Tình hình nghiên cứu đề tài Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đề cập đến vấn đề việc làm và thu nhập của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, k
Trang 1Luận văn Việc làm của người có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp ở
tỉnh Nghệ An
Trang 2Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
CNH, HĐH là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tế cho thấy, con đường này chính là nhân tố quyết định sự thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống lên phương thức sản xuất mới, hiện đại Trong tiến trình CNH, HĐH, bộ mặt xã hội có sự thay đổi căn bản: quá trình đô thị hoá và theo đó là quá trình thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi cơ bản
xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp và hiện đại
Để đẩy mạnh CNH, HĐH, cần phải thực hiện việc thu hồi đất cho xây dựng các cơ sở sản xuất CN và DV, nhất là các khu và cụm CN, theo
đó là xây dựng các KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia Đây là một xu hướng tất yếu của quá trình phát triển Xu hướng này đã ngày càng tác động mạnh mẽ không chỉ
ở các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, mà còn ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước kể từ khi triển khai chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước của Đảng (năm 1996) lại đây Nghệ An là một tỉnh Bắc Trung Bộ cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển chung nêu trên
Trong hơn mười năm qua, tốc độ phát triển CN, DV nhất là các KCN và khu tiểu thủ CN, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở Nghệ
An đã diễn ra rất nhanh, với quy mô ngày càng lớn Kể từ khi có chủ trương của Đảng về đẩy mạnh CNH, HĐH (năm 1996) đến nay, trên địa bàn Nghệ An đã xây dựng được trên 3.500 cơ sở CN và DV thu hút trên 150.000 lao động, đặc biệt kể từ khi dự án đầu tiên về KCN được xây dựng vào năm 1998 - KCN Bắc Vinh đến nay đã và đang triển khai thêm một số dự án KCN và khu tiểu thủ CN mới Đề án phát triển kinh tế - xã
Trang 3hội miền Tây Nghệ An đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khu kinh
tế Đông Nam Nghệ An được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tháng 6/2007 trên một diện tích rất rộng (18.826,47 ha) nằm trên 18 xã, phường thuộc khu vực Đông Nam của tỉnh
Cũng như các tỉnh khác, quá trình xây dựng khu và cụm CN ở Nghệ
An đang đứng trước những bất cập trong đó nổi lên vấn đề giải quyết việc làm của người dân có đất bị thu hồi Đó là tình trạng người dân bị thu hồi đất phải thu hẹp việc sản xuất, mất việc làm truyền thống, phải chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi chỗ ở Trong khi đó, Nhà nước chưa chuẩn bị tốt những điều kiện cần thiết cho người dân có đất bị thu hồi chuyển đổi nghề nghiệp, làm cho một bộ phận lớn dân cư ở các khu vực này không có khả năng tìm kiếm cho mình một công việc mới Tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt tại nơi tái định cư v.v đã và đang diễn ra khá phổ biến
Do chủ yếu đất thu hồi là đất nông nghiệp nên những người nông dân rất dễ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Sau khi bị thu hồi đất, nhiều nông dân không có việc làm, không kịp chuyển đổi sang làm việc ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, một bộ phận trong số họ lâm vào tình trạng việc làm và đời sống rất khó khăn Tình trạng này đã xảy ra ở một số nơi làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội gay gắt Mặt khác, việc đền bù khi thu hồi đất nông nghiệp mới chỉ chú ý đến mặt lượng mà bỏ qua mặt chất Mặc dù số tiền mà Nhà nước phải bỏ ra để đền bù cho những người dân về những thiệt hại mà họ phải gánh chịu là không nhỏ, nhưng số tiền đó trong nhiều trường hợp không những không giúp cho người nông dân thiết lập một cuộc sống mới tốt hơn mà còn gây nên những tác động xã hội tiêu cực Nhiều
hộ nông dân không có khả năng sử dụng số tiền đền bù vào hoạt động sản xuất kinh doanh Đời sống của một số người bị thu hồi đất vốn đã khó khăn
Trang 4càng trở nên khó khăn hơn, một số nơi bbất bình đi khiếu kiện, gây nên những bất ổn về mặt xã hội, dễ bị kẻ xấu xúi giục, lợi dụng
Trong khi đó, tình trạng sử dụng đất thu hồi kém hiệu quả đã và đang gây ra sự bất công trong xã hội, làm cho tình hình chính trị, trật tự, an ninh xã hội ở một số nơi có nguy cơ bất ổn định
Để đánh giá đúng thực trạng việc làm và đời sống của người bị thu hồi đất làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trong quá trình
đẩy mạnh CNH, HĐH ở Nghệ An, tôi chọn đề tài: “Việc làm của người có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp ở tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu làm
luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đề cập đến vấn đề việc làm và thu nhập của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó
đáng chú ý là một số công trình sau đây: Đời sống và việc làm của người nông dân những vùng bị thu hồi đất, của hai tác giả Trung Chính và Trần Khâm, báo Nhân Dân các ngày 10, 11, 12 tháng 5/2005; Lao động nông thôn trước nguy cơ thất nghiệp, của tác giả Duy Cảnh, trên báo Giáo dục Thời đại
số 51; Đất mất, việc khó tìm của Phan Dương, Thời báo Kinh tế Việt Nam 4/5/2005; Thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi, của TS Nguyễn Hữu Dũng, Chuyên đề nghiên cứu; Nóng bỏng đất đai, của tác giả Thu Hương, báo Đầu tư ngày 24/8/2005; Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, của Dũng Hiếu, đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra ngày 20/4/2005; Nhiều địa phương giải quyết khiếu nại về đất đai chưa tốt, của Phan Lê, báo Sài Gòn Giải phóng ngày 21/8/2005; Việc làm cho người nông dân hết đất sản xuất, quy hoạch lại nguồn lao động, của tác giả Nguyễn Văn Nam, đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam -19/8/2005; Chất lượng lao động nông thôn thấp, của Huyền Ngân, Thời báo Kinh tế Việt Nam số
Trang 5ra ngày 23/3/2005; Đất đai, những vấn đề thể chế bảo thủ trong tư duy, thiếu minh bạch trong quản lý của tác giả Vũ Quốc Tuấn, Thời báo Kinh tế Việt Nam -1/9/2005; Đẩy người dân đi đâu? của Đinh Toàn, báo Tuổi Trẻ ngày 22/8/2005; Việc làm cho người nông dân khi thu hồi đất, của Nguyễn Thị Hải Vân, Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra ngày 13/7/2005; Trần Lê, “Lợi ích” của người nông dân bị thu hồi đất, website Thời báo kinh tế Việt Nam, 6/7/2007
Tháng 5/2007, nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia do GS, TSKH Lê Du Phong chủ biên Trong đó, nêu một số vấn
đề lý luận, thực trạng về thu nhập, đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia trong thời gian qua ở nước ta, đồng thời cho thấy những khó khăn tồn tại Qua đó, các tác giả đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia trong thời gian tới
Nhìn chung, các công trình và bài viết trên đã có những cách tiếp cận khác nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp vấn đề giải quyết việc làm của người
có đất bị thu hồi trong những năm gần đây Nhưng đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề việc làm của người có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp ở tỉnh Nghệ An dưới góc độ kinh tế chính trị Đề tài tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng lặp với các công trình và bài viết đã công bố
3 Mục tiêu và nhiêm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục tiêu:
Làm rõ thực trạng giải quyết việc làm của người có đất bị thu hồi để xây phát triển công nghiệp ở tỉnh Nghệ An, đề xuất phương hướng và giải
Trang 6pháp nhằm giải quyết có hiệu quả tình trạng này để vừa đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh, vừa bảo đảm được lợi ích chính đáng của người bị thu hồi đất
Nhiệm vụ:
- Khảo sát và đánh giá thực trạng giải quyết việc làm của người có đất bị thu hồi để phát triển CN ở tỉnh Nghệ An, chỉ ra những thành tựu, hạn chế vướng mắc và nguyên nhân của thực trạng này
- Đề xuất, kiến nghị phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả hơn vấn đề việc làm của người có đất bị thu hồi cho phát triển CN ở tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài lấy thực trạng việc làm của những người có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp, trong đó hướng nghiên cứu sâu vào tình trạng người dân làm nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác phải chuyển đổi nghề ở tỉnh Nghệ An làm đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian, đề tài chỉ nghiên cứu việc làm của người có đất bị thu hồi
ở tỉnh Nghệ An do thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước
về chuyển đổi một bộ phận đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất ở sang phát triển công nghiệp và dịch vụ, chứ không nghiên cứu đối tượng bị thu hồi đất do
vi phạm pháp luật
Về thời gian, từ năm 2001 đến năm 2007, đây là những năm hạ tầng cho
phát triển công nghiệp ở Nghệ An được đẩy mạnh
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận:
Trang 7Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những nguyên l í của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH đất nước và giải quyết việc làm của người có đất bị thu hồi trong phát triển CN
- Phương pháp nghiên cứu:
