Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KIỀU HỒNG NHUNG
KIểM SáT VIệC TUÂN THEO PHáP LUậT TRONG HOạT ĐộNG ĐIềU TRA CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
KIỀU HỒNG NHUNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 8
1.1.1 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự 8
1.1.2 Đặc điểm giai đoạn điều tra vụ án hình sự 10
1.2 Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát 11
1.3 Khái niệm, đặc điểm của kiểm sát hoạt động điều tra 17
1.4 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra vụ án hình sự 22
1.4.1 Khái niệm 22
1.4.2 Nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra vụ án hình sự 23
1.5 Tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân 26
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 31
Trang 52.1 Qui định của pháp luật về kiểm sát hoạt động điều tra 31
2.1.1 Kiểm sát việc khởi tố vụ án 33
2.1.2 Kiểm sát việc khởi tố bị can 39
2.1.3 Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường 44
2.1.4 Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can 48
2.1.5 Kiểm sát hoạt động khám xét 50
2.1.6 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn 51
2.1.7 Kiểm sát việc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra 61
2.2 Thực tiễn thực thi công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 63
2.2.1 Thực trạng kiểm sát trong hoạt động điều tra vụ án hình sự 64
2.2.2 Thực trạng kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường 66
2.2.3 Thực trạng kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong các biện pháp ngăn chặn 67
2.3 Những hạn chế, tồn tại trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 69
2.4 Những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hạn chế công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 73
2.4.1 Quy định của pháp luật 73
2.4.2 Tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự 74
2.4.3 Công tác cán bộ 75
2.4.4 Cơ sở vật chất 76
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 78
Trang 63.1 Cơ sở và định hướng nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 78
3.1.1 Cơ sở nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 78
3.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 84
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 85
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật 85
3.2.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 90
3.2.3 Nâng cao về cơ sở vật chất 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật Hình sự BLTTHS Tố tụng Hình sự CQĐT Cơ quan điều tra KSĐT Kiểm sát điều tra VKS Viện kiểm sát VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Bảng thống kê các vụ án được đình chỉ từ 2009 - 2014 69 Bảng 2.2: Bảng thống kê số vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung từ năm
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa (XHCN),
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước pháp quyền Việt Nam, được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, không phụ thuộc hành chính nhà nước; chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Hội đồng nhân dân cùng cấp về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định phải bảo đảm tốt hơn các điều kiện để VKSND thực hiện tốt hơn chức năng của mình và nhất quán xác định VKSND thực hiện hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định:
Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Nghị quyết Đại hội
XI của Đảng một lần nữa khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp [2]
Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND là một trong những nhiệm vụ quan trọng của VKSND nhằm bảo đảm công tác điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội
Trang 10Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển của VKSND, qua tổng kết thực tiễn về việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp cho thấy: VKSND đã có nhiều đổi mới và chuyển biến tích cực về mọi mặt, luôn bám sát và thực hiện đầy đủ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và yêu cầu cải cách tư pháp; đổi mới về tổ chức và nhận thức thực hiện chức năng, nhiệm vụ Chính vì vậy, trong thời gian qua, chất lượng, hiệu quả các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND được nâng lên rõ rệt, ngày càng được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo sự tin tưởng của Đảng, của Quốc hội và các cơ quan trong hệ thống chính trị; góp phần tích cực bảo vệ và xây dựng CNXH; góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm các quyền dân chủ của công dân; chất lượng công tác điều tra, truy
tố, xét xử được nâng lên, tỷ lệ vụ án oan sai ngày càng giảm, một số vụ án hình sự với tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội đã được khám phá, điều tra kịp thời, tuân thủ đúng quy định của pháp luật, góp phần quan trọng trong việc giữ vững, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật
Tuy nhiên, qua hơn 20 năm đổi mới, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, pháp
lý ở nước ta có những thay đổi sâu sắc, vấn đề về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của VKSND nói chung và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nói riêng đang là vấn đề mà Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý đặt ra trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay
Những quy định của pháp luật về quan hệ phối hợp và chế ước giữa VKSND
và Cơ quan điều tra (CQĐT) còn bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc do thiếu những quy định bảo đảm hiệu lực của quan hệ phối hợp và chế ước được quy định trong BLTTHS Do đó, vẫn còn nhiều quyết định gây tranh cãi; những quy định đảm bảo cho VKSND và CQĐT thực hiện chức năng, nhiệm vụ còn thiếu và không phù hợp với thực tế; hậu quả pháp lý của những yêu cầu, kiến nghị của VKSND trước những
vi phạm của CQĐT mang tính hình thức, nên hiệu quả chưa cao
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND
Trang 11thực hiện chưa đầy đủ, chưa làm hết trách nhiệm theo quy định của pháp luật dẫn đến: Nhiều vụ án hình sự trong quá trình điều tra vi phạm nghiệm trọng về trình
tự, thủ tục tiến hành thu thập chứng cứ, việc xây dựng hồ sơ chưa bảo đảm tính khách quan, hợp pháp, thậm chí còn có những vi phạm nghiêm trọng các quy định của BLTTHS; không xác định được người thực hiện hành vi phạm tội Từ đó đã gây hậu quả là nhiều vụ án không đảm bảo căn cứ để truy tố, bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vô tội hoặc bị cấp phúc thẩm cải sửa, hủy án để điều tra lại Số lượng các vụ án hình sự hàng năm không giảm, tính chất của tội phạm ngày càng phức tạp, thủ đoạn gây án càng manh động, trắng trợn, xuất hiện các nhóm tội phạm có
tổ chức làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang và giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy cần phải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn để nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của VKSND, mối quan hệ giữa VKSND với CQĐT trong hoạt động điều tra, tìm ra và thực hiện được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra Đó là lý do cơ bản làm cơ sở cho tác
giả chọn đề tài “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” làm
luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu một số công trình khoa học ở trong nước có liên quan đến đề tài, phần lớn các tài liệu tập trung nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ chung của Viện kiểm sát nhân dân; mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự; một số hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm; vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự Có thể, khái quát một số nội dung của các công trình khoa học đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn như sau:
GS,TS Lê Cảm (2011), bài viết về “Viện kiểm sát Việt Nam”, đã đề cập một
Trang 12cách sâu sắc chức năng, nhiệm vụ, thiết chế về Viện Công tố, Viện kiểm sát nhân dân các nước trên thế giới; vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta; phân tích sự cần thiết phải tiếp tục duy trì các chức năng của Viện kiểm sát nhân dân như quy định của Hiến pháp hiện hành Đồng thời, tác giả khẳng định sự cần thiết phải duy trì vị trí hiện hành của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy nhà nước Tuy nhiên, để phân biệt vị trí của Toà án nhân dân, trong Hiến pháp cần đặt một chương riêng về Viện kiểm sát nhân dân ngay sau chương về Tòa án nhân dân Nhiều nước XHCN trước đây ở Đông Âu hiện nay đã đi theo hướng đó Cũng
có quốc gia đặt chung trong một chương của Hiến pháp nhưng nói rõ tên chương là
“Các cơ quan tư pháp” Cách làm này cũng có nhiều yếu tố hợp lý, bởi vì cần
khẳng định rằng, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta, nếu với hai loại chức năng như hiện nay, chắc chắn là nằm trong quỹ đạo của các hoạt động tư pháp Việc đặt Viện kiểm sát nhân dân trong phạm vi các hoạt động tư pháp theo tinh thần các văn kiện của Đảng ta là hoàn toàn có cơ sở khoa học mà mục đích chủ đạo của
cách lựa chọn này phải là bảo đảm yêu cầu về tính độc lập của các hoạt động tư
pháp, trong đó có hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân [22]
Sách do GS,TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên (xuất bản năm 2012), “Những
vấn đề về Hiếp pháp và sửa đổi Hiến pháp”, đề cập đến sự ra đời và phát triển Viện
kiểm sát, cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát qua các bản Hiến pháp, làm rõ sự cần thiết thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong từng thời kỳ lịch sử Đồng thời, tác giả phân tích một cách sâu sắc việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát và khẳng định hoạt động điều tra
là hoạt động quan trọng bậc nhất của quá trình tố tụng Điều tra được xác định là khâu đầu tiên, đồng thời cũng là khâu có tính quyết định nhất trong toàn bộ quy trình của hoạt động tư pháp [21, tr.305] Các hoạt động truy tố, xét xử là những hoạt động tiếp theo nhằm tìm ra tính xác thực của hoạt động điều tra, do đó hoạt động điều tra gắn bó với hoạt động công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Sách chuyên khảo do tiến sĩ Lê Hữu Thể làm chủ biên (năm 2008), “Thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”,
Trang 13Nhà xuất bản Tư pháp, đã đề cập các quan điểm và lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đối tượng, phạm
vi quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra Trong đó, mối quan hệ giữa quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là hai chức năng độc lập nhau, nhưng có quan
hệ mật thiết với nhau
Đối với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt ở bậc cao học Đề tài
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là một nghiên cứu chuyên
sâu ở bậc cao học trong bối cảnh kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk thời gian qua
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận
về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng, thực thi pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND và hoạt động điều tra của Lực lượng Cảnh sát điều tra các vụ án hình sự được khách quan, chính xác, toàn diện và theo đúng quy định của pháp luật
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Tập hợp hóa, nghiên cứu, phân tích, làm rõ, bổ sung
để hoàn thiện những vấn đề lý luận về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND, để xác định cơ sở pháp lý cùng với thực trạng hiện nay của hoạt động kiểm sát này Trên cơ sở đó, tìm ra giải pháp khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao chất lượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 14- Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn về công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND từ 2009 đến tháng 5 năm 2014
Về không gian: Địa bàn khảo sát, phân tích trên phạm vi tỉnh Đắk Lắk
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đấu tranh
và phòng ngừa tội phạm ở nước ta Đồng thời, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê hình sự, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu dựa trên những tài liệu tổng kết, số liệu thống kê của VKSND tỉnh Đắk Lắk và CQĐT Công an tỉnh Đắk Lắk nhằm đánh giá thực trạng, mức độ, cơ cấu, diễn biến tội phạm, phân tích làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm; các đặc điểm xã hội - nhân khẩu nhân thân người phạm tội; dự báo tình hình tội phạm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận khoa học pháp lý về công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, những kiến nghị luận văn là nguồn tài liệu để hoàn thiện những quy định pháp luật về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn hoạt động điều tra với hoạt động công
tố theo yêu cầu cải cách tư pháp
Luận văn sẽ là tài liệu bổ ích không những cho cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học tham khảo, mà còn giúp cho các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tham khảo xây dựng Quy chế phối hợp liên ngành trong đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung Giúp cho các Kiểm sát viên những kiến thức cơ bản, thao tác nghiệp vụ kiểm sát cụ thể khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra Những đề xuất trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm hình sự trong những năm tới
Trang 157 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân
dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 16Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Khi có tội phạm xảy ra thì việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là tố tụng hình sự Theo giáo trình Luật
tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội thì: "Tố tụng
hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật" [18]
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định
BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự
và truy tố; giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án hình sự Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự đã xét xử
có kháng cáo và kháng nghị
Luận văn này không có điều kiện xem xét tất cả các giai đoạn của Tố tụng hình sự, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 17BLTTHS quy định “Giai đoạn điều tra vụ án hình sự” trong 6 chương, từ chương VIII đến chương XIII, đây cũng là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự Ở giai đoạn này được xác định bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ
án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu và kết luận điều tra sang VKS để đề nghị truy tố Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định thì vụ án bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra đối với vụ án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra vụ án
Thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể cả các lần gia hạn điều tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra nêu trên thì Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết, thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp của vụ án mà Viện trưởng VKSNDTC ấn định thời gian gia hạn
Giai đoạn điều tra có nhiệm vụ quan trọng, bởi vì trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự thì kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc xét xử của Tòa
án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra Vì vậy, nhiệm
vụ của giai đoạn điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm Nhiệm vụ trên được thực hiện bởi các chủ thể là CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Tất cả các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi chủ thể của giai đoạn điều tra đều phải tuân theo đúng các quy định của
Trang 18Luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là: Một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án Đồng thời thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan
1.1.2 Đặc điểm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự có các đặc điểm cơ bản và đặc trưng cơ bản như sau:
- Đây là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự, có thời hạn xác định bắt đầu từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án
- Nhiệm vụ của giai đoạn này là các cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết
gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm
- Chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều chỉ là CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Các tài liệu
do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu thập mới được coi là những chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự Còn các tài liệu
có liên quan đến vụ án do các hoạt động khác cung cấp như hoạt động trinh sát thì phải được CQĐT kiểm tra và thẩm định lại thì mới được coi là chứng cứ để chứng minh tội phạm
Trang 19- Biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là mọi biện pháp
do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án Cụ thể các biện pháp đó là: Hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; lấy lời khai người bị hại; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; khám xét khẩn cấp; bắt tạm giam…v.v Các biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự
1.2 Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát
Vấn đề phân biệt giữa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra với thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau cần phải được làm rõ nhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng vào hoạt động thực tiễn các quy định của BLTTHS và Luật tổ chức VKSND năm 2002
Thực tế “Quyền công tố” là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất Nhà nước và pháp luật, nó ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, do đó quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất Nhà nước Trong đời sống xã hội cũng như trong lịch sử hình thành và phát triển của mình thì quyền công
tố chủ yếu được phát sinh trong quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước (với tư cách là chủ thể quyền lực) và bên kia là người thực hiện hành vi phạm tội (với tư cách là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt) Trong quan
hệ đó Nhà nước muốn trừng trị được người phạm tội để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì trước hết Nhà nước phải buộc tội được người phạm tội Nên theo tôi quyền công tố là việc Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước (nhân danh quyền lực công) truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, với nội dung đó có thể khẳng định quyền công tố chỉ được thực hiện trong lĩnh vực hình sự, còn trong lĩnh lực tố tụng dân sự, hành chính, kinh tế thì VKS tham gia để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật Với việc xác định quyền công tố chỉ có trong tố
Trang 20tụng hình sự đã tạo cơ sở cho việc xác định rõ đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội Tuy nhiên, phạm vi quyền công tố không phải có trong mọi giai đoạn của tố tụng hình sự, điều này đã được thể hiện rõ trong Luật tổ chức VKSND năm 2002, thi hành án là một giai đoạn tố tụng hình sự nhưng ở giai đoạn này VKS chỉ tham gia với vai trò là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án trong công tác thi hành án hình sự (Điều 23 Luật tổ chức VKSND năm 2002) Do đó, giai đoạn thi hành án không có hoạt động thực hành quyền công tố Như vậy, trong tố tụng hình sự, phạm vi quyền công tố được xác định từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi vụ án được xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị
Từ đó có thể hiểu quyền công tố là: Một loại quyền lực của Nhà nước, được
Nhà nước giao cho VKS thực hiện để truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội người đã có hành vi bị coi là tội phạm, được thực hiện trong suốt quá trình khởi tố - điều tra, truy tố và xét xử tội phạm
Thuật ngữ thực hành quyền công tố đã được nhà làm luật nước ta ghi nhận và
đề cập trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời hoạt động thực hành quyền công tố cũng đã gắn liền với hoạt động của VKS hơn 40 năm qua (từ năm 1960) Thế nhưng trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay (BLTTHS 1988, cũng như BLTTHS năm 2003 vừa được Quốc hội thông qua) nhà làm luật chưa ghi nhận một định nghĩa pháp lý về khái niệm "thực hành quyền công tố"
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Các quyền năng pháp lý đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố
Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp năm 1959 cho đến Hiến pháp 1992 (sửa đổi) thì chức năng thực hành quyền công tố được giao cho cơ quan
Trang 21VKS Để thực hiện có hiệu quả chức năng đó VKS được áp dụng "các biện pháp do
Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội" (Điều 13 BLTTHS) Tuy nhiên, thực tiễn điều tra và xét xử ở nước ta cho thấy CQĐT và Tòa án các cấp cũng khởi tố vụ án hình sự, thậm chí số án do CQĐT khởi
tố chiếm khoản 95% và theo như quy định mới của BLTTHS năm 2003 thì việc khởi tố vụ án hình sự được tập trung vào một đầu mối là CQĐT Như vậy, số vụ án
mà VKS khởi tố và yêu cầu khởi tố chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số án mà CQĐT khởi tố, hơn nữa CQĐT có quyền bắt người, tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ Chính vấn đề thực tiễn nói trên là sự thể hiện nguyên tắc công
tố trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta, tức là trách nhiệm và nghĩa vụ phát hiện, chứng minh tội phạm và người phạm tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra, VKS và Tòa án
Từ những nội dung nêu trên, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã có hành vi bị coi là tội phạm trong các giai
đoạn khởi tố - điều tra, truy tố và xét xử Nội dung này được thể hiện cụ thể tại các
