Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ BÍCH THỌ
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC MỞ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ BÍCH THỌ
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC MỞ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Đặng Ứng Vận
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng được gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy cô giáo tham gia giảng dạy đã cung cấp những kiến thức nền tảng cơ bản, sâu rộng và đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn: Hội đồng Quản trị, Ban giám hiệu, cán bộ quản lý các Phòng, Khoa và Trung tâm trực thuộc Trường Đại học Hòa Bình
đã tạo mọi điều kiện để tôi được tham gia khóa học, cũng như cung cấp số liệu và tham gia trả lời phiếu hỏi giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TSKH Đặng Ứng Vận - người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tâm động viên, giúp đỡ
và chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã thực sự nỗ lực, cố gắng rất nhiều song luận văn chắc không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Bích Thọ
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
5 CBGVCVNV Cán bộ, giảng viên, chuyên viên, nhân viên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu CPĐT theo các cấp bậc học 44
Bảng 2.2 Cơ cấu CPĐT theo nội dung kinh tế 45
Bảng 2.3 Chi phí đào tạo thực tế 01 sinh viên 47
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 63
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp 66
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát về mức độ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 70
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Phân cấp tổ chức quản lý các khoản thu – chi 32
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của biện pháp 5 63
Biểu đồ 3.2 Mức độ cần thiết của biện pháp 1 64
Biểu đồ 3.3 Mức độ cần thiết của biện pháp 3 64
Biểu đồ 3.4 Mức độ cần thiết của biện pháp 4 65
Biểu đồ 3.5 Mức độ cần thiết của biện pháp 5 65
Biểu đồ 3.6 Mức độ khả thi của biện pháp 1 67
Biểu đồ 3.7 Mức độ khả thi của biện pháp 2 68
Biểu đồ 3.8 Mức độ khả thi của biện pháp 5 68
Biểu đồ 3.9 Mức độ khả thi của biện pháp 3 69
Biểu đồ 3.10 Mức độ khả thi của biện pháp 4 69
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TRONG NỀN GIÁO DỤC MỞ 6
1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Tài chính, quản lý tài chính trong giáo dục 9
1.2.2 Chi phí đào tạo đại học của cơ sở đào tạo 11
1.2.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam 12
1.2.4 Quản lý và quy trình quản lý chi phí đào tạo 16
1.2.5 Nền giáo dục mở với CPĐT 18
1.2.6 Tác động của giáo dục mở đến CPĐT 21
1.3 Phương pháp xác định chi phí đào tạo đại học 22
1.3.1 Phương pháp và công cụ xác định tổng chi phí 22
1.3.2 Phương pháp xác định số người học trong mỗi trường 24
1.3.3 Phương pháp xác định chi phí đào tạo đại học 25
1.4 Sự cần thiết phải xây dựng quy trình quản lý chi phí đào tạo đại học 27
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH 30 2.1 Giới thiệu khái quát về quản lý chi phí đào tạo tại trường Đại học Hòa
Trang 82.1.1 Giới thiệu khái quát về trường Đại học Hòa Bình 30
2.1.2 Phân cấp tổ chức quản lý CPĐT tại trường Đại học Hòa Bình 32
2.1.3 Thể chế quản lý CPĐT tại trường Đại học Hòa Bình 33
2.1.4 Quy trình quản lý CPĐT tại trường đại học Hòa Bình 41
2.2 Thực trạng chi phí đào tạo của trường Đại học Hòa Bình 43
2.2.1 Nội dung chi phí hoạt động giáo dục – đào tạo 43
2.2.2 Phân bổ nội dung chi phí hoạt động giáo dục - đào tạo 43
2.2.3 Cơ cấu CPĐT 44
2.3 Nhận xét chung về CPĐT tại ĐH Hòa Bình 48
2.4 Đánh giá công tác quản lý CPĐT tại ĐH Hòa Bình 48
2.4.1 Những kết quả đạt được 48
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 50
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CPĐT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MỞ 53
3.1 Phương hướng phát triển của trường Đại học Hòa Bình trong giai đoạn 2015 – 2020 53
3.1.1 Mở rộng quy mô đào tạo 53
3.1.2 Nâng cao chất lượng đào tạo 53
3.1.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, chuyên viên, nhân viên có chất lượng cao 54
3.1.4 Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý 54
3.2 Các yêu cầu về biện pháp quản lý CPĐT đại học trong hệ thống giáo dục mở 54
3.2.1 Đảm bảo tính khoa học 54
3.2.2 Đảm bảo tính hệ thống 55
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn 55
3.2.4 Đảm bảo tính kế thừa và khả thi 56
Trang 93.3 Biện pháp xây dựng và hoàn thiện quy trình quản lý CPĐT tại trường Đại
học Hòa Bình theo hướng phát triển giáo dục mở 56
3.3.1 Lập dự toán chi tiết các khoản chi phí sẽ chi trong năm học mới 56
3.3.2 Tăng cường giám sát và kiểm tra chuyên môn trong quá trình thực hiện dự toán và khi quyết toán 57
3.3.3 Đánh giá chi phí đào tạo theo nhu cầu thực tế 58
3.3.4 Đánh giá chi phí đào tạo theo tính hiệu quả của chi phí 59
3.3.5 Tăng cường kiểm soát nội bộ 60
3.3.6 Đào tạo bồi dưỡng nhân lực có khả năng đảm nhiệm được việc thực hiện quy trình sau hoàn thiện 61
3.4 Thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 62
3.4.1 Đối tượng khảo sát 62
3.4.2 Phương pháp khảo sát 62
3.4.3 Kết quả khảo sát 62
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 76
Trang 1001 học sinh – sinh viên còn ở mức thấp so với ngay cả một số quốc gia trong khu vực Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về cải cách tài chính cho giáo dục trong giai đoạn hiện nay nói chung và giáo dục đại học nói riêng theo hướng đảm bảo nguồn vốn đầu tư: một mặt nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn chi của ngân sách Nhà nước, mặt khác nâng dần tỷ lệ đóng góp của người học trong lĩnh vực này
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định rõ phương
hướng đổi mới chính sách tài chính phát triển giáo dục và đào tạo: “Đổi mới
cơ chế tài chính giáo dục và đào tạo theo hướng xác định đầy đủ chi phí dạy
và học, chia sẻ hợp lý trách nhiệm chi trả giữa Nhà nước, xã hội và người học; thực hiện miễn, giảm học phí và cấp học bổng cho học sinh nghèo, học sinh thuộc diện chính sách và học sinh giỏi Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo; từng bước xây dựng nền giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ”
Các cải cách về tài chính giáo dục đại học thường được phân tích ở 04 mức: (i) Khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài chính của các trường công và phát triển khu vực giáo dục tư; (ii) Phân bổ và sử dụng nguồn lực công có hiệu quả; (iii) Tài trợ cho sinh viên; (iv) Phân cấp nhằm tăng tính tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học Song tiền đề cơ bản để thảo luận hầu hết các cải cách trên nằm ở việc xác định đúng và đủ chi phí đào tạo một sinh viên, và đó cũng là cơ sở để tìm kiếm những biện pháp giảm chi phí đào tạo đại học theo hướng tối ưu nhất
Trang 11Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 cũng đã chỉ rõ: “Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục
và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là
ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”
Hiện nay thu từ học phí của người học chiếm phần chủ yếu trong tổng nguồn thu ngoài ngân sách của các trường đại học Trong khi đó, việc tăng mức thu từ học phí là vấn đề hết sức nhạy cảm và khó khăn, vì động chạm đến nhiều vấn đề xã hội khác
