Cục dữ trữ liên bang hoa kỳ và cuộc khủng hoảng tài chính 2008
Trang 1Trường Đại học Ngoại Thương Khoa Tài chính – Ngân hàng
Tiểu luận
Thị trường Tài chính
và các định chế Tài Chính
Đề tài:
Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
và cuộc Khủng hoảng Tài chính 2008
Giảng viên hướng dẫn: Ths Phan Trần Trung Dũng
Sinh viên: Kiều Việt Hùng A3
Trần Thị Nhung A3Hoàng Thanh Vân A4Phạm Tiến Dũng A5Nguyễn Tiến Dương A6
Hà Nội, 11/2009
Trang 2Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
và cuộc Khủng hoảng Tài chính 2008
Lời mở đầu:
1 Tổng quan về Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ(FED):
1.1 Lịch sử ra đời của FED
1.2 Chức năng và vai trò của FED đối với nền kinh tế Mỹ
2 FED và nền kinh tế Hoa Kỳ cận Khủng hoảng tài chính 2008:
2.1 Nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn 2000 - 2007
2.2 Nguyên nhân Khủng hoảng tài chính 2008
2.3 Trách nhiệm của Fed đối với cuộc khủng hoảng tài chính 2008
3 Phản ứng của FED đối với Khủng hoảng tài chính 2008:
3.1 Chính sách của Fed trước tháng 9/2008
3.2 Chính sách của Fed từ lúc cuộc khủng hoảng xảy ra cho đến nay3.3 Những vấn đề đối với mức lãi suất thấp của Fed
Tổng kết:
Trang 3Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã có những thay đổi đáng kể trong chính sáchtiền tệ, cụ thể là sự biến đổi phức tạp của lãi suất Khi cuộc khủng hoảng xảy
ra, nhiều chuyên gia cho rằng chính sách tiền tệ của Fed đã góp phần khôngnhỏ gây ra cuộc Khủng hoảng
Với sự sụp đổ của nhiều định chế Tài chính lớn, Chính phủ Mỹ và Fed
đã có nhiều nỗ lực nhằm xử lý hậu quả, ổn định tâm lý và khôi phục nềnkinh tế Và lúc này, người ta đang đặt câu hỏi về những công việc mà chínhphủ Mỹ và đặc biệt là Fed đã thực hiện từ lúc cuộc khủng hoảng xảy ra.Người ta chú ý rất nhiều đến mức lãi suất cơ bản từ giữa 0 – 0.25%, là mứclãi suất thấp nhất từ năm 1954 trở lại đây
Với những vấn đề như trên, chúng tôi muốn trả lời cho câu hỏi: Cóphải thực sự Fed gây ra khủng hoảng hay không? Những chính sách của Fedtrong thời gian 1 năm trở lại đây có đang đi đúng hướng hay không?
Với mục đích như trên, Bài tiểu luận của chúng tôi gồm 3 phần chính:
1 Tổng quan về FED
2 FED và nền kinh tế Hoa Kỳ cận Khủng hoảng tài chính 2008
3 Phản ứng của FED đối với Khủng hoảng tài chính 2008Qua bài Tiểu luận, chúng tôi hy vọng sẽ có được hiểu biết nhất định
về cuộc Khủng hoảng và chính sách Tiền tệ của Fed, ngân hàng Trung ươnglớn nhất thế giới và sẽ có thêm những cơ sở khi ra quyết định trong đầu tưchứng khoán, vàng và ngoại tệ
Trang 41 Tổng quan về Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ - FED ( Federal reserve system )