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu: hệ thống hoá lý luận - thực tiễn, điều tra, khảo sát, so sánh, phân tích, tổng hợp tình hình thực tiễn diễn ra trong giải quyết việc làm của người có đất bị thu hồi trên địa bàn tỉnh Nghệ An
6 Đóng góp về khoa học của luận văn
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng giải quyết việc làm của người bị thu hồi đất cho phát triển CN trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến nay
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm của người có đất bị thu hồi trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2010 và những năm tiếp theo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài luận văn kết cấu thành 3 chương
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM
CỦA NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.1 ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.1.1 Đất cho phát triển công nghiệp
CN là ngành sản xuất vật chất, có các hoạt động chủ yếu là khai thác và chế biến và là một bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế ngành của nền kinh tế quốc dõn
Mặc dù cũng là ngành sản xuất vật chất, nhưng CN khác với nông nghiệp
ở chỗ đối tượng lao động của sản xuất CN là những tài nguyờn cú thể khai thỏc
và chế biến, cỏc loại nguyờn liệu, nhiờn liệu từ CN khai khoáng, các loại nguyên liệu từ động, thực vật thuộc các ngành nông, lâm, thủy sản; các loại nhiên liệu như than, dầu mỏ, khí đốt năng lượng mặt trời, sức gió, sức nước; cũn đối tượng lao động của sản xuất nông nghiệp chỉ bao gồm những cơ thể sống, được phát sinh và phát triển theo quy luật sinh học Trong CN, công nghệ sản xuất được sử dụng chủ yếu là quỏ trỡnh tỏc động cơ, lý, hóa để biến đổi các nguyờn liệu nguyờn thủy thành các sản phẩm cuối cùng khác về chất so với đặc tính ban đầu của chúng; cũn cụng nghệ được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là những tác động sinh học vào cơ thể sống theo quy luật sinh học làm gia tăng khối lượng nông sản Cũng như nông nghiệp, sản xuất CN tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống xó hội Lực lượng sản xuất xó hội và khoa học, cụng nghệ càng phỏt triển, con người càng tạo ra được nhiều hơn số lượng và chủng loại sản phẩm CN, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tốt hơn Một nền kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất CN được gọi là nền
Trang 9kinh tế CN Đây là giai đoạn cao hơn so với thời đại nền kinh tế nông nghiệp xét
về lịch sử phát triển lực lượng sản xuất xó hội
Phỏt triển CN là tất yếu đối với mọi quốc gia trên con đường đi tới một nền kinh tế hiện đại Thực tế cho thấy, CN là ngành kinh tế cú ý nghĩa quyết định để chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất mới theo lối CN, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xó hội nụng thôn và
là điều kiện để đi tới một nền kinh tế hiện đại - nền kinh tế tri thức
Phỏt triển CN phải được thực hiện bằng con đường CNH, HĐH, đó chớnh là quỏ trỡnh thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, quá trỡnh chuyển nền kinh tế từ trạng thỏi nụng nghiệp là chủ yếu lờn trỡnh độ CN Phỏt triển CN tức là phát triển cả tiểu, thủ CN và đại CN Nước
ta đang trong quá trỡnh đẩy mạnh CNH, HĐH để đi lên một nền kinh tế hiện
đại, do vậy nội dung chủ yếu của phỏt triển CN là xõy dựng một nền đại CN
dựa trên cơ sở những thành tựu mới nhất của KH và công nghệ với cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra năng suất lao động xó hội cao
Mặc dù CNH đó bắt đầu diễn ra từ hơn 2 thế kỷ, nhưng đến nay trờn thế giới vẫn cũn khụng ớt nước trong đó có Việt Nam đang trong giai đoạn CNH
để phát triển nền đại CN CNH là giai đoạn lịch sử tất yếu mà không một quốc gia nào không phải trải qua trên con đường đi tới một nền kinh tế hiện đại
Tuy nhiờn, sự phỏt triển kinh tế của nhõn loại khụng phải dừng ở chỗ chỉ tạo ra được nền đại CN Các nước đó cú nền kinh tế CN cũng muốn phải HĐH hơn nữa nền sản xuất của mỡnh
Thật vậy, nhân loại đó trải qua hai cuộc cỏch mạng CN (cuộc cỏch mạng CN lần thứ nhất vào cuối thế kỷ XVIII - giữa thế kỷ XIX và cuộc cỏch mạng CN lần thứ hai từ nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) Từ những năm 40 của thế kỷ XX đến nay, đang diễn ra cuộc cách mạng CN lần thứ ba với hai giai đoạn: cỏch mạng khoa học - kỹ thuật (từ những năm 40 thế kỷ
Trang 10XX - cuối những 70 của thế kỷ này); và từ cuối những năm 70 chuyển sang giai đoạn hai với tên gọi cách mạng khoa học và công nghệ, và hiện đang ở giai đoạn này
Mặc dù đến nay vẫn chưa có công trình nào đưa ra định nghĩa đầy đủ
và cụ thể về cách mạng khoa học và công nghệ, nhưng đại thể có thể hiểu cách mạng khoa học và công nghệ là sự thay đổi căn bản các lĩnh vực khoa học, công nghệ cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát triển của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn Trong đó, quan trọng nhất là việc nổi lên vai trò hàng đầu của yếu
tố con người trong hệ thống lực lượng sản xuất dựa trên việc vận dụng đồng
bộ các ngành công nghệ mới có hàm lượng khoa học - công nghệ cao (gọi tắt
là các ngành công nghệ - Hitech) như công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu
mới, công nghệ sinh học ở những nét khái quát nhất, có thể định nghĩa cách mạng khoa học và công nghệ là quá trình biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiện đại, được thực hiện với vai trò dần đường của khoa học trong toàn bộ chu trình: khoa học - công nghệ - sản xuất - con người - môi trường
Nếu cuộc cách mạng CN lần thứ nhất và cách mạng CN lần thứ hai trước đây chỉ thay thế một phần chức năng lao động chân tay của con người bằng máy móc cơ khí, điện khí hoặc tự động hóa một phần, thì cuộc cách mạng khoa học và công nghệ là sự thay thế phần lớn và hầu hết chức năng của con người (cả lao động chân tay lẫn trí óc) bằng các thiết bị máy móc tự động hóa hoàn toàn trong một quá trình sản xuất nhất định Đây là sự khác biệt cơ bản nhất
Trong bối cảnh của cỏch mạng khoa học và cụng nghệ hiện nay, quỏ trỡnh phỏt triển CN của cỏc nước đi sau không phải chỉ đơn thuần là triển khai CNH, thực hiện nội dung của các cuộc cách mạng CN trước đây, mà cần thiết phải gắn CNH với HĐH, tiếp cận kinh tế tri thức, tức là phải gắn với việc triển khai cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Chỉ như vậy, mới có tốc
độ tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh, mới có thể theo kịp các nước đi trước
Trang 11và mới hội nhập kinh tế quốc tế tích cực và có hiệu quả Quỏ trỡnh này đũi hỏi bên cạnh phát triển các ngành CN và không ngừng HĐH hệ thống sản xuất của chúng, các nước đi sau phải coi trọng phát triển các ngành kinh tế dịch vụ, gắn tăng trưởng nhanh CN và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế quốc dân để chuyển dịch nó thoát khỏi trạng thỏi một nền sản xuất nụng nghiệp
Chớnh vỡ thế, trong cụng cuộc đổi mới đất nước, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, phải gắn CNH với HĐH trong từng bước phát triển, coi đó là nhiệm vụ trung tâm quan trọng hàng đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Trong chủ trương đó, Đảng ta xác định phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Để đạt được mục tiêu trên, phải cú sự tập trung cỏc nguồn lực như vốn, cụng nghệ, nhân lực, mặt bằng sản xuất, kết cấu hạ tầng Trong đó, tất yếu phải di chuyển một bộ phận quan trọng nguồn lực đất đai từ nông nghiệp sang phát triển CN và dịch vụ Điều này làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất trong các ngành kinh tế theo hướng đất cho CN và dịch vụ tăng lên, cũn đất cho sản xuất nông nghiệp giảm xuống cả về số lượng tuyết đối và tương đối
1.1.2 Sự cần thiết phải thu hồi đất để phát triển công nghiệp
Sau khi giành chớnh quyền, lónh đạo đất nước quá độ lên CNXH, Đảng
ta đó xác định đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng Luật cải cách ruộng đất năm 1953 cho phép chia ruộng đất cho nông dân và Nhà nước đó cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân Chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đó được xác lập ở nước ta Đến năm 1960, bằng công cuộc cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, tuyệt đại đa số đất nông nghiệp được chuyển dần sang chế độ công hữu với hai hỡnh thức chủ yếu là sở hữu tập thể và sở hữu Nhà nước, chế độ sở hữu tư nhân về đất đai cơ bản bị xoá bỏ ở miền Bắc Tỡnh hỡnh này cũng diễn ra ở miền Nam sau ngày giải phúng Đến năm 1978, về cơ bản cả nước chỉ cũn hai hỡnh thức sở hữu
Trang 12ruộng đất chủ yếu là sở hữu tập thể và sở hữu Nhà nước Năm 1980, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: đất đai thuộc sở hữu toàn dõn, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai, Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đỡnh để tổ chức sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII (6/1981), Đảng ra chủ trương: ruộng đất thuộc sở hữu toàn dõn, giao cho nụng dõn quyền sử dụng lõu dài (cỏc vấn đề khác như chuyển quyền sử dụng đất, kế thừa, thế chấp, do Nhà nước quy định Năm 1992 Nhà nước ban hành Hiến phỏp mới và năm 1993 ban hành Luật đất đai Cả hai văn bản quan trọng này đều đó thể chế hoỏ chủ trương trờn của Đảng, trong đó nêu rừ: Nhà nước cho tổ chức, hộ gia đỡnh, cỏ nhõn, người nước ngoài thuê đất; người sử dụng đất ổn định được uỷ ban nhân dân xó, phường, thị trấn xác nhận thỡ được cơ quan Nhà nước cú thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hộ gia đỡnh, cỏ nhõn được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuờ, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất (điều 3) Những văn bản pháp lý của Nhà nước đó qui định cụ thể quyền sử dụng đất tức là quyền của con người được khai thác đất để phục vụ cho lợi ích của mỡnh bằng sức lao động đó được mở rộng hơn bằng hỡnh thức chuyển một số chức năng quyền của chủ sở hữu cho người sử dụng Đó là quyền được định đoạt một phần và cũng là quyền được hưởng lợi ích kinh tế của chủ sở hữu Tuy nhiên, người sử dụng đất phải sử dụng đúng mục đích được giao, trong thời hạn được giao
