Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng đến việc huy động nguồn lực xã hội, trong đó có nguồn lực từ các Doanh nghiệp để phát tri
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP
ĐỂ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG NỀN GIÁO DỤC MỞ
(ÁP DỤNG CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đắc Hưng
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng được gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy cô giáo tham gia giảng dạy đã cung cấp những kiến thức nền tảng cơ bản, sâu rộng và đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đắc Hưng - người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tâm động viên, giúp đỡ và chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn: Hội đồng Quản trị, Ban giám hiệu, các Phòng, Ban, Khoa Trường Đại học Hòa Bình đã tạo mọi điều kiện để tôi được tham gia khóa học này
Tôi cũng trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình hoàn chỉnh luận văn, mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ, hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 BCHW Ban chấp hành trung ương
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Hình 1.1 Sơ đồ mối liên hệ giữa XHHGD, huy động nguồn lực DN và GDM 15 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của trường Đại học Hòa Bình 33 Bảng 2.2 Cơ cấu vốn đầu tư của Đại học Hòa Bình theo tính chất ngành nghề và loại hình doanh nghiệp 36 Bảng 2.3 Kết quả huy động tài trợ cho Quỹ Khuyến học Đại học Hòa Bình từ khi thành lập đến nay (triệu đồng) 37 Bảng 2.4 Tần suất và tỷ lệ phần trăm các đối tượng được khảo sát 40 Hình 2.2 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của chính sách Nhà nước đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 41 Hình 2.3 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của niềm tin của xã hội đối với trường tư đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 41 Hình 2.4 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của thể chế tài chính trong nhà trường đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 42 Hình 2.5 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của sự đồng thuận giữa các nhà đầu tư đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 42 Hình 2.6 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của sự đồng thuận trong nội bộ nhà trường đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 43 Hình 2.7 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của nguồn tuyển sinh ổn định đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 44 Bảng 2.5 Kết quả tính thứ bậc (Y) của các nguyên nhân được giả định cuả những kết quả và hạn chế trong việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường Đại học Hòa Bình 45 Hình 2.8 Mục đích và động lực của doanh nghiệp đầu tư cho GD Việt Nam nói chung và cho GD đại học Việt Nam nói riêng 46 Hình 3.1 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc ban hành chính sách khuyến khích và bắt buộc các DN tham gia hỗ trợ GD ĐH 63 Hình 3.2 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của công tác tuyên truyền chủ trương huy động nguồn lực DN phát triển GD ĐH 64
Trang 5Hình 3.3 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc đa dạng hóa các hoạt động liên kết giữa nhà trường và DN trong việc huy động nguồn lực cho GD ĐH 64 Hình 3.4 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc tái cơ cấu quản trị nhà trường trong việc huy động nguồn lực DN cho GD ĐH 65 Hình 3.5 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc xây dựng chiến lược phát triển ĐH Hòa Bình trong việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 67 Hình 3.6 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc xây dựng thương hiệu ĐH Hòa Bình trong việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 68 Hình 3.7 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của các chính sách thu hút DN của
ĐH Hòa Bình trong việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 68 Bảng 3.1 Kết quả tính thứ bậc cấp thiết (Y) và tính khả thi của các giải pháp được
đề xuất trong việc huy động nguồn lực DN nói chung và cho nhà trường Đại học Hòa Bình nói riêng 69 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát về tính tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 71
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ mối liên hệ giữa XHHGD, huy động nguồn lực DN và GDM 15 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của trường Đại học Hòa Bình 33
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 2.2 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của chính sách Nhà nước đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 41 Hình 2.3 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của niềm tin của xã hội đối với trường tư đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 41 Hình 2.4 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của thể chế tài chính trong nhà trường đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 42 Hình 2.5 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của sự đồng thuận giữa các nhà đầu tư đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 42 Hình 2.6 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của sự đồng thuận trong nội bộ nhà trường đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 43 Hình 2.7 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của nguồn tuyển sinh ổn định đến việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 44 Hình 2.8 Mục đích và động lực của doanh nghiệp đầu tư cho GD Việt Nam nói chung và cho GD đại học Việt Nam nói riêng 46 Hình 3.1 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc ban hành chính sách khuyến khích và bắt buộc các DN tham gia hỗ trợ GD ĐH 63 Hình 3.2 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của công tác tuyên truyền chủ trương huy động nguồn lực DN phát triển GD ĐH 64 Hình 3.3 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc đa dạng hóa các hoạt động liên kết giữa nhà trường và DN trong việc huy động nguồn lực cho GD ĐH 64 Hình 3.4 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc tái cơ cấu quản trị nhà trường trong việc huy động nguồn lực DN cho GD ĐH 65 Hình 3.5 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc xây dựng chiến lược phát triển ĐH Hòa Bình trong việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 67 Hình 3.6 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của việc xây dựng thương hiệu ĐH Hòa Bình trong việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 68 Hình 3.7 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của các chính sách thu hút DN của
ĐH Hòa Bình trong việc huy động nguồn lực DN cho nhà trường 68
Trang 8MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt trong luận văn ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các sơ đồ v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5 Câu hỏi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 5
7 Phạm vi nghiên cứu 5
8 Phương pháp nghiên cứu 5
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
10 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
1.2 Xã hội hóa (XHH) 9
1.3 Xã hội hoá giáo dục 10
1.4 Nguồn lực doanh nghiệp 10
1.5 Huy động các nguồn lực doanh nghiệp 11
1.5.1 Mục đích huy động các nguồn lực doanh nghiệp 11
1.5.2 Các nguyên tắc chung khi triển khai huy động nguồn lực DN 11
1.6 Giáo dục mở 13
1.6.1 Khái niệm giáo dục mở (GDM) 13
1.6.2 Hệ thống Giáo đục mở 13
1.6.3 Những đặc điểm của nền GDM 14
1.6.4 Xã hội hóa GD và huy động nguồn lực DN trong nền GDM 15
1.7 Những yếu tố chủ yếu tác động đến việc huy động nguồn lực DN để phát triển GD ĐH trong hệ thống GDM 16
Trang 91.7.2 Quản lý nhà nước đối với GD ĐH 16
1.7.3 Tác động của cơ chế thị trường 17
1.7.4 Tác động của hội nhập quốc tế 18
1.8 Quản lý việc huy động nguồn lực DN 19
1.8.1 Quản lý là gì 19
1.8.2 Nội dung quản lý việc huy động nguồn lực DN 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 24
2.1 Thực trạng huy động nguồn lực DN cho GD ĐH 24
2.1.1 Huy động tài lực và vật lực 25
2.1.2 Huy động nhân lực 28
2.1.3 Huy động trí lực 28
2.1.4 Nguyên nhân của những kết quả và yếu kém trong việc huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp là: 29
2.2 Thực trạng huy động nguồn lực DN cho GD ĐH tại Đại học Hòa Bình 30
2.2.1 Khái quát về trường Đại học Hòa Bình 30
2.2.2 Kết quả và hạn chế trong việc huy động nguồn lực DN tại ĐH Hòa Bình 35
2.2.3 Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế 38
2.2.4 Kết quả điều tra xã hội học khảo sát nguyên nhân của những kết quả và hạn chế trong việc huy động nguồn lực DN ở ĐHHB 39
2.2.5 Bài học kinh nghiệm 47
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ 50
3.1 Yêu cầu về quản lý việc huy động nguồn lực DN phát triển GD ĐH trong hệ thống giáo dục mở 50
3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 50
