Bàn về văn hóa doanh nghiệp đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết đăng tải trên trên nhiều tạp chí các cuốn sách của nhiều tác giả trong và ngoài nước như sa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN HOÀI ANH
XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI
XÍ NGHIỆP THƯƠNG MẠI MẶT ĐẤT NỘI BÀI (NIAGS)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN HOÀI ANH
XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI
XÍ NGHIỆP THƯƠNG MẠI MẶT ĐẤT NỘI BÀI (NIAGS)
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ANH THU
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 6
1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa 6
1.1.1 Khái niệm văn hóa 6
1.1.2 Vai trò của văn hóa 6
1.1.3 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của các quốc gia 8
1.1.4 Văn hóa là linh hồn và hệ điều tiết của phát triển 9
1.2 Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp với văn hóa dân tộc 16
1.4 Chức năng của văn hóa doanh nghiệp 16
1.5 Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI XÍ NGHIỆP THƯƠNG MẠI MẶT ĐẤT NỘI BÀI (NIAGS) 24
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 24
Các chứng chỉ của NIAGS: 26
2.2 Sản phẩm, dịch vụ NIAGS cung cấp 27
2.2.1 Dịch vụ hành khách, hành lý 28
2.2.2 Dịch vụ sân đỗ 28
2.2.3 Dịch vụ tàu bay 29
2.2.4 Cân bằng trọng tải và hướng dẫn chất xếp 30
2.2.5 Dịch vụ đào tạo 31
2.2.6 Dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa 32
2.3 Văn hóa doanh nghiệp NIAGS đang xây dựng 33
2.3.1 Triết lý phát triển của NIAGS[10] 33
2.3.2 Tầm nhìn, sứ mệnh [10] 33
Trang 42.3.5 Định hướng [10] 34
2.3.6 Cam kết tương lai 35
2.4 Đánh giá mô hình VHDN Xí nghiệp đang xây dựng 35
2.4.1 Thực trạng xây dựng văn hóa tại NIAGS 35
2.4.2 Thành công mà NIAGS đạt được trong Xây dựng văn hóa doanh nghiệp 41
2.4.3 Tồn tại trong Xây dựng văn hóa văn nghiệp tại NIAGS 42
2.5 Thuận lợi, khó khăn trong quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp 42
2.5.1 Thuận lợi 42
2.5.2 Khó khăn 44
2.6 Bài học từ cách thức xây dựng văn hóa doanh nghiệp của NIAGS 46
2.6.1 Giữ gìn các giá trị cốt lõi 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI XÍ NGHIỆP THƯƠNG MẠI MẶT ĐẤT NỘI BÀI (NIAGS) 50
3.1 Duy trì và phát triển văn hóa doanh nghiệp: 50
3.2 Xây dựng văn hóa tổ chức 52
3.3 Xây dựng văn hóa kinh doanh 54
NIAGS muốn xây dựng thành công văn hóa doanh nghiệp trong thời đại mới phải hội tụ đầy đủ các điều kiện sau 54
3.4 Quảng bá hình tượng, quan hệ công chúng của doanh nghiệp PR 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 57
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5ổn định và bền vững Các doanh nghiệp đa số chưa định hình được bản sắc kinh doanh riêng
Đất nước ta đang tiến bước mạnh mẽ vào hội nhập kinh tế quốc tế, mà mốc son quan trọng là việc chính thức được kết nạp là thành viên của tổ chức WTO vào ngày 07/11/2006 Hội nhập kinh tế đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức cam go trong môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt hơn Chúng ta phải làm gì, bắt đầu hành trình WTO như thế nào để hội nhập một cách bền vững và không bị hòa tan
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, bên cạnh sự giao thoa các nguồn lực còn có
sự giao lưu giữa các dòng vănn hóa đa dạng, ảnh hưởng đến thái độ, phong cách làm việc của các doanh nghiệp Nhu cầu của con người chuyển sang chú trọng tới mặt giá trị văn hóa Cạnh tranh bằng công nghệ kỹ thuật trong thời đại thế giới phẳng không còn chiếm địa vị lâu dài do tính chất khuếch tán nhanh của công nghệ kỹ thuật Thay vào đó là vai trò then chốt của văn hóa doanh nghiệp trong cạnh tranh bởi lẽ, khác với công nghệ kỹ thuật, văn hóa doanh nghiệp rất khó hoặc không thể bắt chước được toàn bộ, nó sẽ tạo nên những nét riêng, sức hấp dẫn cho doanh nghiệp
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thật sự chú trọng tới nhân tố gắn kết, phát triển con người, chính là yếu tố văn hóa doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp, muốn phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường và
xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng được
Trang 62 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Trên thế giới lâu nay việc tạo dựng
văn hóa doanh nghiệp luôn được coi là tiền đề phát triển bền vững cho mỗi doanh nghiệp Bàn về văn hóa doanh nghiệp đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết đăng tải trên trên nhiều tạp chí các cuốn sách của nhiều tác giả trong và ngoài nước như sau:
- Cuốn sách “Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo” của Edgar Schein,
Dịch giả: Nguyễn Phúc Hoàng, NXB Thời Đại: Edgar Schein đã tập trung nhiều
vào các thực trạng phức tạp trong hoạt động kinh doanh ngày nay và thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi rộng, mang tính thời đại để trình bày những vai trò then chốt của người lãnh đạo khi ứng dụng những nguyên tắc văn hóa để đạt được các mục tiêu về tổ chức Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu xem công tác lãnh đạo và văn hóa tổ chức về căn bản đã hòa quện gắn kết với nhau như thế nào, cho thấy một số kết quả quan trọng, bao gồm:
- Những nhà lãnh đạo là các doanh nhân và là nhà thiết kế chủ đạo của văn hóa tổ chức
- Một khi văn hóa đã được hình thành, nó sẽ ảnh hưởng đến việc xác định loại hình lãnh đạo nào là khả thi trong tổ chức
Trang 73
- Hai tác giả Fons Trompenaars và Charles Hampden – Tunrner (2006)
trong cuốn sách “Chinh phục các làn sóng văn hóa”, Nhà xuất bản tri thức:
Đưa ra những lý giải và trình bày cách thức để các doanh nghiệp đối phó với những vấn đề về văn hóa trong quá trình hội nhập và phát triển Đây là cuốn sách đầu tiên chỉ cho những nhà quản lý chuyên nghiệp cách xây dựng những kỹ năng giao thoa văn hóa cần thiết trong môi trường kinh doanh toàn cầu hiện nay Cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ hơn về nền văn hóa của chính họ, những khác biệt văn hóa nói chung và các cách nhận biết cũng như đối phó với những điều này trong kinh doanh như: địa vị xã hội, quản lý thời gian, mối tương quan với thiên nhiên, văn hóa đất nước và văn hóa doanh nghiệp… Những yếu tố đó rất quan trọng với các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn tìm hiểu về môi trường văn hóa doanh nghiệp nước ngoài cũng như tìm ra các bài học và hình mẫu cho mình