1.1 Lịch sử và hoàn cảnh ra đời.
Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương củanước Mỹ Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàngcủa các ngân hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang FED được xâydựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn,
an toàn hơn, và ổn định hơn Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng vớilịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quantrọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ
Được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên "FederalReserve Act" do tổng thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lướigồm 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và một số chi nhánh khác Về mặt quản
lý, FED chia nước Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là các "Quận" (District),mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theotên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia,Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St Louis, Minneapolis, KansasCity, Dallas, San Francisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trònổi bật hơn một chút so với các ngân hàng còn lại
Năm 1791, Alexander Hamilton ( Hamilton là người đại diện choquyền lợi của gia tộc Rothschild ) trình lên quốc hội phương án thành lậpFirst Bank of the United States để giải quyết tình trạng “ thiếu tiền ” FirstBank of the United States, BUS được vận hành theo đúng mô hình của Ngânhàng Bắc Mỹ Thomas Willing, chủ tịch Ngân hàng Bắc Mỹ được mời giữchức chủ tịch ngân hàng mới Đối với quyền sở hữu, chính quyền liên bangnằm quyền sở hữu 1/5 ngân hàng trung ương này 80% cổ phần còn lại, lẽ dĩ
Trang 5nhiên, thuộc về các đại gia tộc ngân hàng Ngân hàng mới sẽ có quyền pháthành tiền và đầu tư vào các khoản nợ công và tài trợ tín dụng giá rẻ cho cácnhà công nghiệp Chính quyền liên bang cũng trao cho ngân hàng quyềnđược lưu ký quĩ và tài sản của chính phủ Thời gian hoạt động được qui định
sở hữu của ngân hàng trung ương Hoa Kỳ ``mới'' thuộc về gia đìnhRothschild và những người đại diện Ngân hàng này có thời hạn 20 năm đểthực hiện các chức năng tạo ra một đồng tiền giấy thống nhất trên toàn lãnhthổ Hoa Kỳ, mua phần lớn nợ của chính phủ, và nhận tiền gửi của Bộ Tàichính
Các ông chủ của Second Bank of the United States (BUS2) bắt taycùng đại diện các ngân hàng lớn ở ngoại ô Boston và thống nhất cung cấpmột khoản tín dụng trị giá 6 triệu đô-la bằng tiền đúc tại New York,Philadelphia, Baltimore, và Virginia trước khi phải nhất nhất tuân theo yêu
Trang 6cầu thanh toán bằng tiền đúc với những khoản nợ phải thanh toán cho ngânhàng các bang Lượng tiền đúc này được tính toán sẽ vượt xa nhu cầuchuyển đổi tiền giấy sang tiền đúc có thể phát sinh khi đạo luật mới đượcthực thi Như vậy, các ngân hàng có thể thoải mái phát hành mới tiền giấy
mà không lo lắng tới việc vi phạm pháp luật ``Thương vụ'' giữa BUS2 vàngân hàng tại các bang đã biến qui định phải qui đổi ra tiền đúc để thanhtoán chỉ còn mang tính hình thức Nền kinh tế tiếp tục ở trong tình trạng lạmphát Đến năm 1819, yêu cầu thanh toán bằng tiền đúc bị dỡ bỏ cùng lúc vớikhủng hoảng kinh tế trong thời gian 1819-1821
Cho đến năm 1836, Second Bank of United States giải tán sau khiđiều lệ của ngân hàng không được gia hạn Sau nhiều năm nội chiến củanước Mỹ, gia tộc Rothschild đã quay trở lại và lần thứ ba xác lập mô hìnhngân hàng trung ương ở nước Mỹ- Hệ thống Dự trữ Liên bang, vào năm1913
Kế hoạch thành lập ngân hàng trung ương Hoa Kỳ lần thứ ba đượcmột nhóm các nhà ngân hàng bí mật bàn bạc và thông qua vào tháng 11 năm
1910 sau chín ngày hội họp tại đảo Jekyll, tài sản của nhà Morgan tại vùng
bờ biển bang Georgia
Với những mục tiêu và kế hoạch bàn bạc đề ra Cho tới ngày23/12/1913, FED chính thức được quốc hội phê chuẩn thành lập và đi vàohoạt động chính thức từ năm 1915
Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và ngân hàng thành viên củaFed:
STT Tên ngân hàng
Trang 71.2.Chức năng và vai trò của FED
1.2.1 Các công cụ chủ yếu của Fed:
