1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 trường tiểu học hải vân

65 823 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 747,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà còn là nhiệm vụ của toàn xã hội. Do đó trẻ khuyết tật cần được quan tâm, chăm sóc, được đối xử tế nhị và công bằng. Đặc biệt trẻ khuyết tật cần được phải được tạo mọi cơ hội để học tập và phát triển bình thường như bao trẻ em khác. Xuất phát từ quan điểm đó, việc chăm sóc giáo dục trẻ em khuyết tật đã được khẳng định là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Điều này thể hiện rõ trong mục tiêu giáo dục của nước ta là phấn đấu đến năm 2015, huy động được 70% trẻ khuyết tật đến trường. Với mục tiêu này thì môi trường giáo dục chuyên biệt cũng như môi trường hội nhập không thể đáp ứng được. Giáo dục hoà nhập ra đời là một giải pháp hữu hiệu, đảm bảo cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ chậm phát triển trí tuệ ( CPTTT ) nói riêng quyền được giáo dục, được tham gia mọi hoạt động xã hội.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

KHOA TÂM LÍ HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải Vân

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hương Giang Giảng viên hướng dẫn: ThS Bùi Văn Vân

Đà Nẵng, Năm 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này,

em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Th.s Bùi Văn Vân Em xin cảm ơn các thầy cô của khoa Tâm lý – Giáo dục đã giúp đỡ, chỉ bảo thêm cho

em Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường Tiểu học Hải Vân, các thầy cô giáo trường Tiểu học Hải Vân đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong việc điều tra, nghiên cứu

Lời cuối, cho em gửi lời cảm ơn tới gia đình, những người đã luôn động viên, hỗ trợ cho em để hoàn thành khóa luận tốt

Đề tài của em không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy

cô để đề tài được hoàn thiện

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 06 năm 2011

Nguyễn Thị Hương Giang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 0

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Một số vấn đề về trẻ chậm phát triển trí tuệ 6

1.2.1 Khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ 6

1.2.1.1 Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ 6

1.2.1.2 Khái niệm CPTTT dựa trên cơ sở khiếm khuyết về khả năng điều chỉnh xã hội 6

1.2.1.3 Khái niệm CPTTT dựa vào nguyên nhân gây CPTTT 7

1.2.1.4 Khái niệm chậm phát triển trí tuệ theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV (DSM-IV) 7

1.2.1.5 Khái niệm CPTTT theo Hiệp hội Chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) năm 1992 8

1.2.2 Phân loại trẻ chậm phát triển trí tuệ 8

1.2.2.1 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nhẹ 9

1.2.2.2 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức trung bình 9

1.2.2.3 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nặng 10

1.2.2.4 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức rất nặng 10

1.2.3 Nguyên nhân gây ra tật chậm phát triển trí tuệ 11

1.2.3.1 Trước khi sinh 11

1.2.3.2 Trong khi sinh 11

1.2.3.3 Sau khi sinh 12

1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ CPTTT 12

1.2.4.1 Đặc điểm nhận thức 12

1.2.4.2 Đặc điểm chú ý 13

1.2.4.3 Đặc điểm ngôn ngữ 14

1.2.4.4 Đặc điểm phát triển tình cảm, xúc cảm 14

1.3 Quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT 14

1.3.1 Khái niệm quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT 14

1.3.2 Một số vấn đề về hành vi bất thường của trẻ CPTTT 15

1.3.2.1 Khái niệm hành vi bất thường của trẻ CPTTT 15

1.3.2.2 Phân loại hành vi bất thường 16

Trang 4

1.3.2.3 Nguyên nhân gây hành vi bất thường 17

1.3.2.4 Đặc điểm hành vi của trẻ CPTTT 18

1.3.2.5 Sơ đồ biểu hiện hành vi bất thường 20

1.3.2.6 Hậu quả của hành vi bất thường 20

1.3.2.7 Mục đích quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT 21

1.3.3 Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT 21

1.3.3.1 Khái niệm quy định của lớp học 21

1.3.3.2 Hệ thống các quy định của lớp học để quản lí HVBT của trẻ CPTTT 21

1.3.3.3 Ý nghĩa của việc sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập 22

1.3.3.4 Quy trình sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập 22

1.3.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học hoà nhập 25

Tiểu kết chương 1: 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LỚP HỌC TRONG VIỆC QUẢN LÍ HVBT CỦA HỌC SINH CPTTT KHỐI LỚP 3 – TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN 28

2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát 28

2.1.1 Trường Tiểu học Hải Vân 28

2.1.2 Khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải Vân 28

2.2 Khái quát quá trình khảo sát 29

2.3 Thực trạng giáo viên sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải Vân 29

2.3.1 Thực trạng hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 29

2.3.2 Nhận thức của giáo viên về quản lí HVBT của học sinh CPTTT 32

2.3.3 Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học hoà nhập 33

2.3.4 Việc các giáo viên sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3- Trường Tiểu học Hải Vân 37

2.3.5 Nguyên nhân của thực trạng trên 39

Tiểu kết chương 2: 40

CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LỚP HỌC ĐỂ QUẢN LÍ HÀNH VI BẤT THƯỜNG CỦA HỌC SINH CPTTT Ở KHỐI LỚP 3 – TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN 41

3.1 Mô tả một trường hợp trẻ CPTTT cụ thể 41

3.1.1 Một vài nét về bản thân trẻ 41

3.1.2 Kết quả quan sát 41

Trang 5

3.1.2.1 Quan sát chung 41

3.1.2.2 Bảng kiểm tra hành vi 42

3.1.3 Kết luận 44

3.2 Mô tả quy trình sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 44

3.2.1 Xác định hành vi 44

3.2.2 Quan sát và ghi chép để hiểu rõ hơn về biểu hiện hành vi của trẻ 45

3.2.3 Xây dựng kế hoạch 47

3.2.3.1 Lập kế hoạch sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT 47

3.2.3.2 Đưa ra bản cam kết thực hiện 49

3.2.4 Thực hiện kế hoạch 50

3.2.5 Giám sát thực hiện kế hoạch 50

3.2.6 Đánh giá 50

3.3 Thử nghiệm tính phù hợp của bản kế hoạch 50

3.3.1 Khái quát quá trình thử nghiệm 50

3.3.2 Kết quả thực nghiệm 51

3.3.2.1 Kết quả thực hiện kế hoạch quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT 51

3.3.2.2 Kết quả phiếu xin ý kiến 54

Tiểu kết chương 3: 57

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

1 Kết luận chung 58

2 Khuyến nghị: 58

2.1 Đối với giáo viên 58

2.2 Với BGH nhà trường 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

AAMR (The American Assosiation of Mental Rotardation) –

Hiệp hội chậm phát triển trí tuệ Mỹ

DSM-IV Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm

thần IV

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà còn

là nhiệm vụ của toàn xã hội Do đó trẻ khuyết tật cần được quan tâm, chăm sóc, được đối xử tế nhị và công bằng Đặc biệt trẻ khuyết tật cần được phải được tạo mọi

cơ hội để học tập và phát triển bình thường như bao trẻ em khác Xuất phát từ quan điểm đó, việc chăm sóc giáo dục trẻ em khuyết tật đã được khẳng định là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Điều này thể hiện rõ trong mục tiêu giáo dục của nước ta là phấn đấu đến năm 2015, huy động được 70% trẻ khuyết tật đến trường Với mục tiêu này thì môi trường giáo dục chuyên biệt cũng như môi trường hội nhập không thể đáp ứng được Giáo dục hoà nhập ra đời là một giải pháp hữu hiệu, đảm bảo cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ chậm phát triển trí tuệ ( CPTTT ) nói riêng quyền được giáo dục, được tham gia mọi hoạt động xã hội Mục tiêu của giáo dục hoà nhập hướng đến không chỉ là cung cấp kiến thức mà còn là hình thành được kỹ năng, phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ CPTTT nói riêng, giảm thiểu đến mức thấp nhất những khó khăn do khuyết tật gây

ra, nâng cao mức độ thích ứng hành vi để trẻ có thể vươn tới cuộc sống bình thường

và hoà nhập được với cộng đồng

1.2 Trong số các trẻ khuyết tật theo học hình thức giáo dục hoà nhập thì trẻ CPTTT chiếm số lượng đông nhất và đây cũng là nhóm trẻ gặp nhiều khó khăn Theo số liệu của Viện chiến lược và chương trình giáo dục năm 2005 thì có đến 40% trong tổng số trẻ CPTTT có những hành vi bất thường( HVBT) HVBT của trẻ CPTTT không những ảnh hưởng tới bản thân trẻ CPTTT mà còn ảnh hưởng tới các học sinh bình thường khác trong lớp và ảnh hưởng đến tiến trình lên lớp, hiệu quả giảng dạy của giáo viên

Vì vậy việc định hướng các biện pháp quản lí HVBT cho học sinh CPTTT học hoà nhập và thực hiện triệt để các biện pháp quản lí HVBT của học sinh CPTTT là điều cần thiết và cấp bách, đồng thời đảm bảo mục tiêu và tính hiệu quả của giáo dục hoà nhập Theo nghiên cứu lí luận và kinh nghiệm thực tiễn thì có nhiều phương pháp, nhiều cách để quản lí HVBT của trẻ CPTTT học hoà nhập Và một trong những phương pháp quản lí HVBT cho học sinh CPTTT học hoà nhập

có hiệu quả là sử dụng các quy định của lớp học

Thực tế giáo dục đã chỉ rõ ở nơi nào giáo viên biết cách sử dụng đúng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT thì ở đó chất lượng GDHN cho học sinh CPTTT được nâng cao