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam: Tại Việt Nam việc xây dựng văn hóa
doanh nghiệp mới được quan tâm và chú trọng phát triển trong quá trình hội nhập Việc nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam còn khá mới mẻ, dẫn đến các định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp của các học giả, các nhà kinh tế
cũng khác nhau Trong đó phải kể đến cuốn sách “Văn hóa kinh doanh và triết
lý kinh doanh” của tác giả Đỗ Minh Cương, NXB chính trị Quốc gia 2002:
Nghiên cứu văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh là nghiên cứu vai trò, sự tác động, những biểu hiện của văn hóa trong kinh doanh và gợi mở những tiêu thức của triết lý kinh doanh Sách còn cung cấp nhiều thông tin, tư liệu phong phú về văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh qua kinh nghiệm ở một số nước và trong hoạt động thực tiễn ở Việt Nam
Cuốn sách “Văn hóa doanh nghiệp: của tác giả Nguyễn Duy Chinh và Phạm Văn Quây, NXB: Lao động-xã hội, năm 2009 gồm rất nhiều nội dung như:
Biết nói, biết nghe, biết tiếp thị là những nghệ thuật đầu tiên khi giao tiếp với khách hàng Không chỉ cần lời mở đầu tốt đẹp, mà trong quá trình giao tiếp, bạn phải nói thế nào để khách hàng không thể từ chối bạn, hỏi thế nào để khách vui
Trang 84
vẻ mua hàng và đôi khi cần khéo léo khen ngợi để lấy lòng khách nữa Tuy nhiên, không chỉ biết nói, bạn còn phải biết lắng nghe ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu của khách “Im lặng 3 phút được thêm 30 nghìn” hay “im lặng là tài nói chuyện không bằng lời”
Bí quyết lập nghiệp của những người thành đạt là gì? Ba kinh nghiệm được đưa ra có thể giúp bạn giảm bớt rủi ro trong kinh doanh Và những bí quyết khác như cách thu gom tiền vốn để lập nghiệp, làm thế nào để có được cái tên cửa hàng hay và đầy sức hấp dẫn, những bước chuẩn bị cần thiết để dẫn tới thành công trong kinh doanh…
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Xí nghiệp
thương mại mặt đất Nội Bài (NIAGS)
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, hệ thống hóa lý luận về văn hóa doanh nghiệp để từ đó làm cơ
sở phân tích sự phát triển về văn hóa doanh nghiệp của Công ty
Thứ hai, phân tích thực trạng và đánh giá tình hình xây dựng văn hóa doanh nghiệp của Xí nghiệp từ khi hình thành đến nay để rút ra những tồn tại cần khắc phục
Thứ ba, nghiên cứu các chính sách, yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp; Từ những hạn chế của việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp của Xí nghiệp, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hơn nữa công tác xây dựng văn hóa doanh nghiệp của Xí nghiệp trong điều kiện hộp nhập kinh tế quốc tế
Câu hỏi nghiên cứu:
- Văn hóa và văn hóa doanh nghiệp là gì?
- Xí nghiệp Thương mại mặt đất Nội Bài đã xây dựng văn hóa doanh nghiệp như thế nào?
- Những giải pháp nào để hoàn thiện xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Xí nghiệp để ngày càng phát triển hơn, phù hợp với thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế?
Trang 95
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào tìm hiểu vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Xí nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại Xí nghiệp thương mại Mặt đất Nội Bài
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: phân tích tài liệu, tổng hợp, duy vật biện chứng, phương pháp duy vật biện chứng và nguồn thông tin thứ cấp, nguồn thông tin sơ cấp
6 Những đóng góp của luận văn
Thứ nhất, trong khuôn khổ luận văn này, những cơ sở lý luận về văn hóa,
văn hóa doanh nghiệp được đề cập là một phần lý thuyết được cụ thể hóa từ các tài liệu về văn hóa kinh doanh, triết lý kinh doanh
Thứ hai, nghiên cứu cụ thể về văn hóa doanh nghiệp của doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ có thể sẽ là những tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vụ trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, phân tích thực trạng xây dựng văn hóa doanh nghiệp và một số
hàm ý có thể là tham khảo hữu ích cho Xí nghiệp thương mại mặt đất Nội Bài lựa chọn và triển khai xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong chiến lược phát triển của Xí nghiệp
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết luận, luận văn gồm 03 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa, văn hóa doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Xí nghiệp thương mại Mặt đất Nội Bài (NIAGS)
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Xí nghiệp thương mại Mặt đất Nội Bài (NIAGS)
Trang 106
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị chân - thiện - mỹ Văn hóa có một số thuộc tính và nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, văn hóa là cái thuộc bản chất của con người, chỉ có ở loài người
và do con người sinh ra Văn hóa dung để chỉ đặc điểm và nhân tố nhân tính, nhân văn chung của loài người, nó có trong tất cả các mối quan hệ, hoạt động và sản phẩm của con người
Thứ hai, đối với một cộng đồng, dân tộc, văn hóa luôn có tính đặc thù như một kiểu sống riêng biệt và ổn định trong lịch sử (lối sống, kiểu ứng xử và hành động…), nó có tính duy tồn qua nhiều thế hệ
Thứ ba, cốt lõi của văn hóa và nhân tố quy định tính đặc thù của kiểu sống khác nhau trong xã hội là bảng giá trị Đó là một hệ thống các giá trị, gồm ba loại giá trị chính là chân- thiện- mỹ
Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor đưa ra một định nghĩa khác về văn hóa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một
hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình".[1,tr.29]
1.1.2 Vai trò của văn hóa
Vai trò của văn hóa đối với đời sống , sự phát triển của con người và xã
hội Văn hóa là điều kiện và là nhân tố quyết định tới sự hình thành và hoàn
thiện nhân cách của các cá nhân Văn hóa là thuộc tính đặc trưng của loài người,
nó chỉ có được khi có mối quan hệ giữa người với người, văn hóa có tính xã hội Bản chất xã hội của mỗi cá nhân không phải là sản phẩm của tự than con người , không có sẵn ở mỗi con người khi mới sinh ra Con người cá nhân chỉ trở thành