Mua và bán trái phiếu chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (Fed) muatrái phiếu chính phủ, tiền được đưa thêm vào lưu thông Bởi có thêm tiềntrong lưu thông, lãi suất sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ giatăng Khi Fed bán ra trái phiếu chính phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại, tiềnrút bớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ làm tăng lãi suất dẫn đến vay nợ từngân hàng khó khăn hơn
Quy định lượng tiền mặt dự trữ: Ngân hàng thành viên cho vay phầnlớn lượng tiền mà nó quản lý Nếu Fed yêu cầu các ngân hàng này phải dựtrữ một phần lượng tiền này, khi đó phần cho vay sẽ giảm đi, vay mượn khóhơn và lãi suất tăng lên
Thay đổi lãi suất của khoản vay từ Fed: Các ngân hàng thành viên củaFed vay tiền từ Fed để trang trải các nhu cầu ngắn hạn Lãi suất mà Fed ấnđịnh cho các khoản vay này gọi là lãi suất chiết khấu Hoạt động này có ảnhhưởng đến lãi suất cho vay của các ngân hàng
Trang 81.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Fed:
Với các công cụ của mình, Fed được trao các trọng trách:
Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm,giá cả ổn định và lãi suất tương đối thấp
Giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là nhữngnơi an toàn để gửi tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của người dân
Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng, Chính phủ
Mỹ và Ngân hàng trung ương các nước khác như thanh toán bù trừ, thanhtoán điện tử, phát hành tiền
Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống cóthể phát sinh trên thị trường tài chính
Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũngnhư kinh tế các bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấnphẩm, hội thảo giáo dục và qua website
2 FED và nền kinh tế Hoa Kỳ cận Khủng hoảng tài chính 2008:
2.1 Nền kinh tế Hoa Kỳ và chính sách tiền tệ của Fed trong thời kỳ 2007
2000-Sự phát triển hoàng kim của nền công nghiệp dotcom (.com) tại Mỹbắt đầu từ năm 1995 và đạt đến đỉnh điểm giữa năm 2000, khi mà hàngnghìn tỷ đôla được đổ vào lĩnh vực Internet với hi vọng chiếm lĩnh cơ hội.Đầu tư quá nhiều cho dotcom và không có những khoản thu để bù đắp chiphí đã dẫn đến khủng hoảng bong bóng dotcom từ cuối năm 2001, hàng loạtcông ty dotcom đã bị phá sản và quét đi 5000 tỷ đôla Mỹ trong toàn bộ giaiđoạn đầu tư (1995-2001) Tâm lý của người dân đã bị ảnh hưởng tiêu cực,nền kinh tế đứng trước nguy cơ rơi vào suy thoái
Trang 9Đứng trước tình hình đó, Cục dự trữ liên bang hoa Kỳ đã thực hiệnchính sách tiền tệ nới lỏng, đồng nghĩa với cắt giảm lãi suất.
Ngày 3/1/2001, Fed đã cắt giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống 6% vàlãi suất liên ngân hàng từ 6% xuống 5,5%
Ngày 31/1/2001, Fed đã quyết định giảm mức lãi suất cho vay từ 6%xuống 5,5%
Ngày 20/3/2001, Fed lại một lần nữa cắt giảm lãi suất cho vay từ mức5,5% xuống 5% do nền kinh tế đang xuống dốc quá nhanh
Ngày 18/4/2001, đứng trước thông tin liên tiếp các công ty Mỹ, từlĩnh vực tài chính cho đến công nghệ , đều công bố sút giảm lợi nhuận, sathải công nhân, Fed quyết định hạ tỷ lệ lãi suất cho vay xuống thêm 0,5%.Lãi suất cho vay lúc này là 4,5%
Trong những tháng tiếp theo, Fed vẫn duy trì mức giảm lãi suất
Sự kiện ngày 11/9 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế Hoa
Kỳ Chỉ số Dow Jones (Dow Jones Industrial Average – DJIA) tuột xuống
684 điểm, tức 7,1%, chỉ còn 8920 điểm, sự tuột dốc chưa từng xảy ra chỉtrong vòng một ngày Đến cuối tuần, chỉ số DJIA rơi tự do 1369,7 điểm(14,3%), lần tuột giảm lớn nhất trong vòng một tuần trong lịch sử của chỉ sốnày Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ mất 1,4 ngàn tỉ USD trong tuần này.Tâm lý của người dân bị ảnh hưởng nặng nề, và nền kinh tế đứng trước nguy
cơ suy thoái
Để ổn định tâm lý và khôi phục nền kinh tế, Fed lại tiếp tục giảm lãisuất Đến đầu năm 2002, lãi suất cho vay chỉ là 1.75% Mặc dù nền kinh tế
đã thực sự hồi phục vào giữ năm 2002, nhưng Alan Greenspan – Chủ tịchcủa Fed và các đồng nghiệp vẫn quyết định giữ mức lãi suất thấp trong 2năm tiếp theo 2003 và 2004
Trang 10Căn cứ vào “tín hiệu” của ngân hàng trung ương, lãi suất trên hầukhắp các thị trường tài chính đều đã giảm mạnh Đặc biệt, lãi suất đối vớikhoản vay cố định 30 năm chỉ ở mức 4% đến 5%, thấp nhất trong vòng 40năm qua.