Điều 13 và Điều 17 Luật tổ chức VKS năm 2002
Từ nội dung khái niệm nói trên và trên cơ sở các quy định của BLTTHS có thể nêu lên nội dung của thực hành quyền công tố bao gồm:
Thứ nhất, những hoạt động phát động công tố, đó là khởi tố vụ án, khởi tố bị can Thứ hai, trong giai đoạn điều tra, VKS tiếp tục thực hành quyền công tố với
những nội dung: Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; hủy
bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc truy tố; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Từ những nội dung nêu trên chúng ta đi vào phân tích mối quan hệ giữa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát với thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
Trang 22Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKS năm 2002, trong lĩnh vực tư pháp hình sự VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKS các cấp luôn luôn quán triệt đường lối công tác kiểm sát là đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật; không để lọt tội phạm đồng thời cũng không được làm oan người vô tội Nên việc thực hiện đồng thời hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự là mang tính khách quan, do vậy giữa hai hoạt động này luôn có mối quan hệ với nhau Cụ thể:
Khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, vụ án được khởi tố, tức là quyền công
tố được phát động đã làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự, hoạt động này được VKS thực hiện để bảo đảm việc khởi tố đúng với các quy định pháp luật, thông qua hoạt động kiểm sát khởi tố xét thấy quyết định khởi tố của CQĐT không có căn cứ và hợp pháp, tức là quyết định đó trái pháp luật thì VKS yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấm dứt ngay hoạt động điều tra, đồng thời ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố trái pháp luật, như thế quyền công tố có thể bị triệt tiêu và việc ra quyết định hủy bỏ tức là VKS đã thực hành quyền công tố
Do vậy, làm tốt chức năng kiểm sát khởi tố vụ án hình sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của VKS được chính xác và đúng pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý
và hạn chế được các vi phạm trong việc thực hành quyền công tố của VKS Ngược lại nếu thực hiện kiểm sát khởi tố không tốt sẽ mất đi tính hiệu quả trong việc thực hành quyền công tố, thậm chí quyết định pháp lý của VKS là vi phạm pháp luật Ví dụ, trong trường hợp CQĐT khởi tố vụ án trái pháp luật, nếu kiểm sát khởi tố không kiểm sát chặt chẽ thì sẽ không phát hiện được vi phạm trong việc ra quyết định khởi
tố của CQĐT thì VKS sẽ không đưa ra được các yêu cầu và biện pháp khắc phục ngay từ đầu, chính điều đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ án phải đình chỉ điều tra
Trang 23Khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các quyết định tố tụng khác của CQĐT, tức là VKS trực tiếp sử dụng quyền công tố Nhưng hoạt động thực hành quyền công tố của VKS cũng phải tuân theo quy định của pháp luật, muốn vậy trước khi quyết định các vấn đề trên, VKS phải tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn hoặc trong việc khởi tố bị can của CQĐT, tức là VKS tiến hành thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp
Để thực hiện tốt quyền công tố, có nghĩa là đảm bảo việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT được chính xác, đúng pháp luật thì đòi hỏi phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ và tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự mà CQĐT quyết định áp dụng,
mà hoạt động kiểm tra này chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Trên cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát thấy rằng quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ quyết định phê chuẩn để thi hành, ngược lại nếu xét thấy quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự của CQĐT là không có căn cứ và hợp pháp VKS
sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng Ví
dụ, theo quy định mới của BLTTHS năm 2003, quyết định khởi tố bị can của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải được VKS cùng cấp phê chuẩn Do vậy, để phê chuẩn hay hủy bỏ quyết định khởi
tố bị can của CQĐT thì VKS phải tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố bị can nhằm bảo đảm quyết định khởi tố bị can là có căn cứ và hợp pháp, nếu qua hoạt động kiểm sát xét thấy quyết định khởi tố bị can có căn cứ
và hợp pháp thì VKS quyết định phê chuẩn để CQĐT tiến hành hoạt động điều tra, ngược lại quyết định khởi tố bị can không có căn cứ thì VKS quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT
Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra sẽ làm tiền đề
Trang 24cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động đều tra sẽ kéo theo sự
vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra khi chức năng thực hành quyền công tố của VKS được thực hiện cũng
sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát Ví dụ khi VKS phê chuẩn lệnh bắt khấn cấp của CQĐT thì làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ người bị bắt của CQĐT nhằm bảo đảm việc tạm giữ người phải có lệnh hoặc có quyết định phê chuẩn của VKS, đồng thời bảo đảm thời hạn tạm giữ đúng theo quy định của pháp luật
Khi truy tố bị can ra Tòa án để xét xử, tức là VKS thực hành quyền công tố, hoạt động đó thể hiện qua việc ban hành quyết định truy tố Nhưng quyết định truy
tố của VKS cũng phải bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp pháp và điều đó có nghĩa
là bản thân VKS trong giai đoạn truy tố cũng phải đặt trong sự tuân thủ pháp luật Muốn bảo đảm quyết định truy tố có căn cứ thì phải dựa trên cơ sở của kết quả hoạt động kiểm sát điều tra vụ án của VKS, nếu thực hiện tốt hoạt động kiểm sát điều tra thì VKS sẽ nắm được nội dung của vụ án, những tình tiết buộc tội, tình tiết gỡ tội của bị can và các tình tiết liên quan khác của vụ án và đó chính là căn cứ vững chắc cho việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, ngược lại nếu VKS thực hiện không tốt hoạt động kiểm sát điều tra thì có thể dẫn đến việc truy tố oan, sai Cho nên, hoạt động kiểm sát điều tra là cơ sở rất vững chắc cho hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố và xét xử Bên cạnh đó, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố lại là tiền đề làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS tại phiên tòa xét xử
Như vậy, giữa kiểm sát hoạt động điều tra và thực hành quyền công tố trong lĩnh vực tư pháp hình sự luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với nhau, nhiệm vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ của hoạt động kia và ngược lại; kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kia và ngược lại Mối quan hệ biện chứng giữa hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra chỉ song song tồn tại trong phạm vi
Trang 25bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi tố điều tra cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị
1.3 Khái niệm, đặc điểm của kiểm sát hoạt động điều tra
* Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã được sửa đổi bổ sung quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra các vụ án hình sự; đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Với chức năng trên, Nhà nước ta đảm bảo cho VKSND tăng cường chức năng giám sát trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, tránh oan sai, không để lọt tội phạm
* Theo Hiến pháp năm 2013, chế định Viện kiểm sát nhân dân cũng có một
số điểm mới cơ bản như sau:
Một là, hệ thống VKSND được sửa đổi phù hợp với chủ trương cải cách tư
pháp: "Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện
kiểm sát khác do Luật định” (khoản 2 Điều 107)
Hai là, theo quy định của Điều 107 Hiến pháp năm 2013, nhiệm vụ của
VKSND được quy định một cách đầy đủ hơn, phạm vi rộng hơn Cụ thể là:
"Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [12, Khoản 3, Điều 107]
Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân của VKSND được đặt ra
là hết sức cần thiết Bởi lẽ, để xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp Hiến pháp đã có những điều chỉnh quan trọng nhằm bảo đảm một cách tối đa quyền con người, quyền công dân
Ba là, nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát cũng được sửa đổi, bổ sung
để bảo đảm tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của VKSND Trên cơ sở tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát là thực hành
Trang 26quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, đồng thời bổ sung
nguyên tắc "khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát
viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” [12, khoản 2, Điều 109]
* Ngày 24/11/2014, Quốc hội nước Công hòa XHCN Việt Nam thông qua Luật Tổ chức VKSND với những sửa đổi, bổ sung có những điểm mới về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như sau:
Một là, làm rõ hơn vị trí, vai trò của VKSND trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước Với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND được xác định là thiết chế kiểm sát hoạt động
tư pháp, có trách nhiệm phối hợp, đồng thời, kiểm sát chặt chẽ, thường xuyên đối với Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án và các cơ quan khác trong việc thực hiện hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho hoạt động tư pháp được thực hiện đúng pháp luật, mọi vi phạm pháp luật được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh
Hai là, làm rõ nội dung nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát nhân dân Theo đó, VKSND do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao; xác định rõ vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND các cấp khác Điều chỉnh quy định về vai trò của Ủy ban kiểm sát bảo đảm phù hợp với thẩm quyền và trách nhiệm tố tụng của Viện trưởng VKSND trong hoạt động tư pháp Đồng thời, làm rõ mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Viện trưởng trong việc thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; bổ sung quy định về nhiệm vụ của từng ngạch Kiểm sát viên, bảo đảm phân định rõ thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tư pháp
Ba là, xác định rõ các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của VKSND trong phát hiện, xử lý vi phạm trong hoạt động tư pháp; trách nhiệm quyết định việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân; tăng cường vai trò của
Trang 27VKSND trong các lĩnh vực phi hình sự, nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần; quy định rõ VKSND có trách nhiệm giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức,
cá nhân đối với hoạt động của VKSND
Bốn là, quy định về tổ chức bộ máy VKSND có nhiều thay đổi Cụ thể là: đã sửa đổi theo hướng quy định về tổ chức Viện kiểm sát theo bốn cấp tương ứng với bốn cấp của Tòa án, bao gồm: VKSND cấp huyện; VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; VKSND cấp cao; VKSND tối cao Đồng thời, bổ sung các quy định về thẩm quyền, tổ chức bộ máy của VKSND cấp cao bảo đảm phù hợp với Tòa
án nhân dân cấp cao; kiện toàn tổ chức bộ máy ở VKSND cấp huyện cho phù hợp với yêu cầu tiếp tục tăng thẩm quyền cho cơ quan tư pháp cấp này; tổ chức Ủy ban kiểm sát ở các cấp một cách hợp lý, bảo đảm thực hiện tốt vai trò quyết định và tư vấn; bổ sung quy định về việc thành lập và chấm dứt hoạt động của VKSND các cấp do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng VKSND tối cao
Năm là, quy định rõ cơ cấu các chức danh tư pháp và chức danh khác của VKSND nói chung và ở từng cấp Viện kiểm sát; quy định Kiểm sát viên được bổ nhiệm để thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện một
số nhiệm vụ đặc thù theo sự phân công của Viện trưởng để tạo tính chủ động, linh hoạt trong bố trí, sử dụng cán bộ; rèn luyện đội ngũ Kiểm sát viên, nâng cao chất lượng các khâu công tác; tăng thời hạn bổ nhiệm Kiểm sát viên, đổi mới tiêu chuẩn bổ nhiệm, áp dụng hình thức thi tuyển vào các ngạch Kiểm sát viên (trừ Kiểm sát viên VKSND tối cao), tổ chức xét tuyển để chọn người đủ điều kiện, tiêu chuẩn trước khi thi tuyển nhằm thực hiện các chủ trương đổi mới cơ chế nhiệm kỳ
và chế độ tuyển chọn Kiểm sát viên, đồng thời, khắc phục những bất cập trong việc tuyển chọn hiện nay, bảo đảm lựa chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên có đủ phẩm chất và năng lực công tác
Trang 28* BLTTHS năm 2003 đã cụ thể hóa quyền hạn và nhiệm vụ của VKSND như sau:
- Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ
án hình sự của cơ quan điều tra Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của cả quá trình KSĐT của VKSND Với nhiệm vụ này, VKS phải:
+ Kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can; xem việc khởi tố đó của cơ quan điều tra có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật hay không
+ Kiểm sát các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra như: Khám nghiệm, hỏi cung bị can, lấy lời khai nhân chứng, lấy lời khai người biết việc, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp điều tra, trình tự, thủ tục tiến hành các bước điều tra Xem các hoạt động trên có đúng theo các quy định của pháp luật hay không; có đạt hiệu quả hay không Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra xem có đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hay không, nhất
là có đúng với hướng dẫn liên ngành của Bộ Công an và VKSNDTC hay không Để
từ đó thực hiện tốt quyền công tố như quy định tại Điều 112 BLTTHS năm 2003
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng
Những người tiến hành tố tụng là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân
Những người tham gia tố tụng là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người giám định, người phiên dịch
- VKS là cơ quan duy nhất có trách nhiệm giải quyết việc tranh chấp thẩm quyền về điều tra vụ án hình sự Do pháp luật TTHS quy định, hiện có ba hệ thống
cơ quan điều tra theo ba ngành: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân; cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; cơ quan điều tra của VKSNDTC Ngoài ra, pháp luật tố tụng hiện hành còn chia các cơ quan điều tra theo các cấp khác nhau từ Trung ương đến địa phương (ba cấp) Do đó việc xảy ra tranh chấp về thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự là điều khó tránh khỏi