Trang 117
chủ thể hoạt động xã hội khi nhân cách của họ đã được định hình rõ và phải trải
qua một quá trình hoạt động trong môi trường xã hội
Văn hóa là môi trường xã hội của mỗi cá nhân, là điều kiện không thể thiếu đối với đời sống của con người Con người nếu thiếu văn hóa- thể hiện qua
sự giao tiếp giữa người với người thì sẽ không có nhân cách, nhân tính Ngay cả khi đã có nhân cách (ở tuổi trưởng thành) con người vẫn cần có văn hóa- với tư cách là môi trường xã hội Thiếu môi trường văn hóa cuộc sống của cá nhân sẽ bất ổn, rơi vào tình trạng thiếu thốn, phiếm diện
Những nhu cầu văn hóa- xã hội là nguồn gốc trực tiếp hình thành động cơ, động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động Maslow đã đưa ra Thuyết phân cấp nhu cầu của con người được xếp theo thứ tự tang dần về tầm quan trọng Khi một nhu cầu chưa được giải quyết thỏa đáng (thỏa mãn) thì các nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được cá nhân đó hoạt động, khi các nhu cầu đã được thỏa mãn thì nhu cầu bậc trên sẽ thay thế nó đóng vai trò làm động cơ thúc đẩy Nhu cầu
tự than vận động- tự thể hiện và sáng tạo là nhu cầu cao nhất, khó đạt được thỏa mãn nhất của mỗi con người; đó cũng là động cơ thúc đẩy tiềm năng mạnh nhất của con người cần được khai thác
Văn hóa định hướng mục tiêu và cách thức phát triển của cá nhân Con người luôn có khát vọng vươn tới sự hoàn thiện bản than, đạt tới chân- thiện-
mỹ Con người lý tưởng xưa trong các dân tộc vẫn là người có tài- đức lớn và đem lại hạnh phúc, tự do cho nhiều người, cho dân tộc và Tổ quốc Lý tưởng cao
cả luôn phù hợp với hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó trở thành những chuẩn mực định hướng và điều chỉnh hành vi của cá nhân, tạo nên “khuôn mẫu văn hóa”, họ thường tuân theo những chuẩn mực này một cách tự nhiên, tự giác như những tín điều đã thấm sâu vào tâm thức của họ Những hành vi lệch chuẩn, vô văn hóa, những lối sống lệch lạc luôn bị xã hội lên án, ngăn chặn Trong mỗi dân tộc, quốc gia, mặc dù các cá nhân và công dân có địa vị khác nhau, nghề nghiệp khác nhau,…song mục đích chung của họ vẫn là vươn tới sự thành đạt, hạnh phúc, vươn tới giá trị chân - thiện - mỹ Mặt khác, sự giàu có về văn hóa,
Trang 128
trước hết là sự hiểu biết về tâm lý, lối ứng xử, các giá trị v.v…của dân tộc là cơ
sở cho sự thành đạt của mỗi cá nhân
1.1.3 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của các quốc gia
Văn hóa là mục tiêu phát triển quốc gia Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin, văn hóa với tư cách là một hình thái ý thức xã hội- có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội mà nó phản ánh và có thể tác động mạnh mẽ trở lại tồn tại xã hội cũng như có ảnh hưởng tới các hình thái ý thức xã hội khác Trình độ phát triển của các quốc gia không chỉ căn cứ vào sự tăng trưởng hay sự phát triển kinh tế của nó Thước đo sự phát triển quốc gia chính là mức độ phát triển con người của nó Đó là một hệ thống đánh giá gồm ba chỉ tiêu: mức độ phát triển kinh tế đo bằng mức sống bình quân của nhân dân; tiến bộ y tế đo bằng tuổi thọ trung bình của người dân; trình độ hay tiến bộ về giáo dục căn cứ vào tỷ lệ người biết chữ và số năm đi học trung bình của nhân dân,…Tóm lại, mục tiêu đầu tiên của mỗi quốc gia chính là sự phát triển con người toàn diện; là việc nâng cao chất lượng sống cho nhân dân chứ không phải là mục tiêu phát triển kinh tế hay phát triển một số bộ phận, một số mặt nào đó của đời sống xã hội Văn hóa là mục đích cuối cùng của sự phát triển đầy đủ, văn hóa được coi là mục đích phát triển con người một cách toàn diện
Văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội Động lực của sự phát triển
xã hội là những yếu tố gây nên kích thích, thúc đẩy sự hoạt động của con người
và trước hết là của khối đông người
Văn hóa đóng vai trò là môi trường xã hội đối với sự phát triển của các quốc gia Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nếu kiểu sống của dân tộc phù hợp với các yếu tố của văn minh thường có nguồn gốc ngoại sinh, phù hợp giữa cái hiện đại với các truyền thống thì văn hóa sẽ cổ vũ, tang cường cho sự phát triển kinh tế- xã hội Khi truyền thống không còn phù hợp và chống lại cái hiện đại thì văn hóa sẽ trở thành lực lượng kìm hãm quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Văn hóa có thể trở thành một nguồn lực, sức mạnh tinh thần vô hình nhưng mạnh mẽ đối với sự phát triển xã hội Đây là thứ nguồn lực thường tồn tại
Trang 131.1.4 Văn hóa là linh hồn và hệ điều tiết của phát triển
Văn hóa dân tộc là cái đặc thù, có những điểm riêng so với văn hóa của các dân tộc khác Không có một nền văn hóa chung chung được gọi là văn hóa thế giới Thế nhưng, giữa các dân tộc khác nhau trên thế giới vẫn tồn tại một số giá trị chung, có tính phổ quát, toàn cầu; các quan niệm và giá trị về nhân bản, nhân đạo, hòa bình, phát triển…Đó là những khát vọng chung của nhân loại, sự đồng thuận trong các giá trị chân- thiện- mỹ về cuộc sống giữa các dân tộc
1.2 Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích Hay văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra trong sản xuất kinh doanh tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của các thành viên
cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn hoá
doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng
cụ thể riêng biệt Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững Nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó Văn hoá doanh nghiệp còn góp
Trang 141 Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các
tổ chức khác trong lĩnh vực.[4]
2 Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài.[4]
3 Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp [4]
Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ dễ nhận biết đến ẩn sâu trong tiềm thức của tập thể mà phải qua thời gian dài mới hình dung ra được Có ba cấp độ văn hóa được thể hiện:
Cấp độ dễ thấy nhất đó là thực thể hữu hình như những đồ vật: tài liệu, sản phẩm văn phòng và vật dụng văn phòng…hoặc công nghê: may móc, thiết