Đáp lại chính sách tiền tệ nới lỏng của FED, lượng cung tiền trongnền kinh tế Mỹ đã tăng mạnh Khối lượng cho vay của tất cả các loại hìnhtín dụng ngân hàng đã tăng liên tục, thúc đẩy quá trình mở rộng tiền tệ đangdiễn ra
Sự gia tăng của khối lượng tín dụng còn được thúc đẩy bởi dòng vốnnước ngoài chảy vào ổn định FED không hề thực hiện bất kỳ một biện phápnào để “trung hòa hóa” tác động của dòng vốn vào đối với cung tiền vì họtin rằng nền kinh tế vẫn đang trong quá trình phục hồi Với sự tăng trưởngmạnh mẽ của nền kinh tế vào cuối năm 2002, thu nhập cá nhân và lợi nhuậncủa công ty đều tăng lên đáng kể
Cuối năm 2002, hoạt động của thị trường nhà ở diễn ra sôi động nhờ thunhập cá nhân tăng, lãi suất cho vay thế chấp thấp và các khoản tín dụng dồidào Điều này đã khiến cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều muốntranh thủ kiếm lời
Người dân đổ xô đi mua nhà nhằm kiếm lời bởi họ tin tưởng rằng giánhà sẽ tăng cao hơn Nhiều nhà đầu cơ đã thu được lời lớn chỉ đơn giản bằngcách mua nhà và bán lại, thậm chí ngay cả khi những ngôi nhà đó chưa đượcxây xong và đưa vào sử dụng Các nhà môi giới cho vay thế chấp nôn nóngđẩy nhanh và kết thúc các giao dịch nhằm thu về các khoản phí và chuyểnsang các giao dịch kế tiếp Về sau, người ta mới nhận ra rằng nhiều ngườimua nhà thế chấp đủ tiêu chuẩn lại bị hướng vào nhóm đối tượng vay nợdưới chuẩn bởi vì những người bán trung gian được hưởng phí cao hơn từloại này
Trang 11Những người cho vay cảm thấy an toàn vì rủi ro vỡ nợ đang giảm theothời gian do giá nhà vẫn tiếp tục tăng Giá trị tài sản của những người sở hữunhà cũng tăng theo tương ứng.
Hầu hết các khoản vay dưới chuẩn đều theo hình thức vay thế chấpvới lãi suất linh hoạt (ARM) Theo truyền thống, người mua thường muốnvay tiền mua nhà với lãi suất cố định hơn là lãi suất linh hoạt, theo đó, họ sẽphải thanh toán hàng tháng tiền lãi với lãi suất cố định trong suốt 30 năm.Tuy nhiên, lãi suất ARM lại rất thấp với thời hạn từ 3 đến 5 năm Chính vìvậy, nó đã thu hút được những người mua có thu nhập thấp Tuy nhiên, cáckhoản tiền lãi phải trả hàng tháng đã tăng dần theo thời gian do lãi suất chovay được điều chỉnh lên những mức cao hơn
Nhìn chung, tất cả các thành viên thị trường đã đánh giá sai về mứcrủi ro thực và đến khi họ nhận ra thì rủi ro đã biến thành khủng hoảng
Những người mua nhà không cảm nhận được rủi ro bởi vì sự gia tăngliên tục của giá nhà cho phép họ trả nợ rất dễ dàng bằng cách vay thêm.Những người cho vay cũng không duy trì các khoản nợ của họ trong sổ sách
mà bán chúng cho các ngân hàng đầu tư để những ngân hàng này biếnchúng thành những tài sản được chứng khoán hóa và bán cho các nhàđầu tư chứng khoán Do vậy, những người cho vay thế chấp đã liên tục cóđược tiền mặt và tiếp tục tạo ra các khoản nợ tương tự, đẩy giá nhà lên caohơn và một chu trình mới lại bắt đầu
Tuy nhiên, vào đầu năm 2006, thị trường nhà đất bắt đầu có dấu hiệusuy giảm Những ngôi nhà mới xây đã không bán được và hậu quả là sự tănggiá bắt đầu giảm mạnh Nguyên nhân của tình trạng này là sự đảo ngượcchính sách tiền tệ của FED Fed đã bắt đầu nâng lãi suất từ đầu năm 2005.Nền kinh tế Mỹ đã bước vào năm thứ 4 tăng trưởng liên tục và những dấu
Trang 12hiệu lạm phát gia tăng mạnh đã xuất hiện Một loạt các chỉ số giá khác cũnggia tăng FED đã phản ứng lại bằng cách liên tục tăng lãi suất.