Xác định chi phí đào tạo là cơ sở quan trọng cho phép so sánh chi phí giữa các loại trường, các chương trình và các vùng địa lý khác nhau; và nó được dùng làm cơ sở để ước tính đầu tư, chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, nhà trường và gia đình người học Ngoài ra nó còn giúp cho các nhà quản lý có được cơ sở để có thể xây dựng một quy trình quản lý phù hợp và hiệu quả hơn
Từ trước đến nay ở nước ta chưa có nhiều số liệu thông tin về chi phí đào tạo 01 sinh viên của các cơ sở đào tạo đại học Những công trình nghiên cứu cũng như các ấn phẩm và bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong lĩnh vực này còn rất ít ỏi Có thể nêu ra Đề tài cấp Bộ Mã số B2007-CTGD-
07 của PGS.TS Nguyễn Văn Áng; bài viết của TS Phạm Vũ Thắng trong Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học” Do vậy việc nghiên cứu quy trình quản lý chi phí đào tạo ở các trường đại học là vấn
đề mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Mặt khác, một trong những khâu đột phá trong đổi mới giáo dục ở nước
ta hiện nay là đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở Hệ thống giáo dục
mở trước hết là một hệ thống giáo dục tạo ra những cơ hội học tập cho mọi đối tượng có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính và tín ngưỡng tôn giáo Nó bao gồm những thuộc tính mềm dẻo và đa dạng, khả thi trong mọi thời gian và không gian
Trang 12người luôn luôn được hưởng những thành tựu khoa học và công nghệ do tri thức mới mang lại, được cập nhật những tri thức mới và được ứng dụng những tri thức mới vào công việc mình đang làm
Trong hệ thống mở như thế thì việc xác định và quản lý chi phí đào tạo càng có vai trò quan trọng Quản lý chi phí đào tạo đúng đắn giúp cho nhà trường cân đối giữa chi phí và học phí, giúp cho nhà nước có thể đưa ra những quyết sách về trần học phí ngăn chặn xu thế thương mại hóa, giúp cho các nhà đầu tư quyết định việc bỏ vốn vào giáo dục đại học và giúp cho phụ huynh quyết định việc lựa chọn ngành nghề, phương thức và trình độ cho con
em đi học
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn thạc sỹ tác giả không giải quyết hết
được mọi vấn đề, nên chỉ tập trung vào nội dung “Hoàn thiện quy trình quản
lý chi phí đào tạo tại trường Đại học Hòa Bình theo hướng phát triển giáo dục đại học mở”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định những yếu tố cấu thành chi phí đào tạo đại học của 01 sinh viên tại trường Đại học Hòa Bình từ đó xây dựng quy trình quản lý chi phí đào tạo phù hợp theo hướng phát triển giáo dục đại học mở
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về chi phí tài chính, chi phí đào tạo đại học: các
khái niệm cơ bản, các nhân tố ảnh hưởng, phương pháp xác định chi phí
3.2 Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý chi phí đào tạo tại trường Đại học
Hòa Bình Phân tích đánh giá các yếu tố cụ thể tác động đến chi phí đào tạo
3.3 Đề xuất quy trình quản lý chi phí đào tạo tại trường Đại học Hòa Bình
theo hướng phát triển giáo dục đại học mở
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Chi phí đào tạo tại trường Đại học Hòa Bình
Trang 134.2 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình quản lý chi phí đào tạo đại học
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng quản lý chi phí đào tạo đại học hiện nay ra sao?
- Khi chuyển sang hướng phát triển giáo dục mở thì quy trình quản lý chi phí đào tạo đại học sẽ như thế nào?
6 Giả thuyết khoa học
Chi phí đào tạo đại học nếu được xác định đúng và đủ thì nhất định sẽ xây dựng được quy trình quản lý phù hợp và hiệu quả cho cơ sở đào tạo
Nếu có quy trình quản lý chi phí đào tạo phù hợp và hiệu quả thì sẽ giảm được học phí hoặc tăng tái đầu tư phát triển nhà trường
8 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu và phân tích các quan điểm lý luận thể hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, nghiên cứu trên sách, báo chí, các tài liệu chuyên môn liên quan đến nội dung đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chủ yếu là thu thập, xử lý các dữ liệu, tìm hiểu thực trạng Các phương pháp cơ bản: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, nêu vấn đề và đề xuất những biện pháp kết hợp với trao đổi, phỏng vấn, điều tra, thử nghiệm
Trang 148.3 Phương pháp xử lý thông tin
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử lý
số liệu thống kê để bổ trợ, bổ sung việc xử lý kết quả Định lượng, định tính, thống kê và phân tích thống kê
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1 Ý nghĩa lý luận
Tổng kết thực tiễn về quản lý chi phí đào tạo đại học, nêu ra được những nhân tố tác động chủ yếu, cung cấp luận cứ khoa học cho các kiến nghị về quy trình quản lý chi phí đào tạo đại học trong nền giáo dục mở
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất quy trình quản lý có tính hiệu quả về chi phí đào tạo cho trường Đại học Hòa Bình Qua đó giúp nhân rộng kinh nghiệm quản lý cho các cơ sở đào tạo khác
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và các phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi phí đào tạo đại học
Chương 2: Thực trạng về quản lý chi phí đào tạo tại trường đại học Hòa Bình
Chương 3: Các biện pháp hoàn thiện quy trình quản lý chi phí đào tạo tại trường Đại học Hòa Bình theo hướng phát triển giáo dục mở
Trang 15
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
TRONG NỀN GIÁO DỤC MỞ
1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu về chi phí đào tạo đại học mới được tiến hành vào thời gian gần đây, những năm cuối của thế kỷ 21, với đề tài nghiên cứu khoa học
& công nghệ cấp Bộ do PGS.TS Nguyễn Văn Áng làm chủ nhiệm đề tài Xác định chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam Về mặt lý luận, đề tài đã hệ thống
hóa những vấn đề liên quan đến chi phí đào tạo từ cơ chế phát triển, đầu tư cho giáo dục đào tạo đến chi phí cho giáo dục và đào tạo
Cơ chế phát triển giáo dục đào tạo là sự tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố, các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, tạo nên khuôn khổ pháp lý và động lực cho sự phát triển giáo dục đào tạo Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sự thay đổi chức năng của các chủ thể gắn liền với các vấn đề như chi phí giáo dục đào tạo, cấp tài chính cho giáo dục đào tạo, cơ chế quản lý và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo… đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cơ chế phát triển giáo dục đào tạo sản xuất và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo Đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn
Xét về phương diện kinh tế và xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo có cả
ý nghĩa cá nhân và ý nghĩa xã hội Đối với mỗi cá nhân đó là đầu tư cho lưng vốn, cho nâng cao năng lực và kỹ năng lao động của bản thân; đối với nền kinh tế xã hội – đó là sự đầu tư cho nguồn nhân lực, nguồn vốn con người của dân tộc Vì vậy, chi phí đầu tư cho giáo dục được cả Nhà nước, xã hội, mỗi gia đình và cá nhân quan tâm
Chi phí cho giáo dục đào tạo bao gồm: chi phí giảng dạy và chi phí học tập Chi phí giảng dạy là chi phí từ phía người đào tạo, cơ sở giáo dục đào tạo
Trang 16này là khác nhau đối với mỗi bậc học và ngành học khác nhau: giáo dục phổ thông, cao đẳng, đại học, dạy nghề…
Tiếp đó đề tài đã xây dựng được khung lý thuyết cho việc tính toán
CPĐT thực tế 01 SVQĐ cho các trường, và đề xuất một số kiến nghị với Nhà