Sau Luật đất đai năm 1993, đến nay Nhà nước đó ba lần tiến hành sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001 và 2003 Luật đất đai sửa đổi năm 2003
có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 qui định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý"; Nhà nước là tổ chức quyền lực công đảm bảo cho quan hệ xó hội về đất đai được thực hiện theo đúng qui định Trong những quyền lực công về đất đai, Nhà nước có quyền sở hữu, quyền định đoạt, quyền sử dụng đất đai và quyền được hưởng lợi ích kinh tế từ đất Theo những qui định này, Nhà nước có quyền cho thuờ đất,
Trang 13quyền được giao đất, quyền được thu hồi đất đó giao hoặc cho thuờ, quyền quyết định về qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyền đánh giá đất Người được Nhà nước giao quyền sử dụng đất có quyền khai thác, sử dụng đất để phục vụ cho các mục tiêu như sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, xõy dựng khu CN, khu chế xuất, phỏt triển sản xuất CN và dịch vụ theo thời hạn hoặc ổn định lâu dài và phải có nghĩa vụ với Nhà nước thụng qua việc Nhà nước thu tiền sử dụng đất
Theo những qui định này, để chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp và đất đang sử dụng theo mục đích khác thành đất sản xuất CN và dịch
vụ tạo tiền đề thúc đẩy CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân, Nhà nước cần phải thu hồi đất mà một bộ phận dân cư đang sử dụng để tạo mặt bằng và kết cấu
hạ tầng cho sản xuất CN, dịch vụ Sự cấn thiết phải thu hồi đất cho phát triển
CN được thể hiện:
Một là, thu hồi đất để có mặt bằng xây dựng các cơ sở sản xuất CN,
khu CN, khu chế xuất, khu kinh tế mở, thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phỏt triển kinh tế - xó hội của đất nước Muốn phỏt triển hệ thống sản xuất
CN thỡ khụng thể khụng chuyển một lượng diện tích nhất định đất đai cho việc tạo lập mặt bằng triển khai hoạt động sản xuất này
Hai là, do nằm trong một cơ cấu kinh tế, các ngành kinh tế có quan
hệ tác động thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau, nên sự phỏt triển sản xuất CN, tất yếu phải phỏt triển cỏc ngành kinh tế dịch vụ, xõy dựng kết cấu hạ tầng như sân bay, bến cảng, hệ thống đường giao thông, hệ thống lưới điện quốc gia, hệ thống thông tin, liên lạc, bưu chính, viễn thông, hệ thống thủy lợi và phát triển đô thị Điều này đũi hỏi phải mở rộng diện thu hồi đất đó và đang đang sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lõm nghiệp để chuyển sang phỏt triển sản xuất CN, dịch vụ, xõy dựng kết cấu hạ tầng vỡ lợi ớch chung của nền kinh tế quốc dõn và phỏt triển đô thị
Trang 14Chỉ tớnh riêng 15 năm kể từ khi bắt đầu thành lập các KCN đến cuối năm 2006, cả nước đó cú 135 KCN và KCX với tổng diện tích đất tự nhiên trên 30.000 ha, thu hút 4.516 dự án đầu tư trong và ngoài nước Ngoài ra, cũn
cú 124 cụm CN hoặc KCN vừa và nhỏ do các địa phương thành lập, với tổng diện tích hơn 6.500 ha Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ thỏng 8/2005 đến năm 2015 và định hướng năm 2020 cả nước có khoảng 80.000 ha đất dành cho KCN và KCX Để có được một diện tích đất nờu trờn cho phỏt triển KCN và KCX, Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất từ những chủ đang sử dụng vào các hoạt động khác, trong đó chủ yếu vào sản xuất nụng, lõm nghiệp và nuụi trồng thuỷ sản Việc làm này là cần thiết trong quỏ trỡnh đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Ba là, việc thu hồi đất nông nghiệp, nông thôn cho phát triển CN, dịch
vụ, xây dựng đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng là cần thiết không chỉ đơn thuần bắt nguồn từ yêu cầu CNH, HĐH và ĐTH, mà còn từ chính yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của khu vực nông thôn Việc phát triển sản xuất CN không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mới, ổn định hơn để người lao động có thu nhập cao hơn so với làm việc trong nông nghiệp, tạo điều kiện chuyển dịch lao động từ nông nghiệp, nông thôn sang CN, dịch vụ và thành thị, mà còn tạo ra những điều kiện mới để mở rộng thị trường cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Những sản phẩm được tạo ra từ CN sẽ là những yếu tố sản xuất và hàng tiêu dùng đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân nông thôn Nhờ phát triển CN mà người dân nông thôn có thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình, cung cấp các nguyên vật liệu cho CN và hàng nông sản cho những người làm CN
Thu hồi một phần đất nông nghiệp chuyển sang sản xuất CN còn tạo ra điều kiện thúc đẩy tăng năng suất lao động nông nghiệp Bởi vì sự phát triển của các cơ sở CN đòi hỏi phải mở rộng nguồn cung cấp về nguyên liệu, nhất
là đối với các ngành CN chế biến nông sản cho sản xuất, và lương thực, thực
Trang 15phẩm cho người lao động trong các cơ sở CN Thị trường nông sản được mở rộng hơn khi chưa có các cơ sở CN Cầu về nong sản tăng lên, làm cho giá nông sản tăng, tỷ suất lợi nhuận và thu nhập của người nông dân tăng lên Đây là điều kiện để họ tích lũy vốn, đổi mới công nghệ sản xuất, chăm lo hơn đến việc sản xuất, qua đó thúc đẩy tăng năng suất lao động nông nghiệp, kích thích sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường, tăng hiệu quả
Thực tế trong những năm gần đây cho thấy nhờ phát triển CN và việc hình thành các KCN, KCX, nên đã chuyển được hàng triệu lao động nông nghiệp sang CN, người lao động đã có thu nhập khá hơn so với khi làm nông nghiệp, mức sống vật chất và tinh thần của cá nhân và gia đình họ đã được nâng lên
Theo thống kờ, tổng diện tích đất đai năm 2003 của cả nước có 33.104.200 ha, trong đó đất nông nghiệp 9.531.800 ha, đất lõm nghiệp cú rừng 12.402.200 ha, đất chuyên dùng 1.669.600 ha, đất ở 460.400 ha, cũn 8.867.400 ha đất chưa sử dụng Bỡnh quõn từ năm 1996 đến năm 2003, đất chuyên dùng tăng 52.545 ha/năm Theo Báo cáo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 20 năm đổi mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thỡ chỉ trong giai đoạn 2001-2005, cả nước đó cú 366.440 ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó có 15.383 ha chuyển sang xây dựng KCN, KCX và 24.173 ha xây dựng các cụm CN vừa
và nhỏ [5, tr.2] Đất chuyên dùng tăng lên chủ yếu là do xây dựng và phát triển các cơ sở sản xuất CN, các KCN, KĐT, xõy dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
- xó hội, nhu cầu cụng cộng và lợi ớch quốc gia Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường và đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta, việc thu hồi đất cho phát triển CN càng được tăng cường
1.2 NỘI DUNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Trang 161.2.1 Việc làm, giải quyết việc làm và những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm
Việc làm là những hoạt động không vi phạm pháp luật và đưa lại cho
người thực hiện hoạt động đó một thu nhập nhất định Điều này nghĩa là người có việc làm không nhất thiết phải là người nằm trong biên chế Nhà nước như thường được hiểu trước đây
Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều thành phần của nước ta hiện nay, việc làm tồn tại trong tất cả các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế và đều được xó hội trõn trọng Khi nền kinh tế cú nhiều ngành nghề thỡ việc làm cũng tồn tại ở tất cả cỏc ngành nghề đó Có việc làm trong CN, nông nghiệp
và trong dịch vụ; có việc làm thuộc lao động giản đơn và có việc làm thuộc lao động phức tạp; có việc làm thuộc lao động chân tay và có việc làm thuộc lao động trí óc Tức là, việc làm là “sự cụ thể húa” nền sản xuất xó hội Khụng cú nền sản xuất xó hội nào là khụng cú việc làm Tuy nhiờn, quy mụ
và cơ cấu việc làm trong một nền sản xuất xó hội cụ thể nhất định cũn phụ thuộc vào trỡnh độ phát triển lực lượng sản xuất, tính chất của qnan hệ sản xuất và quan điểm, chính sách của Nhà nước mà nền sản xuất đó tồn tại
Giải quyết việc làm, theo nghĩa rộng, là tổng thể những biện phỏp, chớnh
sỏch kinh tế - xó hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xó hội để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều được lao động (có việc làm) và có thu nhập Theo nghĩa hẹp, giải quyết việc làm là các biện pháp, chính sách chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động để giảm
thiểu tỷ lệ thất nghiệp Theo cỏc nghĩa nờu trờn, thực chất của giải quyết việc làm là quỏ trỡnh tạo ra và kết hợp cỏc yếu tố sản xuất bao gồm sức lao động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế - xó hội khỏc để đảm bảo cho người có khả năng lao động được lao động và duy trỡ hoạt động lao động đó