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 50
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 50
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa và khả thi 51
3.2 Giải pháp quản lý huy động nguồn lực cho GD ĐH nói chung 51
3.2.1 Ban hành chính sách khuyến khích và bắt buộc các DN tham gia hỗ trợ GD ĐH 51
3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền 52
3.2.3 Đa dạng hóa các hoạt động liên kết nhà trường - doanh nghiệp 52
3.2.4 Đổi mới cách quản trị nhà trường 55
Trang 103.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 56
3.3 Nhóm giải pháp huy động nguồn lực DN đối với Trường Đại học Hòa Bình 56
3.3.1 Xây dựng Chiến lược phát triển nhà trường 57
3.3.2 Xây dựng và quảng bá thương hiệu nhà trường 59
3.3.3 Triển khai một số giải pháp nhằm thu hút các DN cùng tham gia phát triển Nhà tường 61
3.4 Kết quả điều tra xã hội học khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của những giải pháp quản lý huy động nguồn lực DN cho GD ĐH nói chung và cho ĐH Hòa Bình nói riêng 63
3.4.1 Ban hành chính sách khuyến khích và bắt buộc các DN tham gia hỗ trợ GD ĐH 63
3.4.2 Tăng cường công tác tuyên truyền 64
3.4.3 Đa dạng hóa các hoạt động liên kết nhà trường - doanh nghiệp 64
3.4.4 Tái cơ cấu quản trị nhà trường 65
3.4.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 66
3.4.5 Xây dựng Chiến lược phát triển Đại học Hòa Bình 66
3.4.7 Xây dựng và quảng bá thương hiệu Đại học Hòa Bình 67
3.4.8 Xây dựng chính sách thu hút các DN cùng tham gia phát triển Đại học Hòa Bình 68
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 79
PHỤ LỤC 80
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và những biến đổi nhanh chóng trên thế giới đang diễn ra ở tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ, buộc các quốc gia phải cố gắng nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại, liên kết, hợp tác với nhau để cùng phát triển Trong bối cảnh đó, yêu cầu đổi mới và phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) cả về quy mô và chất lượng phù hợp với sự phát triển là đòi hỏi tất yếu và cấp bách đối với mỗi quốc gia
Muốn đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo thì yếu tố nguồn lực đóng vai trò hết sức quan trọng Sự phát triển giáo dục và nhu cầu học tập của người dân ngày càng tăng đã khiến cho không một quốc gia nào trên thế giới
đủ giàu để có thể bao cấp toàn bộ cho nền giáo dục quốc dân, đặc biệt là giáo dục đại học [15] Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng đến việc huy động nguồn lực
xã hội, trong đó có nguồn lực từ các Doanh nghiệp để phát triển giáo dục thông qua chủ trương xã hội hóa giáo dục Đây là một chủ trương lớn đã được triển khai rất có hiệu quả trong những thập niên qua Nhìn chung, việc huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục vẫn nặng về phương diện tài chính, vật lực mà coi nhẹ hoặc chưa chú ý đến huy động trí lực và nhân lực Nghị quyết
kỳ họp thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục khẳng định
“Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh Có cơ chế để tổ chức,
cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học”.[1] Nghị quyết 29 NQ/TW, ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương
Trang 12khóa XI (sau đây gọi là NQ29) đã tạo cơ hội cho việc huy động nguồn lực xã hội để phát triển và đổi mới giáo dục và đào tạo đồng thời cũng đòi hỏi một
sự thay đổi về tư duy và phương thức quản lý giáo dục, sự đổi mới về thể chế
và tái cơ cấu hệ thống sao cho việc huy động được thực hiện đúng hướng, toàn diện và hiệu quả
NQ29 cũng đã nêu ra một quan điểm chỉ đạo quan trọng là “ Đổi mới
hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình
độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo.”
Những năm gần đây, ở nuớc ta đã xuất hiện một số công trình khoa học nghiên cứu việc thực hiện chủ trương của Đảng trong một số lĩnh vực (giáo dục-đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thể dục thể thao, dân số – kế hoạch hoá gia đình, chuyển giao khoa học về nông thôn ) bằng con đường xã hội hoá Trong các công trình đó cần nêu lên các đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học công tác tại Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Viện Khoa học Giáo dục, Ban Khoa giáo Trung ương [2] , các tài liệu của Ban Khoa giáo Trung ương chuẩn bị cho việc tổng kết chuyên đề “xã hội hoá về giáo dục, y
tế, văn hoá năm 2000 [13] Đây là những công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề xã hội hoá nói chung, trong đó có xã hội hoá giáo dục (XHHGD) Trong đó đã đề cập đến tình hình triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá, nhận thức về bản chất và nội dung xã hội hoá, các mô hình xã hội hoá, những kết quả cụ thể của hoạt động xã hội hoá trong các lĩnh vực, các nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và các kiến nghị Việc nghiên cứu một cách có hệ thống
và đầy đủ nhất về XHHGD và huy động nguồn lực xã hội phát triển GD ở Việt Nam đã được triển khai từ những năm đầu thế kỷ 21 với đề tài độc lập cấp nhà nước “Cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp xã hội hóa GD giai đoạn 2001-2010” do PGS.TS Trần Quốc Toản chủ trì đã lý giải khá sâu sắc
về vấn đề XHHGD, nhưng chưa đề cập đến vấn đề giáo dục mở, nên có nhiều điêm chưa phù hợp với tình hình hiện nay
Trang 13Đặc điểm chung của những nghiên cứu nêu trên là chú trọng tới các luận điểm và kiến nghị giải pháp ở tầm vĩ mô và đã được các nhà hoạch định chính sách sử dụng trong việc soạn thảo Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ về đẩy mạnh XHH các hoạt động GD, y tế, văn hóa và thể dục thể thao và Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
Những nghiên cứu nêu trên cũng như chính sách hiện nay về huy động nguồn lực xã hội để phát triển GD đang có những khoảng cách so với thực tiễn [15] Điều đó khiến cho tiến trình XHH hóa bị chậm lại và có những biểu hiện đi lệch khỏi mục tiêu ban đầu mà cụ thể là nặng về huy động tài chính, chưa quan tâm đúng mức đến huy động nhân lực và trí lực từ xã hội
Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) lần đầu tiên
đề cập đến việc xây dựng nền giáo dục mở (GDM) và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở đã đặt ra một phương hướng nghiên cứu rộng lớn
về việc triển khai XHH, huy động nguồn lực XH trong nền GDM
Trường Đại học Hòa Bình, nơi học viên đang làm việc, là một trường đại học tư thục được thành lập theo chủ trương xã hội hóa giáo dục Sau 5 năm thành lập đã thu được những kết quả quan trọng nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức chủ quan và khách quan Trong nền giáo dục mở
hệ thống trường tư thục cũng sẽ được mở rộng Muốn hệ thống các trường tư nói chung và trường đại học Hòa Bình nói riêng tồn tại và phát triển theo mong muốn của các nhà đầu tư và đáp ứng đòi hỏi của xã hội thì việc nghiên cứu nhằm xây dựng luận cứ khoa học và giải pháp đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội thực hiện NQ29 là hết sức cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn
Với lý do đó tác giả quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp huy động nguồn lực doanh nghiệp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong hệ thống giáo dục mở” với hy vọng đóng góp phần nhỏ vào công việc đổi mới và phát triển giáo dục đại học theo tinh thần đổi mới căn và bản toàn diện và ứng dụng cụ thể vào trường Đại học Hòa Bình
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng huy động nguồn lực doanh nghiệp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam, làm rõ một số nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế yếu kém cần khắc phục, đưa ra được các giải pháp quản lý để đẩy mạnh việc huy động nguồn lực nhằm phát triển giáo dục đại học nói chung và các trường đại học tư thục nói riêng trong nền giáo dục mở
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu như sau:
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc huy động nguồn lực doanh nghiệp phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong nền GDM
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc huy động nguồn lực doanh nghiệp để phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay nói chung và Đại học Hòa Bình nói riêng Phân tích nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm
3.3 Đề xuất giải pháp quản lý để đẩy mạnh việc huy động từ các doanh nghiệp để phát triển nhà trường và giáo dục đại học trong nền giáo dục mở
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Giáo dục và cơ sở giáo dục đại học ở nước ta 4.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý việc huy động nguồn lực từ các
doanh nghiệp để phát triển giáo dục đại học
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Những phương thức nào có thể sử dụng để quản lý huy động nguồn lực từ doanh nghiệp phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục đại học nói riêng?