1.3 Tuy nhiên, các trường tiểu học hòa nhập trên cả nước nói chung và Đà Nẵng nói riêng hiện nay chưa quan tâm nhiều đến việc quản lí hành vi bất thường cho học sinh CPTTT, nhiều trường chưa có biện pháp quản lí phù hợp

Trang 8

Trường Tiểu học Hải Vân là một trong những trường tiên phong trong lĩnh vực giáo dục hoà nhập của thành phố Đà Nẵng Bên cạnh những thành tựu mà nhà trường đã đạt được thì việc quản lí HVBT của học sinh CPTTT học hoà nhập cũng còn nhiều hạn chế

Xuất phát từ những lí do đó mà chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải Vân ” Thực hiện đề tài này tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc

hỗ trợ cho giáo viên trong việc quản lí HVBT của học sinh CPTTT học hoà nhập có hiệu quả mà trước hết là quản lí HVBT của học sinh CPTTT khối lớp 3

2 Mục đích nghiên cứu

Thực trạng sử dụng quy định của lớp học trong việc quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 ở Trường Tiểu học Hải Vân Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống quy định của lớp học phù hợp để quản lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập có hiệu quả

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 tại Trường Tiểu học Hải Vân – TP.Đà Nẵng

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, việc giáo dục quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, học sinh còn có nhiều hành vi không phù hợp, gây mất trật tự trong lớp học Nếu xây dựng được các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT thì việc giáo dục quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT sẽ hiệu quả hơn, giúp các

em học tập tốt hơn

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về việc sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí hành

vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân

- Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 học hòa nhập tại Trường Tiểu học Hải Vân

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân

Trang 9

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

* Mục đích :

- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

- Làm sáng tỏ khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài

* Phương tiện :

- Các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan

- Thông tin và số liệu

* Cách làm :

- Thu thập thông tin và số liệu

- Phân tích, tổng hợp, lý giải tính khoa học của vấn đề

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát và ghi chép hành vi của học sinh CPTTT trong 2 tháng gần đây

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng Anket

* Mục đích :

- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về hành vi bất thường của học sinh CPTTT, về phương pháp sử dụng các quy định của lớp học trong quản lí HVBT của học sinh CPTTT

Trang 10

Trao đổi với giáo viên trực tiếp dạy học sinh CPTTT, phụ huynh của học sinh, học sinh cùng lớp, học sinh CPTTT để chính xác hoá thông tin thu được từ phương pháp quan sát và phương pháp điều tra bằng ankét

6.2.4 Phương pháp thống kê toán học

- Xử lí số liệu thu thập được từ thực tế

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình phát triển ở trẻ CPTTT thường xuất hiện một số hành vi không bình thường Những hành vi bất thường của trẻ không những đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của chính bản thân đứa trẻ mà còn là mối lo ngại thực sự đối với cha mẹ và các nhà sư phạm Các nhà tâm lý-giáo dục đang hết sức quan tâm, họ đang cố gắng tìm ra những biện pháp điều chỉnh những hành vi của trẻ Ở nước ngoài, vấn đề hành vi của trẻ được quan tâm từ rất sớm Ở Trung Quốc, năm 1981 theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em Nam Kinh đối với các trẻ em sống tại Thành phố Nam Kinh, người ta đã phát hiện, trong trở ngại về hành vi của trẻ em, vấn đề ăn uống chiếm 36,1%, vấn đề về tinh thần chiếm 19,8%, dễ kích động chiếm 16,8%, khó khăn trong học tập và tập trung sự chú ý chiếm 11,4% Ngoài ra còn một số trở ngại khác như tính hung hãn, sự co mình, rối loạn ngôn ngữ.v.v cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể Các vấn đề về hành vi của trẻ em ngày nay đang được xã hội đặc biệt chú ý, nhất là đối tượng trẻ em chậm phát triển [9] Trong cuốn sách “Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( Dự án phát triển giáo viên tiểu học, năm 2006) các tác giả đã

đề cập đến khái niệm HVBT, đặc điểm HVBT, và phân loại HVBT của trẻ CPTTT, trình bày một số biện pháp quản lí HVBT của trẻ CPTTT trong lớp học hoà nhập [10]

Trong cuốn sách “ Giáo dục hoà nhập trẻ CPTTT cấp tiểu học” của Viện chiến lược và chương trình giáo dục (2006) các tác giả đã trình bày khái niệm HVBT của trẻ CPTTT, nguyên nhân gây nên HVBT và mô tả một số hướng giáo dục khắc phục HVBT Trong đó có đề cập đến phương pháp sử dụng các quy định của lớp học để quản lí HVBT của trẻ CPTTT [1]

Một số sinh viên ngành tâm lí học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đi sâu tìm hiểu hành vi của trẻ CPTTT ở bậc tiểu học trong phạm vi các trường Tiểu học ở Thành phố Hà Nội nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát thực trạng rối nhiễu hành vi của trẻ CPTTT mà chưa đưa ra biện pháp quản lí

Khóa luận tốt nghiệp của Cao Thị Thúy Hằng – lớp 06SDB Trường ĐHSP – ĐHSP với đề tài “ Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề để quản lí HVBT của trẻ CPTTT ở khối lớp 5 - Trường Tiểu học Hải Vân” đã đề cập đến phương pháp giải quyết vấn đề để quản lí HVBT của trẻ CPTTT [4]

Nhìn chung ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề HVBT của trẻ CPTTT và đưa ra một số biện pháp quản lí HVBT Tuy nhiên chưa có nhiều tài liệu đề cập đến phương pháp sử dụng các quy định của lớp học

Trang 12

1.2 Một số vấn đề về trẻ chậm phát triển trí tuệ

1.2.1 Khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ

1.2.1.1 Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ

Hai tác giả người Pháp Alfred Binet và Theodore Simon là những người đầu tiên phát minh ra trắc nghiệm trí tuệ vào đầu thế kỷ XX Mục đích của trắc nghiệm này là để phân biệt trẻ em bình thường học kém và các trẻ học kém do chậm phát triển trí tuệ Sau khi ra đời trắc nghiệm này đã được các nhà tâm lí học Mỹ chú ý và

nó được lấy làm cơ sở để phát triển nhiều trắc nghiệm trí tuệ khác

Từ khi trắc nghiệm trí tuệ ra đời, qua nhiều năm nghiên cứu, đại đa số các chuyên gia đã thống nhất sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ để xác định CPTTT Theo

họ những người có chỉ số trí tuệ dưới 70 là chậm phát triển trí tuệ

Sử dụng trắc nghiệm trí tuệ để chẩn đoán CPTTT có ưu điểm là khách quan, đáng tin cậy và dễ thực hiện, đặc biệt là trong các trường hợp cần đánh giá phân loại nhanh Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như:

- Chỉ số trí tuệ không phải là đơn vị đo lường duy nhất về tiềm năng trí tuệ của con người

- Không phải lúc nào kết quả chẩn đoán trên trắc nghiệm trí tuệ cũng tương ứng với khả năng thích ứng của cá nhân đó trong cuộc sống thực tế Có nhiều trường hợp trẻ đạt chỉ số trí tuệ thấp nhưng lại thích ứng dễ dàng với môi trường

- Nhược điểm lớn nhất khi xác định trẻ CPTTT bằng trắc nghiệm trí tuệ là trắc nghiệm trí tuệ ít có hiệu quả với trẻ em nghèo và trẻ có nguồn gốc văn hoá khác Như vậy, để đánh giá xác thực và toàn diện còn cần phải dựa vào nguồn gốc văn hoá, hoàn cảnh về địa lý, kinh tế, xã hội

1.2.1.2 Khái niệm CPTTT dựa trên cơ sở khiếm khuyết về khả năng điều chỉnh xã hội

Theo Benda – Người có quan điểm dựa trên khả năng thích ứng của cá nhân:

“Một người CPTTT là người không có khả năng điều khiển bản thân và xử lý các vấn đề riêng của mình, hoặc phải được dạy mới biết làm Họ có nhu cầu về sự giám sát, kiểm soát và chăm sóc cho sức khoẻ của bản thân mình và cần đến sự chăm sóc của cộng đồng”

Khái niệm này cho rằng những người CPTTT trong quá trình phát triển và trưởng thành sẽ không đạt được cuộc sống độc lập Đồng thời cách tiếp cận này có những nhược điểm là:

- Một cá nhân có thể bị coi là khuyết tật trong môi trường này nhưng lại không gặp khó khăn trong môi trường khác Ví dụ như một người cảm thấy học môn tiếng Việt hoặc toán thì khó, nhưng lại có thể thích nghi tốt nếu sống ở nông thôn hoặc làm các công việc đồng áng Họ có thể bị coi là người khuyết tật nếu sống trong điều kiện văn hoá thành thị hiện đại, ở đó đòi hỏi họ phải biết làm ngay cả những

Trang 13

công việc đơn giản nhất như điền vào một bảng câu hỏi, đọc các biển báo hoặc những chỉ dẫn nơi công cộng

- Khó xác định cụ thể trẻ nào là trẻ không thích ứng được, bởi vì các chuyên gia vẫn chưa thống nhất khái niệm như thế nào là một trẻ thích ứng được Hiện nay nhiều chuyên gia đang cố gắng thiết kế mới một số loại thang đo hành vi thích ứng như những trắc nghiệm trí tuệ

