Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ANH TUẤN
QUYếT ĐịNH HìNH PHạT TRONG TRƯờNG HợP CHUẩN Bị PHạM TộI, PHạM TộI CHƯA ĐạT THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Anh Tuấn
Trang 4TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM
TỘI CHƯA ĐẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1 KHÁI NIỆM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG
HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 9 1.1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt 9 1.1.2 Khái niệm quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 16 1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM
TỘI CHƯA ĐẠT 20 1.2.1 Các đặc điểm của việc quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 20 1.2.2 Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 22 1.3 NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI,
PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 24 1.3.1 Những nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 25
Trang 51.3.2 Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt 29
Chương 2: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 34
2.1 QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 34
2.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 34
2.1.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 39
2.1.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đến nay 44
2.2 QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 55
2.2.1 Pháp luật hình sự Liên bang Nga 56
2.2.2 Pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 59
2.2.3 Pháp luật hình sự Thụy Điển 61
2.2.4 Pháp luật hình sự Nhật Bản 64
Chương 3: THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 67
Trang 63.1 THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK 67
3.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội của địa bàn tỉnh Đắk Lắk 67
3.1.2 Tình hình quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 68
3.1.3 Một số tồn tại, hạn chế của việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và các nguyên nhân cơ bản 71
3.2 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 79
3.2.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 79
3.2.2 Nội dung hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 81
3.3 CÁC KIẾN NGHỊ KHÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 88
3.3.1 Kiện toàn và nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử 88
3.3.2 Một số giải pháp phối hợp khác 89
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hệ thống các đơn vị hành chính của tỉnh Đắk Lắk 67 Bảng 3.2: Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự của Tòa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014) 69 Bảng 3.3: Kết quả khảo sát 200 vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014) 70
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tổng số vụ án và bị cáo bị đưa ra xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn
06 năm (2009 - 2014) 69 Biểu đồ 3.2: Kết quả khảo sát 200 vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014) 70
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tính nguy hiểm cho xã hội là lý do khiến cho tội phạm phải bị trừng
phạt Tội phạm luôn có tính nguy hiểm cho xã hội, bởi vì “tội phạm luôn
chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền,
tự do và các lợi ích hợp pháp của con người” [47, tr.63] Mặc dù tất cả tội
phạm đều có tính nguy hiểm cho xã hội nhưng mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội là khác nhau Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể hiện qua nhiều dấu hiệu như: Tính chất, tầm quan trọng và giá trị của quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại; tính chất và mức độ hậu quả thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra; mức độ thực hiện tội phạm; phương thức thực hiện tội phạm (riêng lẻ hay là đồng phạm, đồng phạm giản đơn hay đồng phạm có tổ chức); công cụ, phương tiện phạm tội, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm; hình thức lỗi, mức độ lỗi, mục đích phạm tội và động cơ phạm tội, cũng như các đặc điểm nhân thân của người phạm tội
Như vậy, mức độ thực hiện tội phạm cũng là một trong các yếu tố thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Về phương diện lý luận, mức
độ thực hiện tội phạm được phân chia bởi các giai đoạn phạm tội là: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Tương ứng với các giai đoạn này, hành vi phạm tội mang tính nguy hiểm cho xã hội ở các mức độ khác nhau Với mức độ nguy hiểm khác nhau thì logic đương nhiên là trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng phải nặng, nhẹ khác nhau mới bảo đảm công bằng và được dư luận xã hội đồng tình, người phạm tội tâm phục, khẩu phục Chính vì lẽ đó, trong pháp luật hình sự phải đặt ra quy định riêng về
Trang 10quyết định hình phạt trong các trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là những trường hợp quyết định hình phạt phức tạp bởi vì hành vi phạm tội ở các giai đoạn này thể hiện những mức độ thực hiện ý định phạm tội đa dạng và đa phần chưa gây ra hậu quả của tội phạm nên rất khó để đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm của chúng Xét một cách tổng thể, các phương diện đặt ra nghiên cứu về vấn đề này như sau:
* Về phương diện lý luận, quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Hiện nay, các nghiên cứu về vấn đề quyết định hình phạt nói chung có thể cũng đã đề cập đến quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nhưng do không phải là đối tượng nghiên cứu chính nên vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo Do đó, nhiều nội dung về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, các nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt trong những trường hợp này chưa được làm rõ về mặt khoa học; v.v
* Về phương diện lập pháp hình sự, Bộ luật hình sự năm 1999 tuy đã
có những bước tiến đáng kể so với Bộ luật hình sự năm 1985 khi quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập như: xác định chưa đầy đủ căn cứ quyết định hình phạt trong các trường hợp này, quy định phương thức lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt áp dụng một cách thiếu cụ thể dẫn đến khả năng áp dụng không chính xác, thống nhất Do đó, vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nói riêng đã được đặt
ra là một trong các nội dung của những định hướng cơ bản sửa đổi Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành [1, Điểm 3.1, Tiểu mục 3, Phần IV]
Trang 11* Về phương diện thực tiễn, các vụ án chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt không phải là phổ biến nên kỹ năng, kinh nghiệm quyết định hình phạt trong các trường hợp này của các cơ quan xét xử chưa có sự thành thục
Do đó, việc quyết định hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn thiếu chính xác, đôi khi còn nặng quá hoặc nhẹ quá, thậm chí áp dụng sai quy định làm mất đi tính công bằng và giảm đi hiệu quả của hình phạt nói chung, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng
Vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nguyên tắc và căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; thực trạng quy định pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật
về vấn đề này để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết Đây chính là lý do luận chứng cho việc học viên quyết định lựa
chọn đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình với tên gọi: “Quyết định hình
phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình
sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”
2 Tình hình nghiên cứu
Như đã nêu trên, trong khoa học luật hình sự, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn ít được quan tâm nghiên cứu Vấn đề chủ yếu được đề cập đến bởi các nghiên cứu chung về quyết định hình phạt hoặc giai đoạn thực hiện tội phạm, trong đó phải kể đến các công trình ở những cấp độ khác nhau dưới đây:
* Ở cấp độ sách tham khảo, chuyên khảo, tạp chí nước ngoài: 1)
C.L.Ten, Tội phạm, lỗi và hình phạt, Oxford at the Clarendon Press, 1987; 2) Sue Titus Reid, Tư pháp hình sự, Macmillan Publishing Company, 1990; 3)
Trang 12Michael C Braswell, Belinda R.McCathy, Berna J McCath, Công lý, tội phạm
và đạo đức, Anderson Publishing Co, 1991; 4) P.J.Fizgerald, Luật hình sự và hình phạt, Oxford at the Clarendon Press, 1992; 5) Doman J Newman, Giới thiệu về Luật hình sự, McGraw-Hill, INC, 1993; 6) Larry K Gaines and Roger
LeRoy Miller, Luật hình sự: Những vấn đề cơ bản trọng tâm, Wadsworth Publishing, USA, 2006; Michael T Cahill, Định nghĩa tội phạm sơ bộ, tội
phạm chưa đạt, Attempt, Ohio State Journal of Crime, Vol 9, p.751-759; v.v
* Ở cấp độ giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo trong nước: 1)
GS TSKH Lê Văn Cảm, Mục V - Chế định về các giai đoạn thực hiện tội
phạm, Chương 4, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong
khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2005; 2)
PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Chương XII - Các giai đoạn phạm tội, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) (GS TSKH Lê Cảm
chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tái bản năm 2003, 2007; 3)
GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương IX - Các giai đoạn phạm tội, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I (GS TS Nguyễn Ngọc Hòa
chủ biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; 4) GS TS Võ Khánh Vinh,
Chương XII - Các giai đoạn phạm tội, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên), Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2001, 2009; 5) CN Trần Văn Đượm, Chương VII - Các giai đoạn cố ý
thực hiện tội phạm, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1995; 6) PGS TS Lê Thị Sơn, Các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm và tổ chức tội phạm với việc hoàn thiện cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
2013; 7) TS Trịnh Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2013; v.v
Trang 13* Ở cấp độ luận án, luận văn thạc sĩ luật học trong nước: 1) Dương
Tuyết Miên, Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận án
tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004; 2) Nguyễn Thị Bình,
Quyết định hình phạt trong đồng phạm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; 3) Hoàng Đức Ngọc, Những vấn đề
lý luận và thực tiễn về phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010; 4) Hồ
Thanh Vinh, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm chưa hoàn
thành theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; v.v
* Ở cấp độ bài viết, đề tài khoa học trong nước: 1) GS TSKH Lê Văn
Cảm, Chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm và mô hình lý luận của nó
trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2002; 2)
PGS TS Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề về giai đoạn phạm tội chưa đạt,
Tạp chí Khoa học, chuyên san Kinh tế - Luật, số 4/2002; 3) PGS TS Lê Thị
Sơn, Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa
đạt, Tạp chí Luật học, số 4/2002; 4) PGS TS Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, Tạp chí
Luật học, số 4/2002; 5) TS Trịnh Tiến Việt, Về phạm tội chưa đạt và một số
hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí Khoa
học, chuyên san Kinh tế - Luật, số 2/2009; 6) Nguyễn Thị Mai, Chuẩn bị
phạm tội hay phạm tội chưa đạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/1993; v.v
Như vậy, nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt với tư cách một trường hợp của quyết định hình phạt nói chung hoặc là một trong các vấn đề
về trách nhiệm hình sự ở các giai đoạn phạm tội Có thể nói rằng, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống nào về các vấn đề lý
Trang 14luận cơ bản đồng thời đánh giá toàn diện các quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và thực tiễn áp dụng của các quy định đó trên một địa bàn
cụ thể là tỉnh Đắk Lắk để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quyết định hình phạt trong các trường hợp này Nói một cách khác, các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu đúng như tên gọi của đề tài: Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
- Phân tích những nguyên tắc và các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt;
- Hệ thống hóa các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trong lịch sử từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, trong đó nhấn mạnh quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề này để rút ra nhận xét, đánh giá;
Trang 15- Nghiên cứu, so sánh quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt để rút ra nhận xét, đánh giá;
- Đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014), từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;
- Luận chứng và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và các giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng của việc quyết định hình phạt trong hai trường hợp này
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng X, XI và các Nghị quyết số 08-
NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã
làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các căn cứ, những nguyên tắc của quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; phân
Trang 16tích, đánh giá nội dung quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định này ở khía cạnh lập pháp và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng từ khía cạnh thực tiễn
Bên cạnh đó, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam Điều đó càng trở nên quan trọng hơn vì đây là một trường hợp phức tạp của quyết định hình phạt đòi hỏi phải có nhận thức thống nhất phục vụ cho thực tiễn xét xử, tránh vi phạm trong việc áp dụng
Đặc biệt, nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Các vấn đề chung về quyết định hình phạt trong trường
hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt theo Bộ luật hình sự Việt Nam và Bộ luật hình sự một số nước
Chương 3: Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và những kiến nghị
Trang 17Chương 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA
ĐẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là hai trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt bởi được đặt ra đối với hành vi phạm tội chưa hoàn thành trong khi các quy định về tội phạm cụ thể và hình phạt tương ứng của Bộ luật hình sự là quy định về tội phạm hoàn thành Do đó, về phương diện lý luận, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chứa đựng nhiều yếu tố đặc thù, phức tạp hơn so với quyết định hình phạt trong trường hợp tội phạm hoàn thành Vì vậy, để có thể xây dựng, hoàn thiện và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong hai trường hợp của tội phạm chưa hoàn thành này đòi hỏi phải làm rõ các vấn đề cơ bản như: khái niệm, các đặc điểm, yêu cầu (nguyên tắc) và ý nghĩa của nó
1.1 KHÁI NIỆM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
1.1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Trong khoa học pháp lý thế giới, chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa
đạt được gọi chung với những tên như “tội phạm chớm nở” (inchoate crime) hoặc “tội phạm sơ bộ” (preliminary crime) và được hiểu là “hành vi bị coi là
tội phạm nhưng không gây ra thiệt hại thực tế, với điều kiện thiệt hại nó có thể gây ra là thiệt hại mà pháp luật muốn ngăn chặn” [58, p.56] Hiện nay,
việc phân định rạch ròi giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được đặt
ra trong lý luận về các giai đoạn phạm tội
Trang 18Ở các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ, việc thực hiện tội
phạm thông thường về lý thuyết được chia làm bốn giai đoạn như sau: 1) Ý định phạm tội (Intention), 2) Chuẩn bị phạm tội (Preparation), 3) Thực hiện tội phạm (Implementation), 4) Tội phạm hoàn thành (Accomplishment) Trong giai đoạn thực hiện tội phạm có thể diễn ra ngoại lệ là “nỗ lực bất thành” (Incomplete attempt) [59, p.751-759] mà gọi cách khác chính là “phạm tội chưa
đạt” Trong đó, chuẩn bị phạm tội là “hành vi được thực hiện bởi người phạm tội trong bất kỳ thời điểm nào kể từ khi có ý định phạm tội đến trước khi thực tế tiến hành tội phạm đó” “thường được mô tả bằng các hành vi chuẩn bị công cụ, tìm cách phạm tội” và “bị coi là phạm chính tội được chuẩn bị đó” [57, p.p.3] Nỗ
lực bất thành (hay phạm tội chưa đạt) là trường hợp “người phạm tội đã nỗ
lực thực hiện tội phạm, tiến xa hơn là chuẩn bị phạm tội nhưng chưa đạt đến việc hoàn thành nó” [56, p.5] Như vậy, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
đều là những hành vi phạm tội ở giai đoạn tội phạm chưa được hoàn thành, trong đó phạm tội chưa đạt có bước tiến xa hơn, đến gần với việc hoàn thành tội phạm hơn chuẩn bị phạm tội Cho nên, tuy ở giai đoạn chưa hoàn thành nhưng chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt vẫn bị coi là hành vi phạm vào chính những tội chưa được hoàn thành đó
Trong khi đó, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, chuẩn bị phạm tội
và phạm tội chưa đạt là những giai đoạn đầu trong ba giai đoạn của việc thực hiện tội phạm như quan điểm thể hiện trong Giáo trình của Trường Đại học
Cảnh sát nhân dân: “các bước trong quá trình thực hiện tội phạm bao gồm
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành” [39, tr.176]
Trước hết, về khái niệm chuẩn bị phạm tội, nhận thức lý luận cũng như
thực tiễn lập pháp ở nước ta đều thống nhất thừa nhận: “chuẩn bị phạm tội là
tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm” (Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1985 và Điều 17 Bộ luật
hình sự năm 1999)
Trang 19Còn trong khoa học luật hình sự, về cơ bản khái niệm chuẩn bị phạm tội cũng được hiểu tương đồng như vậy Chẳng hạn, có quan điểm nêu các biểu hiện cụ thể:
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm cố ý trong đó người phạm tội tìm kiếm công cụ, phương tiện phạm tội vạch kế hoạch thực hiện tội phạm, rủ rê người khác cùng phạm tội hoặc có những hành vi khác nhằm tạo
ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện được hành vi khách quan được quy định cấu thành tội phạm [25, tr.161]
Hay có quan điểm chỉ ra lý do của việc dừng lại, theo đó: “chuẩn bị
phạm tội là (hành vi) tạo ra điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó thì phải dừng lại vì nguyên nhân ngoài ý muốn” [15, tr.47]
Đặc biệt, có quan điểm mở rộng không chỉ nêu hành vi, mà còn cả việc tìm kiếm những người đồng phạm, cấu kết với nhau, cũng như nguyên nhân của việc dừng lại Theo đó,
Chuẩn bị phạm tội là hành vi tìm kiếm hoặc sửa soạn công
cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, cũng như tìm kiếm những người đồng phạm, cấu kết với nhau hoặc cố ý tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm, nhưng tội phạm đã không được thực hiện đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội [6, tr.443]; v.v
Như vậy, chuẩn bị phạm tội là hành vi tiền đề của tội phạm, là bước
thể hiện đầu tiên ra ngoài thế giới khách quan của ý định phạm tội Trong
giai đoạn này người phạm mới chỉ chuẩn bị các điều kiện để tội phạm được tiến hành thuận lợi chứ chưa thực hiện hành vi khách quan của tội phạm Tuy
Trang 20mới “chớm nở” nhưng chuẩn bị phạm tội lại nguy hiểm ở chỗ thể hiện mong muốn, sự cố ý cao độ đến mức “rắp tâm” thực hiện tội phạm
Trong khi đó, phạm tội chưa đạt được các từ điển pháp lý định nghĩa
như sau: “Phạm tội chưa đạt là (chủ thể) đã cố ý thực hiện tội phạm nhưng vì
nguyên nhân khách quan hành vi đã thực hiện chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm” [45, tr.600] hay “Phạm tội chưa đạt là hành vi cố ý tiến hành tội phạm nào đó nhưng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội mà không thực hiện được đến cùng” [20, tr.266];
v.v Đây cũng là quan điểm thống nhất trong khoa học pháp lý như
GS.TSKH Lê Văn Cảm nhận định: “Phạm tội chưa đạt trong khoa học luật
hình sự có thể được hiểu là hành vi cố ý trực tiếp nhằm thực hiện tội phạm nhưng tội phạm đã không được thực hiện đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội” [6, tr.444] Quan điểm đã nêu này cũng
được các nhà lập pháp hình sự thể hiện ở Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1985,
Điều 18 Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực
hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”
Do đó, phạm tội chưa đạt là giai đoạn thứ hai tiếp theo chuẩn bị phạm
tội trong quá trình thực hiện tội phạm Ở giai đoạn này người phạm tội đã thực
hiện hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm nhưng chưa gây ra được hậu quả của tội phạm do trở ngại khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội
Sự thống nhất nhận thức trên cho thấy: chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là các giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm Trong đó, chuẩn
bị phạm tội là sự thể hiện bước đầu ra bên ngoài thế giới khách quan của ý định phạm tội, khi đó người phạm tội đã có những hành vi tạo ra điều kiện để việc phạm tội được tiến hành thuận lợi nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm
đó Việc chuẩn bị càng chu đáo, cẩn thận, càng thể hiện mong muốn, quyết
Trang 21tâm thực hiện được tội phạm Phạm tội chưa đạt tiến xa hơn chuẩn bị phạm tội, ở giai đoạn này người phạm tội không chỉ dừng lại ở việc tạo ra các điều kiện thuận lợi mà đã thực sự đã tiến hành tội phạm nhưng chưa hoàn thành được tội phạm đó Hai trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt thể hiện những mức độ khác nhau trong việc thực hiện ý định phạm tội Tuy nhiên, chúng có chung một đặc điểm là các dạng tội phạm chưa hoàn thành