- Cơ chế chính sách nào đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của những doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục đại học?
- Nền giáo dục mở là gì?
- Những điều kiện thuận lợi và khó khăn khi huy động nguồn lực từ doanh nghiệp phát triển giáo dục đại học trong nền giáo dục mở?
Trang 156 Giả thuyết khoa học
- Quản lý tốt việc huy động nguồn lực doanh nghiệp sẽ phát triển được giáo dục đại học, đặc biệt là đại học tư thục trong điều kiện kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế
- Hệ thống giáo dục mở sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa giáo dục nói chung và huy động nguồn lực doanh nghiệp nói riêng để phát triển giáo dục đại học
7 Phạm vi nghiên cứu
- Quản lý việc huy động nguồn lực của các doanh nghiệp để phát triên giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục mở
- Khảo sát sự huy động nguồn lực của doanh nghiệp cho đại học Hòa Bình
- Thời gian từ năm 2002 đến năm 2012
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu, nghiên cứu các văn bản và
tài liệu
- Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi, tổng
kết kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp kết hợp với tham vấn chuyên gia
- Xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và phân tích thống kê
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1 Ý nghĩa lý luận
- Làm rõ nội hàm nền GDM và hệ thống GDM,
- Làm rõ nội hàm nguồn lực DN để phát triển giáo dục đại học ở Viêt Nam
- Cung cấp cơ sở khoa học để kiến nghị giải pháp quản lý việc huy động nguồn lực doanh nghiệp phát triển giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục mở
9.2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho ĐH Hòa Bình
Trang 16Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và quản lý giáo dục áp dụng ở các cơ sở giáo dục đại học khác
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xã hội hóa giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục mở
Chương 2: Hiện trạng việc huy động nguồn lực doanh nghiệp phát triển giáo dục đại học
Chương 3: Giải pháp quản lý việc huy động nguồn lực doanh nghiệp phát triển giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục mở
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ
1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, ở nuớc ta đã xuất hiện một số công trình khoa học nghiên cứu việc thực hiện chủ trương của Đảng trong một số lĩnh vực (giáo dục-đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thể dục thể thao, dân số – kế hoạch hoá gia đình, chuyển giao khoa học về nông thôn ) bằng con đường xã hội hoá Trong các công trình đó cần nêu lên các đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học công tác tại Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Viện Khoa học Giáo dục, Ban Khoa giáo trung ương [7] , các tài liệu của Ban Khoa giáo Trung ương chuẩn bị cho việc tổng kết chuyên đề “xã hội hoá về giáo dục, y
tế, văn hoá năm 2000 [2], trong đó đã đề cập đến tình hình triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá, nhận thức về bản chất và nội dung xã hội hoá, các
mô hình xã hội hoá, những kết quả cụ thể của hoạt động xã hội hoá trong các lĩnh vực, các nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và các kiến nghị
Trong các công trình nghiên cứu đó, XHHGD được xem như là một nhân tố mới trong sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo [7], là một con đường phát triển giáo dục
Thực tiễn thực hiện XHHGD đã đặt ra nhiều vấn đề cả về cơ sở lý luận
và các giải pháp thực tiễn cần làm sáng tỏ, những bài học kinh nghiệm cần được rút ra, phát hiện những vấn đề mới, nhân tố mới nhằm tiếp tục đẩy mạnh
sự nghiệp xã hội hoá giáo dục, đạt được những mục tiêu cơ bản đã được các Nghị quyết Đại hội VI,VII,VIII và IX của Đảng đề ra
Có thể điểm lại những công trình nghiên cứu chủ yếu về XHHGD đã có
ở nước ta đến nay như sau:
1 Cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong sự nghiệp đổi
mới” do Ban Khoa giáo Trung ương chủ biên và phát hành vào năm 1996 đã
Trang 18làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng về xã hội hoá công tác giáo dục, được coi là một trong những nhân tố mới trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo, nêu những kinh nghiệm, mô hình cụ thể về thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục
2 Cuốn “Xã hội hoá công tác giáo dục” do Ban Khoa giáo Trung
ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công đoàn Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học Giáo dục phối hợp xuất bản năm 1997 là một sự tổng kết lý luận và kinh nghiệm từ thực tiễn sinh động của các địa phương trong cả nước, đồng thời đã trình bày khá đầy đủ các văn kiện của Đảng ta và một số văn bản pháp quy của Nhà nước ta về xã hoá giáo dục; cơ sở lý luận và thực tiễn của xã hội hoá công tác giáo dục cho đến thời điểm đầu năm 1997
3 Cuốn sách “Xã hội hoá công tác giáo dục “Nhận thức và hành
động” được Viện Khoa học Giáo dục phát hành vào năm 1999 có tác dụng
như một cuốn sổ tay cần thiết và bổ ích cho các cán bộ quản lý các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể xã hội, các địa phương, các cơ sở giáo dục và toàn thể cộng đồng về một số vấn đề cơ bản nhất trong nhận thức và hành động nhằm thực hiện chủ trương XHHGD ở nước ta
4 Báo cáo chuyên đề “Nghiên cứu việc thực hiện các chủ trương của
Đảng về giáo dục bằng con đường xã hội hoá” do PGS TS Lê Khanh chủ
trì thực hiện từ năm 1997 đến cuối năm 1999
5 Đề tài cấp Bộ “ Đánh giá tác động của các chính sách xã hội hoá giáo dục” (mã số B99-52-TĐ32 Bộ giáo dục- đào tạo- Viện nghiên cứu phát triển giáo dục)
6 Tổng kết chung tình hình thực hiện xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá đã được Ban Khoa giáo Trung ương chủ trì thực hiện, với sự tham gia của các bộ, ban, ngành có liên quan ở Trung ương nhằm phục
vụ việc xây dựng các văn kiện của Đại hội IX và đã được trình bày trong Báo cáo trình Bộ Chính trị vào tháng 5-2000
Trang 197 Báo cáo của Chính phủ về về tình hình thực hiện xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao trình bày tại Hội nghị toàn quốc về công tác xã hội hoá được tổ chức vào hai ngày 28 và 29/12/2002 tại
Hà Nội
8 Đề tài độc lập cấp nhà nước “Cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp
xã hội hóa GD giai đoạn 2001-2010” do PGS.TS Trần Quốc Toản chủ trì;
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã trình bày tương đối rõ nét những quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng và các giải pháp chính của Nhà nước ta đã thực hiện về XHH sự nghiệp giáo dục đến đầu năm 2003 Đó cũng là kết quả triển khai trong thực tiễn một số chủ trương mới thể hiện trong Nghị định 90/CP và Nghị định 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ về XHH Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến nền GDM và công tác XHHGD trong nền GDM Mặt khác các công trình nghiên cứu được thực hiện đều hơn 10 năm trong một bối cảnh tình hình giáo dục và yêu cầu đối với sự phát triển giáo dục khác rất nhiều so với bối cảnh hiện nay