Trang 29- Yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra như: Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ sai mục đích; để quá hạn thời hạn điều tra, bức cung, nhục hình; vi phạm chế độ giam, giữ Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh điều tra viên, cán bộ điều tra đã vi phạm pháp luật khi tiến hành điều tra, tùy theo tính chất mức độ của vi phạm mà VKS có thể kiến nghị thủ trưởng cơ quan điều tra có những hình thức kỷ luật phù hợp; nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu tội phạm thì lập hồ sơ xử lý về mặt hình sự
- Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Thông qua KSĐT, VKS phát hiện những sơ
hở, thiếu sót; những sơ hở đó có thể là nguyên nhân của tội phạm để các cơ quan, tổ chức có những biện pháp chủ động ngăn ngừa vi phạm và tội phạm Đây là nhiệm
vụ thường xuyên và có hiệu quả của ngành kiểm sát nhân dân
VKSND thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn khi KSĐT các vụ án hình
sự thì đó cũng chính là việc áp dụng pháp luật của VKSND trong quá trình KSĐT các vụ án hình sự
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND có vai trò rất quan trọng, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN; bảo vệ chế độ XHCN và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm mọi hành vi vi phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải được xử lý theo pháp luật Đồng thời việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật sẽ kích thích tư duy pháp lý mới; tạo thói quen tuân thủ pháp luật Thực tế thấy rằng, các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kiểm sát điều tra nói riêng đều được kiểm nghiệm qua công tác kiểm sát điều tra, kiểm nghiệm về tính phù hợp hay không phù hợp, tính có căn cứ hay tính không có căn cứ Là cần phải có những quy định mới hay cần sửa đổi bổ sung những quy định cụ thể nào khác Mà chỉ có qua công tác kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự mới có thể phát hiện ra được Qua công tác kiểm sát điều tra, phát hiện ra
Trang 30những dạng vi phạm pháp luật mới, những dạng quan hệ xã hội mới cần phải có những quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời, những quy phạm đã lạc hậu, chồng chéo cần thay thế sửa đổi
Những hành vi vi phạm và tội phạm đều phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh và kịp thời; đảm bảo pháp chế XHCN Định hướng các chủ thể của các quan
hệ pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự thực hiện những hành vi phù hợp với các quy định của pháp luật Thực hiện đúng, đầy đủ chức trách của mình được giao khi tiến hành tố tụng; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm mới trong quá trình điều tra các vụ án hình
sự của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng
1.4 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động
điều tra vụ án hình sự
1.4.1 Khái niệm
CQĐT và VKS theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự là các cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm thay mặt Nhà nước chứng minh tội phạm và người phạm tội khi phát hiện có tội phạm xảy ra trong thực tế đời sống xã hội
Quá trình chứng minh giải quyết vụ án hình sự là một quá trình tố tụng bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau từ khởi tố - điều tra đến truy tố, xét xử và thi hành
án Mỗi giai đoạn tố tụng là các bước giải quyết tương ứng và gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự CQĐT
và VKS mặc dù là hai cơ quan độc lập trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của mình Nhưng với yêu cầu đặt ra là một mặt phải cương quyết xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, một mặt là phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật trong việc thực hiện các hoạt động tố tụng thì trong quá trình điều tra các vụ án hình sự làm phát sinh mối quan hệ tố tụng hình sự giữa CQĐT và VKS
Từ đó có thể hiểu: Mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong điều tra vụ án hình sự là mối quan hệ tố tụng hình sự được phát sinh trong quá trình phát hiện tội
phạm, điều tra vụ án hình sự Cơ sở pháp lý của mối quan hệ giữa CQĐT và VKS
trong quá trình điều tra vụ án hình sự là các quy định của BLTTHS và các văn bản
về pháp luật tố tụng hình sự có liên quan
Trang 311.4.2 Nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
Trên cơ sở các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan thì mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong điều tra vụ án hình sự được thể hiện dưới hai hình thức: Phối hợp và chế ước BLTTHS đã quy định: "Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân nào hoặc tổ chức nào" (Điều 23, BLTTHS) Như vậy, thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự qua đó nếu phát hiện được những vi phạm của CQĐT thì VKS có quyền áp dụng mọi biện pháp mà BLTTHS quy định để loại trừ vi phạm, chính quy định đó của pháp luật
đã thể hiện tính chế ước của VKS đối với CQĐT trong hoạt động tố tụng
Trong suốt quá trình tố tụng tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng
cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội thì VKS đều tham gia với tư cách là
cơ quan giám sát thông qua hai hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp (nghiên cứu hồ sơ) Việc thực hiện các quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự như yêu cầu điều tra, phê chuẩn các quyết định tố tụng hay hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT được gọi là thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKS với mục đích nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, đồng thời ngăn ngừa mọi hoạt động xâm phạm đến quyền nhân thân của công dân
Thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đặt ra yêu cầu đối với CQĐT là không những phải xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, mà còn đòi hỏi phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra của mình Tuy nhiên, để có sự đảm bảo yêu cầu nói trên thì việc chế ước của VKS đối với hoạt động tố tụng của CQĐT hoàn toàn là tất yếu Song VKS thực hiện quyền chế ước cũng trong phạm vi luật định chứ không phải VKS tự đặt ra và yêu cầu CQĐT thực hiện Sự chế ước được biểu hiện ở các mức độ khác nhau tùy
Trang 32thuộc vào tính chất của từng chế định, trong BLTTHS quyền chế ước của VKS được quy định rất rộng và chặt chẽ từ việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can (theo BLTTHS năm 2003) cho đến việc phê chuẩn, hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều này thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước ta là tôn trọng và bảo vệ quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận Nếu VKS thực hiện tốt các quyền năng chế ước thì sẽ góp phần vào kết quả giải quyết các vụ án hình sự đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng công tác điều tra, tránh các sai sót và vi phạm các quy định của BLTTHS của CQĐT, đồng thời qua đó thể hiện rõ chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong tố tụng hình sự
Qua nghiên cứu các chế định của pháp luật tố tụng hình sự thấy rằng, quyền chế ước của VKS được thực hiện dưới các hình thức cơ bản sau:
- VKS có quyền giám sát các hoạt động điều tra của CQĐT một cách trực tiếp, như kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, kiểm sát hoạt động khám nghiệm tử thi, kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can… hoặc giám sát một cách gián tiếp thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu phản ánh hoạt động điều tra Qua hoạt động giám sát, VKS có quan điểm là nhất trí, không nhất trí, phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT Hoạt động giám sát là cơ sở để VKS thực hiện quyền chế ước, chỉ khi thông qua hoạt động giám sát thì VKS mới nắm rõ các hoạt động tố tụng của CQĐT đúng hay sai hoặc còn thiếu sót ở điểm nào, từ đó đưa
ra các yêu cầu, biện pháp cụ thể để CQĐT thực hiện trong quá trình điều tra vụ án Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động giám sát của VKS bị hạn chế khi cơ chế giám sát không đảm bảo, khi kiểm sát viên - người trực tiếp tiến hành hoạt động giám sát nhận thức không đầy đủ và thực hiện không nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về quyền năng giám sát của mình hoặc khi CQĐT không phối hợp chặt chẽ với VKS
- VKS có quyền đề ra yêu cầu CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra khi phát hiện thấy việc điều tra của CQĐT chưa đầy đủ, còn thiếu sót về chứng cứ để làm cơ sở chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc phát hiện có vi phạm pháp luật tố tụng hình sự có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Ví dụ như VKS có quyền yêu cầu CQĐT khởi tố bổ sung, nếu CQĐT không khởi tố thì
Trang 33VKS khởi tố và yêu cầu điều tra hoặc khi kết thúc điều tra phát hiện việc bỏ lọt tội phạm thì VKS quyết định trả hồ sơ và yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung, yêu cầu cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc vi phạm pháp luật của Điều tra viên
Đề ra yêu cầu điều tra để làm rõ đối tượng gây án, thậm chí ngay trong quá trình điều tra vụ án hình sự để củng cố chứng cứ về hành vi phạm tội của các bị can
- VKS có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT Đây là một trong những quyền năng thể hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKS, là phương tiện bảo đảm cho việc điều tra phải tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, tránh tùy tiện trong hoạt động tố tụng hình sự của CQĐT Trên thực tế, VKS chỉ thực hiện điều này khi đã có yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện hoặc không thể tự hủy bỏ để khắc phục được Ví dụ như VKS quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT nếu thấy quyết định đó không có căn cứ pháp luật Do vậy, nếu VKS thực hiện tốt, triệt để quyền năng này thì ngoài việc góp phần nâng cao chất lượng công tác điều tra, mà còn hạn chế rất nhiều trường hợp vụ án phải đình chỉ điều tra vì không có sự kiện phạm tội hoặc bị can không phạm tội v.v Để thực hiện quyền năng này được chính xác thì VKS phải thực hiện chức năng kiểm sát điều tra ngay từ giai đoạn khởi tố, từ đó thường xuyên chấn chỉnh hoạt động điều tra của CQĐT để làm sao không xảy ra vi phạm về tố tụng hình sự trong quá trình điều tra vụ
án, nếu có vi phạm xảy ra thì kịp thời yêu cầu khắc phục ngay, đặc biệt là ngăn chặn
vi phạm quyền công dân
Quyền chế ước nói trên của VKS cũng phải thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật và cũng có giới hạn nhất định, chẳng hạn trong trường hợp không đồng ý với quyết định của VKS cùng cấp thì CQĐT vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền đề nghị Viện trưởng - VKS cấp trên trực tiếp xem xét và quyết định, thời hạn cho cơ quan VKS cấp trên xem xét giải quyết là 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của CQĐT (khoản 4, Điều 141 BLTTHS)
Từ những phân tích về bản chất, hình thức trong mối quan hệ giữa CQĐT và VKS góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và vận dụng thống nhất trong thực tiễn Đồng thời qua đó tìm ra những cơ sở khoa học để đổi mới, hoàn thiện các quy chế
Trang 34về mối quan hệ trong giải quyết các vụ án hình sự giữa hai cơ quan này, qua đó thực hiện mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng của CQĐT và VKS trong điều tra các vụ án hình sự
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay có nhiều trường hợp do nhận thức không đúng đắn các quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa CQĐT và VKS nên đã có hiện tượng do chỉ tập trung vào việc điều tra tội phạm mà không chú ý đến việc chấp hành các quy định của pháp luật về việc điều tra xử lý tội phạm, thậm chí có trường hợp VKS chỉ sử dụng đơn thuần quan hệ phối hợp mà không sử dụng quyền chế ước đã dẫn đến hiện tượng "hữu khuynh", làm thay CQĐT, né tránh, không cương quyết bảo vệ quan điểm đúng đắn cũng như các quy định pháp luật bị vi phạm Ngược lại, sử dụng cứng nhắc quyền chế ước của VKS đối với CQĐT có thể tạo nên mối quan hệ căng thẳng trong công tác Những trường hợp nói trên tuy không phải là hiện tượng phổ biến, nhưng cũng đã ảnh hưởng đến chất lượng điều tra, kiểm sát điều tra và kết quả công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay
1.5 Tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước ta: Quốc hội, Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Trong
đó, Viện kiểm sát nhân dân là một thiết chế quyền lực trực thuộc Quốc hội, độc lập với Chính phủ, Tòa án nhân dân và chính quyền các cấp, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống thống nhất, bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tồn tại và hoạt động tương đối độc lập và có vị trí
Trang 35đặc biệt trong bộ máy nhà nước đó Tính độc lập của hệ thống VKSND xuất phát từ
ba cơ sở: thứ nhất, VKSND là hệ thống cơ quan do Quốc hội thiết lập và giao quyền; thứ hai, VKSND được tổ chức hoạt động theo các nguyên tắc đặc thù; thứ
ba, hoạt động của VKSND luôn luôn xuất phát từ luật và bảo đảm địa vị tối cao của pháp luật Vị trí đặc biệt của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta được thể hiện qua các mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân và chính quyền địa phương: Đối với Quốc hội, Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan do Quốc hội trực tiếp thành lập và giao quyền, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội , chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội ; Viện kiểm sát nhân dân độc lập , không nằm trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, Tòa án nhân dân, chính quyền địa phương
và cũng không chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của các cơ quan này, nhưng Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ, Tòa án nhân dân và chính quyền địa phương trong đấu tranh phòng chống tội phạm và thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm của Chính phủ, cùng góp phần thực hiện thắng lợi chức năng của Nhà nước nói chung
Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận VKSND là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật quy định tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1960, VKSND có nhiệm vụ:
Điều tra những việc phạm pháp về hình sự, truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của Cơ quan công an và của CQĐT khác; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ của các trại giam