Được gọi chung là các giai đoạn của việc thực hiện tội phạm nhưng thực tế chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chỉ có ở các trường hợp phạm tội do cố ý Sở dĩ như vậy là bởi vì trong tội phạm vô ý, người phạm tội không nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội, không lường trước được hậu quả nguy hiểm của hành vi và cũng không mong muốn cho hậu đó xảy ra nên không thể có sự chuẩn bị hay nỗ lực tiến hành hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ trường hợp phạm tội do cố ý thì người phạm tội mới nhận thức rõ ràng về tính nguy hiểm của hành vi, mong muốn đạt được hậu quả của tội phạm nên mới có sự chuẩn bị và nỗ lực thực hiện tội phạm
Trong khoa học pháp lý, các nhà khoa học - luật gia luật hình sự Việt Nam cũng đều thừa nhận rằng chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chỉ có trong trường hợp phạm tội do cố ý GS.TSKH Lê Văn Cảm đã nhận định:
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước phát triển theo một trình tự nhất định mà tội phạm trải qua, được thể hiện bằng việc thực hiện các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm tương ứng và bằng mức độ khác nhau của việc thể hiện sự cố
ý phạm tội của chủ thể [6, tr.441]
GS TS Nguyễn Ngọc Hòa lại cho rằng: “Các giai đoạn thực hiện tội
phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành”[12, tr.66] Tương tự, cùng quan
điểm như vậy, TS Trịnh Tiến Việt định nghĩa: “Các giai đoạn phạm tội là
Trang 22những bước trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành” [46, tr.126]; v.v…
Do đó, tính chất cố ý trong mặt chủ quan của tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn thể hiện ở nguyên nhân khiến tội phạm đó không được hoàn thành Người chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt không thực hiện được tội phạm đến cùng vì những lý do khách quan ngoài ý muốn của họ chứ không phải họ không mong muốn thực hiện tội phạm nữa Trường hợp tội phạm không hoàn thành do người phạm tội tự mình dừng lại mặc dù không có gì ngăn cản lại là trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội - một ngoại lệ khác xen vào giữa các giai đoạn phạm tội Chỉ khi nào lỗi cố ý được thể hiện rõ ràng bởi mong muốn, thậm chí nỗ lực thực hiện tội phạm của người phạm tội và mong muốn, nỗ lực đó bị cản trở bởi yếu tố khách quan, không phụ thuộc ý chí của người phạm tội thì hành vi phạm tội chưa hoàn thành mới bị coi là chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt
Tóm lại, dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, theo chúng tôi,
chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là những hành vi ở các giai đoạn khác nhau của tội phạm chưa hoàn thành, trong đó hành vi của người phạm tội thể hiện sự tích cực, nỗ lực nhằm thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ
Như vậy, nghiên cứu khái niệm chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cho thấy các giai đoạn thực hiện tội phạm này có những đặc điểm chung như sau:
* Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là những hành vi phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung
Mặc dù chưa đạt được mục đích phạm tội nhưng những hành vi này đã hiện thực hóa ý định phạm tội ra ngoài thế giới khách quan ở những mức độ nhất định, điều đó đã đe dọa hoặc bắt đầu xâm hại đến lợi ích mà pháp luật
Trang 23hình sự bảo vệ Vì vậy, trong pháp luật hình sự Việt Nam, cũng như các quốc gia trên thế giới (sẽ được phân tích ở chương sau của luận văn), chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều coi là hành vi phạm vào các tội chúng chưa hoàn thành và phải chịu trách nhiệm hình sự Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt có thể được xác định theo quy định về các tội phạm tương ứng hoặc quy định riêng
* Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chỉ có trong các tội phạm do cố ý
Như đã phân tích ở trên, chỉ khi cố ý phạm tội thì người phạm tội mới
có sự chuẩn bị, cố gắng để việc thực hiện tội phạm được diễn ra thuận lợi; cũng chỉ khi cố ý phạm tội thì mới có mong muốn, mục đích phạm tội và thực
tế xảy ra trường hợp không đạt được mục đích, mong muốn đó
* Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, hậu quả của tội phạm chưa xảy ra
Như vậy, mặc dù hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thể hiện
sự hiện thực hóa ý định phạm tội ở những mức độ khác nhau nhưng chúng đều chưa hoàn thành tội phạm đó Người phạm tội có thể tích cực chuẩn bị, cố gắng tiến hành tội phạm nhưng đều không thực hiện được đến cùng, mục đích của việc phạm tội không đạt được Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra chính là đặc thù để phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với tội phạm hoàn thành
* Sự “dang dở” của chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đã do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội
Như đã đề cập ở trên, lỗi cố ý thể hiện ở chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt bởi việc người phạm tội mong muốn thực hiện tội phạm đó Bởi vì hậu quả của tội phạm chưa xảy ra nên chính mong muốn chủ quan đó của người phạm tội mới thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Nếu như người phạm tội không còn mong muốn thực hiện tội phạm nữa thì tính
Trang 24nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị triệt tiêu Do đó, chỉ trường hợp tội phạm chưa hoàn thành được vì lý do khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội
rõ ràng thực sự nguy hiểm cho xã hội và cần xử lý về hình sự ngay cả khi không gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội
* Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thấp hợp tội phạm tương ứng hoàn thành
Mặc dù chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thể hiện sự mong muốn, tích tích cực, nỗ lực nhằm thực hiện tội phạm của người phạm tội nhưng dù sao hậu quả thực sự của tội phạm vẫn chưa xảy ra Do vậy, tính nguy hiểm cho xã hội của chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chắc chắn thấp hơn tội phạm tương ứng được hoàn thành
1.1.2 Khái niệm quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Quyết định hình phạt là hoạt động áp dụng pháp luật quan trọng trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự Quyết định hình phạt chính xác, khách quan
và công minh là cơ sở để đạt được các mục đích của hình phạt: trừng trị và giáo, cải tạo người phạm tội; ngăn ngừa họ phạm tội mới; răn đe, ngăn ngừa những người khác trong xã hội Chỉ khi hình phạt được quyết định một cách chính xác thì mục đích của hình phạt mới đạt được, giúp cho người bị kết án
tự mình ý thức được sự công bằng của pháp luật và bản thân họ cũng thấy rõ lỗi lầm, sai phạm mà quyết tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội Hình phạt được quyết định quá nhẹ so với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã được thực hiện sẽ sinh ra ở người phạm tội và ở những người khác thái độ xem thường pháp luật, còn hình phạt được quyết định quá nặng sẽ gây ra ở người bị kết án cũng như những người khác tâm lý oán hận, mất niềm tin, chống đối Nhà nước và xã hội
Quyết định hình phạt là một hoạt động áp dụng pháp luật, được gọi tên