- Khả năng thích ứng xã hội kém không chỉ do nguyên nhân CPTTT mà còn nhiều nguyên nhân khác gây nên sự thiếu hụt về hành vi thích ứng Ví dụ như nhiều người do hụt hẫng về tình cảm đã ảnh hưởng đến khả năng độc lập của họ

1.2.1.3 Khái niệm CPTTT dựa vào nguyên nhân gây CPTTT

Theo quan điểm dựa vào nguyên nhân gây CPTTT, Luria cho rằng: “Trẻ CPTTT là những trẻ mắc phải bệnh về não rất nặng khi còn trong bào thai hoặc trong những năm tháng đầu đời Bệnh này cản trở sự phát triển của não, do vậy nó gây ra sự phát triển không bình thường về tinh thần Trẻ CPTTT dễ dàng được nhận

ra do khả năng lĩnh hội ý tưởng và khả năng tiếp nhận thực tế bị hạn chế”

Việc xác định CPTTT dựa trên nguyên nhân của nó có giá trị thực tiễn đặc biệt

là đối với việc chăm sóc và giáo dục trẻ Tuy nhiên khó khăn thường gặp trong việc phân loại theo cách này là sự đa dạng của các nguyên nhân Hơn nữa, có nhiều trẻ

em và người lớn bị CPTTT nhưng lại không phát hiện được những khiếm khuyết trong hệ thần kinh của họ (Khoảng 1/3 số người CPTTT không phát hiện ra nguyên nhân gây CPTTT)

1.2.1.4 Khái niệm chậm phát triển trí tuệ theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV (DSM-IV)

Theo DSM-IV, tiêu chí chẩn đoán CPTTT bao gồm:

A Chức năng trí tuệ dưới mức độ trung bình: Chỉ số trí tuệ đạt gần 70 trên một

lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân

B Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/ liên cá nhân, sử

dụng tiện ích công cộng, tự định hướng, kĩ năng học đường chức năng, lao động, giải trí, sức khoẻ và an toàn

C Hiện tượng CPTTT xuất hiện trước 18 tuổi

Như vậy, theo DSM-IV đặc điểm cơ bản của khuyết tật là hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình (Tiêu chí A), bị hạn chế đáng kể về hai trong số những lĩnh vực hành vi thích ứng đã đề cập ở trên (Tiêu chí B), khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi

Chức năng trí tuệ tổng quát là chỉ số trí tuệ (có thể gọi là IQ) đo được qua đánh giá bằng một hoặc hơn một trắc nghiệm trên cá nhân về trí tuệ Độ chênh lệch cao

Trang 14

nhất trong quá trình xác định chỉ số trí tuệ là 5 điểm, kể cả khi các công cụ đo có những đặc điểm khác biệt nhất định Do vậy, vẫn có thể chẩn đoán những người có khiếm khuyết về hành vi xã hội và có chỉ số trí tuệ dao động từ 70 đến 75 là người CPTTT Ngược lại, một số người có chỉ số trí tuệ thấp hơn 70 nhưng lại ít bị khiếm khuyết và thiếu hụt lớn về khả năng thích ứng thì không bị coi là CPTTT

Ngoài chỉ số IQ thấp, khả năng thích ứng kém thường là triệu trứng của cá nhân CPTTT Khả năng thích ứng là khả năng đáp ứng những đòi hỏi chung của cuộc sống và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn độc lập cá nhân, tiêu chuẩn mà những người cùng tuổi đạt được trong cùng một hoàn cảnh văn hoá, xã hội và môi trường cộng đồng

Khả năng thích ứng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như giáo dục, động cơ, đặc điểm nhân cách, rối loạn tinh thần và những vấn đề sức khoẻ; các yếu tố này có thể xuất hiện cùng với tật CPTTT

1.2.1.5 Khái niệm CPTTT theo Hiệp hội Chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) năm

1992

Theo AAMR-1992, CPTTT là những hạn chế lớn về khả năng thực hiện chức năng, đặc điểm của tật là:

- Hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình

- Hạn chế về hai hoặc nhiều hơn những kĩ năng thích ứng như: kĩ năng giao tiếp,

tự phục vụ, sống tại gia đình, sử dụng các tiện ích công cộng, tự định hướng, sức khoẻ,

an toàn, kĩ năng học đường chức năng, giải trí, lao động

- Hiện tượng CPTTT xuất hiện trước 18 tuổi

Kết luận chung: Cho đến nay, khái niệm về CPTTT được sử dụng rộng rãi trên thế

giới và ở Việt Nam là khái niệm CPTTT theo bản phân loại DSM-IV và khái niệm CPTTT theo bảng phân loại AAMR năm 1992 Hai định nghĩa này đều sử dụng các tiêu chí cơ bản giống nhau là hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng, và khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi Sự khác biệt giữa hai khái niệm này là: DSM-IV sử dụng chỉ số trí tuệ làm tiêu chí để xác định mức độ CPTTT, còn theo bảng phân loại của AAMR sử dụng tiêu chí khả năng thích ứng xã hội để phân loại mức độ CPTTT [9]

1.2.2 Phân loại trẻ chậm phát triển trí tuệ

Theo bảng phân loại DSM-IV có 4 mức độ CPTTT như sau:

1 CPTTT nhẹ: chỉ số IQ từ 50 – 55 tới xấp xỉ 70

2 CPTTT trung bình: chỉ số IQ từ 35 – 40 tới 50 – 55

3 CPTTT nặng: chỉ số IQ từ 20 – 25 tới 35 – 40

4 CPTTT rất nặng: chỉ số IQ dưới 20 hoặc 25

Trang 15

1.2.2.1 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nhẹ

Trẻ CPTTT nhẹ có thể đạt tuổi trí tuệ từ 7 đến 12 tuổi (IQ từ 50-55 đến khoảng 70) Theo Piaget, đây là giai đoạn thao tác cụ thể Trẻ giải quyết bằng vấn đề tư duy logic nhưng vẫn chưa thể suy nghĩ theo cách trừu tượng Trong giai đoạn trước khi đến trường (0-5 tuổi), chúng phát triển những kỹ năng giao tiếp và xã hội Trẻ có những khuyết tật nhỏ trong các lĩnh vực vận động cảm giác và thường không phân biệt được với những trẻ không bị CPTTT Đến cuối thời kỳ thanh thiếu niên, chúng

có thể đạt được những kỹ năng học tập ở mực độ xấp xỉ với lớp 6 Chúng cần được dạy những môn học cơ bản tại trường ở mực độ tối đa mà khả năng của trẻ cho phép Trẻ CPTTT nhẹ có khả năng thể hiện mình trong việc chọn bạn, trong các hoạt động giải trí, cách ăn mặc Khi đã thành người lớn, chúng thường đạt được những kỹ năng xã hội và nghề phù hợp cho việc tự hỗ trợ bản thân ở mức tối thiểu nhưng vẫn cần có người giám sát, hướng dẫn và giúp đỡ, đặc biệt khi chúng chịu những sức ép kinh tế hoặc tình cảm bất thường (trẻ thường dễ bị tổn thương bởi những vấn đề tình cảm) Khi được trợ giúp thích hợp, người lớn CPTTT nhẹ có thể sống khá thành công trong cộng đồng, một cách độc lập hoặc tại những môi trường

có giám sát

1.2.2.2 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức trung bình

Trẻ chậm phát triển trí tuệ trung bình có thể đạt đến tuổi trí tuệ từ 4 đến 7 tuổi (IQ từ 35-40 đến 50-55) Theo Piaget, trẻ CPTTT trung bình ở vào giai đoạn tiền tư duy logic Chúng có thể xây dựng những khái niệm hữu ích dựa trên kinh nghiệm, nhưng chủ yếu chúng vẫn quan tâm đến những trải nghiệm trực tiếp thông qua tiếp nhận Thường chúng cố gắng giải quyết vấn đề bằng nguyên tắc “thử và sai” Hầu hết trẻ có kỹ năng giao tiếp trong những năm đầu của thời kỳ ấu thơ Khi lớn lên, trẻ CPTTT trung bình có khả năng tự đưa ra quyết định nhưng chúng cần được giúp

đỡ Người lớn giúp trẻ bằng cách chỉ cho chúng những lựa chọn khác nhau và cùng chúng tìm hiểu các kết quả Trẻ có thể thảo luận về những nguyên tắc, do vậy cần khuyến khích các em thực hiện các nguyên tắc và quyết định Người lớn nên có thái

độ cởi mở đối với những ý kiến của trẻ và phải có khả năng thay đổi các nguyên tắc nhằm đáp ứng nhu cầu của chúng Điều quan trọng đối với trẻ là khi lớn lên, trẻ phải cảm thấy có nhiều quyền hạn hơn đối với cuộc sống của mình Tại trường, trẻ CPTTT trung bình có thể phát triển qua mức lớp hai Chúng có thể thu được kết quả

từ quá trình dạy và hướng dẫn các kỹ năng nghề, kỹ năng xã hội Ở một chừng mực nhất định, chúng có thể chịu trách nhiệm với một số nhiệm vụ cụ thể Chúng trải nghiệm niềm vui khi thành công và đồng thời cũng sẽ trải nghiệm về sự thất bại Nỗi sự thất bại có thể cản trở hoạt động của chúng Trẻ CPTTT trung bình có thể học để đi lại độc lập trong những địa điểm quen thuộc Ở thời kỳ thanh thiếu niên, những khó khăn trong việc nhận ra các quy tắc xã hội thông thường có thể cản trở những mối quan hệ với bạn bè Khi lớn lên, phần lớn trẻ có thể thực hiện những