bị, nhà xưởng,…hoặc ngôn ngữ: chuyện cười, tiểu thuyết, khẩu hiệu,…hoặc các chuẩn mực hành vi: nghi thưc, nghi lễ, liên hoan,…hoặc các nguyên tắc, hệ thống, thủ tục, chương trình,…Như vậy, đây là tất cả những gì chúng ta cảm nhận, nhìn thấy ở một doanh nghiệp Những thực thể hữu hình dễ dàng nhận thấy nhưng không dễ dàng giải mã ra đặc trưng văn hóa doanh nghiệp nếu chỉ dựa vào yếu tố này bởi vì nó phụ thuộc rất nhiều vào cảm nhận riêng của mỗi người Ví dụ khi một người trông thấy cách thức tổ chức không trang trọng, lịch
sự của một doanh nghiệpthì có thể cho rằng doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả nếu như người đó đứng trên giả định của mình là sự lộn xộn nghĩa là không
Trang 1511
làm việc Tuy nhiên, một người khác khi thấy một tổ chức rất chỉnh tề, đâu vào
đó thì lại cho rằng doanh nghiệp đó thiếu tính sang tạo nếu người đứng trên kinh nghiệm riêng của mình là sự trang trọng cũng có nghĩ là thủ tục và tính quy trình cao Nếu người quan sát làm việc trong doanh nghiệp lâu dài thì có thể cảm nhận đúng đắn hơn mối quan hệ giữa những thực thể hữu hình và đặc trưng văn hóa của doanh nghiệp Nếu chúng ta muốn biết được mối quan hệ này nhanh hơn thì chúng ta có thể tìm hiểu những giá trị, quy tắc và luật lệ mang tính hướng dẫn cho những hoạt động hang ngày của doanh nghiệp (cấp thứ hai của văn hóa doanh nghiệp)
Cấp thứ hai đó là các giá trị được thể hiện Đây là những giá trị xác định những gì mình nghĩ là phải làm hay không nên làm, xác định những gì mình cho
là đúng hay không đúng Giá trị được phân chia làm hai loại: Loại thứ nhất là các giá trị tồn tại sẵn ngay trong doanh nghiệp một cách khách quan và hình thành tự phát Loại thứ hai là các giá trị mà các lãnh đạo mong muốn doanh nghiệp mình có và phải xây dựng từng bước
Các giá trị được thể hiện có thể được xem là đúng hay sai, hợp lý hay không tùy thuộc vào trình độ nhận thức, kinh nghiệm của riêng mỗi cá nhâ Khi các giá trị này được minh chứng bằng thực tiễn của doanh nghiệp thì sẽ trở thành những ngầm định nền tảng (cấp thứ ba)
Ví dụ, giám đốc nhân sự của công ty mong muốn công ty được trẻ hóa đội hình bởi vì ông ta nghĩ rằng người trẻ thì làm việc tốt hơn đối với tính chất kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn này, nhưng ý kiến này không được nhiều người ủng hộ vì chưa được minh chứng; bằng quyền lực của mình giám đốc nhân sự có thể ra quy định cho các phòng ban trong công ty phải tuyển người trong khoảng 25-35 tuổi Khi những người trẻ tuổi thành công trong doanh nghiệp và đàn dần quan điểm này thong qua một cơ chế chuyển đổi từ niềm tin một cá nhân => niềm tin, những giá trị được chia sẻ chung => ngầm định nền tảng trong công tác tuyển dụng của tất cả phòng ban doanh nghiệp Để trở thành những ngầm định nền tảng, các giả định về giá trị phải minh chứng được tính chất thích hợp, đúng đắn trong một thời gian đủ dài và ngay cả khi
Trang 1612
môi trường thay đổi trong suốt quá trình chuyển đổi trên Các giá trị thể hiện sẽ giúp ta dự đoán được điều mà lãnh đạo, nhân viên doanh nghiệp sẽ nói trong nhiều hoàn cảnh nhưng có thể không phải là những điều thực sự được hành động Ví dụ một công ty cho rằng họ luôn trân trọng giá trị nhân viên, tạo môi trường làm việc tốt đẹp nhất cho nhân viên, nhưng có thể thực tế một số hành động thì không thể hiện mạnh, tuyệt đối điều này
Cấp thứ ba là các ngầm định nền tảng Đó là niềm tin, nhận thưc, suy nghĩ và cảm xúc được coi là đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân trong doanh nghiệp Các ngầm định nền tảng là nền tảng cho các giá trị và hành động của mối thành viên Không có sự tranh luận suy xét đúng sai cho các ngầm định nền tảng,
nó được coi là chân lý cho hoạt động của doanh nghiệp, đây cũng là gốc rễ, bản chất của đặc trung văn hóa doanh nghiệp Do đó,việc thay đổi các ngầm định nền tảng trong doanh nghiệp là điều hết ức khó khăn, nhưng ngược lại để giải quyết tận
rễ các vấn đề văn hóa của doanh nghiệp là phải giải quyết, thay đổi các ngầm định nền tảng Chẳng hạn, có một giả định rằng để hoàn tất thủ tục hành chính một cách nhanh gọn thì phải hối lộ quan chức nhà nước, và thực tế cũng dã chứng minh điều
ấy và qua thời gian đủ dài để nó trở thành ngầm định nền tảng, cứ làm thủ tục hành chính là phải chi tiềnhối lộ, doanh nghiệp mặc nhiên thừa nhận chi phí không có hóa đơn này, tạo lập một tập tính không tốt trong công tác kinh doanh Nhưng để thay đổi ngầm định đòi hỏi nhiều yếu tố như là sự thay đổi về thủ tục hành chính, đạo đức của cán bộ nhà nước, doanh hóa kinh doanh lành mạnh của doanh nghiệp, tôn trọng luật lệ v.v…
Những giá trị, ngầm định nền tảng là khó thấy nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng đối với nhân viên doanh nghiệp trong việc nhận thức văn hóa doanh nghiệp
Nó chi phối hành động của nhân viên Đây là những giá trị văn hóa cao cấp, văn hóa chìm Những thực thể hữu hình là giá trị văn hóa cấp thấp, văn hóa nổi
Như vậy, văn hóa doanh nghiệp không phải là những khẩu hiệu của ban lãnh đạo được treo trước cổng, trên hành lang hay trong phòng họp Đó chỉ là ý muốn, ý tưởng Những gì chúng ta mong muốn có thể rất khác với những giá trị, niềm tin, chuẩn mực được thể hiện trong thực tế và trong hành vi của mỗi thành viên
Trang 1713
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp (VHDN) là loại tài sản vô hình của doanh nghiệp, người ta khó có thể nhìn thấy trọn vẹn bằng mắt thường, khó có thể miêu tả được hình dáng cụ thể Vì vậy, khi xây dựng VHDN cần biết rõ các yếu tố tạo nên VHDN Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp, bao gồm:
Yếu tố 1: Môi trường của doanh nghiệp
Là bối cảnh về kinh tế, xã hội mà doanh nghiệp đang phải hoạt động trong
nó, cùng tồn tại với nó Môi trường doanh nghiệp có môi trường chung và môi trường riêng
Môi trường chung là điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, có tác động rất lớn tới sự hình thành VHDN Nói chung, các doanh nghiệp rất khó có thể xây dựng được VHDN của mình nếu hoạt động trong một môi trường chung kém văn hóa và ở đó, tham nhũng, lật lọng, thôn tính lẫn nhau đang ngự trị và ngược lại
Môi trường riêng là điểm xuất phát của doanh nghiệp; tính đặc thù về nghề nghiệp, sản phẩm… Môi trường riêng tùy thuộc vào sự hình thành và phát triển của từng doanh nghiệp
Yếu tố 2: Quan niệm giá trị