1.2 Xã hội hóa (XHH)
Xã hội hóa là một khái niệm thuần Việt được dùng như là một trong 4 phương châm phát triển giáo dục Việt Nam (hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế) Tuy vậy, nó không có một từ tương đương trong Anh ngữ
XHH (socialization) theo quan điểm xã hội học là quá trình tương tác, lan toả các chuẩn mực, các giá trị, các khuôn mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội
Từ điển Wikipedia cho rằng XHH là quá trình trong đó người ta từ khi còn ấu thơ bắt đầu có được các kỹ năng cần thiết để trở thành một thành viên năng động trong xã hội của họ, và là quá trình học tập có ảnh hưởng nhất mà một người có thể trải nghiệm
Chính từ những định nghĩa này mà nhiều học giả lúng túng với từ XHH một lĩnh vực xã hội nào đó Theo các nhà xã hội học ta có thể hiểu XHH một lĩnh vực nào đó, là quá trình tương tác, chà xát, lan tỏa các chuẩn mực, các
Trang 20giá trị, các khung mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội trên lĩnh vực đó
1.3 Xã hội hoá giáo dục
Có nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa giáo dục (XHHGD)
Từ hai khái niệm XHH (theo quan điểm xã hội học), khái niệm giáo dục (theo quan điểm giáo dục học) nêu ở trên ta có thể hiểu xã hội hóa trên lĩnh vực giáo dục (XHHGD) là quá trình tương tác, lan tỏa các chuẩn mực, các giá trị, các khung hình mẫu, các hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm cá thể trên lĩnh vực giáo dục Định nghĩa này không được chuẩn xác, vì khoa học giáo dục khẳng định “giáo dục là một hình thái ý thức xã hội và là một hiện tượng xã hội, đặc thù, riêng của xã hội loài người Giáo dục là một hoạt động xã hội cơ bản và chuyên biệt Giáo dục là một phương thức để đưa con người hòa nhập vào xã hội” Vậy còn cần gì phải xã hội hóa giáo dục nữa
Giáo sư Phạm Phụ đã đề nghị nên định nghĩa XHHGD là huy động nguồn lực xã hội (societal mobilization) để phát triển giáo dục Định nghĩa này sát thực nhất với chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước XHHGD
là làm cho mọi người hiểu về giáo dục, giáo dục đến với mọi nhà, mọi người, làm cho mọi người được thụ hưởng thành quả của giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, tạo ra một phong trào, một xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, của đất nước, đồng thời mọi người có trách nhiệm tham gia giáo dục và làm cho giáo dục phát triển
Với nội hàm XHHGD được nêu trên, học viên nhận thấy khái niệm về XHHGD theo quan điểm của GS Phạm Phụ là phù hợp và sẽ sử dụng để nghiên cứu trong luận văn này
1.4 Nguồn lực doanh nghiệp
Nguồn lực doanh nghiệp (DN) là một phần trong các nguồn lực xã hội Nguồn lực xã hội là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, hệ thống chính trị, nguồn nhân lực, vốn và
Trang 21việc phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nhất định Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi
Nguồn lực DN bao gồm các yếu tố: nguồn nhân lực, tài sản vật chất, các nguồn lực vô hình, năng lực quản lý của doanh nghiệp, vốn và thị trường
ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của DN
Dựa vào khái niệm trên, căn cứ vào phạm vi nguồn lực DN để phát triển giáo dục đại học thì ta có thể phân chia nguồn lực DN thành hai nhóm chính:
- Nhóm nguồn lực vật chất bao gồm tài lực, vật lực ;
- Nhóm nguồn lực phi vật chất là nhân lực, trí lực
Cả hai nhóm nguồn lực này đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển
1.5 Huy động các nguồn lực doanh nghiệp
Huy động các nguồn lực DN: là bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau tác động đến các chủ sở hữu các DN đóng góp nguồn lực của DN để phát triển giáo dục
1.5.1 Mục đích huy động các nguồn lực doanh nghiệp
Huy động nguồn lực từ DN để thúc đẩy quá trình giáo dục và xây dựng các điều kiện thiết yếu phục vụ giáo dục ở nhà trường như: CSVC, trường lớp, đội ngũ quản lý, đội ngũ giảng viên và tham gia xây dựng đổi mới chương trình, tạo môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh thống nhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của đất nước
1.5.2 Các nguyên tắc chung khi triển khai huy động nguồn lực DN
Công tác triển khai huy động nguồn lực DN để phát triển giáo dục đại học rất cần thiết phải đảm bảo ít nhất 06 nguyên tắc cơ bản chung để thực hiện được đúng mục tiêu phát triển giáo dục
1.5.2.1 Nguyên tắc về lợi ích:
Trang 22Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của cả hai phía: Nhà trường và khối DN mỗi bên tham gia đều cần tìm thấy lợi ích chung của cá nhân, đơn vị cũng như cuả đất nước
1.5.2.2 Nguyên tắc về chức năng nhiệm vụ:
Nhà trường cũng như các DN đều có những chức năng và nhiệm vụ riêng Để khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó thì phải phát hiện và hiểu đúng chức năng, trách nhiệm của mỗi bên Thí dụ: Đối với nhà trường cần quản lý tốt và sử dụng hợp lý nguồn đã được huy động từ DN vào hoạt động giáo dục đào tạo Đối với các tổ chức DN thì nội dung huy động phải thuộc 02 nhóm nguồn huy động chính là: Tài lực, vật lực và nhân lực, trí lực mà giáo dục cần có
1.5.2.3 Nguyên tắc dân chủ, công khai:
Mọi hoạt động XHHGD đều phải tiến hành dân chủ, công khai về mục đích, nội dung và cách thức sử dụng nguồn lực huy động được trong xã hội Tạo môi trường công khai, minh bạch để xã hội hiểu đúng về lợi ích của việc huy động nguồn lực từ DN cho giáo dục nhằm mang lại hiệu quả thiết thực cho nền giáo dục Việt Nam
1.5.2.4 Nguyên tắc tuân thủ luật pháp:
Huy động nguồn lực DN để phát triển giáo dục đại học phải dựa trên cơ
sở pháp luật hiện hành quy định về việc triển khai cũng như phương thức sử dụng nguồn lực đã huy động được, kiên quyết tránh lợi dụng việc huy động nguồn lực của DN để nhằm mục đích trục lợi
1.5.2.5 Nguyên tắc phù hợp, thích ứng:
Nhà trường và DN phải biết lựa chọn yếu tố, nội dung thích hợp để đưa
ra chủ trương, kế hoạch khi tổ chức huy động nguồn lực từ DN cho giáo dục
1.5.2.6 Nguyên tắc tự nguyện:
Mọi sự vận động các DN phải xuát phát từ ý thực tự nguyện, khơi dậy
và phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, đề cao giá trị văn hóa
Trang 23của dân tộc để các DN nhận thức niềm vinh dự, trách nhiệm tư nguyện đống góp cho giáo dục
Dựa trên 06 nguyên tắc cơ bản trên, các cơ sở giáo dục và các DN sẽ thực hiện các tương tương tác để huy động được nguồn lực cho giáo dục 1.6 Giáo dục mở
1.6.1 Khái niệm giáo dục mở (GDM)
Nền GDM có từ lâu đời Nó được đề cập đến như một triết lý, một tập hợp các thực hành và một phong trào cải cách trong giáo dục thời thơ ấu và tiểu học vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 tại Hoa
Kỳ, sau đó lan sang Anh
GDM coi trường học là một nơi để chuẩn bị “nền móng” cho một công dân năng động, chủ động, tích cực sáng tạo “phát triển” trong tương lai
GDM được thúc đẩy bởi niềm tin rằng người học mong muốn tự tổ chức việc học của mình, đặc biệt họ muốn: xác định các chủ đề quan trọng mà