Trang 25là “lượng hình” [32, tr.75] trong thực tiễn xét xử ở nước ta trước khi có Bộ
luật hình sự năm 1985 Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời, thuật ngữ quyết định hình phạt chính thức được ghi nhận bởi khoản 4 Điều 17 và tiếp tục được sử dụng trong Bộ luật hình sự năm 1999 Định nghĩa quyết định hình phạt không được đặt ra về mặt lập pháp mà chỉ là sự thừa nhận về mặt thực
tiễn và trong các nghiên cứu lý luận Theo nhận thức thông thường, quyết
định hình phạt được hiểu là việc Tòa án lựa chọn, áp dụng đối với người bị kết án loại và mức chế tài hình sự tương ứng hành vi phạm tội của họ theo quy định của pháp luật hình sự Đó cũng là nhận thức về cốt lõi của khái niệm
quyết định hình phạt trong khoa học luật hình sự Tuy nhiên, về nội hàm, ngoại diên của khái niệm này một cách chính xác thì giữa các nhà khoa học Việt Nam vẫn còn một số điểm chưa thống nhất Cơ bản các quan điểm hiện
nay theo hai trường phái:
Trường phái thứ nhất cho rằng quyết định hình phạt bao gồm việc
quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung, quyết định biện pháp chấp hành hình phạt và quyết định các biện pháp tư pháp (với mục đích thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt) Thậm chí, có quan điểm còn cho rằng quyết định hình phạt là quyết định biện pháp xử lý đối với người phạm tội, nghĩa là bao gồm cả việc quyết định lựa chọn hình phạt, mức hình phạt, quyết định biện pháp tư pháp hoặc quyết định các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Các quan điểm theo trường phái này thể hiện trong các nghiên
cứu như: Sách tham khảo “Trách nhiệm hình sự và hình phạt” do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Hà Nội, 2001; Luận án tiến sĩ luật học “Quyết
định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Dương Tuyết Miên,
Hà Nội, 2003, sau đó là sách chuyên khảo năm 2007; Giáo trình “Kỹ năng
xét xử vụ án hình sự” của PGS.TS Nguyễn Văn Huyên chủ biên, Hà Nội,
2006; v.v [13, tr.65]
Trang 26Trường phái thứ hai nhìn nhận quyết định hình phạt theo nghĩa hẹp
hơn Theo đó, quyết định hình phạt chỉ là việc Tòa án lựa chọn khung hình phạt, loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội Quan điểm này thể hiện trong nhiều Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta Chẳng hạn, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 định nghĩa: “Quyết định hình phạt là việc Tòa
án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội” [5, tr.317] Hoặc Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001 cũng tương đồng với quan điểm này khi
nêu: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức
hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội
cụ thể” [14, tr.201] Ngoài ra, đây cũng là quan điểm về quyết định hình phạt
được sử dụng trong một số sách tham khảo, chuyên khảo khác như: Sách
chuyên khảo “Định tội danh và quyết định hình phạt theo luật hình sự Việt
Nam”, Hà Nội, 2003 của PGS.TS Lê Văn Đệ và sách chuyên khảo “Tìm hiểu
về hình phạt và quyết định hình phạt theo luật hình sự Việt Nam”, Hà Nội,
2000 của ThS Đinh Văn Quế; v.v [22, tr.89]
Theo đó, cả hai trường phái trên đều có những các luận giải cho việc sử dụng nội hàm khái niệm niệm quyết định hình phạt rộng hay hẹp của mình Chúng tôi không phân định tính đúng, sai của các trường phái quan điểm này vì thực chất, nhìn từ những bình diện khác nhau sẽ cho ra những kết quả nhận thức, đánh giá khác nhau về cùng một sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, do mong muốn đánh giá một cách toàn diện chính sách xử lý của pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt qua hoạt động quyết định hình phạt trong hai trường hợp này nên học viên lựa chọn sử dụng khái
Trang 27niệm quyết định hình phạt theo trường phái nghĩa rộng Theo đó, quyết định
hình phạt được hiểu là hoạt động ở giai đoạn xét xử, cho ra kết quả là biện pháp
xử lý đối với người phạm tội Như vậy, quyết định hình phạt sẽ bao gồm cả việc quyết định loại hình phạt, mức hình phạt hay quyết định áp dụng biện pháp tư pháp, biện pháp chấp hành hình phạt lẫn miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự Nội dung của hoạt động quyết định hình phạt theo đó sẽ bao gồm: 1) Lựa chọn áp dụng hình phạt đối với người phạm tội hay không áp dụng hình phạt mà quyết định miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc
áp dụng biện pháp tư pháp; 2) Lựa chọn loại hình phạt bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định
để áp dụng đối với người phạm tội nếu quyết định áp dụng hình phạt
Tóm lại, nghiên cứu về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, chúng tôi tiếp cận dựa trên quan điểm về quyết
định hình phạt với tư cách là hoạt động của Tòa án trên cơ sở quy định pháp
luật hình sự xác định biện pháp trách nhiệm hình sự cụ thể đối với người phạm tội tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội mà họ đã thực hiện Do đó, quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là những trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt vì hành vi phạm tội trong những trường hợp này chưa hoàn thành Mặc dù, thể hiện sự cố ý, nỗ lực thực hiện tội phạm nhưng chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (thuộc tội phạm chưa hoàn thành) có tính nguy hiểm ít hơn tội phạm hoàn thành Cho nên, biện pháp xử lý đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chắc chắn phải ít nghiêm khắc hơn tội phạm hoàn thành Trong khi đó, các biện pháp, chế tài cụ thể của pháp luật thực định được quy định sẵn để áp dụng cho tội phạm hoàn thành Vì vậy, việc quyết định biện pháp xứ lý trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt có thể gọi là sự “cân nhắc hai lần” trong áp dụng pháp luật Trước
Trang 28tiên, Tòa án phải xác định biện pháp xử lý tương ứng nếu tội phạm này được hoàn thành Sau đó cân nhắc lại một lần nữa theo hướng giảm nhẹ nhưng phải tương xứng với mức độ thực hiện ý định phạm tội của thể của hành vi phạm tội chưa hoàn thành đang được xem xét
Như vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, theo chúng tôi,
quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
là việc Tòa án dựa trên cơ sở quy định pháp luật hình sự áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự cụ thể đối với người bị kết án về hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo hướng giảm nhẹ hơn trường hợp tội phạm hoàn thành tùy vào mức độ thực hiện ý định phạm tội, cũng như những yếu tố khác thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
1.2.1 Các đặc điểm của việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Là một dạng đặc biệt của quyết định hình phạt nên quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đương nhiên chứa đựng các đặc điểm của quyết định hình phạt nói chung
Về chủ thể, đây là hoạt động được tiến hành bởi cơ quan xét xử vụ án
hình sự, đó chính là Thẩm phán và Hội thẩm được trao quyền tiến hành tố tụng
Về thời điểm, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt cũng được tiến hành trong giai đoạn xét xử và sau khi đã xác định được tội phạm, định tội danh như tất cả các trường hợp quyết định hình phạt thông thường
Về nội dung, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt cũng phải tuân thủ những nguyên tắc, căn cứ do luật định đối với hoạt động quyết định hình phạt nói chung và cũng cho ra bản án, mức
án cụ thể đối với người phạm tội trong vụ án cụ thể trên những cơ sở chung
Trang 29Như vậy, bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động quyết định hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt có các đặc điểm riêng như sau:
* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chỉ đặt ra trong vụ án có hành vi phạm tội chưa hoàn thành vì lý do khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội
Nếu tội phạm không hoàn thành vì ý muốn chủ quan của người phạm tội thì hành vi đã chuyển sang dạng tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, được miễn trách nhiệm hình sự nên không cần đặt ra vấn đề quyết định hình phạt Còn khi tội phạm đã hoàn thành thì sẽ quyết định hình phạt theo các nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt thông thường mà không cần phải đặt
ra yêu cầu quyết định hình phạt đặc biệt này nữa
* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thường khó khăn, phức tạp hơn trường hợp tội phạm hoàn thành
Các hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chưa gây
ra hậu quả của tội phạm nên rất khó để đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm của chúng Các hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt ở các
vụ án cụ thể khác nhau dừng lại ở những mức độ thực hiện ý định phạm tội rất khác nhau Có trường hợp bước đầu chuẩn bị đã bị phát giác, có trường hợp chuẩn bị kỹ càng chu đáo, có trường hợp mới bắt đầu phạm tội bị ngăn cản đã dừng lại, có trường hợp khi bị ngăn cản nhưng người phạm tội vẫn cố gắng thực hiện tội phạm dù không hoàn thành được Sự đa dạng, diễn biến phức tạp đó khiến cho việc đưa ra được bản án chính xác, công bằng khó khăn hơn nhiều so với trường hợp tội phạm hoàn thành
* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải dựa trên các căn cứ quyết định hình phạt chung và các căn quyết định hình phạt đặc thù của trường hợp này
Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm
Trang 30tội chưa đạt chắc chắn vẫn phải dựa trên căn cứ, nguyên tắc quyết định hình phạt nói chung để bảo đảm tính pháp chế, công bằng và thống nhất của pháp luật hình sự Ngoài ra, do tính đặc thù của hành vi phạm tội chưa hoàn thành nên khi quyết định hình phạt trong những trường hợp này cần dựa trên cả những căn cứ riêng mới có thể đưa ra hình phạt tương xứng Những căn cứ riêng cần xem xét đến khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chủ yếu là mức độ thực hiện ý định phạm tội, nguyên nhân ngăn cản việc thực hiện tội phạm đến cùng và thái độ, phản ứng của người phạm tội trước sự xuất hiện nguyên nhân đó (vấn đề này được đề cập cụ thể tại mục 1.3 dưới đây)
* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải được tiến hành theo hướng giảm nhẹ so với trường hợp tội phạm hoàn thành
Như đã nêu trên, dù thể hiện sự cố ý, tích cực thực hiện tội phạm nhưng
dù sao các trường hợp tội phạm chưa hoàn thành cũng ít nguy hiểm hơn so với tội phạm hoàn thành nên biện pháp trách nhiệm hình sự được áp dụng phải ít nghiêm khắc hơn Do vậy, khi tiến hành quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cần xác định được mức hình phạt sẽ áp dụng nếu tội phạm đó hoàn thành để làm căn cứ tính mức phạt giảm nhẹ cho người chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
1.2.2 Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cũng thể hiện những ý nghĩa của hoạt động quyết định hình phạt nói chung Trước tiên, quyết định hình phạt hiện thực hóa hiệu lực của các hình phạt mà luật hình sự quy định Hình phạt là loại chế tài pháp luật nghiêm khắc nhất do Nhà nước dự kiến áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp
Trang 31luật hình sự và trao cho Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng Do vậy, các hình phạt đã dự kiến đó chỉ được thực thi trên thực tế nhờ vào việc Tòa án áp dụng chúng đối với người bị kết án cụ thể bằng hoạt động quyết định hình phạt Thông qua hiện thực hóa hiệu lực của hình phạt, quyết định hình phạt giúp đạt được các mục đích của hình phạt là trừng trị, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa Chỉ hình phạt được quyết định hình phạt chính xác, công bằng, tương xứng với hành vi phạm tội mới đạt được những mục đích này Hình phạt quá nhẹ vừa không đủ để trừng trị người phạm tội một cách thích đáng, vừa làm giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi nó có thể làm phát sinh thái độ vô trách nhiệm, coi thường pháp luật dẫn đến ý định phạm tội Hình phạt quá nặng là một sự bất công, tạo ra tâm lý oán hận, thái độ chống đối xã hội ở người phạm tội và đánh mất niềm tin của quần chúng nhân dân vào tính công bằng, nhân đạo của pháp luật
Ngoài ý nghĩa hiện thực hóa hiệu lực và mục đích của hình phạt như hoạt động quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn có những ý nghĩa riêng
* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thể hiện đường lối xử lý nghiêm minh và tiến bộ của pháp luật hình sự
Việc đặt ra vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt bên cạnh quyết định hình phạt đối với các tội
phạm hoàn thành thể hiện đồng thời quan điểm “mọi hành vi nguy hiểm cho
xã hội đều bị xử lý” cho dù còn ở trạng thái chưa hoàn thành và quan điểm
“chỉ trừng trị hành vi, không trừng trị tư tưởng” Hành vi chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt tuy chưa hoàn thành nhưng đều đã thể hiện ra ngoài thế giới khách quan và chứng tỏ cho mong muốn phạm tội, gây hại cho xã hội, cần phải trừng phạt để răn đe, ngăn ngừa
Trang 32* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc
Các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt rõ ràng là có tính nguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiểm đó không cao bằng tội phạm hoàn thành nhưng cao hơn so với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Bản thân giữa hai trường hợp này thì chuẩn bị phạm tội cũng có tính nguy hiểm thấp hơn phạm tội chưa đạt Vì vậy, việc đặt ra vấn đề quyết định hình phạt riêng trong từng trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt so với trường hợp tội phạm hoàn thành thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự rõ ràng Bởi những yếu tố đặc thù nên sẽ là không công bằng, chính xác quyết định hình phạt đối với hai trường hợp này như trường hợp tội phạm hoàn thành
* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là một chế định nhân đạo của pháp luật
Như đã nêu trên, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là những hành vi ít nguy hiểm hơn tội phạm hoàn thành nên nếu áp dụng biện pháp xử lý đối với hai trường hợp này như tội phạm hoàn thành là quá nghiêm khắc và đi ngược lại mục đích của hình phạt, cũng như không bảo đảm nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự Chính bởi vậy, quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt được đặt ra chính là để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự, cũng như bảo đảm sự phân hóa trong luật một cách tương ứng trên cơ sở diễn biến khách quan của hành vi phạm tội
1.3 NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