Quan niệm giá trị tạo ra ý thức hành động của cá nhân trong doanh nghiệp Nếu quan niệm giá trị doanh nghiệp chỉ là tiền thì tất yếu sự hợp tác sẽ không bền vững Do đó, trong việc xây dựng VHDN không thể quá nhấn mạnh tác động bằng vật chất, càng không thể tạo ra tâm lý "sùng bái đồng tiền" Ngược lại, nếu quan niệm giá trị doanh nghiệp còn bao gồm thương hiệu, uy tín kinh doanh, sự phát triển toàn diện của từng thành viên trong doanh nghiệp thì
sự hợp tác sẽ bền vững hơn Đây là yếu tố quan trọng nhất hình thành VHDN
Yếu tố 3: Uy tín, đạo đức của cá nhân
Uy tín, đạo đức của một cá nhân có tác động lớn tới sự hình thành VHDN Thông thường, cá nhân có tác động tới sự hình thành VHDN là chủ doanh nghiệp Song, cá nhân cũng có thể không phải là chủ doanh nghiệp nhưng phải
là người được tất cả nhân viên trong doanh nghiệp kính trọng Đạo đức, văn hoá
Trang 1814
của chủ doanh nghiệp sẽ tạo ra đạo đức, văn hoá của nhân viên và tác động rất
rõ nét tới sự hình thành VHDN Người Nhật đã tổng kết: "Ông chủ nào, nhân viên ấy"! Và để đánh giá các ông chủ doanh nghiệp, người Nhật đã có triết lý như sau: Ông chủ kém là ông chủ để đất mọc toàn cỏ dại; ông chủ giỏi là ông chủ biết trồng lúa; ông chủ thông minh là ông chủ biết làm cho đất mầu mỡ và ông chủ sáng suốt là ông chủ biết chăm sóc người làm
Trong quá trình hình thành và phát triển, văn hóa Doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố Schein( 2004) đã ví Lãnh đạo và văn hóa Doanh nghiệp gắn với nhau như hai mặt của đồng xu Theo John Kotter, giáo sư hàng đầu về môn Lãnh đạo tại đại học Harvard, cũng cho rằng, Lãnh đạo, theo nghĩa rộng nhất, là tạo dựng văn hóa Doanh nghiệp, nhiệm vụ tối quan trọng của lãnh đạo là tạo dựng và củng cố văn hóa Doanh nghiệp
Như vậy, Lãnh đạo Doanh nghiệp có vai trò then chốt trong việc xây dựng
và phát triển văn hóa Doanh nghiệp Vai trò đó được thể hiện như sau: Lãnh đạo tạo dựng nền tảng văn hóa Doanh nghiệp; Lãnh đạo hình thành, nuôi dưỡng môi trường và chuẩn mực văn hóa; Tuyển chọn những người phù hợp với hệ giá trị văn hóa; Lãnh đạo là tấm gương và động lực cho nhân việc; Lãnh đạo là người thay đổi văn hóa Doanh nghiệp
Thực tế trong quá trình phát triển doanh nghiệp vừa qua, rất nhiều nhàlãnh đạo doanh nghiệpđã trăn trở và quyết tâm tạo dựng và phát triển một văn hóa doanh nghiệp mạnh, mang bản sắc riêng, thể hiện khát vọng và ý chí của nhà lãnh đạo Một số hạn chế lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam thường mắc phải trong quá trình phát triển văn hóa doanh nghiệp:
Thứ nhất, Lãnh đạo doanh nghiệp chưa thấu hiểu về bản chất của văn
hóa doanh nghiệp Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp vẫn quan niệm văn hóa doanh nghiệp như là: Văn hóa giao tiếp ứng xử, đồng phục, khẩu hiệu, hay văn hóa văn nghệ Cho nên, khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ dừng ở mức xây dựng quy chế giao tiếp, ứng xử nội bộ, chưa thấy tầng sâu của văn hóa phát triển thông qua quá trình quản trị, chính sách quản trị, và tương tác giữa con người với con người, trong đó nhà lãnh đạo giữ vai trò trọng tâm
Trang 1915
Thứ hai, do thiếu kiến thức đầy đủ về văn hóa doanh nghiệp nên nhiều
lãnh đạo còn nóng vội trong phát triển văn hóa doanh nghiệp
Thứ ba, doanh nghiệp còn thiếu các chính sách quản lý kinh doanh mang
tính nền tảng làm bệ đỡ phát triển văn hóa doanh nghiệp thông qua hai quá trình tương tác với môi trường bên ngoài và hội nhập trong môi trường nội bộ như là: chiến lược kinh doanh, hệ thống truyền thông, chính sách quản trị nguồn nhân lực Bên cạnh đó, chính sách tuyển dụng tùy hứng và theo các yêu cầu ngắn hạn, không tính đến những phù hợp về văn hóa doanh nghiệp cũng là một cản trở lớn trong quá trình phát triển văn hóa doanh nghiệp
Cuối cùng, do thiếu kỹ năng nhiều lãnh đạo có xu hướng hạn chế tương
tác với nhân viên, khó nêu gương tích cực cho cấp dưới Chính bởi vậy, lãnh đạo doanh nghiệp có mong muốn phát triển văn hóa doanh nghiệp, những không truyền được hình ảnh tích cực và động lực cho đội ngũ nhân viên.
Yếu tố 4: Nghi thức văn hoá trong doanh nghiệp
Là những hoạt động văn hoá thường ngày đã hình thành như một thói quen trong doanh nghiệp hiện đại, bao gồm: Nghi thức trong quan hệ giao tiếp; trang phục; các hoạt động tập thể; nghi thức trong quản lý… Nghi thức văn hóa trong doanh nghiệp là phương thức hành động để đào tạo quan niệm giá trị cho con người, làm cho giá trị doanh nghiệp từ trừu tượng trở thành cụ thể…
Yếu tố 5: Mạng lưới văn hoá
Mạng lưới văn hóa là hình thức truyền bá thông tin không chính thức trong nội bộ doanh nghiệp Mạng lưới này thuộc loại tổ chức phi chính thức và tồn tại trong tất cả các doanh nghiệp Nó có tác dụng hai mặt: Truyền bá thông tin xấu, gây bất lợi cho doanh nghiệp và truyền bá những điều tốt đẹp cho doanh nghiệp Muốn xây dựng VHDN phải làm cho mạng lưới này luôn luôn truyền bá những thông tin tốt đẹp của doanh nghiệp
Năm yếu tố hình thành VHDN là khách quan, nó tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của chủ doanh nghiệp Đồng thời, nó cũng có tác động qua lại rất chặt chẽ với nhau Trong đó, môi trường doanh nghiệp là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất,
Trang 2016
là tiền đề để xây dựng VHDN Do đó, xã hội càng hoàn thiện, minh bạch thì việc xây dựng VHDN của các doanh nghiệp càng thuận lợi và ngược lại
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp với văn hóa dân tộc
Văn hóa dân tộc có ý nghĩa quyết định to lớn đối với văn hóa doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tế bào của xã hội, trong đó bao gồm những cá nhân đồng thời là thành viên của xã hội, dân tộc nơi doanh nghiệp tồn tại Những con người của doanh nghiệp trước khi trở thành thành viên doanh nghiệp đều được nuôi dưỡng, thấm nhuần văn hóa dân tộc nơi mình sinh ra và lớn lên
Văn hóa dân tộc sẽ giúp hình thành nên bản sắc văn hóa riêng, đặc thù cho văn hóa doanh nghiệp Người Trung Quốc với tính cộng đồng cao nên đặc thù văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc cũng là tính cộng đồng, liên kết, hợp tác lẫn nhau cao Người Hàn Quốc với sự cần cù, quyết tâm nên họ được mệnh danh
là những người Đức của Châu Á, trong kinh doanh họ rất quyết tâm đạt được mục tiêu đặt ra
