Do trong năm 2009 là thời điểm mà nền kinh tế suy thoái trầm trọng, đặc biệt là hoạt động tài chính ngân hàng cho nên theo số liệu báo cáo mới nhất chưa kiểm toán thì đến Năm 2009 đơn vị chỉ đạt lợi nhuận trước thuế 415,3 tỷ đồng, đạt 102,6% so với kế hoạch điều chỉnh cả năm Tổng tài sản đến 31/12/2009 là 27.439,5 tỷ đồng, đạt 124,73% kế hoạch năm 2009; huy động vốn thị trường 1 là 14.501,2 tỷ đồng, đạt 100,01% so với kế hoạch; dư nợ cho vay là 12.828,75 tỷ đồng, đạt 116,04% so với kế hoạch Đây cũng là một sự cố gắng lớn lao của đơn vị

3 Thực trạng hoạt động huy động vốn tại SHB

3.1.Tình hình huy động vốn

Đối với hoạt động kinh doanh,các ngân hàng luôn ý thức được tầm quan trọng của việc huy động vốn.SHB đã có những chính sách không ngừng đổi mới phục phụ khách hàng.Vì vậy,lượng vốn của ngân hàng luôn có sự thay đổi qua các năm

Trang 16

Bảng 2.: Tổng huy động vốn của SHB

Đơn vị tính: Tỷ đồng

1.Huy động tiền gửi tại thị trường I 2.804 9.508 11.368

2.Huy động vốn từ thị trường II 7.092 2.235 2.557

(Nguồn:báo cáo tài chính của SHB)

Lượng vốn huy động tổ chức kinh tế dân cư ở thị trường 1 luôn có sự gia tăng,điều này cho thấy mối quan hệ của ngân hàng đối với khách hàng ngày một gia tăng và có uy tín.Ngân hàng đã có nhiều chương trình, dịch vụ,không ngừng đổi mới để có thể đáp ứng được nhu cầu ngay càng đa dạng của khách hàng.Đặc biệt trong thời kì kinh tế khó khăn,sự cạnh tranh của các NHTM ngày một khốc liệt thì việc thu hút người dân chú ý tới những ưu thế của ngân hàng càng khó khăn

Hoạt động vốn trên thị trường II lại gặp khó khăn, đầu năm 2008 với chính sách kiềm chế lạm phát, NHNN, đã tăng tỷ lệ bắt buộc để thu hút tiền đồng về NHNN, do vậy sự khan hiếm VND trên thị trường kéo dài và nguồn vốn huy động thị trường II có thời điểm lãi suất lên tới 40%/năm Trong khi đó năm 2007 SHB phải sử dụng nguồn vốn huy động thị trường

II để tăng trưởng tín dụng hơn 2000 tỷ đồng.Do vậy khi thị trường liên ngân hàng đóng băng

do các NH phải đảm bảo thanh khoản và dự trữ bắt buộc thì hoạt động nguồn vốn thị trường liên ngân hàng của SHB gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên phòng nguồn vốn đã có nhiều cố gắng để huy động vốn trên thị trường II nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản, đảm bảo dự trữ bắt buộc theo qui định của NHNN với mục tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của SHB trong thời điểm này

3.1.1 Nguồn huy động vốn

Nguồn vốn huy động của SHB rất phong phú Hiện nay SHB có những nguồn vốn huy động chủ yếu sau:

-Tiền gửi của các tổ chức kinh tế(tiền gửi không kỳ hạn,tiền gửi CKH)

-Tiền gửi của dân cư (tiền gửi tiết kiêm, tiền gửi không ỳ hạn)

-Phát hành công cụ nợ

-Nguồn đi vay

-Các nguồn huy động khác

Trang 17

Điều quan trọng là huy động dân cư là chủ yếu, các tổ chức kinh tế thì ra vào liên tục nên thường không được các ngân hàng chú trọng bằng Mối quan hệ với khách hàng là rất quan trọng, các dịch vụ của ngân hàng luôn được phổ biến, nêu lên ưu việt của nó

Huy động vốn từ các TCTD năm 2008 là 2.235 tỷ và năm 2009 la 2.557 tỷ, tăng 14.4%

so với năm 2008.Việc huy động nguồn vốn lớn từ các TCTD không phải là giải pháp an toàn cho hoạt động kinh doanh của SHB Đến 30/6/2008, nguồn vốn huy động từ các TCTD đã được kiểm soát, chiếm 29,34% tổng nguồn vốn huy động Còn lại là vốn huy động từ các cá nhân và tổ chức kinh tế khác.Việc điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn này đảm bảo cho SHB có được nguồn vốn ổn định cho phát triển kinh doanh