Hoạt động quyết định hình phạt vốn đòi tính chính xác cao độ và phải được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc, căn cứ hết sức chặt chẽ Quyết
Trang 33định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là những trường hợp đặt biệt, có tính chất khó khăn, phức tạp hơn so với quyết định hình phạt thông thường nên đòi hỏi về tuân thủ các nguyên tắc, căn cứ càng chặt chẽ hơn Không những thế, do đặc thù của hành vi phạm tội chưa hoàn thành nên khi quyết định hình phạt Tòa án còn phải vận dụng những nguyên tắc, căn cứ riêng trong những trường hợp này
1.3.1 Những nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo và định hướng hoạt động của Tòa án khi tiến hành hoạt động quyết định hình phạt để đưa ra những hình phạt khách quan, công bằng, chính xác Nguyên tắc quyết định hình phạt không được chính thức đặt ra trong quy định cụ thể của luật hình sự Tuy nhiên, việc quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nói riêng được thừa nhận chung là phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản - Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng [50, tr.409]
* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa thể hiện trong quyết định hình phạt ở chỗ: các quy định của pháp luật hình sự phải được tuân thủ triệt để khi quyết định hình phạt Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng hình phạt chỉ tiến hành đối với người thực hiện hành vi phạm tội đã được quy định
cụ thể trong luật Đó cũng là nguyên tắc trách nhiệm hình sự đã được ghi
nhận ở Điều 2 Bộ luật hình sự Việt Nam “Chỉ người nào phạm một tội đã
được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Hành vi
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt tuy chưa phản ánh đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội phạm nhưng là tiền đề hoặc giai đoạn đầu của hành vi thuộc mặt
Trang 34khách quan của tội phạm Do đó, hình phạt được áp dụng đối với người chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải được xác định trên cơ sở quy định về tội phạm tương ứng
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng đòi hỏi chủ thể của hoạt động quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nói riêng chỉ có thể là Tòa án Bởi vì cơ
sở của việc áp dụng hình phạt là có hành vi phạm tội mà chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất được Hiến pháp xác định là có quyền nhân danh nhà nước tuyên bố một người nào đó phạm tội sau khi chứng minh bằng một trình tự luật định (khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013) Do đó, chỉ có Tòa án mới
có quyền tuyên bố một người chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt và áp dụng đối với người đó
Một đòi hỏi nữa của nguyên tắc pháp chế là khi tuyên phạt một hình phạt phải có căn cứ và có tính xác định Muốn vậy đòi hỏi Tòa án phải nghiên cứu kỹ và làm sáng tỏ các tính tiết có trong vụ án để làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt, những tình tiết đó chỉ là những tình tiết đã được thẩm vấn, kiểm tra trong quá trình xét xử và được Hội đồng xét xử đánh giá, nhận xét, nêu rõ lý do khi lấy làm căn cứ quyết định hình phạt Tính xác định của hình phạt thể hiện ở chỗ hình phạt được quyết định đối với bị cáo phải cụ thể
về loại hình phạt và mức hình phạt và phải được luật quy định áp dụng đối với tội phạm cụ thể tương ứng với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đang xem xét
* Nguyên tắc nhân đạo
Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ hình phạt được áp dụng phải bảo đảm hài hòa giữa ý chí của Nhà nước, lợi ích của
xã hội và lợi ích của bản thân của người phạm tội Nguyên tắc nhân đạo đề cao mục đích giáo dục, cải tạo của hình phạt được áp dụng Theo đó, việc áp
Trang 35dụng hình phạt với người phạm tội không được gây đau đớn thể xác, hạ nhục nhân phẩm mà chỉ nhằm giúp người phạm tội nhận ra và có ý thức sửa chữa sai lầm của họ Khi quyết định hình phạt phải chú trọng đến các quy định có tính nhân đạo như: các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ít nguy hiểm cho xã hội và những người phạm tội lần đầu, những người thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lấy công chuộc tội, ăn năn hối cải,
tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra; chính sách khoan hồng đặc biệt đối với người phạm tội là phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ, người chưa thành niên
Ngoài ra, nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt còn thể hiện
ở việc hạn chế sự trừng trị Các hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự thường không ở một mức cố định mà có một khung giao động trong một khoảng cho phép Tòa án lựa chọn mức phạt thích hợp đối với từng người phạm tội cụ thể Mức hình phạt áp dụng được coi là nhân đạo nếu nó là mức tối thiểu cần thiết áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đó
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thể hiện tính nhân đạo sâu sắc ở chỗ hình phạt được áp dụng phải nhẹ hơn hình phạt đối với tội phạm hoàn thành tương ứng Tuy rằng hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thể hiện ý thức chủ quan của người phạm tội là cố ý thực hiện tội phạm nhưng hậu quả của tội phạm chưa xảy làm giảm đi tính nguy hiểm của tội phạm Do vậy, người phạm tội trong trường hợp này phải được đối xử khoan hồng, giảm nhẹ
* Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt thể hiện trong quyết định hình phạt ở
chỗ hình phạt được áp dụng phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đối với các loại người phạm tội
Trang 36khác nhau cần áp dụng chính sách trừng phạt khác nhau Theo quy định của
Bộ luật hình sự:
Những người “chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt,
có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ bị nghiêm trị Ngược lại, những người “lần đầu phạm tội, phạm tội ít nghiêm trọng, tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” thì được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt (Điều 3)
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải tuân thủ nguyên tắc cá thể hóa hình phạt thông qua việc quyết định hình phạt tương ứng với mức độ thực hiện ý định phạm tội của hành vi Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội mức hình phạt được áp dụng phải nhẹ hơn hành vi phạm tội chưa đạt; đối với hành vi phạm tội chưa đạt mức hình phạt
áp dụng lại phải nhẹ hơn tội phạm hoàn thành Thậm chí, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt phải phân hóa sâu sắc giữa các mức độ khác nhau trong cùng trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt Ví dụ như đối với hành
vi chuẩn bị phạm tội chu đáo, kỹ càng thì hình phạt phải nặng hơn hành vi chuẩn bị phạm tội sơ sài ban đầu; đối với hành vi phạm tội chưa đạt đã hoàn thành hình phạt phải nặng hơn hành vi phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành; đối với trường hợp phạm tội chưa đạt mà người phạm đã nỗ lực chống lại trở ngại để thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng phải trừng phạt nặng hơn trường hợp phạm tội chưa đạt mà người phạm tội đã chấm dứt ngay khi có trở ngại khách quan ngăn cản…
Trang 37* Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự thể hiện ở việc mọi người
phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự một cách bình đẳng theo luật định, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nghề nghiệp, địa
vị xã hội và tình trạng tài sản
Trong quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt trong trường
hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, nguyên tắc công bằng thể hiện ở chỗ
loại và mức hình phạt do Tòa án tuyên phải tương xứng với tội phạm đã thực hiện, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà không
có sự phân biệt đối xử nào giữa những người phạm tội Những người phạm cùng một tội trong những điều kiện giống nhau thì phải chịu mức hình phạt tương đương như nhau, tội phạm càng nghiêm trọng thì hình phạt càng nghiêm khắc và ngược lại Do đó, để bảo đảm được tính công bằng đó, Tòa án phải thống nhất trong việc đánh giá các căn cứ của quyết định hình phạt thì hình phạt được áp dụng mới như nhau trong các trường hợp phạm tội có các tình tiết tương đương Đồng thời, Tòa án phải xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án
để tránh quyết định hình phạt không thỏa đáng đối với người phạm tội Nói một cách khác, đúng như GS.TS Võ Khánh Vinh đã viết:
Để làm căn cứ cho việc quyết định một hình phạt công bằng, Tòa án cần phải cân nhắc tổng thể tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm của tội phạm đã thực hiện (trong đó có chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt), nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự; ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa [49, tr.194]
1.3.2 Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Trong khoa học luật hình sự, “Những căn cứ quyết định hình phạt là tất
Trang 38cả những yêu cầu bắt buộc theo luật định mà Tòa án phải nghiêm chỉnh tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội” [4, tr.24] Như vậy, hiểu
một cách đơn giản, căn cứ quyết định hình phạt là những yếu tố mà Tòa án
chỉ có thể và phải dựa vào đó để đưa ra biện pháp xử lý công bằng và phù hợp đối với người phạm tội Tuân thủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong quyết định hình phạt, các căn cứ đó phải là căn cứ do luật định
Hiện nay, Bộ luật hình sự nước ta quy định bốn căn cứ quyết định hình
phạt chung bao gồm: 1) Quy định của Bộ luật hình sự; 2) Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; 3) Nhân thân người phạm tội; 4) Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 45)
* Các quy định của Bộ luật hình sự
Các quy định của Bộ luật hình sự là căn cứ cơ bản nhất của việc quyết
định hình phạt, đó cũng là đòi hỏi quan trọng của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa khi quyết định hình phạt [5, tr.307] Khi quyết định hình phạt Tòa
án phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, tức là phải dựa vào các quy định của Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự Các quy định Phần chung Bộ luật hình sự cung cấp những nguyên tắc chung cho việc quyết định hình phạt; nội dung, điều kiện và phạm vi áp dụng của các hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp; điều kiện áp dụng các biện pháp tha miễn, giảm hình phạt Các quy định Phần các tội phạm Bộ luật hình
sự cung cấp quy định về khung hình phạt, loại hình phạt tương ứng với hành
vi phạm tội cụ thể
* Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là căn cứ thứ hai để quyết định hình phạt, cho phép xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt mà Bộ luật hình sự đã quy định đối với tội phạm ấy Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được xác định bởi tổng
Trang 39thể các dấu hiệu thuộc cấu thành tội phạm mà khi cân nhắc để quyết định hình phạt cần tập trung vào những yếu tố sau: Tính chất, tầm quan trọng và giá trị của quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại; hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện; tính chất và mức độ hậu quả thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra; mức độ thực hiện tội phạm như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành hay phạm tội chưa đạt đã hoàn thành), tội phạm hoàn thành; phạm tội riêng lẻ hay là đồng phạm, đồng phạm giản đơn hay đồng phạm có tổ chức; công cụ, phương tiện phạm tội, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm; hình thức lỗi, mức độ lỗi, mục đích phạm tội và động cơ phạm tội; cũng như những đặc điểm nhân thân có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; v.v
* Nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm cá nhân phản ánh phẩm chất, điều kiện, hoàn cảnh của một con người, cũng như khả năng cải tạo, giáo dục người đó Vì thế, việc cân nhắc nhân thân người phạm tội giúp cho Tòa án không những hiểu được tính chất con người phạm tội mà còn đánh giá được khả năng giáo dục, cải tạo họ để có hình phạt phù hợp, giúp cho Tòa án đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện của việc thực hiện tội phạm Trên cơ sở
đó, Tòa án thực hiện được nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và bảo đảm nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo
* Những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
Những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự là các tình tiết làm cho những trường hợp phạm tội cụ thể của một tội phạm khác nhau
về mức độ nguy hiểm cho xã hội Những tình tiết này có ý nghĩa định lượng
để tăng hoặc giảm nhẹ hình phạt trong một khung hình phạt nhất định, chứ
Trang 40không có tính chất bắt buộc như tình tiết định tội và tình tiết định khung hình phạt Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đều thuộc về mặt khách quan của hành vi phạm tội hoặc các yếu tố chủ quan của người phạm tội, tức là đã thuộc căn cứ thứ hai và thứ ba ở trên Tuy nhiên, pháp luật thực định phải xác định các tình tiết này một cách cụ thể để tránh việc áp dụng tùy tiện
Như vậy, khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, các căn cứ quyết định hình phạt chung ở trên phải được tuân thủ Tuy nhiên, do đặc thù của các hành vi phạm tội chưa hoàn thành nên các căn cứ này khi áp dụng vào quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cần có những điều chỉnh cho thích hợp như sau:
- Về căn cứ thứ nhất - “Các quy định của Bộ luật hình sự” để quyết
định hình phạt trong các trường hợp này cần lưu ý: các quy định Phần các tội phạm Bộ luật hình sự là quy định áp dụng đối với tội phạm hoàn thành Do vậy, khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt không áp dụng trực tiếp mà phải áp dụng theo hướng giảm nhẹ những quy định này trên những cơ sở chung của Điều 52 Bộ luật hình sự
- Về căn cứ thứ hai - “Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội” cần lưu ý rằng chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt có tính
nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm hoàn thành do mức độ thực hiện ý định phạm tội thấp hơn và chưa gây ra hậu quả của tội phạm Vì thế, do tính chất đặc thù của quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, các nhà làm luật có thể quy định thêm các căn cứ quyết định hình phạt riêng khác liên quan đến đặc điểm của giai đoạn phạm tội nhưng các căn cứ quyết định hình phạt chung ở trên nhất định phải được tuân thủ
- Về căn cứ thứ ba, Tòa án còn phải căn cứ vào mức độ thực hiện ý định