Hiểu được mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc và văn hóa doanh nghiệp càng có ý nghĩa to lớn trong thời đại ngày nay, khi hội nhập kinh tế ngày càng rộng rãi và các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc trở thành trung tâm của sự chú ý, ngày càng trở nên quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là trong các tập đoàn da quốc gia có hoạt động trên khắp thế giới Sự khác biệt giữa các quốc gia hay nói cách khác văn hóa dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến việc đoán biết hành vi ứng xử của những tổ chức ở các quốc gia khác
Văn hóa dân tộc góp phần tạo nên bản sắc riêng cho doanh nghiệp và doanh nghiệp khi xâm phạm vào các quốc gia khác nhau phải tìm hiểu văn hóa dân tộc và điều chỉnh văn hóa doanh nghiệp cho phù hợp thì mới có thể thành công ở quốc gia đó
1.4 Chức năng của văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của doanh nghiệp, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, là nền tảng, là mục
Trang 21nó cũng có tác dụng chỉ đạo đối với giá trị và hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp
Chức năng ràng buộc
Văn hóa doanh nghiệp có chức năng ràng buộc bởi lẽ nó phát huy tác dụng đối với tư tưởng, tâm lý và hành động của từng thành viên trong doanh nghiệp Chức năng ràng buộc của văn hóa doanh nghiệp không mang tính pháp lệnh như các quy định hành chính mà nó là cơ chế mềm, dựa trên tính tự giác Chức năng ràng buộc của văn hóa doanh nghiệp thể hiện ở chỗ, những nội dung văn hóa tinh thần như ý thức của tập thể; dư luận xã hội; phong tục, tập quán của cộng đồng trong doanh nghiệp… tạo nên áp lực và động lực mạnh mẽ đối với tâm lý và hành động của từng cá thể và tập thể doanh nghiệp
Chức năng liên kết
Văn hóa doanh nghiệp có chức năng liên kết vì, sau khi được cộng đồng trong doanh nghiệp tự giác chấp nhận, văn hóa doanh nghiệp trở thành chất kết dính, tạo ra khối đoàn kết nhất trí trong doanh nghiệp Nó trở thành động lực giúp từng cá nhân tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp… Trên thực tế, văn hóa doanh nghiệp là ý thức tập thể được tạo nên bởi sự sáng tạo của toàn bộ thành viên trong doanh nghiệp văn hóa doanh nghiệp đã đặt ra lý tưởng, hy vọng và yêu cầu đối với các thành viên trong doanh nghiệp Nó cũng liên quan
Trang 2218
chặt chẽ tới vận mệnh và tương lai của từng thành viên trong doanh nghiệp Chính vì vậy, văn hóa doanh nghiệp trở thành chất kết dính, tạo ra động lực giúp mọi thành viên trong doanh nghiệp tham gia vào các nhiệm vụ của doanh nghiệp, phát huy trí tuệ và trí thông minh của từng thành viên trong việc cống hiến cho doanh nghiệp
Chức năng khuyến khích
Có chức năng khuyến khích là vì, coi trọng người tài, coi công việc quản
lý là trọng điểm là nội dung trọng tâm của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp không chỉ là động lực thúc đẩy bên ngoài mà còn là nội lực mạnh
mẽ để khuyến khích nhân viên Điều đó, giúp cho nhân viên có tinh thần tự giác, chí tiến thủ; đáp ứng được nhiều nhu cầu và có khả năng điều chỉnh những nhu cầu không hợp lý của nhân viên
Chức năng lan truyền
Văn hóa doanh nghiệp có chức năng lan truyền vì: Khi một doanh nghiệp
đã hình thành một nền văn hoá của mình, nó sẽ có ảnh hưởng lớn tới mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp có ảnh hưởng tới xã hội qua nhiều kênh giao tiếp khác nhau, nhưng chủ yếu được chia thành hai loại: một là, tận dụng tuyên truyền bằng phương tiện thông tin đại chúng và hai là, bằng các mối quan hệ giao tiếp cá nhân Thông qua phương tiện thông tin đại chúng và các quan hệ cá nhân, văn hóa doanh nghiệp được truyền bá rộng rãi, là nhân tố quan trọng để xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp còn là bản sắc của doanh nghiệp, là sức hấp dẫn của doanh nghiệp đối với khách hàng, các đói các, cơ quan quản lý, chính phủ; tạo nên thương hiệu cho doanh nghiệp giúp phân biệt với các doanh nghiệp khác Trong thời đại kinh doanh ngày nay, các đối tác bên ngoài sẽ xem xét kỹ hơn bất kỳ thời nào so với quá khứ, các mối quan hệ dựa vào sự tín nhiệm đối với donh nghiêp hơn là những cái lợi trước mắt Văn hóa doanh nghiệp giúp củng cố các mối quan hệ với bên ngoài doanh nghiệp cũng như là yếu tố thu hút khách hàng, đối tác đến với doanh nghiệp, đặc biệt là khách hàng, đối tác cũng
có văn hóa lành mạnh Cụ thể:
Trang 2319
Khách hàng: sẽ cảm thấy an tâm, tự hào khi sử dụng những sản phẩm,
dịch vụ của doanh nghiệp Họ sẽ trung thành với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp; dễ dàng chấp nhận những sản phẩm mới của doanh nghiệp, khó bị lôi kéo bởi các mặt hàng thay thế cạnh tranh khác của đối thủ Hơn nữa họ cũng có thể là những người tuyên truyền, quảng cáo đáng tin cậy nhất của doanh nghiệp
Các đối tác: sẽ tự tin hơn khi giao dịch với doanh nghiệp và họ có thể đưa
ra các mức giá ưu đãi , cùng doanh nghiệp vượt qua lúc khó khan, giữ vững những cam kết với doanh nghiệp
Cơ quan quản lý, chính phủ: khi tiếp xúc với các doanh nghiệp mà văn
hóa của họ đã được minh chứng theo thời gian thì sẽ cảm thấy tin tưởng hơn ở doanh nghiệp và do đó giảm bớt những thủ tục không cần thiết như là phải làm đối với một doanh nghiệp không có thương hiệu Hơn thế nữa, doanh nghiệp còn nhận được sự ủng hộ, hỗ trợ của cơ quan quản lý, chính phủ trong công việc kinh doanh, ví dụ nhận được sự hỗ trợ của nhà nước trong việc giới thiệu , xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài
Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cũng chính là xây dựng thượng hiệu cho doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
Xây dựng văn hóa doanh nghiệp đi từ cái gốc xây dựng con người văn hóa cho doanh nghiệp – văn hóa tổ chức, xác định văn hóa kinh doanh, văn hóa lãnh đạo, văn hóa chất lượng…; xác định định hướng, mục tiêu cho sự tồn tại của doanh nghiệp cũng như sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Kết tinh của các giá trị văn hóa này tạo ra thương hiệu cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Tùy theo đặc tính của sản phẩm, chiến lược của công ty mà một số doanh nghiệp có thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu riêng cho sản phẩm như nhãn hiệu rượu mạnh Henesy, XO, Napoleon đều thuộc hiệp hội Cognac; Công ty Unilever có Dove, Omo, Sunsik,…hoặc chỉ có một tên gọi hoặc tên gọi của công ty cho tất cả sản phẩm của mình Ví dụ, Sony có các sản phẩm tivi, máy nghe nhạc,… đều mang nhãn hiệu Sony