Trang 16

công việc không đòi hỏi nhiều kỹ năng dưới sự giám sát tại xưởng làm việc riêng hay trong hoạt động lao động chung (như lắp ráp, đóng gói đơn giản) Chúng thích nghi tốt với cuộc sống trong cộng đồng, thường là những môi trường có giám sát

1.2.2.3 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nặng

Trẻ CPTTT nặng sẽ đạt đến tuổi trí tuệ giữa 2 và 4 tuổi (IQ từ 20-25 đến 40), theo lý thuyết của Piaget đây là giai đoạn tiền thao tác trong quá trình phát triển Trong những năm đầu thời kỳ ấu thơ, trẻ CPTTT nặng không phát triển hoặc phát triển rất ít ngôn ngữ nói Khi lớn lên, chúng có thể học nói nhưng giao tiếp vẫn rất đơn giản Trẻ CPTTT nặng có thể tư duy liên kết theo kiểu “cái này đi với cái kia” (ví dụ như cái chén đi với đĩa đặt chén) và kiểu “cái này rồi đến cái kia” (ví dụ

35-mẹ lấy mũ và sau đó chúng ta sẽ đi chơi) nhưng không có khả năng tư duy ở dạng phán đoán xem điều gì sẽ xảy ra trong những tình huống mới Những kỹ năng của chúng không dựa nhiều trên sự hiểu biết về bản chất sự vật mà chủ yếu dựa trên những trình tự về hành động mà chúng đã được dạy kỹ lưỡng Chúng quen với những chuỗi hành động (ví dụ đầu tiên ra khỏi giường, sau đó tắm, sau đó mặc quần

áo và ăn sáng) nên chúng sẽ rất lúng túng khi một mắc xích trong chuỗi bị đứt đoạn

vì một lý do không biết trước (ví dụ không có hoạt động tắm) Trẻ thậm chí có thể hoảng sợ vì chúng khống biết cách đối phó với tình huống mới Trẻ CPTTT nặng có thể phát triển tốt trong một chương trình hàng ngày có tổ chức, trong các quy tắc ổn định và trong những tình huống dễ nhận ra Sự lặp lại và tính quen thuộc có thể dần đưa đến sự hiểu biết về bản chất sự vật Mặt khác, chúng ta phải cẩn thận để không gây ra cho trẻ sự buồn tẻ, chán nản Tình trạng đồng bộ quá mức có thể đưa đến sự cứng nhắc Bằng cách mang lại cho trẻ một sự đa dạng nhất định, trẻ sẽ có thể mở rộng kinh nghiệm Mặc dù trẻ CPTTT nặng vẫn có khả năng phân biệt giữa bản thân và những người khác, nhưng chúng không thể đặt mình vào vị trí người khác, thực tế trẻ vẫn có thái độ coi bản thân là trung tâm Trẻ CPTTT nặng có thể được huấn luyện về những kỹ năng tự chăm sóc cơ bản Chúng chỉ thu nhận được ở một mức độ hạn chế từ những chỉ dẫn trong các môn học tiền học đường, ví dụ như nhận mặt chữ cái hoặc đếm đơn giản Khi lớn lên, chúng có thể thực hiện những kỹ năng đơn giản tại những môi trường được giám sát chặt chẽ Hầu hết chúng có thể thích nghi tốt với cuộc sống trong cộng đồng, trong nhà tập thể hoặc tại nhà mình, trừ khi chúng có những khuyết tật đòi hỏi cần được chăm sóc đặc biệt

1.2.2.4 Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức rất nặng

Trẻ CPTTT rất nặng sẽ đạt đến tuổi trí tuệ là 0-2 tuổi (IQ<20 hoặc 25) Hầu hết trẻ được chẩn đoán là CPTTT rất nặng có vấn đề về thần kinh, đây được coi là nguyên nhân gây ra CPTTT Trong những năm đầu của thời kỳ ấu thơ, trẻ có thể hiện khuyết tật nặng về vận động, nghe và nhìn Rất nhiều trong số các trẻ này bị động kinh Theo Piaget, trẻ CPTTT rất nặng có sự phát triển nhận thức ở giai đoạn vận động-cảm giác, nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh chỉ hạn chế ở những

Trang 17

gì trẻ nhận được thông qua cảm giác và những hoạt động vận động Ban đầu, chỉ những gì mà trẻ nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy hoặc nếm thấy một cách trực tiếp mới tồn tại; còn những gì trẻ không nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy hoặc nếm thấy thì không tồn tại Dựa trên những kinh nghiệm lặp lại và trí nhớ, trẻ dần dần có khả năng liên kết giữa các kinh nghiệm, trẻ bắt đầu tư duy theo kiểu liên kết Một trong những nhận thức liên kết đầu tiên mà trẻ có là liên hệ về sự xuất hiện của người trông trẻ với việc được ăn Trẻ CPTTT rất nặng thể hiện ý thích khám phá môi trường của mình và thể hiện những trò chơi phối hợp tay mắt, những trò chơi kết hợp và trò chơi thể hiện chức năng Trò phối hợp tay mắt là trò chơi trong đó đứa trẻ chơi với đồ chơi bằng cách sờ vào chúng, bò vào miệng, gõ chúng xuống sàng Trong những trò chơi phối hợp, trẻ phối hợp hai đồ vật với nhau, như đập hai khối hộp vào nhau hoặc đặt một khối hộp lên trên khối kia Trò chơi thể hiện chức năng là trò chơi mà trẻ bắt đầu sử dụng những vật liệu đúng cách, ví dụ như chơi với một chiếc ô tô đồ chơi bằng cách lái ô tô đi quanh sàn Ngoài ra còn có một vài trò chơi giả vờ với những đồ chơi dạng bản sao hoặc mô hình Dựa trên cách trẻ phát triển, trẻ có thể trưởng thành thêm trong nhận thức về sự tồn tại của đồ vật Trẻ CPTTT phụ thuộc nhiều vào những người khác, không chỉ vấn đề về chăm sóc mà còn cả về trải nghiệm Sự phát triển tối đa có thể diễn ra trong một môi trường có tổ chức cao với sự giúp đỡ, giám sát liên tục và quan hệ đã được cá nhân hoá giữa trẻ với người trông nom Sự phát triển vận động, các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự lực có thể được cải thiện nếu trẻ nhận được hướng dẫn và tập luyện hợp lý Một vài trẻ có thể thực hiện những nhiệm vụ đơn giản ở những môi trường được giám sát chặc chẽ [3]

1.2.3 Nguyên nhân gây ra tật chậm phát triển trí tuệ

1.2.3.1 Trước khi sinh

- Di truyền: Bố, mẹ hoặc một trong hai người CPTTT thì có thể sẽ di truyền cho các thế hệ tiếp theo

- Do sự đột biến nhiễm sắc thể (NST) làm cho cấu trúc gen bị sai lệch dẫn đến một

số hiện tượng như: Bệnh Tớc-nơ (nữ), Clai-phen-tơ (nam), Đao ( ba nhiễm sắc thể ở cặp 21),…

- Người mẹ bị mắc một số bệnh trong thời gian mang thai như: Cúm, sởi Rubela,…

- Thai nhi suy dinh dưỡng, thiếu iốt,…

- Yếu tố môi trường độc hại: Thai nhi bị nhiễm độc, ngộ độc, bố/mẹ bị nhiễm phóng

xạ, các chất gây nghiện ( do hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy),…

- Sự mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ (stress)

1.2.3.2 Trong khi sinh

Những rủi ro trong quá trình sinh: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt,…có can thiệp y

tế nhưng không đảm bảo dẫn đến những tổn thương não bộ

Trang 18

1.2.3.3 Sau khi sinh

- Trẻ bị mắc các bệnh về não như: Viêm não, viêm màng não để lại di chứng, chấn thương sọ não do tai nạn,…

- Do biến chứng từ các bệnh: sởi, đậu mùa,…

- Dùng thuốc không theo chỉ định,…

- Suy dinh dưỡng, thiếu iốt

- Tai nạn trong sinh hoạt, học tập,…

- Trẻ sống cách li cuộc sống xã hội trong thời gian dài,… [1]

1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ CPTTT

- Đặc điểm tư duy:

+ Tư duy trẻ CPTTT chủ yếu là hình thức tư duy cụ thể

+ Tư duy thường biểu hiện tính không liên tục, khi bắt đầu nhiệm vụ thì làm tốt nhưng càng về sau càng sai sót, chóng mệt mỏi, chú ý kém

+ Tư duy logic kém: trẻ thường không vận dụng được các thao tác tư duy đối với các hành động trí tuệ Không định hướng được trình tự trước khi thực hiện nhiệm vụ, khi thực hiện thì lẫn lộn giữa các bước

+ Tư duy trẻ CPTTT cũng thường biểu hiện thiếu tính phê phán, nhận xét: Trong các hoạt động hay thực hiện nhiệm vụ trẻ thường khó xác định cái gì là đúng hay sai nên thường dẫn đến việc khó điều khiển hành vi của mình

- Đặc điểm trí nhớ:

+ Chậm hiểu cái mới, nhanh quên cái vừa tiếp thu được Quá trình ghi nhớ

Trang 19

chậm chạp, không bền vững, không đầy đủ và thiếu chính xác Dễ quên cái gì không liên quan, không phù hợp với nhu cầu không mong đợi của trẻ