nước và các trường đại học Mặc dù đây mới chỉ là đề tài nghiên cứu riêng về việc xác định chi phí đào tạo thực tế 01 SVQĐ trong cơ sở đào tạo đại học nhưng kết quả cũng đã đưa ra được các phương án CPĐT đã được lựa chọn là phù hợp với khả năng đầu tư của nền kinh tế xã hội nước ta hiện nay cho giáo dục đại học Từ đó, các nhà quản lý sẽ có những định hướng nhằm tìm ra được những biện pháp quản lý phù hợp để đạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí đào tạo một cách tối ưu nhất, hiệu quả nhất và phù hợp nhất với đặc điểm riêng của từng cơ sở đào tạo
Ngoài ra còn phải kể đến đề án “Nghiên cứu Đổi mới cơ chế cấp phát kinh phí trên cơ sở chi phí đào tạo các ngành học thuộc ĐHQG-HCM” của
Nhóm nghiên cứu tài chính đại học – ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả nghiên cứu của đề án này là việc tính toán ra được CPĐT hiện hành
và CPĐT theo nhu cầu thực tế, từ đó đưa ra các đề xuất đổi mới cơ chế chính
sách như: lộ trình thực hiện CPĐT theo yêu cầu thực tế đến 2015, tầm nhìn 2020; đề án thí điểm chương trình đào tạo chất lượng cao - học phí tương ứng giai đoạn 2012-2017; đề án đào tạo theo đặt hàng của Nhà nước đối với các ngành khoa học cơ bản, xã hội có nhu cầu nhưng khó tuyển sinh
Từ tháng 10/2011 đến tháng 6/2012, Trung tâm nghiên cứu kinh tế phát
triển, trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội thực hiện nghiên cứu “Xác định chi phí đào tạo một sinh viên đại học của Việt Nam” của Tiểu thành phần
1.2 Tài chính thuộc Dự án Giáo dục Đại học 2, kết quả của việc nghiên cứu
đó là xác định CPĐT thực tế một sinh viên đại học Việt Nam, xác định CPĐT hợp lý theo các mức chất lượng khác nhau cho một sinh viên đại học Việt
Nam và đề xuất chính sách học phí
Trang 17Các nghiên cứu kể trên đã đưa ra được những lý luận chung về chi phí đơn vị theo nhóm ngành Chi phí đơn vị thực tế là chi phí có thể quan sát được hoặc có nguồn gốc từ các dữ liệu thực tế Chi phí này có xu hướng phản ánh chính sách quá khứ và hiện tại của Chính phủ về ngân sách công và chỉ tiêu tuyển sinh Chi phí đơn vị hợp lý phản ánh mức chi phí cần thiết để đào tạo một sinh viên tốt nghiệp với đầy đủ các kỹ năng và hiểu biết cần thiết Chẳng hạn, các sinh viên khoa học kỹ thuật cần phải dành một phần thời gian nghiên cứu hợp lý ở các phòng thí nghiệm Chi phí hợp lý do đó phù hợp với các quyết định phân bổ ngân sách trong tương lai, tuy nhiên, về mặt bản chất và theo định nghĩa, loại chi phí ngày không thể rút ra được từ các dữ liệu lịch sử
Từ những kinh nghiệm quốc tế cũng như kinh nghiệm trong nước ta có thể rút ra một nhận định rằng: một trường đại học đa ngành có thể đào tạo sinh viên với chi phí đơn vị thấp hơn so với một nhóm các trường đại học đơn ngành tương đương Tuy nhiên, mô hình này trở nên khó nhận biết hơn khi các trường đại học đa ngành được đưa vào mẫu nghiên cứu Tiêu chuẩn giảng dạy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo dường như ảnh hưởng đến chi phí đơn vị theo hướng dự đoán được Đối với hầu hết các trường đại học, chi phí đơn vị thực tế có xu hướng giảm khi tỷ lệ học sinh trên cán bộ giảng dạy gia tăng Tương tự, dường như có một mối quan hệ cùng chiều giữa chi phí đơn vị thực tế và diện tích sàn một sinh viên ở hầu hết các trường đại học Chẳng hạn chi phí đơn vị thực tế có xu hướng tăng khi diện tích sàn một sinh viên gia tăng Và các trường đại học tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có chi phí đơn vị thực tế cao hơn đáng kể so với các trường đại học ở các thành phố khác
Trên cơ sở phân tích thực trạng chi phí đào tạo từ những nghiên cứu kể trên, và tùy thuộc vào tình hình thực tiễn, mỗi nhà trường (cơ sở đào tạo) sẽ tự xây dựng và hoàn thiện dần hoạt động quản lý tài chính của mình, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả đào tạo và chất lượng các hoạt động của nhà trường
Trang 18khoản chi phí nhất định, do đó, việc đề xuất các quyết định tài chính cần thiết phải tính tới kết quả đạt được từ mức chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó,
và phải đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với điều kiện cũng như yêu cầu của công tác đào tạo
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Tài chính, quản lý tài chính trong giáo dục
Tài chính trong giáo dục là chính sách sử dụng tiền tệ, quản lý tiền tệ theo các mục đích của nền giáo dục mà nhà nước có trách nhiệm Các cơ sở đào tạo của nước ta dù hoạt động trong hệ thống nào (công lập, ngoài công lập) đều phải tuân thủ các quy định về quản lý tài chính do nhà nước ban hành
Quản lý tài chính là một bộ phận cấu thành trong công tác quản lý nhà trường và gắn bó mật thiết với các lĩnh vực quản lý khác như: quản lý đội ngũ, quản lý chương trình đào tạo, quản lý tổ chức các hoạt động phục vụ cộng đồng
Quản lý tài chính trong nhà trường bao gồm tổng thể các hoạt động của nhà quản lý trong quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm thực hiện các mục tiêu
đã được xác định
Theo cách định nghĩa khác, quản lý tài chính là một công cụ quản lý quan trọng, chi phối toàn bộ hoạt động của nhà trường, có mối liên hệ biện chứng và chịu sự quy định của nhiệm vụ, bộ máy tổ chức, cơ chế tài chính và
hệ thống các quy định của nhà nước Một chu kỳ hoạt động tài chính phải đảm bảo các thành tố của quy trình quản lý chung
Nội dung cơ bản của công tác quản lý tài chính trong các trường bao gồm: kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra
Quản lý tài chính có chức năng đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường được thực hiện theo đúng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quy mô, loại
Trang 19hình đào tạo Đồng thời, công tác quản lý tài chính còn bị tác động bởi cơ chế tài chính, nguồn kinh phí cùng các yếu tố khách quan khác
Nhiệm vụ thông thường của công tác quản lý tài chính trong nhà trường được cụ thể hóa như sau:
Chủ tài khoản:
Khoản 1, điều 20, Luật Giáo dục đại học 2012, quy định “Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học, giám đốc học viện, đại học (sau đây gọi chung là hiệu trưởng) là người đại diện cho cơ sở giáo dục đại học trước pháp luật, chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.” Khoản 4, điều 20, nêu “ , chủ tịch hội đồng quản trị cơ sở giáo dục đại học tư thục là chủ tài khoản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của cơ sở giáo dục đại học;… Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tư thục là đại diện chủ tài khoản theo ủy quyền, thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ như chủ tài khoản trong phạm vi được ủy quyền” Nhiệm vụ của chủ tài khoản là chỉ đạo cụ thể, kiểm tra đôn đốc, theo dõi thường xuyên việc chấp hành các quy định về quản lý tài chính – tài sản trong nhà trường và phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các tập thể, cá nhân ở từng bộ phận chuyên trách Xét duyệt, kiểm tra việc thực hiện và điều chỉnh các chỉ tiêu thu – chi kinh phí cho các nội dung hoạt động của các bộ phận trong nhà trường
Bộ phận phụ trách công tác tài chính:
Bộ phận phụ trách công tác tài chính có nhiệm vụ tổ chức và thực hiện công tác hạch toán trong nhà trường Thực hiện chức năng giúp việc cho Hiệu trưởng trong công tác quản lý tài chính về: lập và chấp hành các dự toán kế hoạch thu – chi, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức… Đề xuất các biện pháp cải tiến công tác quản lý tài chính – tài sản, thực hiện các quy định quản
lý tài chính của Nhà nước
Trang 201.2.2 Chi phí đào tạo đại học của cơ sở đào tạo