Thương hiệu sản phẩm tạo ra vị thế về chất lượng sản phẩm Người tiêu dung nhìn vào thương hiệu sản phẩm để dánh giá chất lượng sản phẩm, bên cạnh
Trang 2420
đó thương hiệu doanh nghiệp giúp người tiêu dùng đánh giá về mức độ uy tín, đạo đức của doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người tiêu dùng, đối tác, chính phủ để họ thấy rằng họ không tiếp tay cho những doanh nghiệp có đường lối kinh doanh không đúng đắn, có thể gây hại cho con người và môi trường
Các chức năng của văn hóa doanh nghiệp như đã trình bày trên cũng tồn tại một cách khách quan, giúp doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển, kết tinh thành thuận lợi của doanh nghiệp – yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Có thể nói khi tất cả các cái khác mất đi mà văn hóa doanh nghiệp vẫn còn thì doanh nghiệp vẫn có cơ hội tồn tại và phát triển, nhưng ngược lại nếu văn hóa đã mất thì doanh nghiệp không thể tồn tại được thành công hay thất bại của doanh nghiệp đều gắn với việc tạo ra bản sắc riêng của văn hóa doanh nghiệp Nhiệm vụ của các nhà quản trị doanh nghiệp là phải biết phát huy tác dụng đồng bộ của các chức năng nêu trên để cho văn hóa doanh nghiệp thực sự trở thành một trong những công cụ quản lý có hiệu quả trong doanh nghiệp
Có thể nói, văn hoá doanh nghiệp là nhằm tạo ra quy tắc ứng xử cho doanh nghiệp mà không phải tạo ra tác dụng chỉ đạo Cách làm này của các doanh nghiệp không chỉ có tác dụng thúc đẩy cho doanh nghiệp mình thực hiện được phương thức kinh doanh "lấy con người làm trung tâm", mà còn làm cho năng lực phát triển sản phẩm và năng lực đoàn kết hiệp đồng tập thể của doanh nghiệp trở nên phồn vinh, tăng thêm sự gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.5 Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp rất cần thiết cho một doanh nghiệp, nó có thể làm cho một tổ chức doanh nghiệp phát triển, và nếu thiếu nó, sẽ làm cho tổ chức đó lụi tàn Văn hóa doanh nghiệp bao gồm hệ thống các quan điểm, giá trị mà doanh nghiệp hướng tới, mong đợi và thừa nhận, đó là: Triết lý kinh doanh, sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi; Động lực của cá nhân và tổ chức; Quy trình quy định; Hệ thống trao đổi thông tin; Phong trào, nghi lễ, nghi thức
Trang 2521
Triết lý kinh doanh: Đây là lớp trong cùng và quan trọng nhất của VHDN, bao gồm những triết lý quản lý và kinh doanh cốt lõi nhất, căn bản nhất Đây là cơ sở xây dựng định hướng hoạt động của doanh nghiệp và chi phối các quyết định quản lý; là niềm tin, là giá trị bền vững không thay đổi bất chấp thời gian và ngoại cảnh Vì vậy, điều kiện tiên quyết để quá trình xây dựng VHDN thành công là sự cam kết của những người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp Bởi, phần quan trọng nhất, trái tim và khối óc của doanh nghiệp nằm ở lớp trong cùng của văn hóa, đó là triết lý kinh doanh, phương châm quản lý của doanh nghiệp và chỉ có những nhà quản lý cao nhất của doanh nghiệp mới đủ khả năng tác động đến lớp văn hóa cốt lõi này
Sứ mệnh: Bản tuyên bố về sứ mệnh là một tài liệu có mục đích thông báo
sự tồn tại của công ty Một bản tuyên bố sứ mệnh xác định những giá trị và những quy tắc chi phối công ty và là một phần cốt yếu trong quá trình lên kế hoạch chiến lược Các sứ mệnh có thể khác nhau về độ dài và nói về việc kinh doanh, mục đích và các giá trị Sứ mệnh của công ty là lý do mà công ty tồn tại trên thị trường, bạn là ai và bạn sẽ mang lại cho khách hàng và cộng đồng những loại sản phẩm và dịch vụ gì Những quyết định trong quá trình lên kế hoạch chiến lược và trong sự chi phối của công ty luôn luôn phải hài hòa với tuyên bố
sứ mệnh Tuyên bố về sứ mệnh là nền tảng cho tầm nhìn của công ty Tuyên bố
về sứ mệnh hay có thể là động lực thúc đẩy nhân viên khi truyền tải những mục đích và giá trị của công ty tới khách hàng và cộng đồng Mọi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ cần phải có tuyên ngôn sứ mệnh để đảm bảo rằng tất cả mọi người trong doanh nghiệp đều làm việc vì một mục tiêu giống nhau và cũng là để từ đó
mà vạch ra các kế hoạch kinh doanh hiệu quả
Tầm nhìn: Là những tham vọng lớn, những đích đến mang tính chiến lược
dài hạn mà toàn doanh nghiệp theo đuổi (không bao gồm những cách thức đạt được những tham vọng, mục tiêu đó)
Sự khác biệt giữa tuyên ngôn sứ mệnh và tầm nhìn là tuyên ngôn sứ mệnh tập trung vào tình hình hiện tại trong khi tầm nhìn tập trung vào tương lai của doanh nghiệp
Trang 2622
Giá trị cốt lõi: là cái hướng nội, cái mà không bao giờ là vật chất cũng như
linh hồn sống mãi với thời gian, còn thể xác sẽ tan biến Với một con người „‟ giá trị cốt lõi‟‟ là nguyên tắc sống, là phương châm sống của người đó, là những thứ mà họ
sẽ luôn giữ mãi cho đến lúc chết đi
Giá trị cốt lõi phản ánh những phẩm chất cơ bản mà doanh nghiệp sử dụng để định hướng các hoạt động và quyết định đối với nhân viên cũng như người thừa hành
Động lực của cá nhân và tổ chức: Lớp yếu tố quan trọng thứ hai của
VHDN chính là các động lực thúc đẩy hành động của các cá nhân, và môi trường “động lực chung” của tổ chức Các yếu tố động lực này sẽ biểu hiện ra ngoài bằng những hành vi hàng ngày của các cá nhân trong doanh nghiệp
Qui trình qui định: Qui trình, qui định, chính sách giúp doanh nghiệp
hoạt động ổn định, theo chuẩn Đây cũng là cấu thành giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, góp phần tạo tính ổn định và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp với nỗ lực làm hài lòng khách hàng và xã hội
Hệ thống trao đổi thông tin: Đây là lớp cấu thành thứ tư trong văn hoá
doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý đa dạng, đa chiều, chính xác và kịp thời Hệ thống này cần đảm bảo mọi thông tin cần thiết cho doanh nghiệp đều được thu thập, truyền đạt, lưu trữ và xử lý; đồng thời đảm bảo cho mọi thành viên doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng các thông tin cần thiết cho các hoạt động thường nhật cũng như công tác lập kế hoạch, xây dựng định hướng chiến lược