- Huy động vốn từ KH chiếm một con số chênh lệch khá lớn so với TKTG TCKT và

cá nhân với tổng nguồn vốn từ KH năm 2009 là 11.268 tỷ Trong đó, huy động vốn từ TKTG TCKT và cá nhân năm 2008 là 5.071 tỷ đồng và năm 2009 là 5.385 tỷ đồng tăng 6.19% so với năm 2008 Và TGTK tăng từ năm 2008 so với 2009 la 1.447 tỷ đồng, tăng 32.6% so với năm

2008

3.1.2 Lãi suất huy động vốn

Lãi suất luôn là một yếu tố quan trọng trong việc huy động vốn của ngân hàng Muốn thu hút được nguồn vốn dồi dào thì phải có nhiều chính sách thay đổi lãi suất Hiện nay hầu như các ngân hàng thương mại đều tăng lãi suất, điều này đã thúc đẩy việc huy động vốn từ

Trang 18

tầng lớp dân cư một cách có hiệu quả NHTM Sài Gòn - Hà Nội (SHB) vừa thông báo tăng lãi suất tiết kiệm bậc thang VND đối với khách hàng cá nhân toàn hệ thống Biểu lãi suất mới được ban hành có sự điều chỉnh tăng ở hầu hết các kỳ hạn gửi với mức tăng thấp nhất là 0,3% năm trong các kỳ hạn 1-3 tháng và cao nhất tới 0,5% năm.

Biểu 1: Biểu lãi suất tiết kiệm bậc thang theo VND

< 100tr đ >100tr đến

500tr đ

>500tr đ đến 1tỷ đ

>1tỷ đ đến 3tỷ đ > 3tỷ đ

(Báo cáo hoạt động kinh doanh nguồn vốn của SHB)

Biểu 2: Biểu lãi suất tiết kiệm bậc thang theo USD

(Báo cáo hoạt động kinh doanh nguồn vốn của SHB)

SHB bắt đầu tăng lãi suất tiền gửi bằng VND chung cho toàn hệ thống với mức cao nhất lên tới 0,035% Đây cũng là mức lãi suất cao mang tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng

Trang 19

Mục đích của việc tăng lãi suất lần này nhằm tăng nguồn vốn huy động và tăng tổng tài sản của SHB Theo đó, khách hàng khi gửi tiết kiệm kỳ hạn tại SHB:

Khu vực miền Bắc và miền Trung: loại 01 tháng mức cao nhất là 0,665%, kỳ hạn 02 tháng mức cao nhất là 0,705%, kỳ hạn 03 tháng mức cao nhất là 0.755% và kỳ hạn 6 tháng mức cao nhất là 0.775% Mức lãi suất không kỳ hạn là 0.3%

Đặc biệt, tại khu vực miền Nam, lãi suất được chia ra làm 3 loại: theo kỳ hạn trả lãi hằng tháng, theo kỳ hạn trả lãi hàng quý và theo kỳ hạn trả lãi cuối kỳ

Đối với kỳ hạn trả lãi hằng tháng, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 02 tháng, mức cao nhất là 0,655%, kỳ hạn 03 tháng mức cao nhất là 0,695%, kỳ hạn 06 tháng mức cao nhất là 0.715%.Đối với kỳ hạn trả lãi hằng quý, lãi suất mức gửi tiết kiệm kỳ hạn 06 tháng cao nhất là 0.725%, kỳ hạn 09 tháng mức cao nhất là 0.75 % và kỳ hạn 12 tháng mức cao nhất là 0.77% Đối với kỳ hạn trả lãi cuối kỳ, lãi suất mức gửi tiết kiệm 01 tuần cao nhất là 0.34%, lãi suất mức gửi 02 tuần cao nhất là 0.39%, lãi suất mức gửi 03 tuần cao nhất là 0.44%, với kỳ hạn 01 tháng mức cao nhất là 0.665%, kỳ hạn 02 tháng mức cao nhất là 0.705%, kỳ hạn 03 tháng mức cao nhất là 0.755%, kỳ hạn 06 tháng mức cao nhất là 0.775%

Không những việc tăng lãi suất tiền gửi bằng VND mà việc tăng lãi suất USD cũng được quan tâm đặc biệt