Trong lịch sử phỏt triển của cỏc học thuyết kinh tế, đến nay đó cú một
số lý thuyết về việc làm và giải quyết việc làm, như lý thuyết cỏc yếu tố cơ
Trang 17bản của quá trỡnh lao động của C Mác, lý thuyết tạo việc làm của J.M Keynes, lý thuyết tạo việc làm bằng gia tăng đầu tư do các nhà kinh tế thuộc trường phái Chính hiện đại, lý thuyết tạo việc làm bằng cách di chuyển lao động giữa hai khu vực CN và nông nghiệp của Athur Lewis, lý thuyết tạo việc làm của Harry Toshima Cỏc lý thuyết này đó quan tõm đến các cách giải quyết khác nhau về việc làm
Theo C Mỏc, quỏ trỡnh lao động chính là sự kết hợp của ba yếu tố gồm
sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Thiếu một trong ba yếu
tố này thỡ khụng thể diễn ra quỏ trỡnh lao động được Hay nói cách khác, những khách thể bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động (gọi chung
là tư liệu sản xuất) là điều kiện thiết yếu để người lao động có được việc làm
Trong lý thuyết việc làm của J.M Keynes cho rằng, việc làm cú vai trũ
rất quan trọng đối với sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế Khi việc làm tăng, thỡ thu nhập thực tế tăng, cầu tiêu dùng tăng, làm tăng tổng cầu và đây
là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng tổng cung cũng như tăng trưởng của nền kinh
tế Để tăng qui mô việc làm, cần mở rộng đầu tư Khối lượng đầu tư quyết định qui mô việc làm Điều này nghĩa là để tăng khối lượng đầu tư, nhà nước cần có những chương trỡnh đầu tư qui mô lớn, đồng thời cần có những chính sách kích thích đầu tư của tư nhân (như chính sách tài chính, tín dụng, lưu thông tiền tệ, chính sách thuế ) Việc mở rộng chi tiêu của nhà nước, tăng tiêu dùng của những người giàu, chính sách “ướp lạnh tiền công”, “tín dụng tiêu dùng” cũng được coi là cỏc giải pháp để tăng tổng cầu, mở rộng qui mụ việc làm
Theo lý thuyết tạo việc làm bằng gia tăng đầu tư - tăng trưởng kinh tế,
thỡ muốn tăng trưởng kinh tế phải có tích luỹ, để từ đó có vốn đầu tư mở rộng tái sản xuất, tạo nhiều việc làm Đối với các nước đang phát triển do thu nhập thấp, tốc độ tăng trưởng chậm, tỷ lệ tích luỹ thấp, dẫn đến thiếu vốn đầu tư
Để tạo vốn đầu tư cho tăng trưởng, các nước này cần phải dựa vào lợi thế so sỏnh của mỡnh là tài nguyờn thiờn nhiờn và nguồn nhõn lực dồi dào để thu
Trang 18hút vốn đầu tư từ bên ngoài (hiểu theo nghĩa rộng, vốn đầu tư bao gồm cả vốn bằng ngoại tệ, thiết bị, phương tiện kỹ thuật, công nghệ, tri thức quản lý kinh
tế hiện đại), từ đó sẽ tạo mở được nhiều việc làm Tốc độ và quy mô của vốn đầu tư tăng sẽ thúc đẩy trực tiếp tốc độ và quy mô của việc thu hút nguồn nhân lực vào hoạt động kinh tế (tạo việc làm)
Nhỡn chung, qua cỏc lý thuyết, dưới góc độ kinh tế thị trường, có thể khái quát qui mô việc làm được quyết định bởi:
- Qui mô vốn đầu tư Khi lực lượng sản xuất càng phát triển, nền sản
xuất càng coi trọng việc sử dụng máy móc thỡ lượng vốn đầu tư để có một chỗ làm việc càng nhiều hơn Nền sản xuất càng cú nhiều hỡnh thức đầu tư, tức là càng có nhiều ngành nghề thỡ càng cú điều kiện mở rộng qui mô việc làm Trong điều kiện trỡnh độ công nghệ không đổi, thỡ qui mụ đầu tư tỷ lệ thuận với qui mô việc làm
- Số lượng và chất lượng lao động Số lượng người lao động càng
nhiều thỡ càng cú điều kiện tạo thêm việc làm Tuy nhiên, chất lượng người lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Chất lượng người lao động được thể hiện ở trỡnh độ, năng lực lao động, tính kỷ luật và phẩm chất của mỗi người lao động Sự sẵn sàng về số lượng và chất lượng lao động để đáp ứng cầu lao động trên thị trường là một điều kiện rất quan trọng trong việc quyết định qui
mô việc làm
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm Nếu dung lượng thị trường này càng
lớn, có sức tiêu thụ sản phẩm càng nhiều và càng nhanh, tức là cầu về hàng hóa và dich vụ tăng, thỡ cầu về cỏc yếu tố sản xuất núi chung trong đó có cầu
về lao động tăng, qui mô việc làm tăng
Để tạo ra và thúc đẩy tăng trưởng những nhõn tố trên đũi hỏi phải cú một loạt cỏc giải phỏp như mở rộng tích lũy vốn, phát triển khoa học và công nghệ, khai thác triệt để và có hiệu quả các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên; điều tiết gia tăng dân số, mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục -
Trang 19đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; sự hỗ trợ của các chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư, phát triển thị trường lao động, chớnh sỏch thu nhập, mở cửa nền kinh tế Về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, đây chính là những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm Sự phối hợp đồng bộ và có hiệu quả những giải pháp này là một điều kiện thiết yếu làm tăng qui mô việc làm trong xó hội và chớnh đây cũng là điều kiện tạo nền
sự tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Nội dung chủ yếu của giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi
Như đó nờu trờn, để phát triển CN, việc thu hồi đất chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất CN, đất chuyên dùng cho phát triển các KCN, KCX, xây dựng đường sỏ giao thụng và cỏc cụng trỡnh cụng cộng khỏc là cần thiết
Việc thu hồi đất làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xó hội liên quan đến ba đối tượng: xó hội, mà đại diện là Nhà nước; các doanh nghiệp cần đất
để sử dụng và người dân có đất bị thu hồi Điều này có nghĩa là vấn đề giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi không chỉ đơn giản là công việc thiết thõn của người bị thu hồi đất, mà cũn cú liờn quan đến Nhà nước và các doanh nghiệp sử dụng đất do Nhà nước giao sau khi thu hồi Giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, do vậy phải là cụng việc được cả ba đối tượng nờu trờn quan tõm Nội dung của nú bao gồm:
- Mở rộng lượng cầu về lao động
Lượng cầu về lao động là số lượng lao động mà cỏc tổ chức kinh tế, xó hội cú nhu cầu sử dụng và cú khả năng chi trả tiền công hoặc tiền lương để được quyền sử dụng số lao động đó trong một thời gian nhất định
Do người lao động bị thu hồi đất chủ yếu là nụng dõn sống bằng sản xuất nông nghiệp, nên giải pháp đơn giản nhất là giao quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nơi khác để họ tiếp tục làm việc theo nghề vốn đó cú Thế nhưng, do
Trang 20diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, nên giải phỏp chủ yếu không phải như vậy, mà là phải chuyển đổi nghề để họ sang làm việc ở các cơ sở sản xuất CN
và dịch vụ Nghĩa là, để mở rộng lượng cầu việc làm trong điều kiện chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang phát triển CN, cần coi trọng việc các
cơ sở CN tuyển dụng lao động tại chỗ, thu hút những người bị mất đất vào làm việc tại các cơ sở của mỡnh Đồng thời, khuyến khích phát triển tiểu thủ
CN, làng nghề, phát triển các ngành dịch vụ, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, phát triển hỡnh thức trang trại, mở rộng việc làm ở khu vực nụng thụn, mở rộng xuất khẩu lao động Cần tạo ra cơ hội để người lao động tự tạo việc làm Nhà nước cần có chính sách và biện pháp để các cơ sở
CN khi nhận quyền sử dụng đất phải có kế hoạch ưu tiên tuyển dụng, thu hút lao động bị mất việc làm do bị thu hồi đất Đây là biện pháp giải quyết việc làm cần thiết để tạo được sự đồng thuận giữa các đối tượng liên quan đến đất
bị thu hồi
Thực tế cho thấy, nhờ phỏt triển CN mà đó tạo ra cơ hội cho việc thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động Theo tính toán của Bộ Lao động- thương binh- xó hội thỡ cứ một ha đất khi chuyển sang phát triển CN, dịch vụ có thể tạo ra được từ 50 đến 100 chỗ làm việc mới Việc xây dựng và phát triển các KCNkhông chỉ tạo ra một lượng lớn việc làm để thu hút số lao động ở đô thị, mà cũn thu hỳt một lượng lớn lao động vốn là những người nông dân hoặc không nghề nghiệp ổn định sống ở các vùng nông thôn, nhờ đó góp phần làm tăng năng suất lao động tại các vùng này Số việc làm không chỉ được tạo ra cho số lao động làm việc chính thức tại các nhà máy, các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, mà cũn cho một số lượng lớn lao động làm dịch vụ, xây dựng cơ bản và các khu vực phi chính thức khác phục vụ cho phát triển
CN kể cả ở trong và ngoài KCN, KCX
- Nâng cao chất lượng cung lao động
Trang 21Người dân bị thu hồi đất nên bị mất việc làm, có nghĩa là dư cung về lao động trong nông nghiệp Muốn cú việc làm, họ phải chuyển nghề, tỡm việc làm mới Và muốn vậy, họ phải đi học để có được một nghề chuyên mụn nhất định Phải mở nhiều hỡnh thức đào tạo phù hợp với từng lứa tuổi và sở thích của người lao động, trong đó dạy nghề cho nông dân là một giải pháp thiết thực nhất, đáp ứng nhu cầu trước mắt của họ Do người bị mất đất ở các lứa tuổi khác nhau, nên việc dạy nghề phù hợp với từng lứa tuổi phải được coi trọng
Chất lượng lao động khụng chỉ là trỡnh độ học vấn, trỡnh độ tay nghề, mà cũn bao hàm cả ý thức kỷ luật, tính trách nhiệm, độ nhạy cảm của người lao động với những diễn biến thị trường Do vậy, bên cạnh việc mở rộng qui mụ và loại hỡnh đào tạo nghề, việc coi trọng nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo là rất cần thiết để nâng cao chất lượng cung về lao động trên thị trường