Phong trào, nghi lễ, nghi thức: Đây là cấu thành văn hoá bề nổi, phản
ánh đời sống, sinh hoạt của công ty Tuy không trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, nhưng ảnh hưởng của nó đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp cũng rất lớn Nó tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách của công ty, tạo ra
sự khác biệt của công ty với bên ngoài, tạo hình ảnh tốt cho công ty trước cộng đồng qua đó góp phần xây dựng thương hiệu Do vậy, để thực sự tạo ra “cá tính” của doanh nghiệp, tạo ra sức mạnh canh tranh cho doanh nghiệp, doanh nhân, cán bộ quản lý cấp cao, các nhà lãnh đạo và quản lý các cấp khác phải nhất thiết tham gia vào quá trình xây dựng văn hoá của tổ chức mình
Trang 2723
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích
Văn hóa doanh nghiệp được biểu hiện ở ba cấp độ: vật thể hữu hình, các giá trị được thể hiện và các ngầm định nền tảng Để hiểu được văn hóa doanh nghiệp cần phải đi sâu tìm hiểu cả ba cấp độ của văn hóa, trong đó quan trọng nhất là các ngầm định nền tảng chi phối suy nghĩ, nhận thức và hành động của doanh nghiệp và nhân viên, là nguồn gốc của bản chất văn hóa doanh nghiệp
Có mối liên hệ mật thiết giữa ba cấp độ của văn hóa đó là: phong cách ứng xử, giao tiếp, ra quyết định và phong cách làm việc
Văn hóa dân tộc có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành bản sắc văn hóa riêng, đặc thù cho văn hóa doanh nghiệp trong thời đại hội nhập mạnh mẽ ngày nay Văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của doanh nghiệp, có vai trò to lớn trong sự phát triển của doanh nghiệp, là nền tảng, là mục tiêu, động lực và là hệ điều tiết của sự phát triển; là bản sắc, thương hiêụ của doanh nghiệp
Vai trò, phẩm chất, năng lực của người lãnh đạo là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng, duy trì và phát huy văn hóa doanh nghiệp Bên cạnh đó, là sức mạnh của chuẩn mực, các giá trị; sự nỗ lực, đồng thuận của toàn thể nhân viên trong quá trình này
Trang 2824
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
TẠI XÍ NGHIỆP THƯƠNG MẠI MẶT ĐẤT NỘI BÀI (NIAGS)
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Xí nghiệp thương mại mặt đất Nội Bài là Chi nhánh thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam - tên giao dịch Noi Bai International Airport Ground
Services – NIAGS, được thành lập ngày 01/06/1993 với tên gọi Xí nghiệp phục
vụ kỹ thuật Thương mại mặt đất Nội Bài (tiền thân là Phòng vân chuyển sân bay quốc tế Nội Bài)
Với chức năng, nhiệm vụ chính là cung cấp dịch vụ phục vụ thương mại mặt đất theo các tiêu chuẩn quốc tế cho các chuyến bay đi, đến sân bay quốc tế Nội Bài và các sân bay khu vực phía Bắc bao gồm: dịch vụ phục vụ hành khách, hành lý, dịch vụ sân đỗ, dịch vụ trên tàu bay, làm tài liệu chuyến bay, đào tạo nguồn nhân lực…NIAGS luôn tự hào là nhà cung cấp dịch vụ mặt đất hàng đầu Việt Nam, luôn sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng về loại hình dịch vụ mặt đất theo tiêu chuẩn Quốc tế
Với phương châm “khách hàng quyết định sự tồn tại và phát
triển”, NIAGS cam kết cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ chất lượng ổn định và không ngừng nâng cao Trong suốt 20 năm qua, NIAGS đã
chinh phục niềm tin của khách hàng trên khắp thế giới bằng sự an toàn, chất lượng và hiệu quả Đã có hơn 25 hãng hàng không trong nước và Quốc tế lựa chọn NIAGS là đối tác tin cậy cung cấp các dịch vụ mặt đất tại sân bay Quốc tế Nội Bài và các sân bay khác tại miền Bắc Việt Nam
Trước năm 1993 Phòng vận chuyển sân bay quốc tế Nội Bài…
01/6/1993: thành lập Xí nghiệp phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất Nội Bài theo quyết định số 441/CAAV của Cục trưởng cục Hàng không dân dụng Việt Nam
30/6/1997: Đổi tên từ Xí nghiệp phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất Nội Bài thành Xí nghiệp Thương mại mặt đất Nội Bài theo quyết định số 1033/HĐQT của chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty hàng không Việt Nam
Trang 292003: Xây dựng văn hóa doanh nghiệp
2006: NIAGS chính thức trở thành thành của Hội đồng công ty mặt đất thế giới IGHC; Cùng với Tổng công ty Hàng không Việt Nam, nhận chứng chỉ IOSA của IATA
2009: Xây dựng và áp dụng hệ thống đánh giá an toàn trong khai thác mặt đất của IATA- ISAGO
Trang 3127
Hình 1: Sơ đồ tổ chức Niags
2.2 Sản phẩm, dịch vụ NIAGS cung cấp
NIAGS nỗ lực không ngừng hoàn thiện các dịch vụ bằng việc áp dụng
các tiêu chuẩn quốc tế và mang đến sự hài lòng cho khách hàng bằng sự tận tâm, chuyên nghiệp Đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm và có trình độ chuyên môn cao của luôn sát cánh bên khách hàng để cùng tháo gỡ những khó khăn đưa ra những giải pháp tối ưu nhất để chất lượng dịch vụ được đảm bảo và không ngừng nâng cao Với các dịch vụ chủ yếu sau: Dịch vụ hành khách, hành lý (Passenger services); Dịch vụ sân đỗ (Ramp services); Dịch vụ tài liệu và hướng dẫn chất xếp (Load control sevices); Dịch vụ tàu bay (Aircraft sevices); Dịch vụ đào tạo (Trainning sevices) và Dịch vụ sửa chữa (Maintenance & Repair sevices)
Trang 3228
2.2.1 Dịch vụ hành khách, hành lý
Phục vụ hành khách: Phục vụ hành khách đến, hành khách đi, hành khách chuyển tiếp và Phục vụ hành khách đặc biệt: hành khách tàn tật, trẻ em đi một mình…
Hướng dẫn & hỗ trợ hành khách: Hướng dẫn ngoài quầy, Hướng dẫn và chào đón hành khách ra máy bay
Làm thủ tục check – in, dịch vụ hành lý – BDS, tìm kiếm hành lý thất lạc, dịch vụ trong phòng chờ
Dịch vụ đại diện: Giám sát và đại diện tại sân bay, liên lạc với nhà chức trách sân bay và các cơ quan khác, hỗ trợ xử lý bất thường, kiểm soát khai thác
và giải quyết bất thường trong các chuyến bay
Các dịch vụ khác do đại diện hãng yêu cầu
2.2.2 Dịch vụ sân đỗ
Với kinh nghiệm phục vụ các loại máy bay hiện đại nhất như, Airbus A380, Boeing 777, NIAGS đảm bảo đủ năng lực phục vụ các loại tàu bay đến
và đi tại Nội Bài, an toàn và đúng giờ luôn là ưu tiên hàng đầu Mọi biện pháp
an toàn được tuân thủ nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn cao nhất, tỷ lệ phục vụ các chuyến bay đúng giờ của NIAGS luôn đạt trên 99,9%