ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ HẢI YẾN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC VIỆN TRONG LĨNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC VIỆN TRONG LĨNH VỰC CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.70
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quang Tuấn
Hà Nội, 2015
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Câu hỏi nghiên cứu 6
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Kết cấu của Luận văn 8
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 10
1.1.1 Khoa học, nghiên cứu khoa học 10
1.1.2 Công nghệ 12
1.1.3 Chuyên giao công nghệ 14
1.1.4 Cơ sở lý luận về chính sách 15
1.1.4.1 Chính sách 15
1.1.4.2 Sự tác động của chính sách 18
1.1.4.3 Chuỗi tác động của chính sách 19
1.1.4.4 Chính sách KH&CN 19
1.1.5 Kết quả nghiên cứu 20
1.2 THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
Chương 2 THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LĨNH VỰC CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 26
Trang 32.1 THỰC TRẠNG ĐÓNG GÓP CỦA CÔNG NGHỆ CƠ ĐIỆN TRONG
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 2006-2012 26
2.1.1.Nguồn động lực dùng trong nông nghiệp 26
2.1.2 Ứng dụng cơ điện nông nghiệp trong gieo trồng: 28
2.1.3 Ứng dụng công nghệ cơ điện trong tưới tiêu thủy lợi: 30
2.1.4 Ứng dụng cơ điện nông nghiệp cho các khâu thu hoạch: 31
2.1.5 Vận tải nông thôn: 32
2.1.6 Ứng dụng công nghệ cơ điện trong sơ chế, chế biến nông sản 33
2.2 THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI HÓA CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU LĨNH VỰC CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP 42
2.2.1 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp giai đoạn 2006-2012 42
2.2.2.Thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện nghiên cứu trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp 52
2.2.3 Một số yếu tố cơ bản yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp 63
2.2.4 Thực trạng chính sách hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp 66
2.3 KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LĨNH VỰC CƠ ĐIỆN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 73
2.3.1.Hàn Quốc 73
2.3.2.Trung quốc 78
2.4 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 80
Trang 4Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LĨNH VỰC CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP 83
3.1 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC 83 3.1.1 Đổi mới cơ chế quản lý và hỗ trợ phát triển các loại hình tổ chức
KH&CN, ưu tiên hàng đầu cho việc phát triển doanh nghiệp KH&CN 83 3.1.2 Tạo môi trường thuận lợi và hành lang pháp lý để đưa nhanh các kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ vào sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân 87 3.1.3 Phát triển thị trường công nghệ cạnh tranh 92 3.1.4 Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước về quản lý KH&CN 95 3.1.5 Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN 98 3.2 NHÓM GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC VIỆN TRONG LĨNH VỰC CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP 100 3.2.1 Chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp 100 3.2.2 Chính sách nâng cao năng lực cho các viện nghiên cứu trong lĩnh vực
cơ điện nông nghiệp 102 3.2.3 Chính sách ưu đãi cho đối tượng tiếp nhận công nghệ trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp 103 3.2.4 Đổi mới công tác quản lý các nhiệm vụ KH&CN trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp 105
KẾT LUẬN 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Nguồn động lực dùng trong nông nghiệp, nông thôn 27
Bảng 2 Tỷ lệ làm đất bằng máy ở các vùng 28
Bảng 3 Mức độ trang bị máy đập lúa ở các vùng 31
Bảng 4 Mức độ đầu tư phương tiện vận tải các vùng 32
Bảng 5 Trang bị cơ điện nông nghiệp trong các loại hình kinh tế 39
Bảng 6 Danh mục các nhiệm vụ KH&CN 43
Bảng 7 Danh mục các nhiệm vụ KH&CN 43
Bảng 8 Mức độ cơ giới hoá sản xuất lúa biến động qua các năm 74
Bảng 9 Số lượng máy nông nghiệp 76
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNSTH Công nghệ sau thu hoạch
CNSH&CNTP Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm CGCN Chuyển giao công nghệ
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
NC&PT Nghiên cứu và Phát triển
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VEAM Tổng Công ty máy động lực và máy nông
nghiệp Việt Nam
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học đang là trọng tâm của chính sách phát triển kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được khẳng định tại các kỳ đại hội Đảng Để thực hiện chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 8 năm 2005, phê duyệt đề án phát triển thị trường công nghệ Theo đó, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ cao và một số luật khác Có thể nói, hệ thống luật
và các văn bản dưới luật do Nhà nước ban hành đã tạo khung pháp lý cho phát triển thị trường công nghệ nói chung và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu nói riêng Để góp phần thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập; Nghị định số: 80/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2007 về doanh nghiệp KH&CN Chính sách của Nhà nước được ban hành nhằm khuyến khích việc phổ biến và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được sử dụng mức phí ưu đãi các công nghệ tạo ra từ nguồn ngân sách Nhà nước như việc lập Quỹ hỗ trợ phát triển KH&CN từ nguồn ngân sách nhà nước và từ các nguồn hỗ trợ của các tổ chức tín dụng Quốc tế, vốn góp của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong nước nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư vay với các điều kiện thuận lợi, lãi suất
ưu đãi để nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, chuyển giao công nghệ đầu tư sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu xã hội Các chính sách này đã có những tác động tích cực nhất định đối với việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học ở nước ta
Trang 8Với chủ trương của Đảng, Nhà nước trong việc phát triển kinh tế đất nước trên cơ sở xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, theo đó, chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã được Chính phủ quan tâm và đặc biệt được coi trọng và khởi động bằng những chương trình KH&CN để thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo nhiều giai đoạn, cụ thể: giai đoạn 2001-2005, Chính phủ phê duyệt Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà
nước “KH&CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn”; giai đoạn 2006-2010; Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ nghệ sau thu hoạch” và các chương trình khác với mục tiêu ứng dụng rộng rãi các tiến bộ KH&CN cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản, thực phẩm, đặc biệt là những sản phẩm có lợi thế và triển vọng xuất khẩu như: gạo, cà phê, chè, cao su, thủy sản, thịt, các sản phẩm thịt, rau, hoa, quả
Cụ thể trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp, các kết quả nghiên cứu KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp Số lượng và chất lượng các công trình KH&CN còn thua kém nhiều nước trong khu vực Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, nhiều vấn đề mới nảy sinh đang được nghiên cứu làm sáng tỏ về phương diện lý luận Vì vậy, để tăng cường, thiết chế quản lý nhà nước theo khuôn khổ của Luật KH&CN đối với các hoạt động khoa học công nghệ nói chung và hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp nói riêng trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi hệ thống những giải pháp về chính sách thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN Một trong những giải pháp về tăng cường, thiết chế quản lý nhà nước nhằm từng bước thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp, đề tài
Trang 9nghiên cứu: “Giải pháp chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả
nghiên cứu của các viện trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp” là thiết thực
và có ý nghĩa thực tiễn Nội dung nghiên cứu này tập trung vào phương thức thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả và sản phẩm KH&CN trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Giải pháp thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp nói chung và trong công nghệ chế tạo máy và thiết bị cho sản xuất, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản nói riêng là một vấn đề cấp thiết Việc xây dựng chiến lược và hoạch định chính sách phát triển ngành cơ điện nông nghiệp luôn là mối quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành liên quan Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu và toàn diện về vấn đề này, mà nó chỉ được đề cập đến trong các đề tài nghiên cứu liên quan
Đề tài “Nghiên cứu chiến lược phát triển khoa học công nghệ lĩnh vực
cơ khí chế tạo giai đoạn 2011- 2020” do Tổng Hội Cơ khí Việt Nam làm chủ
trì, thuộc Chương trình KHCN cấp Nhà nước, mã số KC.05/06-10 đã đề cập tới chính sách KH&CN trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nói chung, mà không đề cập đến các chính sách phát triển công nghiệp chế tạo máy dùng trong sản xuất, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản
Đề tài “Nghiên cứu chính sách khuyến khích thúc đẩy đầu tư cơ giới hóa thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long” do Viện Chính sách chiến
lược nông nghiệp và phát triển nông thôn làm chủ trì, thực hiện năm 2009 đã
đề xuất một số chính sách cụ thể như: hỗ trợ người mua và trang bị máy; chính sách đầu tư, tài chính đối với doanh nghiệp sản xuất máy; chính sách thương mại đối với các doanh nghiệp nhập khẩu máy Tuy nhiên, những chính sách do đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi máy thu hoạch lúa ở
Trang 10vùng Đồng bằng sông Cửu Long và chưa đề cập đến việc thương mại các kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp nói chung.
Viện Nghiên cứu Chiến lược, chính sách công nghiệp Bộ Công Thương cũng thực hiện một số đề tài nghiên cứu:
- Đề tài “Nghiên cứu xây dựng danh mục các nhóm sản phẩm ưu tiên
để phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến năm 2020”, thực hiện năm
2011 Đề tài đã đánh giá nhu cầu và năng lực đáp ứng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ của một số ngành công nghiệp, từ đó đề xuất danh mục các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cần ưu tiên, khuyến khích phát triển Đề tài chưa đưa ra được các chính sách để phát triển các nhóm sản phẩm cơ điện nông nghiệp
- Đề tài “Nghiên cứu đề xuất chính sách nội địa hóa trong phát triển sản xuất máy móc nông nghiệp ở Việt Nam”, 2014 Đề tài đã đánh giá khái
quát thực trạng sản xuất và sử dụng máy móc nông nghiệp trong nước, đánh giá các chính sách khuyến khích sử dụng và sản xuất máy nông nghiệp tại Việt Nam Trên cơ sở này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất chính sách nhằm nội địa hóa sản xuất máy nông nghiệp, mà chưa đề ra được chính sách tổng thể, toàn diện nhằm phát triển chế tạo máy nông nghiệp Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam”
thực hiện năm 2013 do Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN Đề tài đã đưa ra cơ sở lý luận về thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; đề xuất các giải pháp cho việc xây dựng chính sách nhằm thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN công lập ở Việt Nam
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu đánh giá phương thức
tổ chức chuyển giao KH&CN vào sản xuất nông nghiệp” thực hiện năm 2014;
Chủ trì KS Nguyễn Văn Phú, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đã
Trang 11tổng kết đánh giá và đưa ra được các phương thức chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất nông nghiệp
Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất chính sách và phương thức thúc đẩy chuyển giao kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp vùng miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam giai đoạn 2002-2005”, năm 2003, tác
giả Đỗ Kim Chung Đề tài đã đề xuất một số giải pháp thúc đẩy và phương thức chuyển giao các tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp vùng miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
Các mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá các khái niệm làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng về chính sách thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
- Đưa ra một số giải pháp về chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
4 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống chính sách hiện nay có liên quan đến hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
- Các thành phần bao gồm:
+ Các chính sách đối với tổ chức nghiên cứu và phát triển lĩnh vực cơ điện nông nghiệp: các tổ chức KH&CN chuyên ngành có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ lĩnh vực cơ điện nông nghiệp, trong đó chọn Viện
Trang 12Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch là đơn vị đại diện để khảo sát phân tích
+ Các chính sách đối với tổ chức dịch vụ KH&CN: các tổ chức này có nhiệm vụ triển khai các công việc có liên quan đến việc nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ, hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, tư vấn, chuyển giao công nghệ, đào tạo…
+ Các chính sách đối với doanh nghiệp KH&CN: thực hiện sản xuất kinh doanh các sản phẩm hàng hóa hình thành từ các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
+ Các chính sách đối với các tổ chức quản lý trung gian: Cục thông tin KH&CN, Cục Chế biến Nông lâm sản và Nghề Muối, các Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở KH&CN, các trung tâm khuyên nông…
5 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các chính sách nhằm thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực Cơ điện nông nghiệp thời gian từ năm 2001 đến nay
- Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích các chính sách hỗ trợ như: Chính sách gắn với chương trình cơ giới hóa nông nghiệp; chính sách hỗ trợ tài chính nhà nước phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí nông nghiệp; chính sách hỗ trợ tài chính của nhà nước đối với người sử dụng máy và thiết bị dùng trong nông nghiệp; chính sách khuyến công, khuyến nông và khuyến khích hợp tác liên kết; chính sách hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu khoa học nhằm thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Còn những tồn tại, khó khăn, vướng mắc gì trong việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của các Viện nghiên cứu trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp?
Trang 13- Cần phải có những chính sách gì để hỗ trợ, khuyến khích để thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Những khó khăn vướng mắc hiện nay như: hạn chế về năng lực chuyển giao của các viện nghiên cứu; thiếu các hoạt động liên kết; thiếu các cơ chế, chính sách phù hợp của nhà nước… đã ảnh hưởng đến kết quả hoạt động chuyển giao công nghệ cơ điện nông nghiệp trong nông nghiệp Từ đó đòi hỏi cần phải có những chính sách của nhà nước được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện nhằm khuyến khích các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân tham gia vào hoạt động thương mại công nghệ trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp:
- Nhóm các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, triển khai, ứng dụng và chuyển giao công nghệ cơ điện phục vụ sản xuất nông nghiệp như: kiện toàn về cơ cấu tổ chức, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường
cơ sở vật chất… của các cơ quan nghiên cứu
- Nhóm các chính sách về hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ cho nông dân, cho doanh nghiệp; thúc đẩy tăng cường liên kết giữa các cơ quan khoa học, doanh nghiệp, nông dân và nhà quản lý nhằm tạo hệ thống liên kết chặt chẽ thúc đẩy việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu phục
vụ nông nghiệp
- Nhóm các chính sách về đầu tư, về tài chính nhằm khuyến khích các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng các thành tựu KH&CN (KH&CN) trong nông nghiệp, bao gồm: hỗ trợ đầu tư, ưu đãi về thuế, tín dụng, đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông qua việc khai thác
sử dụng, phân tích và tổng hợp các nguồn số liệu, thông tin từ các nguồn khác nhau như các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp lý các cấp, các báo cáo
Trang 14tổng hợp chuyên đề của các cấp, các ngành có liên quan Trong đó đặc biệt khai thác sử dụng các số liệu thống kê của Cục thống kế năm 2012, các báo cáo hoạt động KH&CN do Viện Cơ điện nông nghiêp và công nghệ sau thu
hoạch thực hiện từ 2006 - 2012, số liệu thống kê của tài liệu “Hội nghị hoa học và công nghệ cơ điện nông nghiệp và chế biến nông lâm sản sau 20 năm đổi mới” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2005, số liệu thống kê của tài liệu “Kết quả hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2003- 2008” của Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, các báo cáo, số liệu thống kê của báo cáo “Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp và chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch” của Cục chế biến nông
lâm thủy sản và nghề muối – năm 2013; Đây là những số liệu được tập hợp bằng các phương pháp khoa học, có độ tin cậy cao
- Phương pháp tiếp xúc chuyên gia: Trong quá trình thực hiện luận
văn này tác giả trực tiếp trao đổi, thảo luận với một số nhà quản lý, nhà khoa học, các Nhà khoa học, cán bộ làm công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và các tổ chức sản xuất kinh doanh máy, công cụ cơ điện nông nghiệp
- Phương pháp kế thừa: Trong Luận văn này, chúng tôi sử dụng
phương pháp kế thừa một số công trình nghiên cứu đã thực về các chính sách, chuyển giao các kết quả nghiên cứu nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng ở các cấp độ khác nhau đề cập đến như đề tài, báo cáo, tham luận, những công trình nghiên cứu chuyên đề về giải pháp chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp hầu như chưa có
9 Kết cấu của Luận văn
Nội dung cơ bản của Luận văn bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết
quả nghiên cứu khoa học
Trang 15Chương 2: Thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học
lĩnh vực Cơ điện Nông nghiệp Việt Nam và một số kinh nghiệm Quốc tế
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên
cứu khoa học trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Khoa học, nghiên cứu khoa học
Luật KH&CN năm 2013 (Điều 3) của Việt Nam đưa ra khái niệm khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của
sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
- Là công cụ cho trí tuệ sáng tạo công nghệ
Hoạt động KH&CN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và
triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải
pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
Hoạt động nghiên cứu khoa học rất phong phú Theo phương pháp luận nghiên cứu khoa học, có thể phân loại nghiên cứu khoa học theo hai tiêu thức chính là chức năng nghiên cứu và sản phẩm tri thức khoa học thu được
Theo chức năng nghiên cứu có thể phân thành:
- Nghiên cứu mô tả là những nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng sự vật, thông qua mô tả hình thái, động thái, tương tác; mô
Trang 17tả định tính về chất của sự vật; mô tả định lượng chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật
- Nghiên cứu giải thích là những nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật, hiện tượng
- Nghiên cứu dự báo là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật, hiện tượng trong tương lai
- Nghiên cứu sáng tạo là loại hình nghiên cứu nhằm tạo ra một sự vật mới chưa từng tồn tại Đó là dặc tính của khoa học không bao giờ dừng lại ở
mô tả, giải thích và dự báo, mà luôn hướng vào sự sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới
Theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu có thể phân chia thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai
- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ chúng và mối liên hệ với bên ngoài với các sự vật khác Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại: Nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng
Nghiên cứu cơ bản thuần tuý còn được gọi là nghiên cứu cơ bản tự do, hoặc nghiên cứu cơ bản không định hướng, là những nghiên cứu về bản chất
sự vật để nâng cao nhận thức, chưa có hoặc chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng
Nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng Nghiên cứu định hướng được chia thành nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề Nghiên cứu nền tảng là nghiên cứu quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu về một hiện tượng đặc biệt của sự vật, vừa dẫn đến hình thành những cơ
sở lý thuyết, vừa dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một hiện tượng, sự vật; tạo ra những nguyên
lý mới, các giải pháp mới (về công nghệ, vật liệu, tổ chức, quản lý ) để áp dụng vào sản xuất và đời sống
Trang 18- Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm KH&CN mới ở dạng mẫu
1.1.2 Công nghệ
Thuật ngữ “công nghệ” xuất phát từ tiếng Hy Lạp “Techne” có nghĩa
là một nghệ thuật hay kỹ năng, và “logia” có nghĩa là một khoa học, hay sự
nghiên cứu
Theo tác giả R.Jones, năm 1970 cho rằng “công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hoá” Theo định nghĩa này bản chất của công nghệ là dạng kiến thức, được áp dụng vào sản xuất để tạo ra hàng hóa
Theo tác giả J.Baranson, năm 1976 cho rằng “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất
ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh” Theo ông công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh
Theo J.R Dungning, năm 1982 cho rằng “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới” Có nghĩa công nghệ có bản chất là kiến thức được áp dụng nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo và sản phẩm mới và dịch vụ
Theo Nawar Sharif, năm 1986 đã đưa ra một định nghĩa khá khái quát
về công nghệ “ Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất và/ hoặc thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất và/hoặc thông tin Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: Dạng vật thể (vật liệu, công cụ, thiết bị, sản phẩm), dạng con người (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm ), dạng thông tin (Quy trình, phương pháp, kinh nghiệm … được mô trong các ấn phẩm, tài liệu…) và phần thiết chế tổ chức (dịch vụ, tuyên truyền, tổ chức quản lý, tư vấn…)
Trang 19Đây cũng là 4 yếu tố công nghệ theo quan điểm của Trung tâm Chuyển giao công nghệ châu Á-Thái bình Dương (APCTT) thì bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản đến đâu cũng bao gồm 4 thành tố có tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra biến đổi mong muốn:
- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể (Technoware-T) bao gồm mọi phương tiện vật chất như các công cụ, trang bị, máy móc, vật liệu, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng Có thể gọi dạng hàm chứa này là phương tiện kỹ thuật
- Công nghệ hàm chứa trong con người (Humanware –H) bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức, tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng lãnh đạo, đạo đức lao động Dạng hàm chứa này gọi là phần con người của công nghệ
- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức (Inforware –I) có tổ chức đã được tư liệu hoá như lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, thông số, công thức, bí quyết Dạng hàm chứa này gọi là phần thông tin của công nghệ
- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế (Orgaware-H) tạo nên khung tổ chức của công nghệ, như phần thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan
hệ, sự phối hợp, mối liên kết Dạng hàm chứa này gọi là phần tổ chức của công nghệ
Theo cách hiểu phổ thông hiện nay thì công nghệ bao gồm 2 phần là
“phần cứng” và “phần mềm”
Công nghệ phần cứng là phần công nghệ có liên quan đến cơ sở hạ tầng (nhà xưởng, điện-nước, giao thông ) và các phương tiện kỹ thuật (máy móc, thiết bị, vật tư, dụng cụ ) cần thiết và có vai trò nối dài khí quan của con người trong quá trình thực hiện các qui trình công nghệ
Công nghệ phần mềm là phần công nghệ có liên quan đến việc sử dụng, khai thác có hiệu quả phần cứng của công nghệ (bao gồm hệ thống các phương pháp, quy trình, kinh nghiệm, bí quyết, thông tin, tài liệu hướng dẫn, chương trình điều khiển, biểu mẫu, sơ đồ, bản vẽ, tổ chức sản xuất )
Trang 20Theo Luật KH&CN của Việt Nam, năm 2013 “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết, kỹ thuật có kèm hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Từ các định nghĩa trình bày trên tác giả cho rằng, công nghệ bao
gồm: kiến thức, bí quyết, kinh nghiệm, phương pháp… (gọi là phần mềm) và thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) được áp dụng vào thực tế
với mục tiêu tạo ra sản phẩm Tương tự, công nghệ cơ điện nông nghiệp cũng
là tập hợp các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật về nông nghiệp có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành các sản phẩm hàng hóa từ nông nghiệp và nó cũng có chung đặc trưng của công nghệ là công cụ sản xuất, là sản phẩm của tư duy sáng tạo, là hàng hóa luôn luôn được đổi mới và là phương tiện cải tạo tự nhiên và xã hội
1.1.3 Chuyển giao công nghệ
Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ Tuỳ theo bản chất, mục đích và đối tượng của việc chuyển giao mà có cách hiểu khác nhau về chuyển giao công nghệ
Theo Trần Ngọc Ca (1988), chuyển giao công nghệ là một quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ hoặc cho các mục đích khác Như vậy chuyển giao công nghệ bao hàm cả chuyển giao mất
tiền (mua - bán) và chuyển giao không mất tiền
Theo Luật chuyển giao công nghệ Việt Nam, chuyển giao công nghệ phải được hiểu “là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thỏa thuận phù hợp với các quy định của luật pháp Bên bán có nghĩa cụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc thiết bị, dịch vụ, đào tạo… cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán để tiếp thu, sử dụng kiến thức công nghệ đó theo các điều kiện đã thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ”
Trang 21Từ các khái niệm về chuyển giao công nghệ, tác giả có thể hiểu rằng chuyển giao công nghệ cũng là một hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu Vì ở hoạt động đó có sự tham gia của bên bán (tạo ra công nghệ), bên mua (tiếp nhận công nghệ), các tổ chức chung gian theo các định chế của nhà nước và có thể mất tiền hoặc không mất tiền
Nội dung của chuyển giao công nghệ bao gồm:
- Chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa đang trong thời hạn được luật pháp Việt Nam bảo hộ và được phép chuyển giao
- Chuyển giao các bí quyết về công nghệ, kiến thức dưới dạng phương
án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế sơ
bộ và thiết kế kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, phần mềm máy tính, thông tin dữ liệu về công nghệ chuyển giao
- Các giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ
- Thực hiện các hình thức dịch vụ, hỗ trợ chuyển giao công nghệ để bên nhận có được năng lực công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng được xác định trong hợp đồng
1.1.4 Cơ sở lý luận về chính sách
1.1.4.1 Chính sách
Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
Trang 22- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động
của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, lại có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)
- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một
giải pháp ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho
chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Tổng hợp từ các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp các biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”
“Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể
là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )
Trang 23- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và
nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó
trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính là nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao
giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối; ổn định, có nghĩa là không còn phát triển
Trang 24- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn
trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là
“tồi tệ” theo một nghĩa nào đó
Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ
có thể một vài cách tiếp cận trong đó
1.1.4.2 Sự tác động của chính sách
- Tác động dương tính của chính sách: tác động dương tính của một
chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới
- Tác động âm tính của chính sách: tác động âm tính của một chính
sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách
Sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong quá trình phát triển xã hội Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách
- Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một
chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định của chính sách Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính
Tác động ngoại biên dương tính, là tác động ngoại biên góp phần nâng
cao hiệu quả của chính sách
Trang 25Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm
thiểu hiệu quả của chính sách
1.1.4.3 Chuỗi tác động của chính sách
Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau Các tác động này có thể dương tính, âm tính, ngoại biên Chính đây là nguyên nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một chính sách
- Tác động trực tiếp của chính sách: tác động trực tiếp hiện ngay sau
khi chính sách được công bố Tác động trực tiếp có thể là dương tính, âm tính,
ngoại biên
- Tác động nối tiếp của chính sách: tác động nối tiếp diễn ra sau tác
động trực tiếp Tác động nối tiếp có thể xuất hiện sau tác động trực tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động nối tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên
- Tác động kế tiếp của chính sách: tác động kế tiếp diễn ra sau tác động
nối tiếp Tác động kế tiếp có thể xuất hiện sau tác động nối tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động kế tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên
- Tác động gián tiếp của chính sách: Tác động gián tiếp diễn ra sau tác
động kế tiếp, cũng bao gồm: gián tiếp dương tính, gián tiếp âm tính, gián tiếp ngoại biên
1.1.4.4 Chính sách KH&CN
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”
Từ khái niệm cơ bản về chính sách và tác động của chính sách, có thể
Trang 26đưa ra khái niệm về chính sách KH&CN cơ điện nông nghiệp như sau:
“Chính sách cơ điện nông nghiệp là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm kích thích, định hướng, điều chỉnh mọi hoạt động KH&CN trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong sản xuất nông nghiệp”
1.1.5 Kết quả nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, tác giả chưa tìm thấy một văn bản nào chính thức của Việt Nam đưa ra khái niệm về thương mại hóa kết quả nghiên cứu Tuy nhiên, trong Điều 1, Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam có giải thích từ ngữ như sau: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (CHXHCN Việt Nam, 2005)
Từ điển “Free Dictionary” đưa ra khái niệm thương mại hóa là sự áp dụng các phương pháp hoặc các hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận Thương mại hóa một sản phẩm hay dịch vụ được chia ra thành các giai đoạn,
từ giới thiệu ban đầu cho tới sản xuất đại trà và đưa sản phẩm/dịch vụ ra thị trường Giống như một chiến lược, thương mại hóa sản phẩm/dịch vụ yêu cầu phát triển một kế hoạch thương mại, xác định việc cung ứng sản phẩm/dịch
vụ ra thị trường, nhìn trước các rào cản ảnh hưởng đến sự thành công của thương mại hóa
Như vậy, dựa trên các khái niệm trên ta có thể hiểu rằng thương mại hóa là sự áp dụng các phương pháp hoặc hoạt động kinh doanh/dịch vụ để đưa sản phẩm vào thị trường tiêu thụ nhằm tạo ra lợi nhuận
Về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, trong các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học” thường
Trang 27được sử dụng đan xen với các thuật ngữ khác như “thương mại hóa công nghệ”, “thương mại hóa nghiên cứu”, “thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển” Nghiên cứu này tập trung phân tích thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cụ thể các kết quả nghiên cứu ở lĩnh vực cơ điện nông nghiệp Vì vậy, những tổng kết nghiên cứu tiếp theo của đề tài sẽ bao gồm các công trình nghiên cứu liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu khái niệm về thương mại hóa kết quả nghiên cứu của đề tài này được bắt đầu bằng khái niệm thương mại hóa công nghệ trong từ điển Cambridge Advanced Lerner’s Dictionary Trong đó, “thương mại hóa
là việc tổ chức cái gì đó để tạo ra lợi nhuận” còn “công nghệ là nghiên cứu
và tri thức thực nghiệm, đặc biệt là tri thức công nghiệp, sử dụng các phát hiện khoa học”
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu được Isabelle (2004) xem như là quá trình chuyển hóa các tri thức nghiên cứu thành các sản phẩm mới (hoặc cải tiến), các quy trình hoặc dịch vụ và giới thiệu chúng ra thị trường để tạo ra các lợi ích kinh tế Tương thích với ý tưởng của Isabelle còn có một số nghiên cứu khác, ví dụ, McCoy (2007) định nghĩa thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển là quá trình phát hiện tri thức, phát triển các tri thức đó thành công nghệ và chuyển hóa công nghệ thành các sản phẩm mới hoặc các quy trình, dịch vụ được sử dụng hoặc là bán ra trên thị trường
Rourke (1999) định nghĩa thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển là một phổ đầy đủ các hoạt động chuyển hóa một công nghệ, một sản phẩm hoặc qui trình mới, từ giai đoạn khái niệm cho đến thị trường Theo Rourke, đó là quá trình phát triển một sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ khái niệm, qua nghiên cứu khả thi, thực hiện cho đến giới thiệu sản phẩm ra thị trường thành công
Những phân tích tổng quan trên cho thấy, thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ
Trang 28hình thành ý tưởng cho đến việc đưa ra thị trường thành công Để thương mại hóa thành công một kết quả nghiên cứu khoa học gặp rất nhiều rủi ro, có thể thành công hoặc có thể thất bại Một ý tưởng tốt chưa chắc đã đi đến thành công trong việc thương mại hóa
Từ tổng quan nghiên cứu trên, tác giả có thể xác định thương mại hóa kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp là một quá trình chuyển hóa các ý tưởng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở lĩnh vực này ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất, tạo lợi nhuận và thương mại hóa công nghệ cơ điện bao gồm các khía cạnh:
- Sản phẩm thương mại hóa: Công nghệ cơ điện phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Thị trường: hàng hóa công nghệ cơ điện trao đổi; đối tượng tham gia trao đổi (bên mua và bên bán) và khả năng thanh toán
- Các tác nhân phát triển và thương mại hóa công nghệ: Các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xúc tiến thương mại và chính sách hay định chế của nhà nước
1.2 THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Có nhiều yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu:
- Các yếu tố tác động từ bên tạo ra công nghệ (Cán bộ nghiên cứu, tổ nghiên cứu chức KH&CN):
Cán bộ nghiên cứu có tầm quan trọng đặc biệt đối với thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học Nếu như cán bộ nghiên cứu không quan tâm theo đuổi việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu của họ, việc thương mại hóa thành công các kết quả nghiên cứu khó có thể thành hiện thực Họ phải quan tâm đến chất lượng và tính thực tiễn của kết quả nghiên cứu nhất là tính phù hợp của công nghệ Như vậy, chất lượng, tính thực tiễn và sự phù hợp của kết quả nghiên cứu là một trong các yếu tố quyết định đến sự thành công của thương mại hóa
Trang 29Tính phù hợp của chức năng nhiệm vụ của tổ chức nghiên cứu KH&CN Ví thể như cùng một nhiệm vụ nghiên cứu nhưng nếu tổ chức nghiên cứu khoa học thuộc các trường đại học hoặc các viện nghiên cứu cơ bản chủ trì thực hiện thì việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu này khó hơn các viện nghiên cứu triển khai hoặc viện nghiên cứu trực thuộc các tổng công
ty và tập đoàn
Sự quan tâm của cơ quan chủ trì nhiệm vụ khoa học nếu cơ quan chủ trì nhiệm vụ khoa hoc học công nghệ không quan tâm đến việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thì các kế quả nghiên cứu của tổ chức đó sẽ rất khó khăn trong việc thương mại hóa Ngược lại, nếu có sự quan tâm thì việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu sẽ thuận lợi hơn
Các tổ chức KH&CN phải có vốn để tiến hành các hoạt động dịch vụ
về KH&CN Các tổ chức này này đầu tư cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh
để phục vụ nghiên cứu triển khai như: các trại thực nghiệm công nghệ, các phòng thí nghiệm…
- Yếu tố tác động của bên mua công nghệ (hay nói cách khác bên nhận chuyển giao công nghệ), nhu cầu công nghệ là động lực cho thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển của các tổ chức nghiên cứu KH&CN Nhu cầu công nghệ ở đây chính là các doanh nghiệp, họ phải có nhu cầu đổi mới công nghệ dẫn đến thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu Sự thiếu hụt
về nhu cầu đầu tư, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp là một trong những cản trở lớn đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển Ngoài ra, sự hạn chế về năng lực tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp cũng là một cản trở đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Trang 30quản lý của Nhà nước Tại đây các bên tham gia thị trường đều có thể tự do kinh doanh, tự do mua bán, tự do giao dịch, thể hiện sự bình đẳng Thị trường chính là lực lượng dẫn, thúc đẩy nhu cầu nghiên cứu hay nói cách khác các nhiệm vụ nghiên cứu khi có thị trường tiêu thụ thì khả năng thương mại hóa cao hơn
Đội ngũ làm công tác dịch vụ chuyển giao công nghệ tác động không nhỏ đến khả năng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Ở một góc độ nào
họ chính là người điều tiết các môi quan hệ giữa doanh nghiệp và tổ chức KH&CN
Sự hỗ trợ của hệ thống tài chính, tín dụng của Nhà nước trong việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học
Sự hỗ trợ của nhà nước trong các thiết chế, chính sách để bảo vệ quyền
sở hữu các kết quả nghiên cứu
Nguyễn Quang Tuấn (2011) trong nghiên cứu về “Tăng cường vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường công nghệ” đã tổng kết một số lý luận về sự can thiệp của nhà nước vào thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển Trong đó, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là thất bại thị trường Tiếp theo sự can thiệp của nhà nước vào thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển phải kể đến một số nguyên nhân như do thất bại hệ thống, sự cứng nhắc trong hệ thống đổi mới cũng như tầm nhìn thiển cận của một bộ phận các nhà ra quyết định
Trên đây là những trao đổi mang tính lý luận về các yếu tố thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp Phần tiếp theo tác giả xin thảo luận kinh nghiệm về chính sách phát triển nông nghiệp của một số nước trong khu vực đã tạo ra thị trường hay nói cách khác đã thúc đẩy việc thương mại hóa kế quả nghiên cứu lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
Trang 31Qua nghiên cứu lý thuyết cho thấy hoạt động thương mại hóa công nghệ mới cho thấy sự kết nối giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
và sản xuất tạo ra của cải vật chất có giá trị đã trở thành một định đề quan trọng mà các chính phủ, các loại hình tổ chức đều cố gắng thực hiện Quá trình đi từ nghiên cứu đến sản xuất kinh doanh luôn được xem là một quá trình phi tuyến tính lấy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ mới làm căn bản Nói cách khác, từ ý tưởng nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm
là một quá trình không đơn giản
Ngoài ra, quy trình hình thành, phát triển và thương mại hóa công nghệ mới như một thước đo cụ thể đối với hoạt động KH&CN Hoạt động thương mại hóa kết quả và sản phẩm KH&CN tạo ra một hướng tiếp cận hiệu quả đáp ứng yêu cầu khách quan của thị trường hàng hóa khát khao tri thức mới như ở Việt Nam ta hiện nay
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
TRONG LĨNH VỰC CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP
VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
2.1 THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ NGÀNH CƠ ĐIỆN TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2012
Cơ điện nông nghiệp chiếm vị trí đặc biệt quan trong trong phát triển sản xuất nông nghiệp Các thành tựu KH&CN về cơ điện nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tác dụng thúc đẩy sản xuất theo hướng thâm canh, tăng năng suất, giảm chi phí lao động, tăng giá trị nông sản hàng hóa
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng về đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn đã nhấn mạnh vai trò
cơ giới hóa, điện khí hóa và công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản là những nhiệm vụ trọng tâm để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nhằm sản xuất các sản phẩm nông nghiệp với quy mô lớn và trở thành những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao
2.1.1 Nguồn động lực dùng trong nông nghiệp
Tính đến cuối năm 2011, cả nước đã trang bị các loại máy kéo bốn bánh (cỡ lớn và cỡ trung bình): 22.612 máy; loại máy kéo nhỏ hai bánh (công suất 12 mã lực): 275.131 máy; các loại động cơ xăng, diesel, động cơ điện
và máy phát điện: 281.049; động cơ tĩnh tại và động cơ điện, máy phát điện: 301.893; tàu thuyền đánh bắt thủy hải sản: 28.424 chiếc; tàu thuyền vận tải hàng hóa trên sông, rạch: 186.755 chiếc Tổng công suất là: 42.479.268 mã
lực (Bảng 1)
Trang 33Bảng 1 Nguồn động lực dùng trong nông nghiệp, nông thôn
Năm
Canh tác trên đồng ruộng, đất trồng cây lâm nghiệp
Dùng trong khâu tĩnh tại
Đánh bắt thủy hải sản
Vận chuyển trên sông rạch, trên đường
Cộng
So sánh 2011/
2.1.2 Ứng dụng công nghệ cơ điện trong làm đất: Đất trồng cây
hàng năm được làm bằng máy: 69,07%; đất trồng lúa được làm bằng máy: 84,68%; khâu làm đất ở các vùng khá chênh lệch Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), việc ứng dụng công nghệ cơ điện trong làm đất đạt 100% trong khi đó ở các tỉnh miền núi phía Bắc chỉ đạt khoảng trên 56% Do diện tích canh tác có độ dốc lớn, các ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc đến nay hầu như vẫn chưa ứng dụng được cơ giới hoá, một phần do đặc điểm địa hình mấp mô, cao thấp, chia cắt, diện tích lô thửa manh mún, phân tán nên rất khó khăn cho việc thao tác sử dụng cũng như di chuyển máy; một phần đến nay, hầu như chưa có những mẫu máy canh tác thích hợp làm việc trên đất dốc Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cũng đã
Trang 34nghiên cứu thử nghiệm một số mẫu máy canh tác trên đất dốc và đã có một số
kết quả bước đầu nhưng cũng chỉ giới hạn khả năng làm việc trên đất có độ
dốc dưới 100 Khâu làm đất ở nông thôn bản, làng các địa phương vẫn chủ
yếu là sử dụng sức người và sức trâu, bò (bảng 2)
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung
Bộ
Duyên hải Nam Trung bộ
Tây Nguyên
Đông Nam
Bộ
Đồng bằng SCL
2.1.3 Ứng dụng cơ điện nông nghiệp trong gieo trồng
Đối với cây lúa, phần lớn diện tích gieo trồng lúa nước ở miền Bắc đều
theo truyền thống gieo mạ-cấy lúa (cấy mạ dược), miền nam truyền thống là
gieo xạ Giai đoạn 2006-2011, Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau
thu hoạch phối hợp với trường Đại học Nông nghiệp I, Viện Lúa đồng bằng
sông Cửu Long đã xây dựng được quy trình Công nghệ và hệ thống dây
chuyền sản xuất mạ thảm đồng bộ, quy mô công nghiệp lần đầu tiên được áp
dụng có kết quả ở Việt Nam Đặc biệt thích hợp với tập quán cấy và điều kiện
khí hậu của vùng đồng bằng Bắc và Trung bộ Các kỹ thuật tiên tiến được áp
dụng đồng bộ từ phân loại, xử lý thóc đến lựa chọn phương pháp xử lý đất,
tạo hỗn hợp giá thể, tạo môi trường ngâm ủ có sục khí và giữ nhiệt độ, độ ẩm
tối ưu cho mộng, mạ… Có thể không cần sử dụng khay cứng trong giai đoạn
Trang 35xanh hóa mạ trên đồng (dùng khay mềm hoặc các mảnh vỏ bao xác rắn, bao
xi măng) để tăng hệ số quay vòng của của khay cứng giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu về khay nhựa Đã chuyển giao cho Cơ sở sản xuất mạ tại xã Đồng Nguyên, Từ Sơn, Bắc Ninh (qui mô đáp ứng mạ cho 30-50 ha cấy) và cho Công ty ty TNHH Vĩnh Hòa (Yên Thành, Nghệ An) (qui mô đáp ứng 100-
150 ha cấy) Hỗ trợ kỹ thuật cho một số hộ sản xuất mạ tại Hợp Lý (Triệu Sơn, Thanh Hóa), Trung tâm sản xuất Giống Bình Đức (Long Xuyên,An Giang), Long An…Gần đây, nông dân ở một số tỉnh miền Nam như An Giang, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng cũng đang áp dụng công nghệ này nhưng theo hình thức đơn giản hơn (do điều kiện khí hậu ấm hơn) để cấy lúa giống thay vì gieo sạ như trước đây Bên cạnh đó đã nghiên cứu chế tạo máy cấy 6 hàng MC-6-25 với công suất 4HP, năng suất 0,12-0,15 ha/h, phục vụ cơ giới hóa khâu cấy lúa, đặc biệt thích hợp với 2 vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long Việc ứng dụng máy cấy giúp cho người nông dân chủ động thời vụ cấy lúa, giảm nhẹ sức lao động, tăng năng suất lúa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGH chăm sóc và thu hoạch lúa So với cấy bằng tay có thể thay thế 25-30 người Đã chuyển giao công nghệ chế tạo cho Nhà máy cơ khí Hà Tây, sản xuất được một số mẫu máy cấy cung cấp cho một số vùng thâm canh lúa phía Bắc và phía Nam như: An Giang, Sóc Trăng, Long An, Công ty Giống cây trồng miền Nam, Tiền Giang… Cho đến nay công ty cơ khí Hà Tây đã dừng chế tạo mẫu máy này do để có đủ điều kiện chế tạo hàng loạt thị công ty phải đầu tư đầu tư tương đối lớn về công nghệ chế tạo máy cấy vì đây là một loại máy phức tạp bậc nhất trong các máy canh tác, đòi hỏi công nghệ cao về chế tạo Còn đối với cây ngô và các loại cây trồng nông nghiệp khác, đến nay khâu gieo hạt vẫn do lao động thủ công đảm nhận Trước đây một số nông trường quốc doanh có ứng dụng một số loại máy gieo ngô kiểu khí động học SKĐ-2 nhập Liên Xô cũ nhưng không tồn tại lâu trong sản xuất vì một phần đòi hỏi điều kiện về đường xá giao thông, qui
Trang 36hoạch lô thửa, một phần thiếu phụ tùng vật tư thay thế, tỷ lệ hư hỏng cao Viện Cơ điện nông nghiệp có tập trung nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm mẫu máy gieo ngô hạt bốn hàng lắp theo máy kéo MTZ-50
2.1.4 Ứng dụng công nghệ cơ điện trong tưới tiêu thủy lợi
Đây là một khâu rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hướng rất lớn đến năng suất cây trồng và được nhà nước rất quan tâm đầu tư lớn và tập trung Số công trình thuỷ lợi được nhà nước đầu tư xây dựng, đến nay hiện cả nước đã có thêm khoảng 22.548 công trình thủy lợi lớn nhỏ trong đó
có 22.469 công trình thủy nông, số lượng máy bơm nước các loại 1,915 triệu chiếc gấp 8 lần so với năm 1990 Nhờ vậy đã đảm bảo tưới tiêu cho khoảng 86% -97% diện tích đất canh tác trong đó đồng bằng Sông Hồng đạt 86,7% và vùng đồng bằng Sông Cửu long là nơi có số lượng công trình và năng lực tưới tiêu phát triển nhất Đã nghiên cứu ứng dụng nhiều cơ bơm nước tưới tiêu nội đồng cho sản xuất nông nghiệp, thử nghiệm thành công những mẫu máy bơm hướng trục cơ vừa và nhỏ (250-1500m3/h) sử dụng phổ biến trong sản xuất, cũng như hàng chục mẫu bơm nước trục xiên, bơm ly tâm, bơm hỗn lưu, bơm thuyền, trạm bơm nổi công suất vừa và nhỏ thích ứng cho các loại địa hình khác nhau Trong những năm gần đây, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, Viện Khoa học Thuỷ lợi và một số nhà máy sản xuất máy bơm lớn trong nước như Nhà máy bơm Hải Dương, Nhà máy bơm liên doanh EBARA đã thiết kế, chế tạo và ứng dụng nhiều loại bơm cột áp cao có công suất từ 500 m3/h đến 4000m3/h như HTĐ-15, HTĐ-25, HTĐ-35, HL-12A Những loại bơm này đang dần thay thế cho các loại bơm trục ngang có hiệu suất thấp, vận hành phức tạp, chi phí cao (phải mồi nước, chi phí công trình trạm cao, tiêu tốn điên năng lớn…) Một số trạm bơm lắp đặt ở vùng có mức dao động cột nước chênh lệch địa hình lớn được áp dụng công nghệ bán cố định thiết bị bằng tời kéo trên ray trượt Đóng góp không nhỏ cho việc tưới tiêu nội đồng ở các tỉnh vùng đồng bằng, Trung du và miền núi phía Bắc Kỹ
Trang 37thuật tưới tiêu tiết kiễm nước cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công hệ thống thiết bị tưới phun mưa, tưới phun sương, tưới nhỏ giọt phục vụ cho sản xuất cây giống, cây công nghiệp, cây rau quả trồng trong nhà khung
và ngoài đồng ruộng Hệ thống thiết bị bơm được thiết kế ở dạng cố định, dạng bán di động và dạng di động phù hợp với các qui mô đầu tư sản xuất
2.1.5 Ứng dụng cơ điện nông nghiệp cho các khâu thu hoạch
Ứng dụng công nghệ cơ điện trong khâu tuốt, đập trong thu hoạch tăng rất nhanh Đến nay, cả nước đã đầu tư trang bị gần 265.654 máy đập lúa có động cơ, bình quân trên 100 ha đất trồng lúa là 6,4 máy Vì là khâu nặng nhọc, yêu cầu thời vụ khẩn trương cho nên tỉ lệ cơ giới hóa rất cao đạt trên 95% so với các khâu khác Đối với lúa, ngô, đậu đỗ đạt khoảng 10% tổng diện tích, cơ giới hoá khâu cắt, gặt còn thấp; máy thu hoạch lúa (hai giai đoạn
có khoảng 66.658 chiếc), bình quân 1,1 máy/100 ha đất trồng cây hàng năm; máy gặt đập liên hợp 14.701 chiếc năm 2012; đến nay đã đạt trên 20.000 chiếc Nếu tính trên 100 ha đất trồng lúa chỉ khoảng 0,28 máy Mức độ trang
bị máy đập lúa cho từng vùng được nêu ở bảng sau (Bảng 3)
Bảng 3 Mức độ trang bị máy đập lúa ở các vùng
Tp Hà
Nội
Đồng bằng sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung
bộ
Duyên hải Nam Trung
bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Tp
HCM
Đồng bằng SCL
Máy đập
lúa, chiếc 14071 53805 84493 3823 34003 45613 3966 2716 83 23081 Chiếc/100
hộ 1,4 2,29 4,84 0,75 2,13 3,66 0,68 0,18 0,026 0,69 Chiếc/100
ha đất
trồng lúa
13 7,0 22,31 2,47 8,69 21,9 3,02 1,18 0,35 1,32
Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2012
Trang 38Tính mức độ bình quân chiếc/100 ha, ở các tỉnh Đông Bắc tuy cao, nhưng năng suất đập (tấn/h-chiếc) thấp hơn so với loại máy được trang bị ở vùng ĐBSCL, vì vùng này bà con các dân tộc chủ yếu dùng đập, tuốt lúa cho gia đình là chính
Đối với cây ngô: Đã ứng dụng trong sản xuất máy và công cụ máy tẽ ngô Cho đến nay, cả nước có trên 1.000 máy tẽ ngô dùng động cơ và nhiều loại công cụ tẽ ngô quay tay đáp ứng yêu cầu tách hạt
Các loại cây trồng khác như cây chè, cây cà phê, tiêu, cây ăn quả và một số đặc sản khác khâu thu hoạch đều bằng lao động thủ công
2.1.6 Vận tải nông thôn
Vận tải nông thôn đã phát triển cả về số lượng và chất lượng Ngoài việc nâng cấp, xây dựng thêm đường nông thôn, các thành phần kinh tế đã
đầu tư trang bị phương tiện vận tải (bảng 4)
Bảng 4 Mức độ đầu tư phương tiện vận tải các vùng
Đơn vị tính: Chiếc
Tp Hà Nội
Đồng bằng sông hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung
Bộ
Duyên hải Nam Trung
bộ
Tây Nguyê
n
Đông Nam
Bộ
Tp HCM
Đồng bằng Sông Hồng
Số lượng PTVT
trên đường (chiếc) 16237 24106 30516 5192 23126 14783 7390 21756 2748 14101 Bình quân cho
Trang 39Cả nước đã trang bị 160.254 chiếc phương tiện cơ giới vận tải trên đường và 120.707 chiếc thuyền, xuồng vận tải trên sông, rạch Phù hợp với điều kiện địa hình, mức độ đầu tư trên 100 hộ nông nghiệp ở ĐBSCL đạt trên 0,95 chiếc, là rất cao
2.1.7 Ứng dụng công nghệ cơ điện trong sơ chế, chế biến nông sản
Trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá hiện nay, khâu bảo quản và chế biến nông sản chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Nó không chỉ làm tăng giá trị nông sản, tăng thu nhập cho nông dân mà còn đóng góp đáng kể cho việc giảm tỷ lệ hư hao nông sản hiện rất lớn trong sản xuất hiện nay (từ 5-15%), tạo được nhiều công ăn việc làm mới, tích cực đóng góp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp Thực trạng trình độ công nghệ bảo quản và chế biến nông sản ở nước ta hiện nay đang ở mức rất thấp, qui mô nhỏ lẻ, phân tán Về bảo quản hạt lương thực (lúa, ngô, đậu, đỗ) hiện nay ứng dụng bảo quản nông sản sau thu hoạch chủ yếu bằng các phương pháp truyền thống (chứa đựng bằng chum vại, bể xây, thùng, cót quây) có tỷ lệ hư hỏng do mấm mốc, sâu mọt, chuột bọ rất lớn (13-16%), chất lượng hạt sau bảo quản đưa vào chế biến có chất lượng thấp (ví dụ như tỷ lệ thu hồi gạo xát chỉ đạt khoảng 55-60%) Hiện nay, đã có một số chương trình, dự án của Nhà nước đầu tư phát triển các công nghệ bảo quản mới như sử dụng các loại thùng gỗ, thùng tôn chứa chống được chuột bọ hoặc áp dụng một số chất bảo quản có nguồn gốc thực vật không độc hại có khả năng chống sâu mọt, mấm mốc nhưng mới chỉ ở giai đoạn thử nghiệm mô hình Ở các doanh nghiệp kinh doanh lương thực Nhà nước và các kho Dự trữ quốc gia sử dụng hầu hết là các loại kho dạng A1, A2, kho mái vòm hay kho khung thép Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thóc gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long phần lớn dùng kho khung thép Các kho dạng A1, A2 hay kho khung thép, thực chất đây chỉ là các kho chứa thóc mang tính tạm thời, không có hệ thống kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm của hạt, hệ
Trang 40thống thông thoáng, sông hơi diệt côn trùng, tức không mang tính bảo quản,
do vậy tỷ lệ tổn thất còn cao, trên 2 - 3% Công nghệ và thiết bị lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu hiện nay
Về bảo quản rau quả tươi, đây là một vấn đề kinh tế-xã hội nổi cộm hàng năm Do phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, tăng giá trị canh tác trên diện đơn vị diện tích nên nhiều tỉnh trên cả nước đã hình thành và phát triển nhanh diện tích trông một số cây ăn quả có giá trị như vải nhãn ở Bắc Giang, Sơn La, Yên Bái, mận ở Lào Cai, cam ở Hoà Bình, Nghệ An, Tuyên Quang, Hưng Yến, ổi Hải Dương, bưởi Đoan hùng, Vĩnh Long, Xoài Đồng Tháp, Thanh Long, táo, nho Ninh Thuận, Bình Thuận, bơ sáp Tây nguyên sản lượng quả thu hoạch hàng năm rất lớn lên đến hàng trăm nghìn tấn, thời gian thu hoạch mỗi vụ ngắn, thường chỉ trong 15 đến 30 ngày, khả năng lưu thông hạn chế, lượng đưa vào chế biến không nhiều nên khối lượng cần bảo quản cho tiêu thụ tươi, cho chế biến rất lớn Vì không giải quyết được vấn đề này nên giá quả vào lúc chính vụ thường rớt giá rất nhanh, càng được mùa giá bán càng thấp Ví dụ như vụ thu hoạch vài, nhiều năm, tại vùng vải Lục Nam có lúc chỉ còn dưới 10.000đ/kg Gây thiệt hại lớn cho người nông dân Trong thời gian gần đây, đã có nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà khoa học đã tập trung đi vào nghiên cứu để lựa chọn, tìm ra những công nghệ bảo quản thích hợp cho từng loại quả, nhất là các công nghệ bảo quản sạch, không
sử dụng hoá chất độc hại Nhưng đến nay vẫn chưa có công nghệ nào thực sự
ổn định Phương pháp bảo quản quả tươi hữu hiệu nhất vẫn là công nghệ bảo quản lạnh nhưng chi phí đầu tư lớn, giá thành cao Hiện nay các doanh nghiệp vẫn phổ biến sử dụng phương pháp bảo quản mát (ở nhiệt độ 10-12 0C) bằng kho mát hoặc thùng xốp có xếp nước đá và xe chuyên dụng để đảm bảo thời gian bảo quản 3-5 ngày cho thời gian vận chuyển từ nơi thu hoạch đến nơi tiêu thụ Một số công nghệ bảo quản mới như điều tiết thành phần khí (MA),
sử dụng tác nhân tác nhân vật lý (như ozôn, ion âm, phóng xạ) có tác dụng