+ Ghi nhớ dấu hiệu bên ngoài của sự vật tốt hơn bên trong, khó nhớ những gì

có tính khái quát, trừu tượng, quan hệ lôgic

+ Có khả năng ghi nhớ máy móc, khó ghi nhớ có ý nghĩa Trẻ có thể nhắc lại từng từ, từng câu riêng biệt trong một đoạn/câu nhưng khó có thể tóm tắt ý nghĩa hay ý chính của đoạn/cốt chuyện

Căn cứ vào đặc điểm trí nhớ của trẻ có CPTTT, trong giảng dạy giáo viên cần vận dụng hết sức linh hoạt, sáng tạo các phương pháp nhằm giúp trẻ dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ nhớ:

+ Sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh, hình vẽ

+ Chia nhỏ nhiệm vụ theo từng bước (càng nhỏ càng tốt)

+ Củng cố kiến thức thường xuyên, liên tục, nhắc đi nhắc lại nhiều lần

+ Thường xuyên thay đổi hình thức hoạt động

+ Điều chỉnh thời gian hợp lý giữa học tập, vui chơi và nghỉ ngơi thư giãn, tránh gây căng thẳng thần kinh cho trẻ [10]

1.2.4.2 Đặc điểm chú ý

- Khó có thể tập trung trong một thời gian dài, dễ phân tán

- Khó tập trung cao vào các chi tiết

- Kém bền vững, thường xuyên chuyển từ hoạt động chưa hoàn thành sang hoạt động khác

- Luôn bị phân tán, khó tuân theo các chỉ dẫn, khó kiên nhẫn đợi đến lượt khó kiềm chế phản ứng

- Đỉnh cao chú ý và thời gian chú ý của trẻ CPTTT kém hơn nhiều so với trẻ bình thường

Nguyên nhân là do quá trình hưng phấn và ức chế của trẻ không cân bằng, lệch pha Nghĩa là có khi hứng phấn quá gia tăng, có khi bị ức chế kìm hãm kéo dài làm cho trẻ quá mệt mỏi và giảm đáng kể khả năng chú ý

Trẻ tiểu học: 5-7 phút

Người lớn: 12-15 phút

Hằng ngày, trẻ CPTTT cũng như trẻ bình thường đều có những thời điểm, một khoảnh khắc đạt tới đỉnh cao của sự chú ý Lúc đó, trẻ có khả năng đạt hiệu quả cao trong hoạt động và học tập Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên phải biết tận dụng được những thời điểm mà trẻ có đỉnh cao của chú ý để tổ chức hướng dẫn kiến thức mới cho trẻ để đạt hiệu quả mong muốn [10]

Trang 20

+ Nói sai ngữ pháp nhiều, ít sử dụng động từ, tính từ,…

+ Thường sử dụng câu đơn

+ Không nắm được quy tắc ngữ pháp

- Những biểu hiện khác:

+ Trẻ nói được nhưng không hiểu nói cái gì

+ Khó khăn trong việc hiểu lời nói của người khác

+ Nghe được nhưng không hiểu

+ Nhớ từ mới lâu, chậm

+ Đa số trẻ chậm biết nói

+ Một số trẻ có hiện tượng nghe câu được câu chăng, chỉ nghe được một số từ, nghe lơ mơ, có khi không nghe được gì [10]

1.2.4.4 Đặc điểm phát triển tình cảm, xúc cảm

Sự rối loạn trong quá trình phát triển tâm lí và thể chất ở trẻ CPTTT đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tình cảm và xúc cảm của trẻ CPTTT Biểu hiện đặc trưng đó là ở trẻ CPTTT xuất hiện nhiều loại phản ứng mang tính xúc cảm khác nhau: tự vệ – công kích, tự vệ – thụ động, “ quá trẻ con” _ G.E.Xukhareva,1959 Trong đó, ở một số trẻ là sự hung dữ, hành động không nhất quán, những hành vi thiếu suy nghĩ, còn ở một số trẻ khác là sự nhút nhát, thiếu tự tin, đa nghi,…

Trẻ CPTTT thường tự đánh giá cao, có tính ích kỉ, thiếu tính yêu lao động, không có khả năng đồng cảm và tự hạn chế, có xu hướng về bệnh cảm xúc mạnh Ở trẻ CPTTT không có những khái niệm về bản thân, về những người xung quanh trẻ, không biết thiết lập các mối quan hệ và bày tỏ thái độ tích cực của mình với người khác

Tính tích cực trong phạm vi tình cảm của trẻ CPTTT rất hạn chế, chúng thờ ơ gần như vô cảm với mọi sự vật, hiện tượng xung quanh Trẻ CPTTT thường không thích chơi những trò chơi tập thể, trò chơi sắm vai,… [9]

1.3 Quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT

1.3.1 Khái niệm quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT

Theo cách hiểu của tôi: Quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT trong lớp

Trang 21

học hòa nhập là việc giáo viên sử dụng các biện pháp nhằm khắc phục những hành

vi không mong muốn ở trẻ, hình thành ở trẻ những hành vi tích cực nhằm giúp trẻ học tập tốt hơn

1.3.2 Một số vấn đề về hành vi bất thường của trẻ CPTTT

1.3.2.1 Khái niệm hành vi bất thường của trẻ CPTTT

Thực tế, đã có rất nhiều thay đổi về định nghĩa “hành vi bất bình thường” Tuy nhiên các nhà tâm lý đã đưa ra một số giải thích về vấn đề này như sau:

1.3.2.1.1 Hành vi được xem là bất thường khi lệch khỏi mức trung bình

Đây là sự giải thích mang đậm màu sắc thống kê Nhằm mục đích xác định tính bất bình thường, người ta chỉ cần quan sát những hành vi nào hiếm khi xảy ra trong một xã hội hay một nền văn hoá nhất định, rồi gán cho các trường hợp lệch khỏi chuẩn mực là bất bình thường Định nghĩa này có thể đúng trong một số trường hợp nhưng nhìn chung nếu coi đó là một tiêu chí để xác định hành vi bất thường thì chưa hợp lý Ví dụ, nếu tất cả mọi trẻ đều uống nước cam sau bữa ăn và

có một trẻ nào đó lại thích uống chè thì không thể coi đó là bất thường được Tương

tự, một khái niệm như vậy về tình trạng bất thường sẽ gán ghép bất hợp lý một người có điểm số IQ cao lạ thường là người bất thường, đơn giản chỉ vì người này hiếm thấy về mặt thống kê

1.3.2.1.2 Hành vi được xem là bất thường khi lệch khỏi mức lý tưởng

Theo định nghĩa này, hành vi được xem là bất thường nếu như nó lệch khỏi một mức lý tưởng hay tiêu chuẩn nào đó Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay có quá ít tiêu chuẩn mà tất cả mọi người đều đồng lòng tán thành Hơn nữa các tiêu chuẩn nổi bật lại thường biến đổi theo thời gian, khiến cho việc xác định khi nào thì lệch khỏi mức lý tưởng trở nên thiếu chính xác Ngày nay con người thường đặt ra rất nhiều tiêu chuẩn về mức độ lý tưởng, đặc biệt là các bậc cha mẹ, họ luôn đặt ra cho con mình những mức độ cần đạt được và tất cả những hành vi của trẻ khác với tiêu chuẩn mà họ đặt ra đều được coi là bất bình thường

1.3.2.1.3 Bất thường là thiếu khả năng hành xử hữu hiệu

Hầu hết con người được sinh ra và lớn lên đều trở thành những thành viên hữu dụng trong xã hội, có đủ sức thích nghi với các nhu cầu của xã hội hoặc có khả năng hành xử hữu hiệu Như vậy, với một đứa trẻ được xem là có những hành vi bất thường khi nó không thể đáp ứng được những yêu cầu trên

Theo các nhà nghiên cứu về sự phát triển của trẻ CPTTT thì việc xác định những hành vi bất thường ở trẻ dựa trên những tiêu chí:

- Biểu hiện qua vận động của cơ thể:

+ Trẻ đi lại, ra vào tự do trong lớp

+ Khi không vừa ý, trẻ có thể đấm đá, xô đẩy hoặc ăn vạ

Trang 22

+ Ngồi không yên, gật gù, lắc người, vận động tay chân liên tục

+ Trẻ có thể đạp phá đồ đạc khi chơi

+ Trẻ có thể vệ sinh không đúng nơi

+ Trẻ từ chối sự chăm sóc, vỗ về của người khác bằng cách lẩn tránh

- Biểu hiện bằng sự im lặng:

+ Trẻ ngồi uể oải, buồn chán, im lặng

+ Không nói chuyện với bạn bè, người xung quanh

+ Không thực hiện nhiệm vụ

+ Không phản ứng lại thậm chí khi bị trêu trọc

- Biểu hiện bằng âm thanh lời nói:

+ Trẻ nói tự do trong giờ học

+ Trẻ có thể la hét, gào thét không rõ nguyên nhân

+ Trẻ có thể lẩm bẩm một mình

+ Trẻ có thể khóc hoặc hờn dỗi [9]

1.3.2.2 Phân loại hành vi bất thường

Hành vi bất thường của trẻ CPTTT gồm 2 loại:

Hành vi hướng ngoại: Là hành vi được biểu hiện theo xu hướng ra bên ngoài Những hành vi này thường gây rất nhiều phiền nhiễu cho giáo viên và những người xung quanh: rối loạn tăng động/ giảm tập trung (AD/HD), hành vi sai trái,…

Hành vi hướng nội: Là hành vi được biểu hiện theo xu hướng vào bên trong Những hành vi này thường không gây phiền nhiễu nhiều cho giáo viên và những người xung quanh: trầm cảm, thu mình lại, lầm lì, rầu rĩ,…Trẻ ngồi học rất trật tự song không hiểu gì

Hành vi bất thường của trẻ CPTTT gồm 8 thang hội chứng:

Trang 23

Hành vi của trẻ CPTTT mang đầy đủ những đặc điểm hành vi của trẻ bình thường song lại có những nét đặc thù riêng Trong giới hạn khoá luận, chúng tôi đề cập đến 2 kiểu hành vi của trẻ CPTTT được biểu hiện trong lớp học: Hành vi hướng nội và hành vi hướng ngoại Hiểu được đặc điểm của 2 kiểu hành vi này của trẻ trong lớp học sẽ giúp cho người giáo viên đáp ứng phù hợp những yêu cầu giáo dục của trẻ

1.3.2.3 Nguyên nhân gây hành vi bất thường

Các nguyên nhân dẫn đến hành vi bất thường của trẻ CPTTT gồm:

- Tổn thương thần kinh: Do thần kinh trẻ bị tổn thương nên chính điều đó gây nên cho trẻ những HVBT mà trẻ không thể kiểm soát được, HVBT đó do trung ương thần kinh của các em điều khiển

- Không hiểu đúng, sai: Trẻ bình thường có thể hiểu những nội dung mà mọi người nói hay giải thích nhưng với trẻ CPTTT các em khó hiểu được những điều

đó Vì vậy các em sẽ làm những gì mà mình hiểu, dù đó là điều không đúng vì trẻ không hiểu đúng, sai

- Trẻ có ít bạn chơi, cô đơn: Điều này cũng gây nên những HVBT cho trẻ CPTTT Khi cô đơn, không có bạn bè các em cảm thấy khó chịu, bực bội,…Vì thế, những HVBT xuất hiện

- Trẻ bị người khác trêu chọc nên dễ bị nổi khùng: Khi bị bạn bè trêu chọc, trẻ

sẽ cảm thấy mặc cảm nhiều hơn, cảm thấy xấu hổ, có thể nổi khùng lên và dẫn đến những HVBT mà trẻ không kiểm soát được Khi bị trêu chọc nhiều lần thì những hành vi đó càng xẩy ra thường xuyên

- Trẻ bị đối xử thiếu công bằng, thiếu tôn trọng trẻ: Có rất nhiều điều mà mọi người đối xử thiếu công bằng với trẻ, đôi khi vô tình nhưng có khi lại là cố ý Những lúc như vậy trẻ sẽ cảm thấy khó chịu và có thể nảy sinh những hành động để phá bỏ sự khó chịu của mình

- Thiếu hụt các kĩ năng xã hội: Việc thiếu hụt các kĩ năng sống tại gia đình, kĩ năng xã hội trong trường học, kĩ năng sống trong cộng đồng, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hoạt động vui chơi sẽ làm cho trẻ khó hòa nhập với cuộc sống cộng đồng Khi không hòa nhập được với mọi người trẻ sẽ cảm thấy tự ti, mặc cảm và dễ nảy sinh những hành vi bất thường

- Thu hút của giáo viên không hợp lí: Ví dụ: lời giảng của giáo viên không thu hút được trẻ hoặc không phù hợp với trẻ, lúc đó trẻ sẽ hành động theo ý thích của mình và dần trở thành thói quen

- Trẻ chống đối, né tránh việc thực hiện nhiệm vụ: khi được giao nhiệm vụ không phù hợp với khả năng và sở thích của mình trẻ có thể chống đối lại bằng cách đưa ra những hành vi không phù hợp Khi những hành vi này xẩy ra thường xuyên

có thể dẫn đến những HVBT

Trang 24

- Trẻ muốn gây chú ý với người khác: Vì bị đối xử thiếu công bằng, nhiều lúc không được người khác chú ý, trẻ có thể gây chú ý bằng những hành vi bất thường

- Giao nhiệm vụ học tập không phù hợp với trình độ, khả năng và sở thích của trẻ: Đây là một trong những vấn đề thường mắc phải trong lớp hòa nhập, vì vừa có học sinh bình thường vừa có học sinh khuyết tật, đặc biệt là trẻ CPTTT, giáo viên sẽ rất khó có thể dung hòa giữa học sinh bình thường và học sinh khuyết tật Do đó, sẽ

có những trường hợp giáo viên giao nhiệm vụ học tập không phù hợp với trình độ của trẻ Và đặc biệt hơn nữa, trẻ CPTTT trình độ lên xuống thất thường, hôm nay có thể các em nắm vững nhưng hôm sau lại chẳng nhớ gì Chính những nhiệm vụ không phù hợp đó sẽ dẫn đến những HVBT

- Trẻ ham chơi: Vì trẻ đang ham chơi nên không để ý những gì xung quanh, những gì xẩy ra bên mình

- Bắt chước hành vi xấu: Do trẻ không hiểu được đâu là hành vi xấu, đâu là hành vi tốt, những hành vi xấu trẻ có thể làm được và khi những hành vi xấu này đã hình thành thì rất khó có thể xóa bỏ được Những hành vi đó có thể dẫn đến những HVBT

- Không biết cách giải quyết vấn đề: Khi gặp vấn đề khó khăn không biết cách giải quyết trẻ có thể hành động một cách bất thường để tạm thời không nghĩ đến vấn

Sự phát triển tự ý thức theo các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Chỉ có thể cảm nhận được những gì của chính bản thân (không

có tính phản ánh)

Giai đoạn 2: Duy trì các biểu tượng về bản thân hơn trong quá trình tương tác với người xung quanh và bắt đầu nảy sinh sự so sánh mang tính xã hội, tức là bắt đầu chú ý đến phương diện của người khác hơn là chính bản thân mình

Giai đoạn 3: Phân định thứ bậc, vai trò: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em

Giai đoạn 4:Các biểu tượng về bản thân và về những người xung quanh trở nên mang tính chủ thể hơn và dần được hoàn thiện

Vì vậy, sự phát triển tự ý thức phụ thuộc vào sự hoàn thiện của quá trình nhận thức Một cách rõ ràng là có những trẻ sẽ bị trì hoãn sự phát triển nhận thức và có thể sẽ không đạt được sự phát triển tự ý thức của giai đoạn tiếp theo Đối với trẻ

Trang 25

CPTTT, khả năng nhận thức hạn chế sẽ kéo theo tự ý thức của trẻ chỉ đạt đến một giai đoạn nhất định trong các giai đoạn phát triển mà thôi

Hành vi của trẻ CPTTT chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi những đặc điểm phát triển đặc trưng của mỗi giai đoạn Ngay từ giai đoạn 1, nếu trẻ CPTTT khó phản ánh, nhận thức được những cảm nhận của chính bản thân mình, trẻ sẽ khó để xác định những hành vi tự phát, không mong đợi,…của chính mình xuất hiện, trẻ cũng khó xác định và khó có khả năng tự ý thức điều chỉnh, điều khiển các hành vi đó trở nên bình thường Khi tương tác với môi trường xã hội xung quanh, trẻ CPTTT khó phát hiện những hành vi không hợp chuẩn của mình hoặc có sự khác biệt so với mọi người Mức độ tự nhận thức, phát hiện, so sánh và điều chỉnh hành vi phù hợp của trẻ có hạn chế đáng kể Trẻ cũng khó khăn trong nhận diện, xác định cách thể hiện hành vi phù hợp với tình huống, bối cảnh khác nhau và đặc biệt trong việc phân định vị trí, vai trò các mối quan hệ thứ bậc trong gia đình và cộng đồng

Những thất bại trong quá trình xử lý thông tin làm cho trẻ CPTTT có cảm giác không được tự tin trong các tình huống : có cảm giác vô dụng , không làm được gì,

lệ thuộc vào người khác và thấy mình không có ý nghĩa gì

- Cảm giác vô dụng được đề cập đến như là việc một cá nhân luôn luôn gặp thất bại trong các tình huống nhiều sức ép dẫn đến việc giảm nhiệt huyết để hoàn thành môt công việc nào đó

- Việc “ gắn mác gọi tên, coi thường và không tôn trọng “ của giáo viên và những người xung quanh đối với trẻ CPTTT sẽ là những nguyên nhân làm cho trẻ

có cái nhìn tiêu cực về chính bản thân mình

Trang 26

- Những trải nghiệm thất bại ở trẻ CPTTT có thể làm giảm lòng tự trọng và thậm chí xuất hiện trầm cảm ở cá nhân: trẻ tự nhận thức mang tính tiêu cực, kinh nghiệm tiêu cực, nhìn nhận tương lai tiêu cực

Những nỗ lực tích cực của trẻ CPTTT thì thường lại không được đánh giá cao,

do đó ở trẻ thường xuất hiện:

- Cảm giác xấu hổ về khả năng hạn chế của bản thân

- Có thể dẫn đến việc nói dối, tạo ra một thế giới riêng cho bản thân

- Khó khăn trong việc tự diễn đạt trong quá trình giao tiếp

- Cảm giác không an toàn khi mắc lỗi [1]

1.3.2.5 Sơ đồ biểu hiện hành vi bất thường

[1]