Chất lượng cung về lao động cũn phụ thuộc vào sức khỏe của người lao động Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như điều kiện ăn, ở, đi lại, rèn luyện sức khỏe, y tế, hệ thống an sinh xó hội Việc bố trớ tỏi định cư cho người có đất bị thu hồi, việc đảm bảo đời sống của họ khi Nhà nước thu hồi đất phải được đặt ra Điều này không chỉ cú ý nghĩa làm tăng chất lượng cung lao động, mà cũn thể hiện đạo lý của cách mạng XHCN, mục tiêu của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta
Thực tế cho thấy, vấn đề nâng cao chất lượng cung lao động nhằm giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi không chỉ đơn giản là một cơ hội để họ có thế có khoản thu nhập cao hơn, mà cũn là một ỏp lực đối với họ
Đú là tỡnh trạng khi người dân có đất bị thu hồi, họ không những phải chuyển nơi ở, mà cũn phải chuyển đổi nghề nghiệp Đây là mọt vấn đề lớn, vỡ họ đang sinh sống ổn định trong ngôi nhà của mỡnh, với cụng việc sản xuất hàng ngày gắn bú với đồng ruộng với một trỡnh độ sản xuất thấp Sau khi bị Nhà nước thu hồi đất, họ không dễ dàng chuyển đổi nhanh sang một việc làm mới thích ứng với tác phong CN hay kinh doanh dịch vụ được Do quá trỡnh
Trang 22CNH, HĐH diễn ra ngày càng nhanh, việc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất CN và dịch vụ ngày càng tăng, nên sẽ diễn ra tỡnh trạng một bộ phận ngày càng lớn nụng dõn bị mất việc làm Số liệu bỏo cỏo của Bộ Tài nguyên môi trường, giai đoạn từ 2000 - 2004, diện tích đất nông nghiệp của cả nước đó được chuyển đổi mục đích sử dụng là gần 157.000 ha, trong đó để xây dựng các KCN, KCX 22.000 ha, xõy dựng cỏc cụm CN vừa
và nhỏ gàn 35.000 ha, xõy dựng kết cấu hạ tầng đô thị gần 100.000 ha Bộ Lao động thương binh xó hội mới đây báo cáo, trung bỡnh mỗi hộ gia đỡnh nụng dõn bị thu hồi đất có khoảng 1,5 lao động rơi vào tỡnh trạng khụng cú việc làm và mỗi ha diện tớch đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm trong sản xuất nông nghiệp Với 157.000 ha đất đó chuyển đổi nói trên sẽ có tới trên 20 vạn lao động nông nghiệp phải chuyển đổi nghề nghiệp, trong số đó vẫn cũn nhiều người chưa có việc làm, đó rơi vào tỡnh trạng thất nghiệp dẫn tới cuộc sống khú khăn Để giải quyết việc làm việc cho
số người này, về cơ bản, lâu dài vẫn phải nâng cao chất lượng cung về lao động cho họ Điều này cũng cần có sự hỗ trợ của Nhà nước
Việc đào tạo nghề cho những người từ nông dân có đất bị thu hồi để chuyển đổi nghề nghiệp cho họ là một vấn đề cần thiết, đang đặt ra nhằm nâng cao chất lượng cung lao động Do đặc điểm của sản xuất của các ngành
CN đũi hỏi người lao động phải có tay nghề, có chuyên môn, kỹ thuật, nên người lao động phải được đào tạo cơ bản Nhưng hầu hết số lao động nông thôn ở nước ta lại chưa hề được đào tạo, chủ yếu là lao động phổ thông, nên chất lượng cung về lao động cũn thấp Theo kết quả điều tra của Ban chỉ đạo điều tra thực trạng việc làm và thất nghiệp năm 2006 của Bộ Lao động thương binh và xó hội thỡ cả nước ta có 34 triệu lao động nông thôn thỡ cú 26,2 triệu người chưa qua đào tạo, chiếm gần 77,1%, chỉ có 17,6% lao động được đào tạo tay nghề theo trỡnh độ sơ cấp hoặc công nhân kỹ thuật, 3,1%
có trỡnh độ trung cấp kỹ thuật, 5,3% có trỡnh độ từ cao đẳng trở lên Số lao
Trang 23động này nếu không được đào tạo một nghề nhất định thỡ rất khú cú thể đáp ứng được trước yêu cầu phát triển của các ngành CN và dịch vụ Đây thực
sự là nguy cơ tiềm ẩn thất nghiệp đối với những người có đất bị thu hồi
- Phỏt triển cỏc dịch vụ mụi giới việc làm
Thị trường lao động là nơi diễn ra quan hệ mua và bán sức lao động, nơi để người lao động tỡm kiếm việc làm và để người sử dụng lao động tỡm được người làm những công việc phù hợp Thị trường lao động là một cơ chế quan trọng để khai thụng quan hệ cung - cầu về lao động trong xó hội Tiền cụng thị trường là tín hiệu để người lao động lựa chọn việc cung ứng sức lao động, lựa chọn sự sẵn sàng làm việc cho một tổ chức cần thuê mướn lao đông; đồng thời tiền cụng cũng là tín hiệu để người mua sức lao động có quyết định đúng đắn thuê số lượng lao động là bao nhiêu, ở thời điểm nào
Do sức lao động là một loại hàng hóa được lưu thông trên thị trường, nên cơ chế vận hành thị trường lao động trước hết chịu sự chi phối của các quy luật khách quan, chịu tác động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung - cầu Nhưng để giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, Nhà nước cần quan tâm tác động vào thị trường này, thúc đẩy quá trỡnh phỏt triển của nú
Thông qua các trung tâm môi giới lao động, giới thiệu việc làm, thông qua thông tin thị trường lao động, Nhà nước cần có những hỗ trợ để người lao động có đất bị thu hồi có sự chuẩn bị về nghề nghiệp trước khi tham gia thị trường lao động, được ưu tiên tuyển chọn vào làm việc tại các tổ chức kinh tế,
xó hội nơi họ cư trú Đồng thời, giới thiệu cho họ di chuyển việc làm đến các
cơ sở sản xuất kinh doanh khác trong tỉnh hoặc ngoại tỉnh, mở rộng hỡnh thức đưa người lao động ra làm việc ở nước ngoài để giảm bớt căng thẳng cung về lao động trong nước
Thông qua thị trường lao động, các cơ sở đào tạo, dạy nghề có thể điều chỉnh qui mô và cơ cấu đào tạo cho thích hợp, sát với nhu cầu thị trường
Trang 24- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với người sử dụng lao động
và người lao động trong giải quyết việc làm
Thu hồi để phát triển CN, mở rộng ra là để CNH, HĐH nền kinh tế, có nghĩa đây là việc làm cần thiết để nền sản xuất có được năng suất lao động cao hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, qua đó nâng cao mức hưởng thụ vật chất và tinh thần cho người dân và cho toàn xó hội Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất như vậy chính là vỡ lợi ớch chung Để phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN, để đảm bảo lợi ích chung, trong giải quyết việc làm của người có đất bị thu hồi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với người sử dụng lao động và người lao động Đây không phải đơn thuần chỉ là trách nhiệm tự thân của người bị thu hồi đất, mà cũn cú trỏch nhiệm của Nhà nước và các cơ sở CN được nhận quyền sử dụng đất thu hồi Không chỉ nhận thực giản đơn rằng khi thu hồi đất, Nhà nước đền bù cho người dân một số tiền về đất, hoa màu, tài sản trên đất và bố trí tái định cư cho họ là hết trách nhiệm Vấn đề đặt ra và cần được tính đến khi thu hồi đất
là phải đảm bảo cuộc sống lâu dài cho người người có đất bị thu hồi, phải tạo
ra và đảm bảo việc làm ổn định cho họ
Trên thực tế, đó khụng ớt người dân bị thu hồi đất sau khi nhận được tiền đền bù với một khoản lớn đó khụng biết sử dụng cú hiệu quả, đưa vào tiêu dùng, mua sắm đồ dùng đắt tiền vỡ hưởng thụ trước mắt, thậm chí có một số người do không có việc làm nên dùng số tiền đó đánh bạc, nghiện hút và các tệ nạn xó hội khỏc Khi hết tiền, đó khụng cú việc làm, khụng cú thu nhập mà lại
cú thúi quen tiờu dựng Nếu khụng cú sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với người sử dụng lao động và người có đất bị thu hồi trong giải quyết việc làm cho đối tượng này thỡ khú cú thể trỏnh khỏi những bất ổn trong xó hội và do
đó những mục tiêu chuyển đổi đất cũng không được thực hiện
Để có được sự phối hợp này, Nhà nước với vai trũ là một tổ chức nhõn danh xó hội, vỡ lợi ớch chung, ngoài những hỗ trợ cần thiết cho người có đất
Trang 25bị thu hồi, cần phải có cơ chế chính sách buộc người lao động tham gia tích cực vào thị trường lao động, và quy trách nhiệm cho các doanh nghiệp trong việc thu hút những người có đất bị thu hồi vào làm việc tại cơ sở của mỡnh, nhất là cỏc doanh nghiệp được nhận quyền sử dụng đất thu hồi do Nhà nước giao Việc làm này phải được chuẩn bị trước khi thu hồi đất Có như vậy mới đảm bảo cho người có đất bị thu hồi sẵn sàng giao đất cho Nhà nước để được làm một công việc mới có thu nhập cao hơn
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ TỈNH, THÀNH PHỐ TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI
1.3.1 Kinh nghiệm của Hà Nội
Hà Nội là thủ đô, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá của cả nước,
nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ thuộc châu thổ sông Hồng Trong hơn
mười năm gần đây, kinh tế của Hà Nội đã có những bước phát triển tương đối khá, được đánh giá là một trong những địa phương có môi trường đầu tư hấp dẫn nhất cả nước Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm không ngừng tăng, giai đoạn 1990-1999 bình quân đạt 11,85%/năm (cả nước đạt 7,7%), giai đoạn 2000-2005 đạt 9,8%/năm (cả nước đạt 7,5%) Tỷ trọng GDP của Hà Nội so với cả nước không ngừng tăng, năm 1990 là 5,5%, lên 6,1% vào năm 1995, lên 7,1% năm 1999 và 8,4% năm 2004 Hà Nội cùng thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trong những địa phương có tỷ lệ GDP/người cao nhất cả nước
Có được những thành tựu trên là do Thành phố đã rất cố gắng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp giải quyết việc làm cho người
có đất bị thu để cho phát triển CN, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng các khu đô thị Những biện pháp thành phố Hà Nội đã áp dụng là:
- Thành lập Ban chỉ đạo Chương trình việc làm, tiến hành nắm bắt thực
tế nguồn nhân lực, khả năng giải quyết việc làm của các dự án mới được xây dựng, khả năng của các cơ sở sản xuất kinh doanh để chỉ đạo các sở, ngành có