Chính sách tiền tệ thắt chặt của FED đã làm cho lãi suất ARM tăngcao Lãi suất tăng gây bất ngờ đối với những người vay nợ dưới chuẩn Dotình trạng tài chính eo hẹp, nhiều người đã không đủ khả năng thanh toán
Tỷ lệ nợ quá hạn và vỡ nợ bắt đầu tăng mạnh Điều này đối ngược với việccác nền tảng cơ bản của nền kinh tế vẫn tốt bởi lãi suất mặc dù có khuynhhướng tăng nhưng vẫn ở mức thấp trong lịch sử
2.2 Nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008:
2.2.1 Cơ chế cho vay thế chấp:
Cho vay thế chấp đúng chuẩn là khoản cho vay mua bất động sản cóchất lượng cao Nó được quyết định một cách cẩn thận bởi một nhân viên tíndụng và được đảm bảo bằng những giấy tờ của người đi vay chứng minh khảnăng thanh toán cho ngân hàng, bao gồm: thu nhập hàng năm, tiểu sử nghềnghiệp, hồ sơ vay mượn trước đây, tài sản và các khoản nợ
Cho vay thế chấp dưới chuẩn là khoản cho vay chất lượng thấp vớimức rủi ro cao Các khoản vay này không được xem xét kỹ lưỡng và thườngđược bảo đảm bởi rất ít hoặc không có giấy tờ chứng minh khả năng tàichính của người đi vay
Theo truyền thống, một người đi vay phải trình ngân hàng đơn xin vayvốn Đơn này được xem xét bởi một nhân viên tín dụng và việc xem xét nàyphải được thể hiện rõ ràng bằng văn bản Đồng thời, người vay phải đưa racác giấy tờ liên quan đến thu nhập, tiểu sử nghề nghiệp, tài sản và các khoản
nợ Ngân hàng có thể đồng ý cho vay thế chấp với lãi suất cố định trong suốt
30 năm hoặc cho vay thế chấp theo lãi suất có thể tự điều chỉnh ARM Đa sốngười đi vay chọn hình thức vay theo lãi suất cố định
Trang 13Vào những năm 1980, khi số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanhchóng, các ngân hàng cho rằng thủ tục cho vay theo kiểu truyền thống quácồng kềnh và kém hiệu quả Do vậy, họ bắt đầu áp dụng cơ chế tính điểm tíndụng cho khách hàng Mỗi công dân Mỹ đều có một mức điểm tín dụng, từ
300 đến 850, nhằm phản ánh lịch sử thanh toán cá nhân Có ba tổ chức tíndụng thu thập thông tin về hồ sơ thanh toán của từng khách hàng Các ngânhàng lấy điểm trung bình của ba tổ chức này để quyết định mức tín nhiệmtín dụng phù hợp Mặc dù người đi vay vẫn phải đưa ra những giấy tờ về thunhập, tiểu sử nghề nghiệp, tài sản nhưng có thể đơn giản hơn Các nhân viêntín dụng thực hiện các quyết định cho vay chủ yếu dựa trên điểm tín dụng.Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, khi sự bùng nổ của giá nhà đất trởnên đỉnh điểm, số lượng các giấy tờ đã được giảm thiểu tới mức thấp nhất
Các khoản vay này còn được gọi là “không giấy tờ” bởi vì chúng hầunhư không được bảo đảm bằng bất kỳ giấy tờ nào Điểm tín dụng trở thànhtiêu chuẩn duy nhất Nếu điểm tín dụng của một cá nhân thấp thì khoản vaymang hình thức dưới chuẩn (Đây là khoản vay với chất lượng thấp hơn sovới khoản vay đạt chuẩn, vốn được cho vay với đầy đủ các giấy tờ cần thiết)
Để bù đắp lại rủi ro cao, những khoản vay này là những khoản vay vớilãi suất cao hoặc người đi vay phải vay theo lãi suất ARM với lãi suất banđầu thấp sau đó được điều chỉnh dần lên những mức cao hơn
Các nhà môi giới khi dàn xếp các khoản vay rủi ro này cũng yêu cầukhoản phí cao Như vậy, hoạt động của toàn hệ thống được thúc đẩy bởikhối lượng tín dụng cao, tiêu chuẩn tín dụng thấp, lãi suất và phí cao Hầuhết những người cho vay không nhận ra cái bẫy họ đang bước vào Đồngthời, nhiều người đi vay đã lợi dụng sự dễ dãi của môi trường cho vay đểđầu cơ Họ không mua nhà để ở mà chỉ để giữ một thời gian rồi bán lại cho
Trang 14người khác nhằm kiếm lời Hiện tượng đầu cơ khiến cho thị trường trở nênhỗn loạn và giá cả không phản ánh đúng giá trị thực của bất động sản.
2.2.2 Các công cụ tài chính phức tạp:
Vào những năm 1990, một công cụ tài chính chủ yếu mới đã xuất
hiện Đó là Cổ phiếu được đảm bảo bởi các khoản cho vay thế chấp (The
Mortgage Backed Securities, MBS) Một nhóm ngân hàng đầu tư đã tạo ra
công cụ tài chính này theo đề nghị của FNMA
Cơ chế tạo ra công cụ tài chính này như sau: Một số lượng lớn cáckhoản vay thế chấp được kết hợp lại và chuyển giao cho một công ty tàichính quản lý Các ngân hàng sử dụng các khoản vay thế chấp để bảo đảmcho việc phát hành MBS Mỗi cổ phiếu MBS có giá trị phát hành bằng tổng
số tiền mặt được tạo ra bởi các khoản vay thế chấp hay còn gọi là tổng quỹchia cho số cổ phiếu MBS được phát hành Hầu hết các khoản vay thế chấpnhư vậy được xếp vào loại có chất lượng tốt Và các chứng khoán này đượcbán cho các nhà đầu tư toàn cầu
Trái phiếu được đảm bảo bằng nợ thế chấp (The Collateral Mortgage Obligations, CMO)
Các MBS đã gây ra bùng nổ trên thị trường nhà ở khi các khoản nợ cótính thanh khoản thấp trong bảng cân đối kế toán ngân hàng được chứngkhoán hóa để giao dịch trên thị trường vốn Không thể đánh giá thấptầm quan trọng lịch sử của phát minh này Một công cụ tài chính khác tương
tự như trái phiếu “cấp thấp” (junk bonds - Loại trái phiếu có độ rủi ro cao và
tỷ suất lợi tức cao) của Michael Milken vào những năm 1980 cũng đã xuấthiện
Khi số lượng các khoản vay thế chấp được kết hợp lại (packaged) tăngtheo hàm số mũ, thì nhiều trong số các khoản cho vay đó là cho vay dưới
Trang 15chuẩn Do vậy, tổng quỹ cho vay bao gồm các cấu phần có chất lượng khôngđồng đều Có những phần an toàn tuyệt đối, vài phần chất lượng trung bình,còn lại thì đầy rủi ro.
Trong khi đó, các nhà đầu tư trên thị trường lại có xu hướng chấpnhận mức độ rủi ro không giống nhau Các quỹ tương hỗ (mutual funds),quỹ lương (pension funds) chỉ được phép mua những tài sản có chất lượngcao Các nhà đầu tư khác, trong đó chủ yếu là các quỹ đầu cơ (hedge funds)lại được phép linh hoạt tài chính nhiều hơn Do vậy, một quỹ các khoản chovay thế chấp được cấu trúc thành các trái phiếu được đảm bảo bằng cáckhoản nợ có thế chấp CMO với 03 gói khác nhau:
+ Gói siêu hạng (The super tranche): Loại này được xếp vào loạiAAA và có vị trí cao nhất trong thứ tự ưu tiên để nhận tiền mặt từ các khoảnthanh toán thế chấp
+ Gói Cấp trung (The mezzanine tranche): Gói này có điểm tín dụngthấp hơn, nằm ở vị trí tiếp theo để nhận các khoản thanh toán
+ Gói Sở hữu (The equity tranche): Đây là gói có rủi ro cao nhất vàxếp vị trí cuối cùng trong chuỗi thanh toán, sau hai gói trên
Do có mức rủi ro khác nhau nên mỗi gói có mức tỷ suất lợi tức khácnhau Gói Sở hữu có rủi ro cao nhất nên tỷ suất lợi tức là lớn nhất và ngượclại, gói Siêu hạng có mức rủi ro thấp nhất, nên có tỷ suất lợi tức là thấp nhất
Trái phiếu được đảm bảo bằng nợ có bảo đảm (The Collateralized Debt Obligations, CDO)
CMO thỏa mãn được nhu cầu đầu tư của các nhóm nhà đầu tư vớinhững khả năng chịu đựng rủi ro khác nhau Trong cùng thời gian này,
“khoa học tài chính” (financial engineering) lại ngày càng trở nên phức tạp
và tinh vi hơn Cùng với các khoản nợ thế chấp, nhóm tài sản bảo đảm cònbao gồm thêm một số lượng lớn những khoản vay công ty, vay mua ô tô, thẻ
Trang 16tín dụng, thậm chí là cả các khoản nợ LBO “Con quái vật giống người”(hybrid monster) này được gọi là trái phiếu được đảm bảo bằng nợ có bảođảm CDO Cấu trúc của nó hết sức phức tạp Các khoản bảo đảm khôngđồng nhất Các gói được chia nhỏ theo nhiều tiêu chuẩn thanh toán Mỗi gói
có những đặc điểm và rủi ro khác nhau
Cấu trúc của các công cụ tài chính mới này phức tạp đến mức màchúng được tạo ra không phải bởi các chuyên gia ngân hàng mà bởi nhữngnhóm các tiến sỹ toán học, thống kê học và khoa học tài chính
2.2.3 Bùng nổ khủng hoảng cho vay dưới chuẩn
Các ngân hàng thương mại và các nhà môi giới cho vay dưới chuẩn đãthực hiện các khoản cho vay ban đầu, sau đó những khoản nợ này được đưađến các ngân hàng đầu tư để chuyển hóa thành MBS, CMO, CDO
Các ngân hàng thương mại cảm thấy nhẹ nhõm khi đưa được các tàisản ra ngoài bảng cân đối kế toán bằng cách bán các khoản cho vay này.Bằng cách đó, họ tránh được gánh nặng nắm giữ dự trữ bắt buộc theo Hiệpước Basel I Khoản tiền ngân hàng thu lại được có thể tiếp tục hành trình chovay hay đầu tư Một số ngân hàng giữ lại quyền trả cổ tức cho các chứngkhoán cho vay thế chấp, do vậy có thể thu được những khoản phí dịch vụđáng kể
Phần lớn các CMO và CDO được bán cho các quỹ đầu cơ - một loạicông cụ đầu tư tư nhân phục vụ cho các nhà đầu tư giàu có Nhờ đội ngũkhách hàng tinh xảo nên các quỹ đầu cơ này không bị điều tiết quá ngặtnghèo, họ không phải đưa ra các báo cáo tài chính và ít người biết về chiếnlược đầu tư của họ Khách hàng của hình thức tài chính kỳ lạ này trải rộngkhắp toàn cầu, từ Châu Âu, Châu Á (đặc biệt là Trung Quốc) đến TrungĐông
Trang 17Vào tháng 8/2007, giá nhà đã ngừng tăng, thậm chí bắt đầu giảm.Nguyên nhân chính của tình trạng này là chính sách tiền tệ thắt chặt đã đẩylãi suất lên cao.
Theo quy luật của tài chính doanh nghiệp, khi lãi suất thị trường tăng,giá trị của các chứng khoán có thu nhập cố định sẽ giảm Do danh mục đầu
tư của các quỹ đầu cơ bao gồm một tỷ trọng lớn các CMO và CDO nên giátrị của chúng cũng bắt đầu giảm Điều này khiến các nhà đầu tư rút vốn Cácquỹ đầu cơ trở nên thiếu thanh khoản và phải tạm ngưng việc trả tiền Tâm
lý hoang mang bao trùm khắp thị trường Giá trị của những danh mục đầu tưnày lại càng giảm mạnh hơn
Các ngân hàng đầu tư nhận thấy việc kinh doanh chứng khoán hóađang ngày càng giảm sút do khối lượng các khoản vay thế chấp mới ngàycàng giảm Chính bản thân các ngân hàng này cũng đã có những khoản đầu
tư lớn vào các chứng khoán thế chấp trong suốt thời kỳ bùng nổ của thịtrường với những mức lợi tức rất hấp dẫn Sự giảm sút trong giá trị các danhmục đầu tư đã dẫn đến những khoản lỗ trong bảng cân đối kế toán của ngânhàng
Khi thị trường trở nên ngày càng yếu đi, nhiều tổ chức đã cố gắng vực
nó dậy Nhưng một nguyên tắc sống còn trong tài chính là không thể bánhàng trong một thị trường thiếu thanh khoản Thiếu thanh khoản đồng nghĩavới việc có ít hoặc không có người mua Theo ngôn ngữ thương mại thì đó làthị trường thưa thớt (thin market) Trong một thị trường như vậy sẽ có rất ítgiao dịch được thực hiện và giá trị thị trường của nhiều chứng khoán sẽkhông được xác định một cách khách quan Và đây chính là “điểm gãy”(breakdown) trong quá trình xác định giá cả Tính bất ổn và không chắc chắncủa quá trình xác định giá sẽ khiến cho các giao dịch bị đóng băng vàthị trường bị tê liệt
Trang 18Bức tranh đã hoàn toàn rõ ràng khi các sự kiện được kết nối lại Toàn
bộ quá trình từ việc cho vay thế chấp ban đầu đến đóng gói, phân phối vàthu lời chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường lãi suất thấp, tínhthanh khoản cao và một lòng tin mãnh liệt vào thị trường Lúc đó, sẽ có mộtdòng người mua không ngớt đổ vào thúc đẩy thị trường tăng liên tục Tiếptheo, người bán có thể kết thúc giao dịch với một khoản lợi nhuận để lặp lạimột chu trình giao dịch khác tương tự
Vào tháng 8/2007, những nghi ngờ về giá trị của tất cả các khoản bảođảm bắt đầu xuất hiện Quá trình định giá tài sản sụp đổ Thị trường mấtphương hướng và khả năng vận hành
2.2.4 Những tác động bất lợi trên thị trường tài chính
Các quỹ đầu cơ (Hedge Funds)
Các quỹ đầu cơ bị ảnh hưởng của sự thắt chặt tín dụng sớm nhất.Những quỹ này nắm giữ một lượng lớn các CMO, CDO, vốn là những công
cụ tài chính có tính đòn bẩy cao Với mỗi đôla Mỹ nhận được từ các nhà đầu
tư, quỹ đầu cơ có thể vay thêm 29 USD để đầu tư, với kết quả là tỷ lệ “đònbẩy” đạt mức 30 lần Những khoản vay mượn này (hầu hết là từ các ngânhàng thương mại và ngân hàng đầu tư) được đảm bảo bằng các danh mụcđầu tư chứng khoán của họ Khi giá trị của các khoản bảo đảm này bắt đầugiảm, các quỹ đầu cơ phải thực hiện việc ký quỹ bổ sung (bổ sung thế chấp)
Đó là lý do tại sao vào đầu tháng 8/2007, hai quỹ bảo hiểm của Bear Stearns
đã gặp phải vấn đề thanh khoản Những khó khăn tương tự cũng đã xảy ravới các quỹ của BNP hay Lehman Brothers
Đầu năm 2008, nhiều quỹ ở Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) đã phásản, “cuốn theo” vốn của các nhà đầu tư Sự sụp đổ “ngoạn mục” nhất là củacông ty Carlyle Capital, một công ty con của tập đoàn Carlyle và cựu Tổng
Trang 19thống Mỹ G.W.H Bush được coi là một trong những đối tác của công ty cổphần tư nhân đặc biệt này.
Các ngân hàng
Nhiều tổ chức tài chính (như Citigroup, Goldman Sachs, Bank ofAmerica) đã thiết lập các chi nhánh (affiliates) có tên gọi là CácPhương tiện Cấu trúc Đầu tư (Structured Investment Vehicles, SIV) Nhữngtài sản rủi ro cao (hầu hết liên quan đến vay thế chấp) được chuyển giao đếncác SIV, sau đó SIV thâm nhập vào thị trường thương phiếu tìm nguồn tàichính Khi các chứng khoán thế chấp “rơi tự do”, thị trường thương phiếu đãmất 300 tỷ USD vào cuối năm 2007 Nhiều SIV đã không thể đảo hạn đượccác thương phiếu của họ (nợ ngắn hạn, được gia hạn hàng ngày hoặc hàngtuần)
2.3 Trách nhiệm của Fed đối với cuộc khủng hoảng tài chính 2008:
Fed được trao hai trọng trách quan trọng đối với nền kinh tế hoa Kỳ.Một là, duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống cóthể phát sinh trên thị trường tài chính Hai là, giám sát và quy định các tổchức ngân hàng, đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn
Xét về chức năng thứ nhất, có thể nói Fed hoàn toàn thực hiện khôngtốt FED đã duy trì lãi suất 1% trong suốt thời kỳ 2002-2003 Đây là phảnứng nhằm đối phó với sự nổ vỡ của bong bóng công nghệ cao năm 2000 vàsuy thoái kinh tế sau đó dưới tác động của sự kiện ngày 11/9/2001 Chủ tịchFED - ông Alan Greespan đã sốt sắng vực dậy nền kinh tế và cố gắng duy trìmức tăng trưởng cao Đây là lời bào chữa của ông cho chính sách tiền tệ nớilỏng Bị ám ảnh bởi giảm phát kéo dài hàng thập kỷ ở Nhật Bản trong nhữngnăm 1990, Greenspan và các đồng nghiệp trong Hội đồng FED đã thề sẽ làm