1.3.2.6 Hậu quả của hành vi bất thường

Khi trẻ CPTTT có những hành vi bất thường sẽ gây ra những hậu quả nhất định không những gây ảnh hưởng đến sự phát triển của chính bản thân đứa trẻ mà

Tiền hành vi

Có những thay đổi về trạng thái

tâm lý, khả năng tập trung chú ý, hoạt

động và trạng thái cơ thể như: Tiếng

kêu ầm ừ, biểu hiện bối rối, giảm mức

độ tập trung, giảm hiệu quả trong các

hoạt động, biểu hiện nét mặt, cử chỉ, tư

Kết thúc hành vi Trạng thái tâm lý dần trở lại điều hòa, giảm hưng phấn, trẻ bắt đầu tập trung, tham gia vào các hoạt động, ngủ li bì, có những tiếng rên nhỏ, trạng thái cơ thể trở về

Hành vi biểu hiện ở mức độ cao Tần xuất liên tục, thời gian kéo dài, cường độ cao, kích động mạnh thể hiện hành vi đạt ở mức độ cao Trẻ không còn quan tâm tới những kích thích bên ngoài, hành vi có thể gây nguy hiểm cho bản thân

Hành vi có chiều hướng giảm Xuất hiện hành vi

Trang 27

còn ảnh hưởng đến những người xung quanh Theo như tìm hiểu và quan sát một số trường hợp khi trẻ CPTTT có biểu hiện hành vi bất thường, chúng tôi nhận thấy có

những hậu quả như:

- Khi hành vi bất thường xẩy ra sẽ gây phiền nhiễu đến giáo viên và các bạn khác trong lớp, làm cho lớp học trở nên ồn ào, mất trật tự, những học sinh khác không tập trung học bài, hiệu quả giờ dạy không cao

- Hành vi bất thường làm cho các giáo viên cảm thấy trẻ là thành phần cá biệt, dẫn đến bỏ mặc, không quan tâm đến trẻ Như vậy trẻ sẽ cảm thấy mình bị bỏ rơi và các hành vi đó lại xẩy ra với mức độ nghiêm trọng hơn

- Hành vi bất thường xẩy ra với mức độ thường xuyên sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, sẽ trở thành thói quen của trẻ Vì thế rất khó lựa chọn biện pháp phù hợp để quản lí những hành vi đó

1.3.2.7 Mục đích quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT

- Trẻ không có các HVBT trong quá trình học cũng như trong lúc chơi

- Tăng các hành vi mong muốn

- Giúp trẻ có kết quả học tập tốt hơn

- Trẻ tuân theo các quy định của trường, lớp đề ra

- Giúp trẻ có một môi trường học tập tốt, với sự tôn trọng, cảm thông, giúp đỡ của bạn bè [11]

1.3.3 Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT

1.3.3.1 Khái niệm quy định của lớp học

Quy định của lớp học ( trong quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT) được coi là một công cụ/phương tiện mà giáo viên sử dụng để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập, làm cho trẻ tham gia tích cực nhất vào hoạt động học tập của lớp [1]

1.3.3.2 Hệ thống các quy định của lớp học để quản lí HVBT của trẻ CPTTT

1 Đi học đúng giờ

2 Không được ngủ trong giờ học

3 Không được phá bạn trong giờ học

4 Tham gia hoạt động nhóm

Trang 28

10 Giờ nào việc đó

11 Không ăn quà vặt trong lớp

12 Không được đánh bạn

13 Đi vệ sinh đúng nơi quy định

14 Không vẽ bậy lên tường

15 Xếp hàng trước khi vào học và ra về

16 Giơ tay trước khi phát biểu

17 Không nói chuyện trong giờ học

18 Mặc đồng phục khi đến trường

19 Chào khi gặp thầy, cô

20 Không được đi lại tự do trong giờ học

1.3.3.3 Ý nghĩa của việc sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí hành

vi bất thường của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập

Quy định của lớp học được coi là một công cụ/phương tiện mà giáo viên sử dụng để tạo cơ hội tốt nhất, hướng dẫn trẻ một cách thuận lợi nhất và làm cho trẻ tham gia tích cực nhất vào các hoạt động học tập của lớp học Nhờ đó, giáo viên có thể giám sát, điều chỉnh và tạo ra được các hành vi mong muốn ở trẻ Sử dụng các quy định của lớp học giúp cho giáo viên có cái nhìn sâu sắc, toàn diện về HVBT của trẻ CPTTT, từ đó có kế hoạch cụ thể khoa học để ngăn chặn hành vi tiêu cực, phát triển hành vi tích cực

Sử dụng các quy định của lớp học sẽ giúp cho giáo viên quản lí HVBT của trẻ CPTTT có hiệu quả, có kế hoạch, có căn cứ và có thể giám sát được cũng như đánh giá được sự tiến bộ của trẻ CPTTT Từ đó có thể biến những quy định thành thói quen của trẻ [1]

1.3.3.4 Quy trình sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập

Bước 1: Xác định hành vi

Khi học sinh CPTTT có biểu hiện hành vi ở mức trầm trọng hoặc dường như trực tiếp gây nên những rối loạn trong lớp học thì giáo viên cần phải dừng ngay hành vi đó lại và giúp em tập trung vào việc học tập, không làm ảnh hưởng đến các bạn khác trong lớp Giáo viên cần phải ngay lập tức xác định được tại sao em đó lại

có những biểu hiện hành vi như vậy Thực tế cho thấy nguyên nhân dẫn đến những

HVBT là rất đa dạng và phức tạp như chính bản thân mỗi trẻ, do vậy xác định

nguyên nhân của từng hành vi là rất khó khăn Đánh giá chính xác nguyên nhân dẫn dến hành vi là cơ sở để giáo viên có biện pháp phòng ngừa và xử lý hành vi của trẻ hiệu quả và tích cực

Trang 29

Bước 2: Quan sát và ghi chép để hiểu rõ hơn về biểu hiện hành vi của trẻ CPTTT Không phải bất cứ hành vi nào của học sinh CPTTT có vẻ khác so với những trẻ bình thường hoặc gây rối loạn trong lớp học đều là hành vi bất thường Vì vậy, muốn xác định được đó có phải là hành vi bất thường hay không và mức độ nghiêm trọng của hành vi đó, chúng ta cần phải quan sát và ghi chép lại một cách

có hệ thống để thu thập đầy đủ và chính xác thông tin về hành vi của trẻ

Có thể ghi chép tình huống xẩy ra hành vi, hành vi, hậu hành vi và tần suất xuất hiện hành vi đó trong các buổi học liên tiếp Từ đó xây dựng nội quy lớp học phù hợp với từng hành vi để quản lí một cách có hiệu quả

Chúng tôi đưa ra mẫu quan sát sau:

Tên trẻ: Ngày quan sát: Địa điểm quan sát Người quan sát:

Tình huống xẩy ra hành vi Hành vi Hậu hành vi Tần suất xuất

hiện

Bước 3: Xây dựng kế hoạch

Khi đã xác định được thông tin về các hành vi, chúng ta sẽ xây dựng hệ thống nội quy lớp học phù hợp với từng hành vi để quản lí những hành vi đó

Có rất nhiều quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập Tuy nhiên, giáo viên cần dựa vào nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của hành vi để lựa chọn quy định cho phù hợp

Chúng tôi đưa ra mẫu kế hoạch sau:

Hành vi Nguyên nhân Quy định lớp học

được sử dụng

Kết quả mong đợi

Đưa ra sự lựa chọn cá nhân cho chính bản thân học sinh CPTTT bằng sự cam kết thực hiện Giáo viên có thể lựa chọn một vài hành vi nghiêm trọng và thường xuyên xẩy ra để đưa vào bản cam kết Qua bản cam kết giáo viên cần làm cho học sinh hiểu rõ những mong đợi của mình về hành vi của em, thời gian thực hiện, phần thưởng cho việc thực hiện tốt và hậu quả khi em đó không chịu thực hiện

Trang 30

Sau đây là một mẫu:

Biên bản thoả thuận

Em: (tên của học sinh) sẽ thực hiện những điều sau đây:

1 2 3 Cô/thầy giáo (tên của giáo viên) sẽ có những phần thưởng sau đây nếu em làm tốt những điều trên:

1 2 3 Nếu em không thực hiện tốt những điều trên thì em sẽ phải chịu những hình phạt của giáo viên đưa ra

Chữ ký của học sinh Chữ ký của giáo viên

Ngày tháng năm

Bước 4: Thực hiện kế hoạch

Khi đã xác định làm cách nào để thay đổi hành vi của trẻ, giáo viên phải thực hiện bước tiếp theo là thực hiện kế hoạch Mong đợi của giáo viên và những người xung quanh đối với sự thay đổi hành vi của trẻ cần phải được thực hiện theo một cấu trúc rõ ràng vì đây chính là chìa khoá để quản lý hành vi của trẻ

Các quy định của lớp học đó cần phải được trẻ hiểu và cam kết tuân theo Để giúp trẻ hiểu được chúng ta phải giải thích và minh họa một cách rõ ràng, có thể chuyển những quy định đó thành biểu tượng hoặc tranh vẽ Ví dụ: Bức tranh vẽ một học sinh đang chăm chú học bài có nghĩa là học sinh phải chú ý nghe giảng Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần phải phổ biến cho những học sinh khác trong lớp biết về quy định để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT để những em đó

có thể sử dụng để nhắc nhở bạn và hỗ trợ mình trong quá trình quản lí

Khi hành vi bất thường của trẻ xảy ra, giáo viên sẽ sử dụng quy định mà mình lựa chọn để ngăn chặn hành vi đó lại