Trang 26liên quan như Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, sở Kế hoạch và Đầu tư tìm biện pháp hỗ trợ giải quyết việc làm trên địa bàn Thành phố
- Ban hành các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất tạo cơ chế
tổ chức triển khai thực tế như chính sách khuyến khích, tạo điều kiện về mọi mặt để phát triển các thành phần kinh tế, nhất là khuyến khích phát triển kinh
tế ngoài quốc doanh Trong chính sách phát triển nông nghiệp, Thành phố thực hiện đầu tư, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng, giống, vốn, đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vào trồng trọt và chăn nuôi, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại Chính quyền Thành phố đã triển khai chính sách phát triển các loại hình dịch vụ, tạo điều kiện về việc làm cho người lao động thuộc diện di dời, giải toả
- Tổ chức và thực hiện Chương trình vay vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm gắn với chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế Các hội, đoàn thể của Thành phố như Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh, mặt trận tổ quốc, đoàn thanh niên cũng có những hoạt động thiết thực nhằm giải quyết việc làm cho con em và hội viên của mình
- Thành phố áp dụng hai mức độ hỗ trợ là: hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo (đây là chủ yếu) và hỗ trợ hoàn toàn Hỗ trợ chủ yếu bằng hình thức cấp kinh phí để người lao động tự tìm nơi đào tạo Các cơ sở sử dụng đất thu hồi cũng có tham gia vào việc hỗ trợ này, tuy nhiên ở mức thấp hơn so với một số tỉnh khác (Ví dụ, Bình Dương là một tỉnh chú trọng nhiều đến đào tạo tại doanh nghiệp và tại các trung tâm đào tạo nghề; còn Hà Nội chủ yếu là hỗ trợ kinh phí để người lao động tự tìm đến học tập tại các trung tâm dạy nghề)
- Các chủ dự án đầu tư được giao sử dụng đất Nhà nước thu hồi đã có những cố gắng hỗ trợ người dân trong việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm, nhất là đối với những lao động trẻ và những người dưới 35 tuổi, nhằm giúp họ kiếm được việc làm mới trong công nghiệp hoặc dịch vụ với thu nhập cao hơn và ổn định hơn
Trang 27Kết quả là chỉ tính từ khi có chủ trương xây dựng KCN (năm 1992) đến nay, Hà Nội đã thu hồi được 1.624,47 ha đất nông nghiệp và một phần đất
ở để xây dựng được 24 KCN và cụm CN, với vốn đầu tư xây dựng là 275,85 triệu USD và 3.317,1 tỷ đồng Việt Nam, chiếm 6,1% tổng diện tích xây dựng các KCN của cả nước Nhiều người dân bị thu hồi đất đã có việc làm mới, thu nhập và đời sống của họ được cải thiện hơn trước
Tuy đã có nhiều giải pháp tích cực, nhưng vấn đề giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi ở Hà Nội vẫn còn nhưng hạn chế bất cập, làm nảy sinh một số phức tạp Trong đó nổi lên là đất thu hồi thì nhiều, nhiều cơ sở
CN, KCN, khu ĐTM được ra đời, nhưng việc chuyển dịch cơ cấu lao động lại diễn ra không phù hợp với xu thế phát triển đó, tỷ lệ lao động quay trở về làm nông nghiệp vẫn còn lớn (53.0%), tỷ lệ các nghề không cơ bản, ít đào tạo như nghề xe ôm, cửu vạn vẫn còn cao… Nói cách khác là nguồn lực đất đai đã dịch chuyển theo hướng CNH, HĐH thì nhanh, nhưng cơ cấu nguồn lực lao động thì chưa chuyển dịch kịp xu hướng này
Việc đào tạo nghề cho người lao động diễn ra không có bài bản, thiếu chiến lược và kế hoạch rõ ràng, cụ thể Nghiên cứu tại 16 trọng điểm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết chỉ có 13% lao động nông thôn bị thi hồi đất được đào tạo Dường như địa phương nào, đơn vị nào có gì làm nấy, có khả năng đến đâu làm đến đó Về mặt này, Hà Nội vẫn chưa thật sự chú trọng
hỗ trợ cho người bị thu hồi đất trong việc đào tạo nghề để tìm kiếm việc làm mới Số lao động mất đất, không có nghề, cần đào tạo thì nhiều, nhưng đào tạo không được bao nhiêu và việc làm của người mất đất về cơ bản vẫn chưa có tiến triển mấy, chưa được như mong muốn Trên thực tế, mức độ đào tạo mà người lao động nhận được từ các đơn vị nhận đất và Nhà nước là rất thấp, các
hộ bị thu hồi đất vẫn tự đào tạo là chính
Không ít người lao động bị thu hồi đất được đào tạo nghề không phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, chất lượng đào tạo nghề thấp Kết
Trang 28quả phỏng vấn điều tra của trường Đại học kinh tế quốc dân tháng 8/2005 cho biết trên địa bàn thành phố Hà Nội, người bị thu hồi đất có tỷ lệ những người đánh giá sự không phù hợp của đào tạo là 57,3%, chất lượng đào tạo thấp là 55,3% Điều này làm cho số người được thu hút vào các cơ sở đầu tư trên đất thu hồi ít Hiện còn có sự chênh lệch khá cao giữa trình độ chuyên môn kỹ thuật của những người lao động ở vùng bị thu hồi đất với mức chung của Hà Nội theo hướng người lao động bị thu hồi đất bị bất lợi trong tìm kiếm việc làm Số lao động sau khi thu hồi đất không có chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ
lệ 70,2%, mức chung của Thành phố là 38,56%, tức là gần gấp 2 lần; số người
bị thu hồi đất có trình độ công nhân kỹ thuật và học nghề là 11,2% thì mức chung của Thành phố là 26,81%, cao hơn 2 lần [24]
Kết quả tuyển dụng sau đào tạo, do số lượng đào tạo ít, lại không hợp
lý cao và chất lượng đào tạo thấp, nên tuyển dụng những lao động bị thu hồi đất vào làm việc trong các cơ sở thấp, chỉ có 19,4% số người lao động bị thu hồi đất sau đào tạo được tuyển dụng, còn phần đông là không được tuyển dụng vào làm việc ở các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn (80,6%)
Số lao động được đào tạo chủ yếu là do các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tuyển dụng vào làm việc tại doanh nghiệp của họ Các cơ quan khác cũng
có tuyển dụng, song với số lượng rất không đáng kể Các hộ bị thu hồi đất đã tự
bỏ kinh phí ra để đi đào tạo (tuy họ lấy trong phần nhà nước bồi thường thông qua giá bồi thường đất), song số được tuyển dụng rất hạn chế so với số họ tự đi đào tạo Theo một kết quả điều tra, thì số lao động bình quân 1 hộ tự đào tạo của Hà Nội là 0,19 người, nhưng chỉ có 0,09 người được tuyển dụng, tức là cứ 1.000 hộ mất đất chỉ có 190 người tự bỏ tiền ra học nghề, nhưng mới chỉ có 90 người trong số đó được tuyển dụng, còn 100 người không tìm được việc làm
Đây cũng bài học kinh nghiệm cho các tỉnh khác
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phỳc
Trang 29Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với tổng diện tích đất tự nhiên 1.371 km2 Trong những năm gần đây, Vĩnh Phúc đã trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước về thu hút đầu tư phát triển
CN cả trong và ngoài nước Tính đến hết tháng 6/2007 đã có 485 dự án đầu tư vào Vĩnh Phúc, với tổng số vốn đầu tư trên 1 tỷ USD và gần 22.000 tỷ đồng Việt Nam Nhờ đó, kinh tế của tỉnh phát triển khá nhanh Trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng tổng giá trị sản lượng nội tỉnh bình quân là 16,84%/năm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng CN và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Năm 2007, cơ cấu kinh tế của tỉnh là CN - xây dựng 48,3%; dịch vụ 37,7%; nông nghiệp 14,0%
Trong quá trình phát triển CN, xây dựng các KCN, cụm CN, kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, Vĩnh Phúc phải chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ cho thực hiện mục tiêu này Điều đó gây ảnh hưởng đến việc làm của hàng chục nghìn lao động Theo tính toán sơ bộ, từ
1997 đến nay, Vĩnh Phúc đã thu hồi gần 5.000 ha đất, trong đó trên 70% là đất nông nghiệp để thực hiện 619 dự án phát triển CN, dịch vụ, đô thị Các huyện, thị có diện tích đất thu hồi lớn là: Mê Linh 1.300 ha, Vĩnh Yên 1.100
ha, Phúc Yên 700 ha, Bình Xuyên 450 ha Có trên 20.000 hộ có đất phải thu hồi trong đó có khoảng 10.000 hộ có diện tích thu hồi chiếm hơn 1/3 diện tích hộ đang sử dụng [44]
Là tỉnh có mật độ dân số cao so với bình quân chung cả nước, lại có diện tích đất canh tác bình quân trên một người rất thấp (chưa đầy 400m2), nên số lao động dư thừa trong nông nghiệp vốn đã cao, nay ở những địa phương dành đất cho phát triển CN, dịch vụ, đô thị lại càng cao hơn Theo thống kê chưa đầy đủ, có tới 50.000 lao động bị ảnh hưởng, trong đó 45.000 lao động thiếu việc làm hoặc mất việc làm khi Nhà nước thu hồi đất
Tỉnh ủy và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã đưa nhiều biện pháp ra nhằm giải quyết vấn đề việc làm của người có đất bị thu hồi, như:
Trang 30- Triển khai các chủ trương, chính sách, Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm giai đoạn 2001-2005 và phương hướng giai đoạn 2006-2010; chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2010;
- Ra Quyết định số 4118/QĐ-UB ngày 11/11/2002 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về một chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động; Quyết định số 2968/QĐ-UB ngày 11-8-2003 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc hỗ trợ cho người lao động đi làm việc ở ngoài tỉnh; Nghị quyết số 15/2004/NQ-HĐND ngày 25-5-2002 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc bố trí đất sử dụng làm dịch
vụ cho các hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp; Quyết định số UBND ngày 30-1-2007 về việc phê duyệt đề án đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động xã Quang Minh; Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐND ngày 22-7-2005 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động ở vùng dành đất cho phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010