Chi phí đào tạo đại học được xem xét trên nhiều góc độ: chi phí của người học, chi phí của cơ sở đào tạo, chi phí của xã hội, chi phí của nhà nước Chi phí đào tạo đại học được nghiên cứu trong đề tài này được giới hạn ở chi phí của cơ sở đào tạo Đó là toàn bộ giá trị hàng hóa và dịch vụ đã tiêu phí cho đào tạo 01 sinh viên trong thời gian 01 năm
Căn cứ vào cơ cấu các hệ đào tạo của cơ sở đào tạo có thể chia nội dung chi phí đào tạo như sau:
Chi cho hệ đại học chính quy
Chi cho hệ cao đẳng chính quy
Chi cho các hệ khác
Căn cứ theo yếu tố và phương thức quản lý các khoản chi:
Chi cho hoạt động thường xuyên
Chi cho hoạt động đầu tư xây dựng
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, vào tình hình thực tế về chế độ ghi chép – hạch toán ở các cơ sở đào tạo, vào đặc điểm của các khoản chi… CPĐT được phân nhóm gồm chi phí về TSCĐ và chi phí hàng năm (hay chi phí hoạt động thường xuyên) Trong chi phí về TSCĐ được chia thành chi về nhà cửa vật kiến trúc và chi về TSCĐ khác, trong chi phí hàng năm lại được phân nhóm nhỏ hơn nhằm đáp ứng yêu cầu tính đúng tính đủ CPĐT của cơ sở đào tạo và hiểu rõ hơn tình hình chi phí trong mỗi cơ sở đào tạo
Tổng chi phí đào tạo có thể được chia thành chi cho con người, chi cho
cơ sở vật chất, chi máy móc thiết bị, vật liệu và các chi phí đầu vào khác Theo các quy tắc chuẩn mực kế toán hiện đang được áp dụng tại các trường đại học công lập Việt Nam, chi thường xuyên bao gồm chi cho con người, chi nguyên vật liệu và chi cho các đầu vào khác (học bổng, tài liệu giảng dạy….) Chi cơ sở vật chất và chi máy móc thiết bị được gọi chung là chi đầu tư Chi đầu tư quy đổi hàng năm có thể xem như xấp xỉ tổng khấu hao hàng năm của TSCĐ cộng với giá trị phân bổ của chi phí trả trước dài hạn và ngắn hạn
Trang 21Vai trò chủ yếu nhất của CPĐT là tạo ra CSVC, mua sắm, sửa chữa và trang bị đồ dùng học tập – đây là khoản chi rất cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục Nếu coi giáo viên là lực lượng lao động thì học sinh được coi như đối tượng lao động và CSVC, thiết bị, đồ dùng giảng dạy chính là công cụ lao động Để tạo ra một một quy mô sản xuất hoàn chỉnh, lực lượng lao động không thể thiếu được công cụ lao động Con người có tri thức khoa học được coi là sản phẩm đặc biệt của quá trình sản xuất của nhà trường Song con người ở đầu ra khác con người ở đầu vào ở tri thức khoa học do đã trải qua quá trình tác động của lực lượng sản xuất đặc biệt nói trên
Tóm lại, trong công tác giáo dục – đào tạo nếu không có cơ sở vật chất, không có đồ dùng giảng dạy thì chất lượng, quy mô của của giáo dục sẽ không đảm bảo so với yêu cầu thực tế hiện nay Tuy nhiên, vai trò của nó chỉ thực sự phát huy khi có nội dung chi, cơ cấu chi phù hợp và công tác quản lý chi có hiệu quả
1.2.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam
Hoạt động đào tạo trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường hiện nay, các trường và cơ sở đào tạo tất yếu chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách quan như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, khoa học công nghệ, hội nhập kinh tế… Trong điều kiện hiện nay, các nhân tố khách quan nêu trên biến đổi theo thời gian rất nhanh chóng, ở mỗi thời kỳ, sự tác động của các nhân tố này đến hoạt động của nhà trường là khác nhau, mà nhà trường thì không có khả năng điều chỉnh, kiểm soát sự ảnh hưởng của chúng
Vì vậy sự vận động của các nhân tố này có thể mang lại những cơ hội và thách thức cho các trường và cơ sở đào tạo nói chung
Các nhân tố “bên ngoài” có tác động trực tiếp và nhiều nhất đến chi phí đào tạo ở các trường và cơ sở đào tạo là:
Trang 22 Các chính sách về tài chính của Nhà nước đối với giáo dục đại học
Theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ không cho phép các trường được tự xác định mức học phí mà vẫn phải tuân thủ mức trần học phí, vốn đã rất thấp Bên cạnh đó các trường vẫn còn bị quản lý chương trình khung rất chặt chẽ, nên chương trình giảng dạy ở các trường thường tương tự nhau, làm giảm tính cạnh tranh, giảm khả năng tuyển sinh của một
số trường Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu, khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định sẽ do các trường tự chủ tự bảo đảm từ nguồn thu của trường như vậy mỗi khi có cải cách lương, các trường sẽ phải cắt giảm nguồn tài chính cho hoạt động đào tạo trực tiếp để tăng lương, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo Cùng với đó là quy định tại Thông tư 71/2006/TT-BTC không được tính vào chi phí thường xuyên các hoạt động sự nghiệp và dịch vụ, khoản thu nhập tăng thêm theo quy chế chi tiêu nội bộ mà phải hạch toán chi phí này sau thuế, điều này càng làm tăng thêm khó khăn tài chính cho các trường
Các loại hình cơ sở đào tạo (trường công lập, ngoài công lập, trường
đa ngành, đơn ngành…)
Các ưu đãi mà trường công lập được hưởng như: đất xây trường, hỗ trợ học phí, ưu đãi về chính sách thuế….càng chứng tỏ các trường ngoài công lập khi ra đời đã chịu sự kỳ thị từ phía các cơ quan Nhà nước nói riêng và xã hội nói chung Do phải tự túc mọi chi tiêu từ địa điểm đến thiết bị nên học phí cao hơn, và do kỳ thị của xã hội nên ra trường tìm việc làm khó hơn Đã khó tuyển sinh nhưng Bộ Giáo dục – Đào tạo lại hay thanh tra tập trung vào hai điểm: chưa có đất xây trường hay có nhưng diện tích không đủ tiêu chuẩn, và chưa đủ giảng viên cơ hữu cho số sinh viên đang học tại trường, và đi đến kết luận ngừng tuyển sinh cho năm học tới Ngừng tuyển sinh một năm học gây
ra rất nhiều rối loạn, trước hết là về tài chính, rồi đến bộ máy nhà trường, mất
uy tín với sinh viên và cuối cùng là nguy cơ phải đóng cửa trường học Mặt
Trang 23khác, theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế phát triển (CEDS) của trường ĐH Kinh tế - ĐH QGHN thì dường như có sự ảnh hưởng của kinh tế theo phạm vi với chi phí đơn vị, nghĩa là các trường đa ngành có thể đào tạo ở mức chi phí thấp hơn các trường đơn ngành ở cùng nhóm ngành Việc các trường chuyển đổi từ đơn ngành sang đa ngành hiện tại dường như mang tính tự phát, mà không có sự định hướng hoặc quy hoạch phát triển phù hợp Hiện tại cũng không có sự thống nhất về khái niệm của 08 nhóm ngành trong quản lý nhà nước
Ngoài ra việc phân nhóm các yếu tố cấu thành chi phí đào tạo của một
cơ sở đào tạo sẽ phụ thuộc vào một số nhân tố “nội tại” chủ yếu sau đây:
Quy mô đào tạo
Nếu xét về tổng thể thì quy mô đào tạo tăng/giảm sẽ ảnh hưởng đến các khoản chi phí biến đổi, và trong chừng mực nào đó không ảnh hưởng đến chi phí cố định Tuy nhiên, khi quy mô đào tạo tăng đến một giới hạn nào đó cũng sẽ ảnh hưởng đến một số khoản chi phí cố định Nhìn chung quy mô đào tạo tăng sẽ làm tăng CPĐT nhưng mức tăng của hai đại lượng này không tương đương nhau Khi quy mô quá lớn thì chi phí đào tạo cho 01 sinh viên sẽ tăng lên nhưng với tỷ lệ như thế nào còn phụ thuộc vào việc trường đó phân cấp quản lý tổ chức ra sao, chia ra ba cấp thông thường (trường, khoa, bộ môn) hay chia ra nhiều cấp (dạng phân quyền)
Chất lượng đào tạo
Các yếu tố chất lượng (tỷ lệ giảng viên/sinh viên, diện tích sàn/sinh viên)
có ảnh hưởng cùng chiều đến CPĐT Chất lượng đào tạo tăng lên đòi hỏi kinh phí đầu tư cho các điều kiện đảm bảo cho giáo dục đại học cũng tăng lên Tuy nhiên, không phải bao giờ tăng các khoản chi cho giáo dục đại học cũng làm tăng chất lượng đào tạo hoặc tăng chất lượng đào tạo tương ứng với tăng chi phí Vì rằng chi phí chỉ là một trong những nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo mà không phải là nhân tố duy nhất
Trang 24 Ngành/nhóm ngành đào tạo
Mỗi ngành và nhóm ngành đào tạo đều có những đặc điểm riêng về thời gian, nội dung, phương pháp đào tạo và có những yêu cầu khác nhau về các điều kiện hỗ trợ cho đào tạo như: diện tích giảng đường, phòng thí nghiệm, thư viện, xưởng vẽ, phòng trưng bày… Đây là những nhân tố tác động mạnh đến CPĐT của các trường Thời gian đào tạo dài hay ngắn sẽ làm cho CPĐT tăng hoặc giảm Nội dung, phương pháp đào tạo cũng là nhân tố ảnh hưởng tới CPĐT Ví dụ: các nhóm ngành công nghệ, kỹ thuật, khoa học tự nhiên là những ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, do vậy CPĐT sẽ tốn kém hơn nhiều
so với CPĐT các ngành khác trong 8 nhóm ngành ở Việt Nam
Quy mô và trình độ giảng viên
Thông qua chỉ tiêu số sinh viên/giảng viên cũng cho thấy quy mô giảng viên của một trường là cao hay thấp Để có đội ngũ giảng viên có trình độ cao, các trường phải đầu tư nhiều kinh phí đào tạo bồi dưỡng từ nhiều năm trước, mặt khác tiền lương chi trả cho các giảng viên có trình độ cao cũng cao hơn các giảng viên khác Như vậy, trình độ của giảng viên cũng là nhân tố ảnh hưởng đến CPĐT của các trường đại học Ở hầu hết các trường đại học hiện nay khoản chi cho con người chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi thường xuyên cho giáo dục – đào tạo, khoản chi này sẽ tăng dần qua các năm
do chính sách về lương của Nhà nước tăng dần theo lộ trình hàng năm
Cơ chế quản lý các trường đại học
Cơ chế phân bổ nguồn lực NSNN hiện hành trong giáo dục đại học chưa thực sự bình đẳng giữa cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập về cơ hội tiếp cận nguồn tài chính và cơ sở hạ tầng, về địa vị pháp lý và địa vị xã hội của cơ sở đào tạo và người thầy giáo… Các trường công lập thường ít bị sức
ép tiết kiệm chi tiêu hơn các trường tư hoặc các trường công lập được phân cấp tự chủ tài chính Sự cách biệt lớn nhất là ở đặc điểm nguồn thu, các trường công lập được Nhà nước cấp ngân sách hàng năm, các trường công lập
tự chủ về tài chính vẫn được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, còn nguồn thu chủ
Trang 25yếu của các trường ngoài công lập là học phí từ người học và một phần là do các cổ đông góp vốn
Tuy nhiên phải nhấn mạnh rằng, nguồn vốn do Nhà nước cấp từ ngân sách thì các trường công lập không phải hoàn trả bất kỳ một khoản gốc/lãi nào, còn nguồn vốn ở các trường tư thục do các cổ đông góp vốn thì định kỳ 5 – 10 năm là nhà trường phải chi trả một phần gốc/cổ tức cho các cổ đông đó Chính vì vậy mà việc tự cân đối nguồn thu và các khoản chi ở các trường ngoài công lập là rất khó khăn trong bối cảnh nguồn tuyển sinh hạn hẹp như hiện nay
Ở đây tác giả muốn nhấn mạnh đến các yếu tố chi chủ yếu được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của các trường ngoài công lập Mỗi trường
sẽ có quy chế chi tiêu nội bộ khác nhau nhưng các yếu tố chủ yếu trong đó thường bao gồm: tiền lương, tiền công, phụ cấp, học bổng, công tác phí, vật
tư văn phòng, dịch vụ công cộng, hội nghị, thuê ngoài, mua sắm sửa chữa duy
tu bảo dưỡng CSVC, hoạt động khoa học công nghệ, nghiệp vụ giảng dạy và chi khác Việc quy định định mức chi cho các yếu tố đó như thế nào còn tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng trường, nhưng chính các yếu tố này là nhân tố tác động mạnh nhất đến tổng chi phí hoạt động của các trường ngoài công lập
Các nhân tố khác
Ngoài những nhân tố nêu trên, quy mô của lớp học, số đơn vị học trình phải tích lũy, phương pháp dạy và học… cũng là những nhân tố tác động đến CPĐT
1.2.4 Quản lý và quy trình quản lý chi phí đào tạo
Khái niệm quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên
cơ sở những cách tiếp cận khác nhau
Xét ở góc độ chung nhất thì quản lý là việc đặt ra mục tiêu cho bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt tới mục tiêu
Trang 26Từ góc độ kinh tế: quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu đề ra
Hoạt động quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Hiện nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [8, tr 9]
Quy trình là cách thức tốt nhất thực hiện một quá trình công việc để tạo
ra giá trị cho tổ chức Quy trình quy định rõ: việc gì cần phải làm, kết quả nào phải đạt được, ai làm, làm lúc nào, ở đâu và như thế nào Thực hiện công việc theo quy trình bảo đảm chất lượng, tiến độ và năng suất Các rủi ro cũng được phòng ngừa Các quy trình còn là cơ sở cho việc cải tiến liên tục
Quy trình quản lý CPĐT thông thường bao gồm các bước sau:
Bước 1: Xây dựng định mức chi:
Định mức chi là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi, cấp các khoản chi, giám sát tình hình sử dụng và quyết toán Định mức chi phải đảm bảo được xây dựng một cách khoa học từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức Ngoài ra, định mức chi phải có tính thực tiễn cao, nghĩa là nó phải phản ánh được mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động
Bước 2: Lập dự toán:
Khi lập dự toán chi phải dựa trên các căn cứ sau: chỉ tiêu kế hoạch phát triển giáo dục – đào tạo như số lượng sinh viên, giảng viên….; căn cứ vào nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn thu trong kỳ kế hoạch để lập dự toán
Bước 3: Chấp hành dự toán:
Thực hiện kế hoạch chi theo định mức đã được duyệt nhưng cần chú ý đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, đầy đủ, kịp thời, tránh gây lãng phí, tuân thủ đúng chính sách chế độ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã
Trang 27hội của mỗi khoản chi Đơn vị phụ trách tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho hoạt động giáo dục – đào tạo, bàn bạc với lãnh đạo nhà trường để điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép, hướng dẫn các đơn vị trong nhà trường thực hiện tốt các chế độ theo đúng chính sách và quy chế quản lý tài chính của nhà trường
Bước 4: Quyết toán và kiểm toán các khoản chi:
Mục đích của công việc này là tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi, từ đó rút ra những ưu – nhược điểm trong quản lý để có biện pháp khắc phục Công việc cụ thể được tiến hành là kiểm tra, quyết toán các khoản chi Trong quá trình kiểm tra, quyết toán các khoản chi phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:
Phải lập đầy đủ các loại chứng từ thanh toán theo quy định;
Số liệu trong các chứng từ đó phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung ghi trong chứng từ thanh toán phải tuân thủ theo đúng nội dung đã ghi trong dự toán;
Không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu;
Khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết toán sẽ được tiến hành thuận lợi Đồng thời, nó sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan
Với cách định nghĩa như trên, nền GDM ở Việt Nam cần có những đặc
Trang 28Thứ nhất là, phải dựa trên hệ thống GDM là hệ thống GD tập trung vào người học, linh hoạt, liên thông giữa các yếu tố (nội dung, chương trình, phương pháp, phương thức, thời gian, không gian, chủ thể GD…) của hệ thống và liên thông với môi trường bên ngoài hệ thống, bảo đảm tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức GD
Thứ hai là nền GDM phải tạo cơ hội tiếp cận GD cho mọi người; Nền
GDM dỡ bỏ các rào cản tiếp cận GD: Hệ thống GDM đã tạo ra cơ hội học tập cho tất cả mọi người Điều đó có nghĩa là mọi đối tượng có nhu cầu học tập,
không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính và tín ngưỡng tôn giáo đều có cơ hội học tập như nhau
Thú ba là, nền GDM làm nảy nở những tài năng tiềm ẩn trong mỗi con
người, phát huy tối đa năng lực sáng tạo của người học Hệ thống GDM, xét ở khía cạnh nào đó, là sự mở rộng của nhà trường cho người lao động trở về với
hệ GD ban đầu nếu điều đó là cần thiết Hệ thống GDM sẽ tạo ra những cơ hội và điều kiện để mỗi con người luôn luôn được hưởng những thành tựu khoa học và công nghệ do tri thức mới mang lại, được cập nhật những tri thức mới và được ứng dụng những tri thức mới vào công việc mình đang làm Sự
mở rộng tri thức trên đây là điều kiện quyết định để tăng năng lực con người trong nền kinh tế mới: nền kinh tế tri thức
GDM tin tưởng vào các nguyên tắc xem trường học là một nơi để chuẩn bị “nền móng” cho một công dân năng động, chủ động, tích cực sáng tạo “phát triển” trong tương lai GDM được thúc đẩy bởi niềm tin rằng người học mong muốn tự tổ chức việc học của mình, đặc biệt họ muốn: xác định các chủ đề quản trọng mà họ cần học; thu nhận được các trải nghiệm GD chứ không phải chỉ những hiểu biết thuần túy sách vở, tự chịu trách nhiệm về các quyết định GD của họ
Trong nền giáo dục mở ấy, vòng đời của sách giáo khoa cũng sẽ ngắn lại, vì phải cập nhật nhanh kiến thức mới; sẽ phát triển các hình thức giáo dục
“điện tử”, với việc sử dụng phổ biến và chủ yếu sách giáo khoa điện tử (phù
Trang 29hợp với việc cập nhật nhanh kiến thức mới); với việc dạy và học từ xa, qua mạng và các phương tiện truyền thông; với hệ thống thư viện điện tử và các trung tâm cung cấp kiến thức qua mạng rất nhiều ưu thế về phổ biến kiến thức; với việc quản lý công khai, minh bạch thông tin, tạo điều kiện cho mọi người, mọi xã hội tham gia giám sát và quản lý; công nghệ thông tin sẽ tham gia không chỉ truyền thụ kiến thức, đào tạo từ xa, mà còn tham gia công tác kiểm tra, thi cử, kiểm định…
Trong nền giáo dục mở, cần có cách quản lý phù hợp Không quản lý từng công việc cụ thể mà tập trung quản lý chất lượng Coi trọng quản lý đầu
ra hơn là quản lý đầu vào Cần tách biệt quản lý nhà nước và quản lý sự nghiệp, chuyên môn Quản lý nhà nước cần chuyển mạnh từ hành chính bao cấp, điều hành chỉ huy tập trung sang quản lý chất lượng, quản lý công việc bằng cơ chế mở, xóa bỏ cơ chế xin cho; tập trung cho công việc xây dựng và thực hiện chiến lược, xây dựng hành lang pháp lý, thực hiện thanh tra, giám sát, xây dựng và đảm bảo cho hoạt động của hệ thống kiểm định có hiệu quả
Cần có hệ thống kiểm định giáo dục và cơ chế thanh tra, giám sát của Nhà nước và của xã hội đủ mạnh và hiệu quả, có các tổ chức kiểm định độc lập và các quy định chuẩn hóa về đầu ra của học sinh tốt nghiệp, của cơ sở đào tạo, của từng loại nghề nghiệp Kết quả kiểm định được công khai với cộng đồng, xã hội Việc kiểm định độc lập và công khai kết quả kiểm định là một trong những đặc điểm của hệ thống mở
Ở Việt Nam cũng đã có hai trường ĐH mở lớn nhất nước là Viện ĐH
Mở Hà Nội và ĐH Mở bán công thành phố Hồ Chí Minh giờ đã thành những trường ĐH “khép” GS TS Lâm Quang Thiệp nêu một nghịch lý : theo quy định của Nhà nước, các trường ĐH trọng điểm phải đi đầu trong việc đào tạo chất lượng cao, hai trường ĐH mở có chức năng đặc biệt là GDM và từ xa Tuy nhiên, thống kê cho thấy các trường ĐH trọng điểm đều có số sinh viên không chính quy đông, ở một số trường là trên dưới 60% (ĐH Kinh tế quốc
Trang 30Bách khoa HN ) Trong khi đó, sinh viên không chính quy ở hai trường ĐH
mở lại ở mức thấp hơn nhiều Sự thể cho cảm giác các ĐH mở đang “khép”
và nhiều ĐH quốc gia và trọng điểm lại được biến thành các ĐH mở
Vấn đề đặt ra đối với nước ta trên hành trình xây dựng và triển khai GDM là áp dụng kinh nghiệm thế giới như thế nào vào việc xây dựng chương trình giáo dục và sách giáo khoa để nâng cao hiệu quả, tiết kiệm chi phí Sách giáo khoa cũng như các kết quả NCKH, nếu sử dụng kinh phí Nhà nước, tức
là sử dụng tiền đóng thuế của nhân dân thì phải được coi như một lợi ích công
Xu thế phát triển GDM là hướng vào những lớp học, chương trình và sách giáo khoa mở Lớp học kiểu mới được tổ chức phù hợp với điều kiện học tập, nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu dạy – học của người dạy và người học Ở nước ta phổ biến nhất hiện nay vẫn là giáo trình in ấn và được phụ trợ bằng học liệu điện tử dưới dạng đĩa CD, CD-ROM, chương trình trực tuyến, sinh viên có thể giao tiếp, thảo luận qua mạng bằng e-mail đây đang là hình thức đào tạo từ xa của một số trường đại học tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Hình thức đào tạo này giúp các trường giảm bớt được một số chi phí như : giảng đường, thiết bị, chi phí giảng dạy, điện nước, thời gian học Tuy nhiên loại hình GDTX chưa được đầu tư từ nguồn NSNN mà phần lớn các trường đang tự chủ, lấy thu bù chi cho các hoạt động hoặc tranh thủ nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Ngoài ra, chất lượng đào tạo cũng là một thách thức lớn của GDTX, nếu chất lượng đào tạo không được bảo đảm thì GDTX – vốn là một hình thức có ý nghĩa thực tiễn cao, đáp ứng yêu cầu cần thiết của xã hội – sẽ trở thành hình thức đào tạo dễ bị xã hội phê phán
1.2.6 Tác động của giáo dục mở đến CPĐT
Ưu điểm
Ưu điểm của nền GDM là phù hợp cho tất cả các đối tượng học tập, điều này cũng sẽ làm tăng quy mô đào tạo, nhưng trong chừng mực nào đó chi phí
Trang 31cố định sẽ không bị ảnh hưởng, trong trường hợp này thì tổng chi phí đào tạo
có thể nói là có xu hướng giảm nhẹ
Một xu thế phát triển GDM là hướng vào những lớp học, chương trình và sách giáo khoa mở Điều này không những làm giảm được chi phí cho người học mà còn giảm được chi phí cho cả cơ sở đào tạo trên một số yếu tố: tài liệu học tập, địa điểm học tập, thời gian học tập…
Nhược điểm
Để tạo được điều kiện và môi trường cho mọi cá nhân người học cần có phương án xây dựng cơ sở hạ tầng và có sự quy định thống nhất về mức học phí đối với từng vùng miền
Các cơ sở giáo dục cần xây dựng chương trình học phù hợp với nhu cầu về nguồn lực của xã hội , khả năng tham gia và tiếp thu của người học…chi phí dành cho nhiệm vụ này tương đối nhiều, đặc biệt là đối với các cơ sở đào tạo không được Nhà nước cấp ngân sách
Việc thay đổi tư duy, nhận thức, nề nếp, thói quen và phương pháp của cả một đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý là điều không hề dễ dàng
1.3 Phương pháp xác định chi phí đào tạo đại học
Trên phương diện tổng thể, CPĐT được xác định theo công thức:
Z = Tổng chi phí / Tổng số người học Như vậy phương pháp xác định CPĐT sẽ bao gồm phương pháp xác định tổng chi phí, phương pháp xác định số người học
1.3.1 Phương pháp và công cụ xác định tổng chi phí
Nền kinh tế của nước ta đã và đang trải qua nhiều biến động về cơ chế vận hành, về cơ chế quản lý và theo đó là những thay đổi về chế độ kế toán
Do vậy trên thực tế khi tính toán chi phí các loại tài sản sẽ có nhiều bất hợp lý giữa giá trị trên sổ sách và giá trị thực tế của tài sản, giữa giá trị trên sổ sách
và giá trị sử dụng
Do tình hình biến động liên tục của nền kinh tế (lạm phát) nên các loại
Trang 32khác nhau mặc dù trên thực tế chúng có giá trị sử dụng tương đương nhau Vậy làm thế nào để tính tương đối chính xác các tổng chi phí TSCĐ của một
cơ sở đào tạo đại học khi mà các tài sản đó được hình thành qua các giai đoạn kinh tế khác nhau với những biến động rất lớn về giá? Dưới đây là một số biện pháp:
- Đối với các loại máy móc thiết bị:
Nếu lấy theo giá trị còn lại của tài sản trên cơ sở khấu hao tài sản theo chế độ hiện hành thì có nhiều tài sản đã khấu hao hết giá trị nhưng trên thực tế thì tài sản đó vẫn còn giá trị sử dụng, khi đó sẽ có sự khác biệt đáng kể về CPĐT giữa các cơ sở đào tạo mới thành lập với các cơ sở đào tạo đã hoạt động lâu năm Nếu đánh giá lại tài sản theo mặt bằng giá hiện hành rồi phân
bổ cho số năm sử dụng theo chế độ kế toán hiện hành thì sẽ được kết quả chính xác nhất, nhưng số lượng và cơ cấu tài sản của các trường đại học là rất lớn và phức tạp nên phương pháp này không khả thi, hơn nữa do hao mòn vô hình và hữu hình cũng như tình trạng lạm phát của nền kinh tế, nếu đánh giá lại rồi trừ đi phần khấu hao thì phần giá trị còn lại của tài sản cũng xấp xỉ nguyên giá của tài sản đó Do vậy, tác giả cho rằng với các tài sản không phải
là nhà cửa - vật kiến trúc thì nên lấy nguyên giá để xác định tổng chi phí về tài sản
- Đối với các công trình là nhà cửa – vật kiến trúc:
Mặc dù cũng chịu tác động từ những biến động của nền kinh tế nhưng giá trị của loại TSCĐ này thường có xu thế đắt dần Không những thế thời gian sử dụng của loại tài sản này cũng dài hơn so với máy móc thiết bị Trên thực tế, nhiều tòa nhà đã trải qua hàng chục năm sử dụng nhưng giá trị sử dụng còn rất cao Do vậy, nếu tính chi phí của loại tài sản này theo giá trị còn lại, từ đó để tính tổng CPĐT của mỗi cơ sở đào tạo sẽ là không thỏa đáng Phương án khả thi để xử lý tình huống này là đánh giá lại giá trị của các công trình trong nhóm tài sản này theo mặt bằng giá thống nhất Sau đó lấy tổng giá trị này phân bổ cho số năm cần khấu hao cho loại tài sản này, từ đó có
Trang 33được chi phí về nhà cửa và các công trình kiến trúc trong một năm của cơ sở đào tạo Công thức tổng quát để tính tổng chi phí về nhà cửa – vật kiến trúc trong một năm tại các cơ sở đào tạo như sau:
+ TCPNCi là tổng chi phí nhà cửa loại i
+ Xi là số lượng nhà cửa loại i
+ Pi là đơn giá của một đơn vị nhà cửa loại i
+ T là số năm cần để khấu hao giá trị nhà cửa loại i
- Đối với chi phí hàng năm:
Theo quy định hiện hành, trong báo cáo tài chính hàng năm của các trường phải thể hiện được tất cả các nghiệp vụ tài chính phát sinh trong năm, trong
đó có bao gồm cả chi phí phân bổ của phần các loại tài sản nói trên, do vậy trong tổng chi phí hàng năm cảu cơ sở đào tạo sẽ phải bóc tách phần chi này
1.3.2 Phương pháp xác định số người học trong mỗi trường
Để xác định được CPĐT trong mỗi cơ sở đào tạo cần quy đổi các đối tượng người học khác nhau về cùng một chuẩn chung thống nhất, trong đề tài này sẽ đưa ra cách quy đổi khả thi nhất nhằm phân bổ hợp lý chi phí cho các đối tượng người học khác nhau
Từ những tính toán của các công trình nghiên cứu trước đây cũng như từ thực tiễn chi phí thời gian cho các đối tượng người học, nhóm tác giả đề xuất
áp dụng các hệ số quy chuẩn như sau [1, tr 15]:
Trang 34Tuy nhiên cần lưu ý rằng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề xuất phương pháp quy đổi người học cùng một hệ ở tại trường và
ở ngoài trường về cùng một chuẩn chung Do vậy điều cần lưu ý ở đây là tổng
số người học toàn trường đã quy đổi chỉ sử dụng để tính chi phí hàng năm về lương, mà không dùng tổng này trong tính toán chi phí TSCĐ cho mỗi người học; đồng thời cũng không dùng tổng này trong việc tính toán chi phí hàng năm không phải lương của mỗi trường Điều này cũng có nghĩa là, số người học quy đổi sẽ được bao gồm ở hai nhóm: nhóm tại trường và nhóm ngoài trường Nhóm người học đã quy đổi tại trường sẽ được sử dụng để tính chi phí về TSCĐ cho một người học (ký hiệu là Z1), và tính chi phí chỉ liên quan đến các đối tượng người học tại trường (ký hiệu là Z3) Tổng của hai nhóm sẽ được sử dụng để tính chi phí về lương và các khoản như lương cho một người học (ký hiệu là Z2)
1.3.3 Phương pháp xác định chi phí đào tạo đại học
Nếu phân nhóm tổng chi phí thành hai loại: chi về TSCĐ và chi hàng năm thì CPĐT sẽ bao gồm hai bộ phận: chi phí TSCĐ tính cho một người học
và chi phí hàng năm tính cho một người học Công thức tổng quát tính CPĐT như sau:
Z = Z1 + Z2 Trong đó:
Z1 là chi phí về tài sản trong năm cho 01 người học
Z2 là chi phí hàng năm cho 01 người học
- Về xác định chi phí TSCĐ trong CPĐT:
Sẽ rất khó để phân bổ chi phí TSCĐ cho hai đối tượng người học tại trường cùng hệ nhưng ở trường và ở ngoài trường Đối với đối tượng người học sau đại học thì khả năng sử dụng cơ sở vật chất tại trường có thể xảy ra Tác giả cho rằng chỉ tính chi phí TSCĐ cho đối tượng người học tại trường,
mà không tính cho đối tượng người học ngoài trường trong tính toán CPĐT
Trang 35vẫn đảm bảo độ chính xác cao Như vậy Z1 sẽ là: Z1 = Tổng chi phí về TSCĐ trong năm / tổng số học tại trường đã quy đổi
- Về chi phí hàng năm trong CPĐT:
Khảo sát thực tế từ các trường đại học cho thấy chi hàng năm ở mỗi trường không chỉ là các khoản chi phân bổ hết trong năm đó mà còn có các khoản chi mua sắm và sửa chữa TSCĐ Theo nội dung và tính chất của khoản chi về TSCĐ, sẽ phải bóc tách khoản này và đưa vào tổng chi về TSCĐ để phân bổ theo chế độ hiện hành Phần chi còn lại không phải chi về TSCĐ sẽ phân bổ hết trong năm nghiên cứu
Tuy nhiên, phần tổng chi phí hàng năm không phải chi TSCĐ cũng không thể phân bổ đều cho tổng số người học toàn trường đã quy đổi Vì rằng trong
đó có nhiều khoản chi liên quan trực tiếp đến số người học tại trường như chi
về điện, nước, dịch vụ vệ sinh… tại trường Luận giải tương tự mục xác định chi phí TSCĐ, những khoản này hầu như chỉ liên quan đến đối tượng người học tại trường Do vậy cần bóc tách các khoản chi có nội dung, mục đích, và phạm vi tương tự để phân bổ riêng cho đối tượng người học tại trường, mà không phân bổ cho cả đối tượng người học tại các địa điểm ngoài trường Ngược lại, đối với các khoản chi liên quan đến con người như tiền lương, phụ cấp như lương, chi đào tạo bồi dưỡng giảng viên….là những khoản chi hàng năm liên quan đến tất cả các đối tượng người học ở các địa điểm khác nhau Do vậy, phải phân bổ các khoản chi này cho tất cả các đối tượng người học ở các địa điểm khác nhau Như vậy bộ phận cấu thành CPĐT là Z2 sẽ được tách thành hai phần: các khoản chi liên quan đến tất cả các đối tượng người học ở các địa điểm khác nhau, và các khoản chi chủ yếu liên quan đến đối tượng người học tại trường Để đơn giản hóa trong công thức tính toán CPĐT 01 SVQĐ, nhóm nghiên cứu đề xuất công thức tổng quát như sau:
Z = Z1 + Z2 + Z3
Trang 36Hoạt động phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính được hình thành thông qua hoạt động tạo nguồn tài chính Bởi lẽ, đây là hoạt động có tính quyết định đến việc triển khai chiến lược, kế hoạch đào tạo nghiên cứu của nhà trường, đảm bảo cho chiến lược - kế hoạch đó được triển khai như kế hoạch đã được
đề ra Trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay ở Việt Nam, nguồn tài chính của nhà trường bao gồm: nguồn từ NSNN (đối với các trường công lập), nguồn vốn góp từ các tổ chức, cá nhân (đối với các trường tư thục, dân lập), nguồn học phí của người học, nguồn thu nhập từ hoạt động nghiên cứu,
tư vấn, nguồn tài trợ từ tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
Hoạt động phân phối, sử dụng nguồn tài chính trong các trường đại học, cao đẳng vừa chịu sự chi phối bởi chiến lược và kế hoạch hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động dịch vụ khác, vừa có ảnh hưởng tác động đến toàn bộ hoạt động của nhà trường theo hai chiều hướng thuận nghịch khác nhau đối với quá trình phát triển của nhà trường Điều đó tùy thuộc vào hoạt động tổ chức và cơ chế quản lý tài chính trong nhà trường
Trang 37Tùy theo đặc điểm của các nguồn tài chính trong nhà trường mà có thể hình thành các loại cơ chế quản lý tài chính khác nhau sao cho việc tạo lập và phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính phù hợp với đặc điểm của từng nguồn tài chính, phù hợp với hoạt động của nhà trường, đảm bảo việc sử dụng nguồn lực tiết kiệm và đạt hiệu quả cao
Chính vì những đặc điểm nêu trên nên việc quản lý các hoạt động tài chính hiện nay đang được thể hiện thông qua quá trình lập dự toán thu – chi dựa trên những quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định (đối với trường công lập) hay do Hội đồng quản trị quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ (đối với trường tư thục, dân lập)
Tuy nhiên, cơ chế hoạt động quản lý của mỗi trường vừa phải đáp ứng với yêu cầu hoạt động đa dạng của nhà trường, vừa là công cụ có tác dụng điều chỉnh các hoạt động của nhà trường nhằm đảm bảo cho hoạt động của nhà trường hiệu quả, đạt chất lượng cao Đặc điểm này bắt nguồn từ mối quan
hệ biện chứng giữa hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung ứng các dịch vụ của nhà trường với hoạt động tài chính Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung ứng các dịch vụ là tiền đề làm xuất hiện hoạt động tài chính, ngược lại mỗi một hoạt động tài chính được định hình thì nó có tác động trở lại theo chiều hướng thuận – nghịch tùy theo phương thức điều chỉnh, điều hành hoạt động tài chính Vì vậy, sau quá trình lập dự toán thu – chi ta phải tiến hành kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện dự toán và kết quả thực hiện dự toán có đúng, có đủ theo như dự toán đã được duyệt hay không
Nhận thức rõ ý nghĩa quan trọng của tài chính nên trong việc xây dựng vận hành cơ chế quản lý tài chính của các nhà trường đều phải dựa trên quan điểm lấy mục tiêu phục vụ cho hoạt động của nhà trường là chính Vì vậy cho
dù cơ chế quản lý tài chính trong các nhà trường (công lập hay ngoài công lập) đều gắn với cơ chế quản lý tài chính chung của nhà nước, nhưng phải
Trang 38trong quá trình thiết lập, vận hành cơ chế quản lý tài chính riêng của từng trường Và việc xây dựng một quy trình quản lý tài chính nói chung và quản
lý chi phí đào tạo nói riêng là một nhu cầu thiết yếu của các nhà quản lý (với trường công lập) và các nhà đầu tư (với các trường ngoài công lập) để luôn phải đảm bảo công khai, minh bạch và kịp thời
Tiểu kết chương 1 Quản lý CPĐT là một trong những nhiệm vụ quan trọng và được đặt lên hàng đầu của một cơ sở đào tạo, đặc biệt là đối với các cơ sở đào tạo ngoài công lập Chương 1 đã trình bày một cách có hệ thống lịch sử nghiên cứu đề tài, các khái niệm cơ bản liên quan đến quy trình quản lý CPĐT tại một trường đại học theo hướng phát triển giáo dục mở bao gồm: tài chính, quản lý tài chính, chi phí đào tạo đại học của cơ sở đào tạo, các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam, quản lý và quy trình quản lý chi phí đào tạo, nền giáo dục mở và tác động của giáo dục mở đến CPĐT Đồng thời tác giả cũng trình bày phương pháp xác định chi phí đào tạo đại học và sự cần thiết phải xây dựng quy trình quản lý chi phí đào tạo đại học Những cơ sở lý luận này được xem là nền tảng và định hướng cho việc phân tích thực trạng, cũng như đề xuất các biện pháp hoàn thiện quy trình quản lý chi phí đào tạo tại trường ĐH Hòa Bình
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH 2.1 Giới thiệu khái quát về quản lý chi phí đào tạo tại trường Đại học Hòa Bình
2.1.1 Giới thiệu khái quát về trường Đại học Hòa Bình
Trường ĐH Hòa Bình được thành lập theo Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 28/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ và hoạt động theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học tư thục ban hành kèm theo Quyết định
số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ
Trường Đại học Hòa Bình được thành lập với sứ mạng: huy động nguồn lực trong xã hội, tham gia đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài chính ngân hàng, kinh
tế, quản trị kinh doanh, dịch vụ cộng đồng và một số lĩnh vực mũi nhọn khác nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mặt bằng dân trí, đáp ứng yêu cầu học tập của nhân dân
Tầm nhìn sau 2020: lãnh đạo nhà Trường hướng tới xây dựng một mô hình đại học tư kiểu mẫu trong tương lai gần Trường sẽ là nơi đào tạo bồi dưỡng và rèn luyện cho thế hệ trẻ thành đạt trên con đường lập nghiệp
Trường hoạt động theo luật giáo dục, luật giáo dục Đại học, Điều lệ trường đại học và theo quy chế tổ chức và hoạt động của trường Đại học tư thục Trường không đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lên hàng đầu mà mục tiêu trên hết là chất lượng giảng dạy, học tập, vì sự tiến bộ của người học, đặc biệt là ưu tiên con em các gia đình nghèo và dân tộc thiểu số
Trong thời đại của sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và
sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của kinh tế thị trường thì: phải làm cho người học biết rằng mục tiêu của việc học tập ở bậc đại học không đơn thuần chỉ là có một tấm bằng để xin việc Cần phải học để biết cách đối mặt với
Trang 40hòa nhập với cộng đồng luôn hợp tác và đổi mới, biết cách phát hiện và nắm bắt kịp thời những cơ hội luôn xuất hiện và qua đi một cách nhanh chóng, biết nuôi dưỡng những hoài bão để đạt tới những thành công trong cuộc sống
và bao trùm lên tất cả là học để làm người, trở thành một công dân gương mẫu trong xã hội Việt Nam với lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Cơ cấu ngành nghề của nhà trường đã có sự phát triển vượt bậc: năm
2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép trường được mở thêm 04 ngành đào tạo trình độ đại học hệ chính quy, bao gồm: Công nghệ thông tin, Tài chính ngân hàng, Kế toán và Quản trị kinh doanh Từ năm 2009 đến năm 2013 nhà trường tiếp tục được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo thêm 14 ngành đào tạo trình độ đại học hệ chính quy và 10 ngành đào tạo trình độ cao đẳng
hệ chính quy Gần đây nhất ngày 26/03/2014 trường được cho phép đào tạo thêm 02 ngành mới là Kiến trúc và Thiết kế nội thất trình độ đại học hệ chính quy Trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực theo định hướng và thực hành theo nhu cầu xã hội tạo cho sinh viên tốt nghiệp có đầy đủ kiến thức, năng lực và
kỹ năng làm việc
Hiện tại, trụ sở làm việc và cơ sở đào tạo chính của Trường đặt tại địa chỉ: Lô CC2, đường Bùi Xuân Phái, KĐT Mỹ Đình 2, Hà Nội và địa điểm quy hoạch đặt tại xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, Hà Nội với diện tích 60,7ha Nhà trường đang khẩn trương chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về nhân lực, vật lực để khi được phép của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Trường
có thể khởi công xây dựng một quần thể đại học lý tưởng với đầy đủ tiện nghi phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học tại đó
Với địa điểm được đặt tại một trong những khu đô thị đẹp và hiện đại nhất thủ đô, rất gần với các trường đại học lớn như: ĐH Quốc gia HN, ĐH Thương mại, ĐH Công nghiệp…tất cả sinh viên hệ chính quy và liên thông của ĐH Hòa Bình đều được học tập tại một nơi yên tĩnh, môi trường sạch đẹp, được trang bị hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại như: hệ thống