Khi thực hiện bản cam kết giữa học sinh và giáo viên thì giáo viên cần phải nhấn mạnh những điểm sau:

- Phần thưởng phải đưa ra ngay lập tức khi học sinh thể hiện được hành vi tích cực

- Cam kết cần được thực hiện đối với việc khuyến khích và phần thưởng cho những hành vi mong muốn dù nhỏ

Trang 31

- Cam kết cần chú trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ hơn là việc đáp ứng sự hài lòng của giáo viên

- Chỉ trao giải thưởng khi hành vi đã diễn ra Điều này dường như là hiển nhiên, song nó lại thường bị bỏ qua Nhiều giáo viên thường trao phần thưởng cho học sinh trước khi em phải thực hiện yêu cầu và do đó em thường không hoàn thành công việc được giao hoặc hoàn thành với kết quả thấp hơn so với trường hợp giáo viên trao phần thưởng sau đó

- Các điều kiện của cam kết cần phải rõ ràng và được học sinh hiểu đầy đủ

Đối với học sinh CPTTT nhận thức có nhiều hạn chế thì một bản cam kết sẽ quá phức tạp và học sinh không hiểu được Do đó giáo viên cần sử dụng những cách thức đơn giản hơn Ví dụ như cứ sau 15phút thì giáo viên tiến hành kiểm tra việc học sinh thực hiện nhiệm vụ

Bước 5: Giám sát thực hiện kế hoạch

Giáo viên phải theo dõi việc thực hiện của học sinh để xem học sinh đã hiểu rõ

về quy định mà mình đưa ra hay chưa và xem quy định mà mình lựa chọn có phù hợp hay không để kịp thời có những điều chỉnh phù hợp Mặc dù là những biểu hiện hành vi diễn ra trong lớp học song giáo viên cùng cần phải trao đổi thường xuyên với cha mẹ học sinh để có được thông tin chính xác và đầy đủ hơn và có những cách thức đáp ứng phù hợp hơn và hiệu quả hơn

Bước 6: Đánh giá

Sau khi thực hiện kế hoạch giáo viên cần phải đánh giá lại xem học sinh CPTTT có thực hiện được bản kế hoạch không, đạt hay không đạt, các quy định có được học sinh tuân theo hay không Từ đó đánh giá tính phù hợp của hệ thống quy định lớp học mà mình đưa ra để biến những quy định đó thành nề nếp hằng ngày của học sinh Nếu học sinh không thực hiện được kế hoạch thì phải tìm hiểu nguyên nhân và khắc phục [1]

1.3.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các quy định của lớp học để quản

lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học hoà nhập

- Giáo viên:

Giáo viên là người có vai trò quyết định đến việc có sử dụng các quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học hay không và sử dụng các quy định của lớp học như thế nào Vì giáo viên là người trực tiếp quản lí, đảm nhận nhiệm vụ giáo dục và phát triển học sinh Giáo viên cũng là người tiếp xúc hằng ngày ở trường với trẻ, và hiểu trẻ đang gặp phải những vấn đề gì và cần hỗ trợ những gì Do đó, hơn ai hết giáo viên phải có nhận thức đúng đắn về đặc điểm tâm sinh lí, đặc điểm hành vi, khả năng và nhu cầu của trẻ CPTTT Đồng thời phải nắm vững kiến thức chuyên môn, có những hiểu biết đầy đủ về HVBT của trẻ CPTTT,

Trang 32

về mục đích và ý nghĩa, cách thức vận dụng các quy định của lớp học trong quản lí HVBT của trẻ CPTTT

Để giảm thiểu hành vi không mong muốn cho học sinh CPTTT, giáo viên cần phải tìm hiểu những nguyên nhân và điều kiện hiện tại đang duy trì hành vi không mong muốn; xác định đặc điểm, mức độ và tần suất xuất hiện hành vi không mong muốn trên cơ sở đó đề xuất biện pháp xử lý phù hợp khi trẻ thể hiện hành vi không mong muốn

- Học sinh CPTTT:

Học sinh CPTTT là đối tượng chính của quá trình giáo dục hành vi nói chung và của phương pháp sử dụng các quy định của lớp học trong quản lí HVBT của học sinh CPTTT nói riêng Việc vận dụng các quy định của lớp học phải căn

cứ vào đặc điểm hành vi của trẻ CPTTT, từ đó cần giúp trẻ hiểu được và mong muốn đạt được để phát triển ở trẻ những hành vi mong muốn, ngăn chặn những hành vi bất thường Nếu không có sự hợp tác của trẻ CPTTT thì không có một phương pháp giáo dục nào mang lại hiệu quả

- Bạn bè trong lớp của học sinh:

Học sinh trong lớp là một nhân tố quan trọng tham gia vào kế hoạch thay đổi hành vi cho học sinh CPTTT của giáo viên Giáo viên có thể xây dựng vòng tay bạn bè để hỗ trợ học sinh CPTTT trong học tập và sinh hoạt Chính các em là những người có tác động rất lớn tới việc hình thành hành vi tích cực cho các bạn CPTTT Do đó, cần phải giáo dục cho các học sinh trong lớp về tinh thần trách nhiệm, biết tôn trọng trẻ CPTTT và sẵn sàng giúp đỡ, hợp tác với trẻ CPTTT trong học tập cũng như trong các hoạt động, không được phân biệt đối xử với các bạn CPTTT

- Cha mẹ học sinh CPTTT:

Cha mẹ học sinh là những người gần gũi, thân thiết và hiểu học sinh nhất, là người tiếp xúc nhiều nhất với trẻ khi trẻ ở nhà Do đó cha mẹ là nguồn thông tin quan trọng, cung cấp cho giáo viên những thông tin về hành vi của trẻ khi trẻ ở nhà, để từ đó giáo viên nắm bắt toàn diện về HVBT của trẻ CPTTT Từ đó, gia đình có trách nhiệm phối hợp với giáo viên để cùng sử dụng các quy định của lớp

để quản lí HVBT của học sinh CPTTT Mặc dù các quy định của lớp học được áp dụng ngay trên lớp nhưng khi giáo viên hình thành được ở học sinh CPTTT những hành vi tích cực thì khi về nhà, những người trong gia đình trẻ phải giúp trẻ củng

cố những hành vi tích cực đó khi đó hiệu quả đạt được mới cao

- Môi trường lớp học hoà nhập:

Môi trường giáo dục hòa nhập là môi trường phát triển tự nhiên của trẻ, vì vậy,

đó là môi trường tốt nhất để có thể hình thành và phát triển ở trẻ những hành vi mong muốn Các yếu tố của môi trường giáo dục hòa nhập hướng tới việc tạo dựng

Ngày đăng: 02/09/2015, 14:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng tổng hợp HVBT của học sinh CPTTT khối lớp 3 - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 1 Bảng tổng hợp HVBT của học sinh CPTTT khối lớp 3 (Trang 36)
Bảng 2: Hiểu biết của giáo viên về HVBT của trẻ CPTTT - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 2 Hiểu biết của giáo viên về HVBT của trẻ CPTTT (Trang 38)
Bảng  3: Những phương  pháp đã được thầy cô sử dụng  để quản  lí  HVBT  của  học sinh CPTTT trong lớp học của mình - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
ng 3: Những phương pháp đã được thầy cô sử dụng để quản lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học của mình (Trang 39)
Bảng 4: Hiểu biết của giáo viên về phương pháp sử dụng các quy định của lớp  học trong quản lí HVBT của học sinh CPTTT - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 4 Hiểu biết của giáo viên về phương pháp sử dụng các quy định của lớp học trong quản lí HVBT của học sinh CPTTT (Trang 40)
Bảng 6: Ý kiến của giáo viên về những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các  quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 6 Ý kiến của giáo viên về những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT (Trang 41)
Bảng  8:  Những  khó  khăn  khi  giáo  viên  sử  dụng  các  quy  định  của  lớp  học  để  quản lí HVBT của trẻ CPTTT - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
ng 8: Những khó khăn khi giáo viên sử dụng các quy định của lớp học để quản lí HVBT của trẻ CPTTT (Trang 42)
Bảng 9: Bảng tổng hợp việc thực hiện các quy định của lớp học - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 9 Bảng tổng hợp việc thực hiện các quy định của lớp học (Trang 43)
3.1.2.2. Bảng kiểm tra hành vi - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
3.1.2.2. Bảng kiểm tra hành vi (Trang 48)
Bảng 1: Thái độ của học sinh CPTTT khi giáo viên sử dụng quy định của lớp  học để quản lí hành vi bất thường của chính bản thân em - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 1 Thái độ của học sinh CPTTT khi giáo viên sử dụng quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của chính bản thân em (Trang 60)
Bảng 2: Đánh giá tính phù hợp của bản kế hoạch quản lí HVBT của học sinh  CPTTT - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 2 Đánh giá tính phù hợp của bản kế hoạch quản lí HVBT của học sinh CPTTT (Trang 61)
Bảng 3: Hiệu quả của việc giáo viên sử dụng quy định của lớp học để quản lí  hành vi bất thường của học sinh CPTTT - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 3 Hiệu quả của việc giáo viên sử dụng quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT (Trang 61)
Bảng 4: Những khó khăn của giáo viên trong quá trình sử dụng các quy định  của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT - Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3   trường tiểu học hải vân
Bảng 4 Những khó khăn của giáo viên trong quá trình sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w