họ cần học; thu nhận được các trải nghiệm giáo dục chứ không phải chỉ những hiểu biết thuần túy sách vở, tự chịu trách nhiệm về các quyết định giáo dục của họ
Khái niệm “mở” ở đây được biểu hiện là một ưu thế của hệ thống giáo dục mới gồm những thuộc tính mềm dẻo và đa dạng, khả thi trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau Nhờ đó, sự học hành của từng con người không bị hạn chế ở một lứa tuổi nào đó trong cuộc sống, mà được kéo dài suốt đời
GDM cũng có thể được định nghĩa như sau : Nền GDM là nền giáo dục
được dỡ bỏ những rào cản không cần thiết để cho mọi người đều có cơ hội tiếp cận giáo dục, để cho tổ chức và hoạt động của nó có khả năng thích ứng với những đổi thay và yêu cầu mới của môi trường kinh tế- xã hội
1.6.2 Hệ thống Giáo đục mở
Theo GS.VS Cao Văn Phường có thể hiểu tính chất “mở” của hệ thống giáo dục ở đây thể hiện ở một cấu trúc hệ thống được thiết kế hợp lý, có nhiều
Trang 24đầu vào và đầu ra, trong đó các bộ phận và tầng bậc liên thông với nhau, tạo điều kiện cho mọi người học dễ dàng thâm nhập hệ thống trong cả quá trình học suốt đời
Theo GS.TS Phạm Tất Dong [5] hệ thống GDM bao gồm những hình thức học tập chính quy và không chính quy nối tiếp nhau, đan xen nhau, bám sát cuộc sống của từng con người, giúp con người học hỏi liên tục suốt đời mình Chính vì thế mà đại chúng hóa đại học trở thành một vấn đề không thể không bàn đến Việc học tập suốt đời sẽ đòi hỏi sự đa dạng của các cơ sở đào tạo đại học ngoài các trường đại học chính quy để đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội và của nền kinh tế đang phát triển
Hệ thống giáo dục mở sẽ tạo điều kiện để giáo dục có thể huy động nguồn lực bao gồm cả nhân lực, trí lực, vật lực và tài lực từ nhiều nguồn khác nhau và rất phong phú, đặc biệt là các doanh nghiệp như là người trực tiếp sử dụng các sản phẩm giáo dục đào tạo
1.6.3 Những đặc điểm của nền GDM
Khi nghiên cứu về nền GDM ở Việt Nam các nhà giáo dục nhận thấy một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, phải dựa trên hệ thống GDM Đó là mở về không gian, thời
gian dạy và học; mở về chương trình và cách đánh giá, kiểm định chất lượng;
mở về cách thức tổ chức dạy học…
Thứ hai, nền GDM phải tạo cơ hội tiếp cận GD cho mọi người Mọi đối
tượng có nhu cầu học tập, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính và tín ngưỡng tôn giáo đều có cơ hội học tập như nhau ở mọi trình độ đào tạo
Thú ba, nền GDM tạo môi trường thuận lợi để những tiềm năng của
mỗi con người được phát huy tối đa năng lực sáng tạo trong quá trình học tập
Thứ tư là, nền GDM phải huy động được nguồn lực xã hội để phát triển
Trang 251.6.4 Xã hội hóa GD và huy động nguồn lực DN trong nền GDM
Nền GDM huy động được đa dạng nguồn lực của toàn xã hội để phát triển Nó tạo ra khả năng cạnh tranh bình đẳng giữa các cơ sở GD, không những trong nước mà cả những cơ sở GD có yếu tố nước ngoài
Trong phạm vi luận văn này học viên chỉ đề cập đến nguồn lực từ DN – một trong những nguồn lực có vai trò quan trọng trong GDM Để huy động có hiệu quả nguồn lực DN cho giáo dục đại học thì Nhà nước phải tạo ra không gian xã hội, luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực GD đại học mà ở đó có sự quy định trách nhiệm, đồng thời có chính sách ưu đãi, khuyến khích các DN, các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc đầu tư phát triển GD đại học Ngược lại, GD đại học trong GDM phải coi xã hội như một kho tư liệu sống luôn luôn phát triển, từ đó biến các vấn đề thiết thực của
xã hội thành nội dung giảng dạy để thực hiện đầy đủ chức năng cung ứng cho
xã hội những lao động có đủ kỹ năng làm việc và được thị trường chấp nhận
Nền GDM tạo điều kiện cho công tác XHHGD phát triển Đồng thời XHHGD huy động được tổng nguồn lực trong xã hội – trong đó có nguồn huy động từ DN cho sự phát triển GDM Mối quan hệ giữa XHH GD và nền GDM là mối quan hệ hữu cơ khăng khit và tương hỗ Hình 1.1 Trình bày sơ
đồ môi liên hệ giữa ba phạm trù: XHHGD, huy động nguồn lực DN và GDM
Hình 1.1 Sơ đồ mối liên hệ giữa XHHGD, huy động nguồn lực DN và GDM
Huy động NLDN
Trang 261.7 Những yếu tố chủ yếu tác động đến việc huy động nguồn lực DN để phát triển GD ĐH trong hệ thống GDM
1.7.1 Sự phát triển kinh tế xã hội
Những biến động lớn của GDĐH thế giới từ cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI đã được ghi nhận là: quy mô GDĐH thế giới bùng nổ; sự thiếu hụt về tài chính cho GDĐH hết sức gay gắt; máy tính và internet đã tạo nên các dạng thức chuyển giao tri thức toàn cầu mà trước đây không thể nào tưởng tượng nổi; các cơ sở GDĐH ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ để chiếm được nguồn lực khan hiếm từ trong nước và từ số sinh viên du học ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng; các trường ĐH, bao gồm cả số trường tư tăng nhanh, đang triển khai mạnh mẽ chưa từng thấy việc cùng với các đối tác quốc tế mở nhiều chương trình đào tạo và thậm chí các chi nhánh đào tạo ở nước ngoài
Các động lực mới cũng đã hình thành và phát triển có tác dụng to lớn tới hệ thống GD ĐH bao gồm nhu cầu về GDĐH tăng đột biến, sự đa dạng về GDĐH, mạng lưới hợp tác các trường ĐH và cơ quan nghiên cứu, sáng tạo và chia sẻ tri thức, phương châm học suốt đời, công nghệ thông tin và truyền thông mới, trách nhiệm xã hội của các trường ĐH và sự thay đổi vai trò của chính phủ Đồng thời các nước đều có mối quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng các trường/hệ thống đẳng cấp thế giới (world class)
1.7.2 Quản lý nhà nước đối với GD ĐH
Hiện nay còn quá ít các tài liệu nói về quản lý nhà nước trong nền GDM Nhiều người cho rằng khi chuyển sang nền GDM, công tác quản lý nhà nước phải mềm dẻo hơn để không trở thành rào cản đối với sự phát triển của GDM
Trên thế giới, khi hệ thống giáo dục đại học vận hành trong thị trường, thì nhà nước cần trao quyền định chế cho các trường đại học (de-regulation) cùng với việc chống độc quyền (de-monopolarization)
Trang 27Nghị quyết 29 của Hội nghị lần thứ 8 BCHTW khóa XI cũng đã chỉ ra những điều cần phải đổi mới trong quản lý Nhà nước khi thực hiện các nhiệm
vụ và giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, trong đó có nhiệm vụ xây dựng nền GDM và hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở NQ29
chỉ rõ: “ Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân
chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng” Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội
dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng
và quản lý quá trình đào tạo; chú trọng quản lý chất lượng đầu ra Xây dựng
hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, đào tạo
- Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục,
đào tạo Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo; nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước
- Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào
tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch (NQ29)