Như vậy, từ khi mới thành lập VKSND đã có trách nhiệm quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trang 36Đất nước ngày càng phát triển và đổi mới, Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND có những bước tiến và có những thay đổi căn bản về nội dung Nhưng chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKS vẫn được ghi nhận Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã quy định:
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau đây:
1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
Từ khi có BLHS và BLTTHS thì công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự được quy định một cách rõ ràng, cụ thể hơn để phù hợp với các giai đoạn của tố tụng hình sự Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT chịu sự kiểm sát của khâu công tác kiểm sát điều tra
và khâu kiểm sát giam, giữ Các khâu công tác này có quyền sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đã được pháp luật quy định để tác động đến hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự
Từ những nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho mỗi cấp kiểm sát khác nhau, cũng như nhiệm vụ cụ thể đặt ra trong mỗi thời kỳ khác nhau, từ số lượng biên chế cán bộ và trình độ của các cán bộ, kiểm sát viên ở mỗi cấp kiểm sát cụ thể khác nhau, nên việc
Trang 37tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự ở mỗi cấp kiểm sát không hoàn toàn giống nhau Theo quy định của Luật
tổ chức VKSND năm 2002, hệ thống cơ quan VKS được tổ chức thành 3 cấp: Cấp trung ương là VKSND Tối cao; Cấp tỉnh gồm VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) và cuối cùng là VKSND cấp huyện gồm VKSND các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)
Theo mô hình tổ chức đầy đủ với ý nghĩa mỗi khâu công tác là một đơn vị nghiệp vụ để thực hiện chức năng của ngành, thì ở VKSND Tối cao có các vụ nghiệp vụ; ở VKSND cấp tỉnh có các phòng nghiệp vụ và ở cấp huyện có bộ phận nghiệp vụ
Nghị quyết số 951/NQ-UBTVQH13 ngày 28/5/2015 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã Phê chuẩn Quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
về Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cụ thể gồm các đơn vị sau:
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án trật tự xã hội; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma tuý; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự; Vụ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự; Vụ Kiểm sát việc giải quyết các
vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình; Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Vụ kiểm sát thi hành án dân sự; Vụ kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; Vụ Hợp tác quốc tế và Tương trợ tư pháp về hình sự; Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin; Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học; Vụ tổ chức cán bộ; Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Vụ Thi đua – Khen thưởng; Cục Kế hoạch – Tài chính; Trường Đại học kiểm sát Hà Nội;
Trang 38Trường Đào tạo, Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh; Tạp chí Kiểm sát; Báo Bảo vệ pháp luật; Viện kiểm sát quân sự trung ương
Việc tổ chức các đơn vị nghiệp vụ theo mô hình nói trên dựa trên cơ sở tổ chức thực hiện việc thông giữa các khâu công tác kiểm sát điều tra với kiểm sát xét
xử (sơ thẩm) Cách tổ chức thực hiện này chính là mô hình tổ chức bộ máy của một đơn vị nghiệp vụ, được giao đảm nhiệm nhiều công tác kiểm sát khác nhau hoặc được giao thêm những nhiệm vụ vốn là của công tác kiểm sát khác, Kiểm sát viên của Phòng kiểm sát điều tra vừa kiểm sát việc điều tra, vừa kiểm sát việc xét xử sơ thẩm hình sự, đồng thời thực hiện chức năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa
sơ thẩm đối với vụ án đó
Từ những phân tích nêu trên đã làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Luận văn này tôi không đi vào phân tích trình tự, thủ tục trong giai đoạn điều tra mà tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự quy định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự
*
Trên đây là những nội dung phân tích: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Vậy, thực trạng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân và thực tiễn thực thi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk như thế nào, sẽ được tác giả trình bày ở chương tiếp theo
Trang 39Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
2.1 Qui định của pháp luật về kiểm sát hoạt động điều tra
Trong các bước của quá trình tố tụng thì giai đoạn điều tra vụ án hình sự là rất quan trọng, trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành áp dụng các biện pháp
tố tụng hình sự do BLTTHS quy định để chứng minh hành vi phạm tội đã xảy ra do
ai thực hiện, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội đó Đồng thời làm rõ động cơ mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội Trên cơ sở đó đảm bảo các chứng cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định:
CQĐT có quyền áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định
sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can [10, Điều 11]
Vì vậy, khi được áp dụng đều liên quan trực tiếp tới các quyền cơ bản của công dân, đòi hỏi việc áp dụng phải tuân thủ đúng về trình tự cũng như thủ tục do BLTTHS đã quy định Do đó, việc giám sát chặt chẽ đảm bảo quá trình điều tra vụ
án hình sự được thực hiện theo đúng quy định của BLTTHS là trách nhiệm của VKS Hoạt động giám sát quá trình điều tra vụ án hình sự là sự thể hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra, một trong những chức năng cơ bản của VKS nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra của CQĐT được khách quan, toàn diện, việc áp dụng các biện pháp điều tra theo luật định phải có căn cứ và hợp pháp
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ, kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong
Trang 40quá trình điều tra và đề ra biện pháp khắc phục Áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật này quy định để mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội; bảo đảm không để một người nào bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; bảo đảm hoạt động điều tra phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này Trong việc điều tra phải thu thập cả chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, làm rõ những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can và tìm
ra những nguyên nhân, điều kiện phạm tội; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với bị can là có căn cứ và hợp pháp (Điều 141 BLTTHS)
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 113 BLTTHS, Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002; Điều 15 Luật tổ chức VKSND năm 2014, cụ thể: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Kiểm sát hoạt động
tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan
để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra Yêu cầu Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra; xử lý nghiêm minh Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự (Điều 15 Luật tổ chức VKSND năm 2014)
Như vậy, toàn bộ hoạt động điều tra của CQĐT đều nằm dưới sự kiểm sát chặt chẽ của VKS Để thấy được cụ thể việc thực hiện chức năng kiểm sát điều tra