Mức huy động USD cao nhất trên thị trường thời điểm này thuộc về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB) khi lãi suất đối với kỳ hạn 12 tháng lên tới 6,47%/năm Lãi suất huy động USD đối với các kỳ hạn khác: kỳ hạn 1 tháng là 6,3%/năm, kỳ hạn 2 tháng

là 6,35%/năm, kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng là 6,45%,/năm

3.1.3 Kỳ hạn huy động vốn

Xét về mặt thời gian, Ngân hàng huy động vốn theo hai loại: không kỳ hạn và có kỳ hạn Hình thức có kỳ hạn của Ngân hàng rất đa dạng, đáp ứng được mọi nhu cầu của người gửi Hiện nay Ngân hàng đang huy động với các thời hạn sau: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng Thời hạn đa dạng đã đáp ứng mọi mục đích của người gửi tiền: gửi với mục đích sinh lợi, gửi với mục đích thanh toán, gửi với mục đích an toàn Ngân hàng tạo mọi thuận lợi cho người gửi tiền

Nguồn huy động không kỳ hạn của Ngân hàng qua các năm đều tăng Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn ngày càng được tăng cường một cách khá đều đặn Trong cơ cấu của nguồn

Trang 20

tiền gửi không kỳ hạn này thì chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, chiếm khoảng 95% Nguồn tiền gửi của khu vực dân cư rất ít Nó phản ánh đặc điểm của nguồn tiền gửi không kỳ hạn Nguồn tiền gửi không kỳ hạn chủ yếu được các tổ chức kinh tế sử dụng với mục đích phục vụ cho việc thanh toán Còn đối với dân cư, mục đích chủ yếu là để lấy lãi, nên họ gửi vào các khoản mục có kỳ hạn.

Trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng tính theo thời gian, thì nguồn vốn ngắn hạn luôn rất lớn, chiếm khoảng 75 - 80% tổng nguốn vốn Nguồn vốn ngắn hạn này huy động từ dân cư, doanh nghiệp và được các ngân hàng khác điều chuyển đến Ngày nay các doanh nghiệp cũng có xu hướng gửi tiền vào các khoản mục ngắn hạn: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng thay vào chỉ gửi vào tiền gửi không kỳ hạn như trước kia Các doanh nghiệp đã tính toán kỹ lưỡng chu kỳ kinh doanh của mình, từ đó tìm ra giải pháp tối ưu để tối đa hoá lợi nhuận

Khoản tiền huy động từ nguồn trung và dài hạn là quan trọng đối với bất cứ Ngân hàng nào Đây là nguồn chủ yếu để Ngân hàng tiến hành cho vay trung và dài hạn Lãi suất cho vay trung và dài hạn rất cao, từ đó Ngân hàng kiếm dược nhiều lợi nhuận Lấy nguồn huy động trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn là một cách để giảm bớt rủi ro thanh khoản

và rủi ro lãi suất Nguồn vốn trung và dài hạn của Ngân hàng không nhiều, chiếm một tỷ trọng nhỏ

Nguồn vốn huy động của SHB các năm qua đều tăng cao do SHB đã không ngừng mở rộng hệ thống mạng lưới chi nhánh, đến thời điểm 31/12/2006 tổng vốn huy động đạt được 770.001triệu đồng, đến năm 2007 đạt 9.948.533 triệu đồng Tốc độ tăng trưởng vốn huy động duy trì ở mức cao,năm 2006 tăng 290% so với năm 2005; năm 2007 tăng 1192% so với tổng nguồn vốn huy động cả năm 2006

Bảng 4: Nguồn vốn huy động theo kỳ hạn & cơ cấu

Ngày đăng: 16/04/2013, 17:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1:   Sơ đồ cơ cấu tổ chức - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB
Sơ đồ 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức (Trang 14)
Bảng 1 : Kết quả hoạt động kinh doanh của SHB 2007 – 2009 - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB
Bảng 1 Kết quả hoạt động kinh doanh của SHB 2007 – 2009 (Trang 15)
Bảng 3 : Tình hình huy động vốn  2008-2009 của SHB - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB
Bảng 3 Tình hình huy động vốn 2008-2009 của SHB (Trang 17)
Bảng 4: Nguồn vốn huy động theo kỳ hạn &amp; cơ cấu - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB
Bảng 4 Nguồn vốn huy động theo kỳ hạn &amp; cơ cấu (Trang 20)
Bảng 5: Huy động vốn từ các quỹ - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội_SHB
Bảng 5 Huy động vốn từ các quỹ (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w