Quản lý nhà nước có thể có tác động thuận đến việc huy động
nguồn lực nhưng nếu không thỏa đáng cũng sẽ dẫn đến sự khuyết điểm nghiêm trọng
1.7.3 Tác động của cơ chế thị trường
Nhiều nhà khoa học nhận định, cơ chế thị trường có những yếu tố tích cực tác động đến nền GD ở nước ta theo hướng :
Trang 281) Điều chỉnh hoạt động GD đáp ứng yêu cầu xã hội
2) Khuyến khích tính năng động, sáng tạo của các cơ sở GD
3) Tạo sự cạnh tranh trong GD
4) Tăng cơ hội lựa chọn cho người học
5) Thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của nhà giáo và cán bộ quản lý GD 6) Nâng cao chất lượng, hiệu quả GD
Hiện nay, khi nghiên cứu để hoạch định chính sách, cần hiểu thị trường hóa GD không phải là giải pháp cơ bản để chấn hưng nền GD, thúc đẩy GD phát triển cả về quy mô và chất lượng Bởi vì, quá trình thị trường hóa nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ thì dễ bị lợi dụng để thực hiện tư nhân hóa trong GD, điều này dẫn đến tình trạng nhà đầu tư chỉ chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà xem nhẹ mục tiêu phục vụ lợi ích xã hội và cá nhân người Do đó, muốn đẩy mạnh thị trường hóa thì cần có sự kiểm soát và giám sát, buộc các
cơ sở GD tăng cường trách nhiệm xã hội và giải trình trước xã hội
1.7.4 Tác động của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế có tác động nhiều mặt tới giáo dục Trong khuôn khổ của việc huy động nguồn lực DN cho phát triển giáo dục đại học có thể nêu ra được những tác động sau đây:
- Tạo nên sự cạnh tranh đối với các DN Việt Nam trong việc tham gia đầu tư phát triển GD ĐH Từ nhiều năm nay, xu thế mở rộng thị trường GD ra nước ngoài thông qua các Hiệp định tự do thương mại GATS và tổ chức WTO diễn ra mạnh mẽ ở các nước Australia, Hoa Kỳ, Malaysia, Singapore Hoàn cảnh đó đặt các trường ĐH Việt Nam phải đối mặt với một thực tế cạnh tranh khốc liệt Các trường ĐH Việt Nam bị ràng buộc cả về nội dung đào tạo, về trần học phí, về trách nhiệm tinh thần cũng như pháp lý trong khi các trường nước ngoài được tự do cả về chương trình, về học phí và có thể nói họ
không bị bất cứ ràng buộc nào với các gia đình và các bạn trẻ Việt Nam
- Đòi hỏi đổi mới công tác quản lý Nhà nước đối với việc huy động
Trang 29quan trọng hơn là việc quản lý nhà nước, định hướng, dẫn dắt, kiểm soát, tạo môi trường thuận lợi để cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp tham gia vào quá trình phát triển giáo dục
- Đòi hỏi xây dựng cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực DN cho
GD ĐH có hiệu quả Trước những khó khăn và áp lực về những cam kết với quốc tế trong giáo dục, nếu không huy động nguồn lực của xã hội, nhất là của các DN để phát triển giáo dục, thì nền giáo dục Việt Nam sẽ rất khó khăn phát triển trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
1.8 Quản lý việc huy động nguồn lực DN
Quản lý việc huy động nguồn lực XH để phát triển GD ĐH nói chung
và nhà trường ĐH nói riêng là một bộ phận của QLGD Nó bao gồm việc ban hành các văn bản quy định về việc quản lý các nguồn lực, xây dựng bộ máy,
cử cán bộ thực hiện công tác quản lý nguồn lực
1.8.2 Nội dung quản lý việc huy động nguồn lực DN
1.8.2.1 Thể chế hóa việc huy động nguồn lực DN
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về việc huy động nguồn lực để phát triển GD là:
- Đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư cho GDĐH, khuyến khích các DN, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo, lựa chọn các dự án đầu tư để khuyến khích đầu tư theo hình thức PPP (đầu tư theo hình thức hợp
Trang 30tác công - tư) [12] Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút đầu tư từ xã hội cho các cơ sở GDĐH, tạo cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài,
tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài xây dựng cơ sở GDĐH ở Việt Nam
- Hỗ trợ phát triển GDĐH ngoài công lập: có chính sách hỗ trợ về đất đai
và vốn cho các cơ sở GDĐH ngoài công lập, nghiên cứu và xây dựng chính sách tài chính hỗ trợ người học không phân biệt công lập và ngoài công lập
- Hội nghị lần thứ 8 BCHTW khóa XI cũng nêu rõ giải pháp huy động nhân lực cho GDĐH: Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy tại Việt Nam và cử chuyên gia, giảng viên của Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, nghiên cứu khoa học; thu hút sinh viên quốc tế đến học tập tại các cơ sở GDĐH Việt Nam
Mặc dù chủ trương của Đảng và nhà nước thì rất đúng đắn và sáng rõ, nhưng việc thể chế hóa vừa chậm, có khi còn thiếu thực tế, khiến cho việc thực hiện chủ trương gặp rất nhiều khó khăn
1.8.2.2 Xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực
Trong nền GDM và kinh tế thị trường, việc lập kế hoạch huy động nguồn lực DN cũng phải thích ứng với thực tiễn biến động của nền kinh tế Không thể dập khuôn và duy ý chí lập ra những kế hoạch không sát thực dẫn đến việc luôn luôn phải điều chỉnh kế hoạch, làm cho kế hoạch mang tính hình thức
Kế hoạch huy động nguồn lực DN nên mang tính định hướng, kết hợp giữa nhu cầu huy động của hệ thống GDĐH và năng lực cũng như động cơ của các nhà đầu tư
Để phát huy hiệu quả của việc huy động nguồn lực DN, thì vấn đề quy hoạch mạng lưới các trường đại học là một khâu quan trọng trong việc lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học, vì thế việc quy hoạch mạng lưới cần tạo
Trang 31Thứ nhất, sắp xếp lại (tái cơ cấu) hệ thống các cơ sở giáo dục đại học
Liên quan đến huy động nguồn lực DN thì ngoài việc tăng tỷ lệ các trường ngoài công lập so với các trường công lập ra, theo kinh nghiệm quốc tế nên đưa vào hai mô hình trường có tầm quan trọng đặc biệt trong việc gắn kết GD với DN và với việc làm trong xã hội là hệ thống GD kép (dual system) của Đức và các trường CĐ cộng đồng (community college) của Hoa Kỳ
Thứ hai, tái cơ cấu các trường đại học Mở hiện nay cho phù hợp với mô
hình các ĐH mở trên thế giới Như đã nêu trong phần 1.3.1 các trường ĐH
mở của nước ta hiện nay thực chất là các trường “khép kín” giống như tất cả các trường ĐH khác của Việt Nam Cần tái cơ cấu các trường này
1.8.2.3 Tổ chức bộ máy nhà trường
Để có thể quản lý tốt việc huy động nguồn lực DN thì một khâu rất quan trọng là tổ chức thực hiện Việc tổ chức thực hiện lại phụ thuộc vào hai yếu tố: tổ chức bộ máy quản lý và phương thức quản lý
Ở cấp độ vĩ mô khi nhà nước đã trao quyền tự chủ cho các trường, đồng thời đòi hỏi nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm trong các hoạt động của nhà trường nói chung và huy động nguồn lực DN nói riêng thì cần kiện toàn tổ chức lại bộ máy quản lý nhà trường phù hợp với hoàn cảnh mới
Một số nội dung tái cơ cấu bộ máy quản lý bao gồm:
- Thành lập Hội đồng trường trong các trường đại học Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước từ 10 năm nay vẫn chưa triển khai thực hiện được
- Tái cơ cấu thành phần Hội đồng trường và các hội đồng trong nhà trường, mời đại diện DN tham gia vào một số hội đồng của trường
1.8.2.4 Phương thức quản lý, chỉ đạo thực hiện
Phương thức quản lý, chỉ đạo thực hiện việc huy động nguồn lực DN cần mềm dẻo, tránh cứng nhắc, máy móc Tính mềm dẻo về phương thức cần được thể hiện qua:
Trang 32- Quy trình huy động nguồn lực phong phú đa dạng, thích hợp với từng đối tượng và nội dung huy động
- Quy định về tài chính của nhà trường vừa chặt chẽ về nguyên tắc nhưng lại có thể linh động dễ áp dụng cho những hoàn cảnh cụ thể khác nhau
và có hiệu quả cao
1.8.2.5 Công tác kiểm tra giám sát
Công tác kiểm tra giám sát việc huy động nguồn lực DN có tầm quan trọng đặc biệt Trong xu thế các trường đại học được trao quyền tự chủ ngày càng nhiều, kể cả tự chủ về tài chính thì công tác kiểm tra giám sát càng quan trọng hơn Nó đảm bảo cho việc huy động nguồn lực và sử dung nguồn lực phát triển GD đúng hướng, hiệu quả và đảm bảo uy tín cho nhà trường trước cộng đồng doanh nghiệp và xã hội Đây là trách nhiệm của bộ máy quản lý nhà nước các cấp Việc kiểm tra giám sát phải được tiến hành ngay từ khâu làm kế hoạch, giám sát chặt chẽ các khâu từ huy động, sử dụng đến khâu tổng kết, thanh quyết toán
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Chương một đã trình bày cơ sở lý luận của việc huy động nguồn lực doanh nghiệp trong nền giáo dục mở bao gồm các khái niệm cơ bản về giáo dục, xã hội hóa, xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực DN, các nguyên tắc chung khi triển khai huy động cộng đồng
Chương một cũng trình bày những khái niệm về GDM và những thành
tố của GDM Đặc điểm của XHHGD và huy động nguồn lực DN trong nền GDM; những yếu tố chủ yếu tác động đến việc huy động nguồn lực doanh nghiệp để phát triển GD ĐH trong hệ thống GDM mở bao gồm: sự phát triển kinh tế xã hội; quản lý nhà nước, thị trường và hội nhập quốc tế;
Phần cuối chương là những nội dung cơ bản của quản lý huy động nguồn lực DN Quản lý việc huy động nguồn lực XH để phát triển GD ĐH nói chung và nhà trường ĐH nói riêng là một bộ phận của QLGD Nó bao
Trang 33động các nguồn lực, lập kế hoạch huy động nguồn lực, tổ chức bộ máy, cử cán bộ thực hiện công tác quản lý nguồn lực, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát việc huy động nguồn lực
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
2.1 Thực trạng huy động nguồn lực DN cho GD ĐH
Hiện nay dữ liệu về việc huy động nguồn lực DN cho GD ĐH rất không đầy đủ và ít ỏi Trong bảng thống kê số liệu về tài chính của các trường ĐH và
CĐ năm 2009 thì nguồn thu của các trường ĐH và CĐ được chia thành ba bộ phận: ngân sách nhà nước, học phí, và các nguồn khác (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn thu của các trường CĐ và ĐH ở Việt Nam (2009)
Ngân sách Nhà nước Học phí Các nguồn khác
Trong những phần dưới đây học viên tập trung phân tích hiện trạng việc huy động nguồn lực phát triển giáo dục đại học theo hai nội dung:
Trang 35Trong lĩnh vực GDĐH, sau 5 năm thí điểm hoạt động của Trung tâm đại học dân lập Thăng Long, hơn mười trường đại học ngoài công lập khác ra đời trong những năm 1990 Năm học 2012-2013, cả nước đã có 54 trường đại học và 29 trường cao đẳng ngoài công lập, quy mô sinh viên đại học, cao đẳng các trường tư lên đến 312.652
Việc thành lập các cơ sở GDĐH NCL trong thời gian qua không chỉ tạo
cơ hội cho hàng trăm nghìn người được tiếp nhận học vấn đại học, bảo đảm công ăn việc làm cho hàng nghìn giảng viên, mà còn huy động được nguồn lực tài chính khá lớn cho GDĐH
Tổng số vốn điều lệ đăng ký thành lập các trường này đến 9/2009 là
1555 tỷ đồng Năm 2008 tổng thu học phí từ các trường NCL là 1850 tỷ đồng Quy mô sinh viên là 218.200 người, đội ngũ giảng viên có 7718 người Cho đến năm 2013 tổng số vốn điều lệ của các trường ĐH tư lên tới 5000 tỷ đồng
và số học phí mà các trường này huy động được là 2500 tỷ đồng mỗi năm Theo ước tính của một số chuyên gia từ năm 2000 đến năm 2013, chỉ với hơn 80 cơ sở GDĐH NCL nhưng hàng năm đã có thêm trên 300.000 chỗ học mới cho con em nhân dân lao động, tạo thêm hàng vạn chỗ làm việc cho
1
Sở dĩ phải ghép tài lực và vật lực bởi vì ngoài đất đai do Nhà nước cho thuê hoặc mượn thì với các trường đại học, tất cả vật lực (tài sản) của DN nếu có đều được hạch toán chung vào vốn góp trong báo cáo tài chính của trường Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường tu thục còn quy định vốn góp bao gồm cả tiền, vàng, và các tài sản khác Vì vậy, tách biệt rạch ròi hai khoản này là khó khăn
Trang 36người lao động; điều này không chỉ giải tỏa được áp lực căng thẳng đối với các trường công lập, mà còn cung cấp thêm nhân lực bậc cao cho đất nước Tổng số tiền đã huy động được trong 20 năm qua, tạm tính (mới chỉ tính về học phí) đã là gần 30 ngàn tỉ đồng, gấp 6 lần tổng số tiền phát hành trái phiếu giáo dục lần đầu Có thể xem đấy là khoản tài chính mà các trường đại học và cao đẳng NCL đã gánh cho ngân sách nhà nước
Số liệu thống kê của năm học 2012-2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy tỷ lệ số học sinh, sinh viên ngoài công lập ở bậc đại học chỉ có 12.2% thấp hơn bậc cao đẳng (18.7%) Năm học 2012-2013 trong các trường đại học số giảng viên NCL chiếm 19.0% trong khi số sinh viên chỉ chiếm 12.2% Riêng ở các trường cao đẳng 7.96% giáo viên NCL phải đảm nhận 18,7% sinh viên
Tuy các trường còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc tạo dựng cơ
sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giảng viên và kinh nghiệm tổ chức đào tạo nhưng phương thức này cho phép huy động được sự đóng góp của các nhà đầu tư để xây dựng trường, góp phần thực hiện xã hội hoá GDĐH, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện ngân sách giáo dục của Nhà nước còn hạn hẹp
Phần lớn các cơ sở GDĐH NCL đều cố gắng thực hiện những cam kết trong đề án thành lập trường Hội đồng quản trị các trường NCL đều thể hiện quyết tâm và xác định lộ trình cụ thể trong việc xây dựng và phát triển nhà trường về đất đai, cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị và tuyển dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên Phần lớn các trường thành lập sớm đều đã xây dựng trường sở khang trang tuy không được rộng rãi Có trường
đã bỏ ra hàng trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỷ để xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị thực hành, thí nghiệm Theo thống kê của Hiệp hội, đến nay khoảng trên 30 trường đã có trường sở đàng hoàng, chỉ khoảng mười trường còn có khó khăn về diện tích xây dựng và cơ sở hạ tầng,
Trang 37Kết quả khảo sát thực tế của Đoàn giám sát Quốc hội 2010 cũng cho thấy tuy còn nhiều khó khăn nhưng các trường sau khi được thành lập đều hoạt động đúng mục tiêu, tôn chỉ mục đích, chưa có những sai sót nghiêm trọng; chưa có tình trạng xin đất sau đó chuyển đổi mục đích sử dụng
Bên cạnh những thành tựu trong vấn đề huy động các nguồn lực xã hội cho việc phát triển GDĐH, việc huy động nguồn lực của các DN tham gia vào phát triển GD còn hết sức hạn chế
Hầu hết các doanh nghiệp không tham gia vào quá trình đào tạo của nhà trường, từ khâu cũng cấp yêu cầu về nguồn nhân lực, cho đến tham gia xây dựng chương trình, đánh giá kiểm định chất lượng, nhất là việc tuyển dụng kỹ sư (cử nhân) sau khi đào tạo Các nhà trường hầu như không được các doanh nghiệp giúp đỡ về mặt tài chính để đào tạo, nghiên cứu khoa học,
kể cả việc nhận sinh viên đến thực tập cũng hết sức khó khăn
Việc thành lập các cơ sở GDĐH NCL chưa hợp lý Trong một thời gian
dài từ năm 2005 việc cho phép thành lập mới các trường ĐH, CĐ, trong đó có các trường NCL chưa hoàn toàn theo quy hoạch, có thời kỳ phát triển khá nóng Trong tổng số 195 cơ sở GDĐH được thành lập ở thời gian trên, có 56 trường NCL chiếm 28,7%; và 139 trường công lập chiếm 71,3% Phần lớn các trường NCL này có vốn đầu tư ban đầu nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn thu học phí
Đội ngũ giảng viên còn mỏng Hầu hết các cơ sở GDĐH NCL mới
thành lập đều gặp khó khăn trong việc tuyển dụng, đào tạo giảng viên, cán bộ quản lý Nói chung đội ngũ giảng viên cơ hữu ở nhiều trường NCL còn mỏng, hầu hết cao tuổi Số lượng giảng viên trẻ thường mới tốt nghiệp, trình độ thấp, được tuyển dụng theo hình thức hợp đồng Đội ngũ cán bộ quản lý thường thiếu chuyên nghiệp
Suất đầu tư thấp Ở hầu hết các trường ngoài công lập, suất đầu tư/ sinh
viên cao nhất là bằng học phí, trong năm học 2013 thường dao động từ 6.000.000đ đến 12.000.000đ/ năm Một số trường có thể thu học phí cao hơn
Trang 38nhưng so sánh với học phí của các trường đại học ở các nước trong khu vực thì con số trên quá nhỏ nhoi
Cơ sở vật chất còn nghèo nàn Mặc dù thời gian qua đã có nhiều tiến bộ
nhưng so với yêu cầu đào tạo thì phần lớn các cơ sở GDĐH NCL vẫn ở trong tình trạng non yếu Một số trường chưa có cơ sở riêng, vẫn phải đi thuê giảng đường, phòng làm việc, địa điểm phân tán khiến cho việc triển khai các hoạt động đào tạo gặp nhiều khó khăn Một số địa phương chưa dành quỹ đất cho trường như đã cam kết Nhiều trường tuy được cấp đất nhưng lại gặp hàng loạt khó khăn trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng Hệ thống thư viện của các trường nhỏ, số đầu sách nghèo nàn Trang thiết bị thí nghiệm nhìn chung thiếu thốn Sinh viên ở một số ngành công nghệ chủ yếu vẫn học chay
Việc mở các ngành nghề đào tạo còn bị động, lúng túng Việc mở các
ngành đào tạo mới chỉ theo nhu cầu và thị hiếu của xã hội Ở một số trường vẫn còn chưa gắn với điều kiện về chương trình, đội ngũ và cơ sở vật chất để bảo đảm chất lượng
2.1.2 Huy động nhân lực
Nhân lực huy động được từ DN cho GD đại học chủ yếu là các nhà quản lý, các chuyên gia, kỹ sư, công trình sư, các cán bô chuyên môn giỏi tham gia vào việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học công nghệ và tham gia các Hội đồng tư vấn trong các trường đại học Hiện nay, chưa có dữ liệu ở quy
mô quốc gia về sự tham dự vào quá trình đào tạo ở các trường đại học của các cán bộ, nhân viên từ các DN, nhưng có thể đưa ra nhận định rằng sự tham gia của các cán bộ quản lý và kỹ sư thuộc các DN là không đáng kể
2.1.3 Huy động trí lực
Việc huy động trí lực từ doanh nghiệp để phát triển GD ĐH cũng rất hạn chế Hợp tác giữa khu vực DN và ĐH ở Việt Nam về nghiên cứu khoa học hay tư vấn rất lỏng lẻo Nếu có cũng là xuất phát từ nhu cầu một chiều từ phía DN đòi hỏi đổi mới KH-CN Các doanh nghiệp hầu như không tham gia
Trang 392.1.4 Nguyên nhân của những kết quả và yếu kém trong việc huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp là:
2.1.4.1 Nguyên nhân của những thành tựu
- Chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua,
chủ trương XHHGD đã được thực hiện khá tốt, hệ thống giáo dục NCL đã góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xã hội Nhà nước có chính sách hỗ trợ về đất đai và vốn vay cho các cơ sở GDĐH ngoài công lập, nghiên cứu và xây dựng chính sách tài chính hỗ trợ người học không phân biệt công lập và ngoài công lập Các cơ quan Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật với phạm vi điều chỉnh bao quát rộng rãi, từng bước thể chế hoá các chủ trương, quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá GD nói chung và về phát triển GDĐH ngoài công lập nói riêng Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn
- Sự hưởng ứng của các DN trong việc bỏ vốn đầu tư mở các trường tư cũng như sự hưởng ứng của XH gửi con em đến học tập tại các trường NCL
- Nhu cầu học tập đại học gia tăng nhanh chóng trong khi nguồn lực nhà nước hạn hẹp không thể đáp ứng kịp tốc độ phát triển của GD ĐH
2.1.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế
- Chính sách về GD ĐH của Việt Nam chưa thực sự công bằng giữa các
trường công lập và NCL: các trường ĐH công lập hưởng rất nhiều chính sách
ưu đãi của nhà nước, trong khi đó các trường tư không được ưu tiên bất cứ chính sách nào về GD đặc biệt là chính sách về tài chính Điều đó làm nản lòng các nhà đầu tư
- Chưa có chính sách thực sự khuyến khích và ràng buộc các DN phải có
sự hỗ trợ, hay phối hợp với các cơ sở đào tạo; các DN chưa thấy lợi ích nếu tham gia hỗ trợ các cơ sở ĐH
- Công tác quản trị nhà trường còn nhiều yếu kém, thiếu chuyên nghiệp
Một số trường NCL mất đoàn kết nghiêm trọng, có biểu hiện tranh giành
Trang 40quyền lực giữa các thành viên Hội đồng quản trị, tranh chấp quyền sở hữu nhà trường giữa các nhà đầu tư
- Một số ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về công tác XHH GD, làm hạn chế khả năng thu hút các nguồn lực để chăm lo cho sự nghiệp GD - ĐT và giải quyết những khó khăn đang đặt ra đối với nhân dân
- Tác động của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Các trường tư còn
bị cạnh tranh bởi các trường do người nước ngoài đầu tư với đủ các ưu đãi về tính tự chủ, đất đai mà không bị bất kỳ ràng buộc nào đối với người học
- Nguồn lực và năng lực hạn chế của các DN Việt Nam Hiện nay, hơn 95% trong số khoảng 500.000 doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, phân lớn là có công nghệ lạc hậu, hoạt động của đại đa số doanh nghiệp cho đến nay chủ yếu khai thác tài nguyên tự nhiên, lắp ráp, và gia công đơn giản
Vì vậy, nhu cầu hợp tác về khoa học và tư vấn với các trường ĐH không nhiều Khi mà trình độ công nghệ của các DN Việt Nam còn quá thấp thì việc
DN tư vấn xây dựng chương trình đào tạo là bất khả thi
- Năng lực nghiên cứu và sáng tạo tri thức của các trường ĐH nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu của bộ phận doanh nghiệp phát triển nhất của nền kinh tế
2.2 Thực trạng huy động nguồn lực DN cho GD ĐH tại Đại học Hòa Bình
2.2.1 Khái quát về trường Đại học Hòa Bình
2.2.1.1 Nhiệm vụ và chức năng
Trường Đại học Hòa Bình được thành lập với nhiệm vụ và chức năng: huy động nguồn lực trong xã hội, tham gia đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài chính ngân hàng, kinh tế, quản trị kinh doanh, dịch vụ cộng đồng và một số lĩnh vực mũi nhọn khác nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mặt bằng dân trí, đáp ứng yêu cầu học tập của nhân dân