340/QĐ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH Phát triển mạnh CN và dịch vụ để thu hút lao động nông nghiệp, nông thôn Thông qua phát triển các KCN tập trung để đẩy mạnh CNH, HĐH, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang CN Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV (năm 2005) của tỉnh khẳng định hướng đi và nhấn mạnh trọng tâm vào phát triển các KCN, cụm CN công nghệ cao Phấn đấu đến năm 2015, Vĩnh Phúc cơ bản trở thành tỉnh CN
Với hướng đi đó, đến nay toàn tỉnh đã có 15 khu và cụm CN tập trung với 218 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh (139 dự án DDI và 79
dự án FDI) Trên địa bàn tỉnh đã bước đầu hình thành được một số ngành CN quan trọng mũi nhọn như: cơ khí, lắp ráp ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng, dệt may, giày da…Sự phát triển mạnh của CN (đặc biệt là các KCN, cụm CN) đã thu hút nhiều lao động từ khu vực nông nghiệp sang Tính đến hết năm 2006
Trang 31các doanh nghiệp của tỉnh đã thu hút 80.054 lao động, trong đó có 58.490 lao động là người Vĩnh Phúc [44, tr.3] Riêng 6 tháng đầu năm 2007, theo báo cáo của các doanh nghiệp các dự án mới đã tạo việc làm cho 4.201 lao động, gồm 2.000 lao động làm việc tại các dự án FDI và 2.201 lao động làm việc tại các doanh nghiệp DDI Tính đến hết tháng 6/2007, số lao động làm việc trực tiếp tại các dự án là 43.514 người, trong đó 28.500 người làm việc ở các dự án FDI
và 15.014 người làm việc ở các dự án FDI [45, tr.2]
Cùng với việc tập trung phát triển các ngành CN hiện đại, Vĩnh Phúc còn đặc biệt chú trọng phát triển tiểu thủ CN và làng nghề, đã quy hoạch tổng thể các cụm CN, làng nghề, tiểu thủ CN trên địa bàn 5 huyện, quy hoạch chi tiết một số cụm làng nghề, xây dựng đề án phát triển cụm CN, làng nghề, tiểu thủ CN nông thôn Tỉnh còn bố trí ngân sách hỗ trợ cho phát triển làng nghề truyền thống Nhờ đó, tạo thêm nhiều việc làm mới và việc làm thêm cho lao động nông nghiệp góp phần tích cực vào giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động sang các ngành CN
Cơ cấu cây trồng, vật nuôi được quan tâm chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo thêm nhiều việc làm cho nông dân Để khai thức lợi của tỉnh trung du, Vĩnh Phúc rất chú trọng phát triển các vùng chuyên canh như trồng hoa ở Mê Linh, cây ăn quả ở Lập Thạch, Tam Dương; vùng chăn nuôi
bò ở Vĩnh Tường, Yên Lạc; đưa các giống cây, con có giá trị kinh tế cao như: rau sạch, bò sinh sản, bò sữa, lợn siêu nạc…vào sản xuất Nhờ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh đã giải quyết việc làm mới cho trên 32 ngàn lao động
- Phát triển các hình thức dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nhất là cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp Bằng nhiều hình thức đào tạo như dài hạn ở các trường, ngắn hạn ở các trung tâm và đào tạo tại các doanh nghiệp, cả tỉnh đã đào tạo nghề cho hơn 90.000 lao động Toàn tỉnh đã có 27 cơ sở dạy nghề, trong đó có 6 trường
Trang 32dạy nghề, 10 trung tâm dạy nghề, 8 trường trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, 2 trung tâm dịch vụ việc làm và 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp có dạy nghề
Ban hành đề án Dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động ở vùng dành đất phát triển CN, dịch vụ và đô thị tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-
2010 Trong đó, xác định: cơ cấu kinh tế của tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng CN - xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu lao động tương ứng với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cùng với sự phát triển của các KCN, khu du lịch và KĐT tập trung, diện tích đất canh tác nông nghiệp bị thu hẹp dần, dẫn đến một bộ phận lao động nông nghiệp cần được chuyển sang khu vực phi nông nghiệp Đề án số 1795/UBND ban hành ngày 17/6/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, các lao động này cần phải được đào tạo nghề Tổng kinh phí để thực hiện Đề
án là 87 tỷ đồng, trong đó 65% từ nguồn ngân sách địa phương Kế hoạch đặt
ra là đào tạo các ngành nghề sau:
Các nghề phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn như kỹ thuật trồng các loại cây, kỹ thuật nuôi các loại con, kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản
Các nghề dịch vụ phục vụ nông nghiệp như: bảo dưỡng, sửa chữa máy nông nghiệp, sửa chữa điện, cơ khí nhỏ Các nghề dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, cắt tóc, trang điểm, nấu ăn…
Các nghề tiểu thủ CN như: thêu ren, mây, tre đan, chạm đá, mộc, mỹ nghệ, cắt may, mộc dân dụng… Các nghề mà các doanh nghiệp trên địa bàn đang có nhu cầu tuyển dụng như điện, cơ khí, máy động lực, sửa chữa ô tô, may CN…
Quy mô đào tạo khoảng 23.600 người/ năm, trong đó, khoảng 3000 người được đào tạo tại doanh nghiệp Đào tạo cả hệ dài hạn, tập trung tại các
Trang 33trường dạy nghề Trung ương; đào tạo hệ dài hạn vừa học nghề vừa học bổ túc văn hóa; đào tạo nghề ngắn hạn tại các trung tâm dạy nghề
Các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn đã và đang liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, kịp thời nắm bắt thông tin để gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm Nhờ đó, đã có hơn 20.000 lao động ở độ tuổi 18-30 thuộc những hộ bị thu hồi đất đã được tuyển vào làm việc trong các nhà máy Đây chính là một trong những hướng quan trọng để góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, đưa lao động nông nghiệp sang CN và dịch vụ (Báo Vĩnh Phúc, số ra ngày 23-7-2007)
- Thực hiện có hiệu lực và hiệu quả chủ trương yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư phải bố trí lao động địa phương vào làm việc tại doanh nghiệp Trong khi có ít địa phương thực hiện tốt chủ trương này, thì Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả đáng kể: có những doanh nghiệp đã sử dụng đến gần 90% lao động là người địa phương Tính đến hết năm 2006, đã có gần 60.000 lao động là người Vĩnh Phúc được các doanh nghiệp trên địa bàn tuyển dụng Một số công ty đã tuyển dụng nhiều lao động địa phương theo đúng cam kết Ví dụ, Công ty TNHH Vina Korea đã tuyển dụng 3.312 lao động địa phương, chiếm tỷ trọng 89,3% số lao động làm việc tại doanh nghiệp; Công ty sản xuất phanh Nissin Việt Nam tuyển dụng 634 lao động địa phương, chiếm 83% số lao động đang làm việc tại công ty này
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động là hướng quan trọng để giải quyết việc làm được các cấp trong tỉnh chú trọng Tỉnh đã ban hành chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động như hỗ trợ kinh phí cho người lao động tham gia giáo dục định hướng, học ngoại ngữ, học nghề để đi lao động có thời hạn ở nước ngoài với mức 350.000 đồng/ người Riêng đối với lao động thuộc hộ bị thu hồi đất được hỗ trợ 1 triệu đồng/ người Với hộ nghèo được hỗ trợ vay ngân hàng chính sách xã hội 10 triệu đồng cho năm đầu với lãi suất 0,25%/ tháng Ngoài
ra, tỉnh còn cung cấp các thông tin về những hợp đồng mà đơn vị xuất khẩu lao
Trang 34động thực hiện như: nước đến làm việc, công việc phải làm, điều kiện làm việc, thu nhập và đời sống khi ở nước ngoài, chi phí phải nộp, những điều kiện để đảm bảo hợp đồng, thời gian xuất cảnh…
- Dành một phần đất dự án hoặc gần sát dự án để phát triển dịch vụ phục vụ cho các KCN, KCX, khu ĐTM, qua đó tạo mở việc làm cho lao động lớn tuổi, khó có khả năng học nghề So với nhiều địa phương khác, thì Vĩnh Phúc đã khá thành công trong việc thực hiện giải pháp này, đã giải quyết việc làm tại chỗ cho số lao động lớn tuổi, khó có khả năng học nghề ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đã chuyển dịch được một bộ phận lao động nông nghiệp, nông thôn sang CN và dịch vụ, đảm bảo đời sống cho người dân các vùng này, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội
Cú thể khỏi quỏt kinh nghiệm của hai tỉnh, thành phố trờn cỏc nét cơ bản
là cần phát huy cao độ tinh thần của người dân để tự tạo và tỡm kiếm việc làm, qui định trách nhiệm cho các doanh nghiệp khi được Nhà nước giao sử dụng đất thu hồi, Nhà nước có cơ chế, chính sách tạo môi trường, điều kiện và hỗ trợ người dân để khi thu hồi đất họ có được việc làm ổn định lâu dài
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Phỏt triển CN là một nội dung chủ yếu nhằm thúc đẩy CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân ở nước ta hiện nay Để thực hiện nội dung này, một trong những điều kiện không thể thiếu được là phải có mặt bằng cho việc xây dựng các cơ sở CN, xây dựng KCN, KCX, theo đó là các điều kiện về kết cấu hạ tầng giao thông, cấp nước, nơi ở, sinh hoạt của người lao động, hỡnh thành cỏc KĐT mới, tức là phải chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang đáp ứng nhu cầu này Điều này tất yếu Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất để chuyển đổi mục đích, làm xuất hiện tỡnh trạng phải giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi
Ở một số nước, việc thu hồi đất và giải quyết việc làm cho người có đất
bị thu hồi có thể được giải quyết theo cơ chế thị trường, Nhà nước chỉ can
Trang 35thiệp ở mức độ nhất định Nhưng đối với nước ta, để thực hiện mục tiêu xây dựng CNXH, điều quan trọng là Nhà nước phải có một cơ chế, chính sách để trước hết là các đối tượng có liên quan đến đất thu hồi có sự phối hợp hiệu quả, đồng thời được mọi người trong xó hội hưởng ứng đồng tỡnh Đây là một vấn đề lớn có tác động trực tiếp đến ổn định và phát triển kinh tế - xó hội cần được các cấp các ngành quan tâm, cần có những nghiên cứu lý luận và thực tiễn để có giải pháp tích cực
Trên quan điểm đó, luận văn đó khỏi quỏt những nội dung giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi để phát triển CN và nghiên cứu kinh nghiệm của hai tỉnh, thành phố là Hà Nội và Vĩnh Phỳc trong giải quyết vấn
đề này để tỉnh Nghệ An tham khảo
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN
CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Ở TỈNH NGHỆ AN TỪ NĂM 2001-2007
2.1 VỊ TRÍ CỦA NGHỆ AN VÀ TèNH HèNH THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
2.1.1 Vị trớ và những lợi thế của Nghệ An về phỏt triển cụng nghiệp
2.1.1.1 Vị trí và điều kiện kinh tế - xó hội của Nghệ An
Nghệ An là tỉnh trung tõm vựng Bắc Trung Bộ, nằm trờn tuyến giao lưu Bắc - Nam và đường xuyờn Á Đụng - Tõy, cỏch Thủ đụ Hà nội 300 km
về phớa bắc, cú diện tớch tự nhiờn lớn nhất cả nước với 1.648.729 ha, dõn số 3.064.271 người, đứng sau thành phố Hồ Chớ Minh, tỉnh Thanh Húa và thành phố Hà Nội Có đường ranh giới hành chính phía bắc giỏp tỉnh Thanh Húa với đường biờn dài 196,3 km, phớa nam giỏp tỉnh Hà Tĩnh với đường biờn dài 92,6 km; phớa tây giáp đường biên giới với nước bạn Lào dài 419
km, phớa đụng giỏp biển Đông với bờ biển dài 82 km
Nghệ An chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới giú mựa, về mựa đông thường có gió mùa lạnh ẩm ướt, mùa hè thường chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng từ thỏng 3 đến thỏng 8, nhiệt độ trung bỡnh hàng năm khoảng 330C, cao nhất là 430C, thấp nhất là 20C Lượng mưa trung bỡnh hàng năm từ 1.500 mm đến 2.000 mm Do địa hỡnh phõn bố phức tạp nờn khớ hậu cũng phõn dị theo tiểu vựng và mựa vụ Địa hỡnh Nghệ An nằm ở phớa đụng bắc của dóy Trường Sơn, cú độ dốc thấp dần từ tõy xuống đụng nam
Nghệ An cú nhiều sụng, ngũi, hồ đập, trong đó có một số con sông chính như sụng Cấm, sụng Cả ( sụng Lam ) bắt nguồn từ huyện Mường Tẹc - tỉnh Xiờng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km, riêng trên đất Nghệ An cú
Trang 37chiều dài là 361 km, diện tích lưu vực 27.200 km2 Cỏc sụng ở Nghệ An chủ yếu có chức năng tiêu thoát lũ và cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp Các
hồ đập ở Nghệ An rất phong phỳ với trữ lượng khoảng 250 triệu m3 nước với gần 100 hồ lớn nhỏ, có một số hồ có trữ lượng lớn như hồ Vực Mấu 62,4 triệu
m3, hồ Vệ Vừng 16,8 triệu m3, hồ Khe Đỏ 15,96 m3 Nhỡn chung, các sông, hồ đập ở Nghệ An cú nguồn nước khỏ dồi dào, vừa cú tác dụng tạo cảnh quan môi trường sinh thái, vừa tích trữ nước để phục vụ cho nguồn nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản Đặc điểm tự nhiên này có ảnh hưởng lớn đến quá trỡnh phỏt triển kinh tế - xó hội của tỉnh Một trong những khó khăn của Nghệ An hiện nay là khí hậu khắc nghiệt, về mùa hè thỡ nắng núng, khụ hạn, mựa đông thỡ chịu nhiều thiờn tai bóo lụt; hệ thống giao thông đối với vùng miền núi cũn nhiều khú khăn
Trang 38Về tài nguyên đất, theo số liệu thống kờ của Sở Tài nguyờn - Môi trường Nghệ An, đến năm 2001, toàn tỉnh cú 1.649.009 ha, trong đó có 196.271 ha đất nông nghiệp, chiếm gần 11,9% diện tớch tự nhiờn, cú 697,057,1 ha đất lâm nghiệp, chiếm 42,3%; đất chuyên dùng 39.831,7 ha chiếm 3,6%; đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá 680.858,8 ha chiếm 41,2% Tuy diện tích đất tự nhiờn của Nghệ An chiếm một tỷ lệ lớn so với các tỉnh khác, nhưng vị trí địa lý của Nghệ An không thuận lợi cho thu hút đầu tư, tốc
độ phát triển kinh tế vẫn cũn chậm nờn nguồn tài nguyờn đất của Nghệ An có giá trị không cao Nếu tính theo khung giá đất do Uỷ ban nhõn dõn tỉnh ban hành quy định vào các thời điểm khác nhau, thỡ khung giỏ đất của Nghệ An thấp rất nhiều so với các tỉnh khác Gần đây nhất là ngày 14/12/2007, Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An có Nghị quyết số 209/2007/NQ-HĐND quy định giá đất ở cao nhất tại thành phố Vinh, một đụ thị loại II cũng chỉ có 25 triệu đồng/m2, thấp nhất là 160.000 đồng/m2 Giá đất nông nghiệp trồng cây hàng năm cao nhất cũng chỉ có 60.000 đồng/m2
Về dõn cư, theo Cục thống kê tỉnh, đến ngày 31/12/2006, dõn số Nghệ
An có 3.064.271 người, chiếm gần 3,7% dân số cả nước, mật độ dân số 186 người/ km2 Mật độ dân số đông nhất là thành phố Vinh với 3.792 người/km2
Tỷ lệ dân số tăng tự nhiên bỡnh quõn hàng năm từ 2001 - 2006 của tỉnh 1,12%/năm, trong đó dân số thành thị và các khu vực cụng nghiệp tăng nhanh hơn so với dân số nông thôn Ví dụ, năm 2006 so với 2001, dân số khu vực thành thị và khu vực cụng nghiệp từ 295.200 lờn 342.005 người, tăng 13,69%; dõn số khu vực nụng thụn từ 2.597.000 lờn 2.740.330 người, tăng 5,23% Dân số đông là một thách thức đối với Nghệ An trong giải quyết việc làm cho người lao động
Nghệ An cú một thành phố, hai thị xó và 17 huyện, trong đó có 10 huyện và một thị xó miền nỳi, 7 huyện đồng bằng, diện tớch đồi nỳi chiếm 83% đất tự nhiờn của toàn tỉnh, đồng bằng chỉ cũn 17%
Trang 39Do đặc điểm riêng biệt của Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tỉnh trung tõm vựng Bắc Trung Bộ, Vỡ vậy, Nghệ An cú vị trớ, vai trũ hết sức quan trọng Ngày 28/12/2007, Thủ tướng Chính phủ đó cú Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xó hội cho Nghệ An đến năm 2020, mục tiêu là phấn đấu xây dựng Nghệ An sớm trở thành một trong những tỉnh khá nhất của cả nước Xây dựng Nghệ An trở thành một trung tâm công nghiệp, du lịch, thương mại, giáo dục, y tế, văn hóa và khoa học công nghệ của vùng Bắc Trung Bộ, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, có nền quốc phũng - an ninh vững mạnh Thụng báo kết luận số 20 ngày 02 tháng 6 năm 2003 của Bộ Chính trị khẳng định: "Nghệ An là quê hương của Chủ tịch
Hồ Chí Minh vĩ đại, là tỉnh nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung bộ, có đường sắt, đường Quốc lộ IA, đường Hồ Chí Minh đi qua và 3 tuyến quốc lộ sang nước Cộng hũa dõn chủ nhõn dõn Lào, cú cảng biển Cửa Lũ, sõn bay Vinh Nghệ An hội tụ đủ các tuyến đường giao thông đường sắt, đường bộ, đường không, đường sông, đường biển, là cầu nối giữa hai miền Bắc - Nam, là cửa ngừ sang Lào, Đông bắc Thái lan Nghệ An cũn là tỉnh cú vị trớ chiến lược quan trọng về quốc phũng an ninh"
Trong những năm gần đây, Nghệ An đó cú 117 làng nghề, sản xuất nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu như mây tre đan, mộc mỹ nghệ cao cấp, đá mỹ nghệ, thêu ren…và sản xuất các loại hàng tiêu dùng nội địa sử dụng nguyên liệu tại chỗ như chế biến các sản phẩm từ cây cói, chế biến thực phẩm Thành phố Vinh có các làng nghề, phố nghề như: chế biến các sản phẩm
từ cây cói ở Hưng Hoà phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; nghề mây tre đan
ở Hưng Lộc, Hưng Đông; nghề thêu ren ở phường Hồng Sơn, mà nòng cốt HTX Thống Nhất; nghề mộc mỹ nghệ cao cấp ở Công ty 22-12 và doanh nghiệp Mạnh Phú; nghề chế biến thực phẩm ở xã Nghi Phú, Vinh Tân Ngoài ra, còn có các phố nghề gia công sửa chữa thiết bị máy vi tính, viễn thông ở đường Minh Khai, sửa chữa xe máy ở đường Lê Lợi, điện tử phố Phan Đình Phùng, Cao
Trang 40Thắng Đây là những cơ sở để không chỉ trực tiếp tạo việc làm cho lao động, mà còn có thể là trường học dùng để dạy nghề cho người lao động
Kinh tế của Nghệ An đến nay đó cú những phỏt triển tương đối khỏ, là một trong số các tỉnh nằm trong tốp có số thu ngân sách hàng năm trên 1.000
tỷ đồng, năm 2007, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Nghệ An đạt 2.386 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng GDP bỡnh quõn hàng năm ở Nghệ An không ngừng tăng, giai đoạn 2001 đến 2007 đạt 10,27%%/năm (cả nước đạt 7,76%%); năm
2007 đạt 10,5% (cả nước đạt 8,48%) Tỷ trọng tăng trưởng GDP bỡnh quõn đầu người của tỉnh từ 2003 - 2007 là 16,45%/năm, đạt mức 280USD/người/ năm 2001 tăng lờn 424 USD/người/ năm 2007
Tăng trưởng cao về kinh tế cho phộp Nghệ An triển khai nhiều dự ỏn phỏt triển kinh tế - xó hội, trong đó có việc đầu tư xây dựng hệ thống kế cấu
hạ tầng, xây dựng các cơ sở CN và dịch vụ, cỏc KCN, khu kinh tế Điều này
đó tỏc động không nhỏ tới việc thu hồi đất nông nghiệp để có mặt bằng xõy dựng CN, đô thị
Mặt khỏc, sự phỏt triển kinh tế của Nghệ An đó gúp phần trực tiếp tạo nờn sự thay đổi mức sống của người dân Theo số liệu điều tra của Cục Thống
kờ tỉnh, năm 2007 mức sống chung của dân cư so với năm 2001 tăng 2,306 lần và bằng 230,6%; thu nhập bỡnh quõn của người dân ở vùng đô thị tăng 2,313 lần, vùng nông thôn là 2,283 lần Tuy thu nhập bỡnh quõn đầu người được tăng lên, nhưng khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng ngày càng nới rộng hơn Để giảm bớt tỡnh trạng bất bỡnh đẳng, tạo việc làm cho những người thu nhập thấp, nhất là đối với những người bị thu hồi đất đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay ở Nghệ An
2.1.1.2 Một số thuận lợi, khó khăn đối với việc thu hồi đất để phát triển công nghiệp ở Nghệ An
Việc thu hồi đất để phục vụ cho phỏt triển CN ở Nghệ An có những thuận lợi và khó khăn sau: