Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở Xây dựng mô hình công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở
Trang 2MỤC LỤC Lòi cảm om
'DẶT VẤN ĩ>ì * 1
PHẦN 1 TỔNG QUAN 1.1 Q uản trị với khởi sự doanh nghiệp 1.1.1 Nghiên cứu cơ hội và điều kiện kinh doanh 3
1.1.2 Lựa chọn hình thức pháp lý doanh nghiệp 3
1.1.3 Lựa chọn nhân tố sản xu ất 4
1.1.4 Lập k ế hoạch m arketing 5
1.1.5 K ế hoạch tài chính cho doanh nghiệp 6
1.2 H oạt động tư vân. 1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Đ ặc trưng của hoạt động tư vấn 8
1.2.3 Hoạt động tư vấn ở một số quốc gia trên thê g iớ i 9
1.2.4 M ôi trường pháp lý cùa hoạt động tư vấn 11
1.2.5 M ôi ưường kinh tế xã hội thủ đ ô 12
1.3 T óm tắt về G M P 13
1.3.1 Khái niệm 14
1.3.2 Nội dung của G M P 15
1.3.3 Hệ thống đảm bảo chất lượng 17
1.4 T hự c trạ n g 18
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ứ u VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 2 1 Đối tượng nghiên cứ u 21
2 2 Phương pháp nghiên cứ u 21
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN 3.1 Phân tích môi trường kinh d oan h 23
I
Trang 33.1.1 M ôi trương vĩ m ô 23
3 1 2 M ôi trường vi m ô 26
3 2 Nghiên cứ u, dự báo và đo lường nhu cầu thị trư ờn g 32
3 3 K ế hoạch m ark etin g 33
3.3.1 M ục tiêu m arketing 33
3.3 2 Chiến lược tổng th ể 34
3.3.3 Chiến lược phát triển của công tỵ 34
3 3 4 Chính sách dịch vụ cung ứng 35
3.3.5 Chính sách giá dịch vụ 40
3 3 6 Chính sách phân phối dịch vụ 41
3.3.7 Chính sách xúc tiến và hỗ í rợ kinh doanh 41
3.3.8 X ây dựng mối quan hê với công chúng 42
3 4 T ổ chức nhân sự 42
3.4.1 Loại hình công tỵ 42
3 4 2 Cơ cấu tổ chức 43
3 5 K ế hoạch tàỉ chín h 47
3 6 K ế hoạch triển khai tron g thực tiễn 51
3.6.1 Các ưu tiên khi triển k h a i 51
3.6.2 Cụ ihể các bước triển khai dự án 51
3 7 B àn lu ận 51
PHẦN 4 : K ẾT LUẬN VÀ ĐỂ x u ấ t 4.1 K ết lu ận 52
4 2 Đề x u ấ t 55
T À I L IỆ U TH A M KH Ả O
Phụ lục 1: Bộ câu hỏi khảo sát kế hoạch Lriển khai GM P tại một số cơ sở đang sản xuất hoặc kinh doanh dược phẩm
P h u luc 2: Bô câu hỏi khảo sát tai môt số cơ sở đã triển khai GM P
Trang 4Lỏi cdm ơn
Nhân dịp hoàn thành khóa luận, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo: T h s Nguyễn Tuấn Anh
Giảng viên trường đại học Dược Hà Nội.
Người thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành khoá ỉuận tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Toàn bộ các thầy cô trong bộ môn Quản lý và Kinh tế dược
- Các thầy cô trường Đại học Dược Hà Nội
- Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, nhân viên nhà trường
Trang 5Ouy ước chữ viết tắt
GMP: Good Manufacturing Practices (Thực hành tốt sản xuất thuốc)
GPP: Good Pharmacy Practices (Thực hành tốt nhà thuốc)
GSP: Good Storage Practices (Thực hành tốt tồn trữ thuốc)
GLP: Good Laboratory Practices (Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc).GDP: Good Distribution Praíices (Thực hành tốt phân phối thuốc)
GAP: Good Agricultural Pratices (Thực hành tốt nguồn nguyên liệu)
WHO: World Health Organization (Tổ chức Y T ế thế giới)
ASEAN: The Association of Southeast Asiar Nations (Hiệp hội các nước Đông Nam Á).THHH: Trách nhiệm hữu hạn
CTCP: Công ty cổ phần
DN: Doanh nghiệp
Trang 6ĐẬT VẤN ĐỂ4
Sau hơn 10 năm phát triển của nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc Cũng như những ngành kinh tế khác, ngành Dược Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới Ihực hiện sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường kếl qủa đạt được về tổ chức, quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc cũng rất đáng tự hào
Trước thời kỳ đổi mới, ngành công nghiệp Dược Việt Nam chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, sản xuất không đáng kể, mỗi tỉnh có một xí nghiệp liên hợp dược cấp ba Chuyển sang thời kỳ đổi mới, công nghiệp Dược phát triển khá nhanh, cơ cấu thành phẩn tham gía sản xuất thuốc cũng thay đổi do có pháp lệnh hành nghề Y Dược tư nhân Với đường lối kinh tế mở cửa và khuyến khích các thành phần kinh doanh dược phẩm trong và ngoài nước, thị trường dược phẩm trong những năm gần đây thực sự sôi động bởi sự tham gia cuả các công ty dược phẩm hàng đẩu thế giới, các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dược phẩm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đặc biệt là sự chuyển đổi cơ cấu tổ chức quản lý và chất lượng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm trong nước Doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất thuốc dược thu hẹp về số lượng để tập trung dầu tư về chiều sâu, được nâng cấp để đạt các quy định về thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP).Sản xuất thuốc trong nước phát triển mạnh trong thời kỳ qua với mức độ tăng trưởng đạt khoảng 15% mõi năm Doanh thu nãm 1995: 1035 tỷ đồng thì năm 2002: 3289 tỷ đồng và 2003 đã lên tới 3765 tỷ đồng Tãng trưởng 2002 so với 2001 tăng 18,31%,
2003 so với 2002 tâng 8,91% Chấl lượng thuốc sản xuất trong nước ngày càng được cải tiến, chủng loại ngày càng phong phú Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng nhu cầu Ngành Dược Việt Nam trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất còn thấp Ngành công nghiệp dược vẫn dựa vào bào chế thuốc gốc là chủ yếu, chưa có khả năng sản xuất thuốc có công nghệ cao, trong đó lại có đến hơn 90% nguyên liệu nhâp khẩu, chưa đầu tư tạo dựng thương hiộu Máy móc thiết bị sản xuất nhiều nguồn gốc, nhiều thế hộ, bên cạnh những dây chuyền thiết bị mới, một số máy móc, thiết bị thuộc thế hệ những năm 1960-1970, hiệu quả thấp, khó nâng cao chất lượng sản phẩm, sản xuất thuốc trong nước hiện nay mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu của nhân dân
Trang 7Để ngành Dược trong nước phát triển chúng ta cần có những chính sách nâng cao chất lượng thuốc, và để thực hiện được Ihì chúng ta cần áp dụng các tiêu chuẩn GPs trong sản xuất và cung ứng thuốc Trong đó đặc biệt quan trọng là việc triển khai thực hiện GMP (thực hành tốt sản xuất thuốc), là vấn đề đang được nhà nước cũng như các công ty đặc biệt quan tâm Có như vậy chúng ta mới nâng cao được chất lượng thuốc trong nước đáp ứng được nhu cầu của thị trường Những kiến thức về GP còn khá mcd
mẻ ở Việt Nam , để áp đụng được những kiến thức đó vào thực tế không phải là dễ và thực tế là các công ty khi bắt tay vào thực hiện đã gặp không ít khó khăn
Từ Thực tế đó đề tài:
“Xây dựng mô hình cóng ty tư vấn triển khai thực hiện GMP tại cơ sở ” đựơc tiến
hành nhằm các mục tiêu :
1 Xây dưng mô hình và cách thức quản lý doanh nghiệp
2 Hoạch định Marketing cho các sản phẩm sẽ cung ứng trên Ihị trường
3 Xây dựng kế hoạch tài chính cho hoạt động của công tỵ và kế hoạch đưa vào triển khai thực tế
Khoá luận có thể có mối liên hệ mật thiết nhưng có nội dung, đối tượng và phươngpháp nghiên cứu không trùng với bất kỳ một công trình khoa học nào đã công bố ởViệt Nam
2
Trang 8PHẨN1: TỔNG QUAN
1.1 QUẢN TRI VỚI KHỎI s ư DOANH NGHIÊP m [6] [9] [12]
Tạo lập một doanh nghiệp là công viộc đầu tiên cực kỳ quan trọng của các nhà quản trị sáng lập doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, tạo ỉập doanh nghiệp quyết định doanh nghiệp có tổn tại và phát triển hay không
1.1.1 Nghiên cứu cơ hối và điều kiên kinh doanh.
- Cơ hội kinh doanh chỉ có thể xuất hiện trên thị trường, cần nghiên cứu thị trường
để phát hiện các cơ hội kinh doanh
Nghiên cứu thị trường bao gồm:
+ Nghiên cứu và phát hiện cầu: nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới cầu ỉoạì sảnphẩm mà người có ý định tạo lập doanh nghiệp muốn cung cấp
+ Nghiên cứu cung: là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới cung loại sản phẩm màngười tạo lập doanh nghiệp mong muốn cung cấp
Cân nhắc cơ hội kinh doanh: Trên cơ sở nghiên cứu cung cầu, cân nhắc và phát hiện liệu có cơ hội kinh doanh loại sản phẩm nào đó khống?
' Nghiên cứu các điều kiện môi trường
Nếu chỉ có cơ hội kinh doanh thì chưa đủ, cần có các điều kiện nhất định mới tạo lập được doanh nghiệp Các điều kiện này thường gắn với môi trường kinh doanh, cụ thể như: Các vấn đề pháp luật, các vấn đề chính sách kinh tế vĩ mô, các vấn đề khoa học công nghệ, các vấn đề nguồn nhân lực , đó chính là việc chúng ta dánh giá tính hiện thực của cơ hội Chỉ những cơ hội có tính hiện thực cao mới có thể trở thành cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp lổ chức triển khai thành công trên thị trường
1.1.2 Lưa chon hình thức pháp lý của doanh nghiệp.
- Các hình thức pháp lý của doanh nghiệp: Hiện nay ở nước ta có rất nhiều hình thức pháp lý của doanh nghiệp như: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty cổ phần, cổng ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Do mới bước vào kinh tế thị trường nên các quy định pháp luật về điều kiện hoạt động, quyển và nghĩa vụ pháp lý của mỗi hình thức doanh nghiệp sẽ tiếp tục dược hoàn chỉnh Lựa chọn hình thức pháp lý phù hợp có vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp và bản thân người có vốn, người kinh doanh Cần cân nhắc kĩ để lựa chọn hình thức pháp lý của doanh nghiệp cho phù hợp
lí,
Trang 9- Có nhiều nhân tố ảnh hường tới việc lựa chọn hình Ihức pháp lý của doanh nghiệp như: Khả năng lãnh đạo, khả năng mở rộng và phát triển, các quy định về thuế, các quỵ định về sử dụng lợi nhuận Cẩn phải xem xét tất cả các yếu tố này trước khi quyết định loại hình thức pháp lý cho doanh nghiệp.
1.1.3 Lưa chon nhân tố sản xuất.
- Lưạ chọn nhân tô' lao động:
Các doanh nghiệp sử dụng lao động phải cạnh tranh trong thu hút và “giữ” tao động
có tay nghề và phẩm chất tốt ở lại làm việc gắn bó với doanh nghiệp mình Chính điềunày đòi hỏi và kích thích các doanh nghiệp phải biết tuyển chọn lao động phù hợp yêu cầu, tổ chức lao động khoa học nằm phát huy tiềm năng lao động và trả thù lao cho người lao động thoả đáng, đồng thời cũng cho phép họ có quyền sa thải lao động không phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu đã thoả thuận Mặt khác người lao động cũng phải có kĩ năng lao động và phẩm chất phù hợp với yêu cầu và cũng có quyền đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ theo các điều khoản đã thoả thuận Khác với các nhân tố khác, sức lao động không cố dịnh mà thay đổi cùng với quá trinh lao động Với
sự tham gia vào quá trình lao động, sức lao dộng có thể bị mai một đi, có thể ít thay đổi
và cũng có thể ngày càng phát triển Vấn để là người sử dụng ỉao động phải biết rõ đặc trưng này để sử dụng lao động cho phù hợp
- Lựa chọn nhân tố tư liệu lao động:
Tư liệu lao động là những cống cụ, phương tiện, được con người sử dụng để tác động, làm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm Mọi tư liệu lao động đều có tính năng, tác dụng, kết cấu và chất lượng rất khác nhau nén tuổi thọ thiết kế của chúng cũng rất khác nhau Thị trường tư liệu lao dộng luôn là thị trường nhiều màu sắc Khi xây dựng hay mở rộng, đổi mới tài sản cố định doanh nghiệp luôn đứng trước sự lựa chọn: một bên là khả năng thanh toán của doanh nghiệp, các điều kiện cụ thể về đội ngũ những người lao động, các điều kiện kỹ thuật hiện có , bên kia là thị trường tư liệu lao động phong phú, đa dạng Tuy nhiên vẫn phải tuân theo một số quy lắc chung:
+ Trình độ hiện đại của tư liệu lao động phải tương ứng với trình độ cống nghệ.+ Trinh độ hiện đại của tư liệu cũng phải phù hợp với trình độ của dội ngũ những người lao động trong doanh nghiệp
+ Giá của tư liệu phải phù hợp với khả năng thanh toán của công ty
+ Phải tính đến hiệu quả của hệ thống máy móc thiết bị trong dài hạn
4
Trang 10Với tư liệu lao động chúng ta cũng cẩn phải tính đến hao mòn và khấu hao Đặc trưng của tài sản cố định ỉà tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và hao mòn dần trong quá trình sử dụng chúng Tốc dộ hao mòn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả yếu tố bên ngoài như chất lượng kết cấu, cường độ sử đụng, trình độ công nhân còn phải kể đến hao mòn do tiến bộ kỹ thuật.
- Lựa chọn nguyên vật liệu:
Quá trình sản xuất là quá trình tác động, làm biến đổi nhiéu loại nguyên vật liệu để tạo
ra sản phẩm và trong nhiều trường hợp giá trị nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng cao trong tổng chi phí sản xuất, do dó cần phải nghiên cứu để sử dụng cho hợp lý và hiệu quả
1.1.4 Lâp kê hoach m arkcting.[31 [8]
Marketing ỉà quá trình xác đinh, phát triển và cung cấp các giá trị tốt hơn cho khách hàng Đối với một doanh nghiệp marketing íà cương lĩnh hoạt động dể có được ưu thế cạnh tranh, và vạch ra các cách thức thoả mãn thị trường mục tiêu đã lựa chọn tốt hơn với bất cứ doanh nghiệp nào khác
Một kế hoạch marketing có 4 nội dung lớn, thống nhất và bổ sung cho nhau để giúp doanh nghiệp đón bắt mục tiêu, đáp ứng tốt nhất nhu cầu và mong muốn của khách hàng, trong đó nhóm khách hàng mục tiêu là trọng tâm của mọi sự chú ý Bốn nội dung
+ Chiến lược phân phối: là phương thức phân phối sản phẩm/dịch vụ đến tay người tiêu dùng phụ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm/dịch vụ Địa điểm kinh doanh rất quan trọng
+ Chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh: kinh doanh trong cơ chế thị trường rất cần đến những công việc hỗ trợ cho việc Tâng doanh số bán Những công việc hỗ trợ này có thể chia ra làm hai loại chính: quảng cáo hàng và những biện pháp hỗ trợ cụ thể cho việc bán hàng hàng ngày Có thể nói phần quảng cáo chủ yếu nhằm thu hút sự chú
ý của khách hàng đến sản phẩm/dịch vụ, còn những biện pháp cụ thể hỗ trợ bán hàng
5
Trang 11hàng ngày nhằm mục đích hài lòng khách hàng đã đến, đang đến mua hàng và sẽ quay ỉại mua hàng.
1.1.5 Kẽ hoach tài chính cho doanh nghiệpJ51 [20]
' Tài chính cần dể khởi sự một doanh nghiệp: Công việc xem xét tính toán này cần chính xác để tránh phải vay tiền quá nhiều hoặc rơi vào tình trạng thiếu khả nãng đáp ứng nhu cẩu thị trường khi kinh doanh đã đi vào guồng Tổng vốn đầu tư và vốn lưu động là số tiền cần để khởi sự kinh doanh Vốn dầu tư cho cơ sở vật chất bao gồm xây dựng, cải tạo nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, trụ sở, mua sắm máy móc, trang thiết bị,
bí quyết công nghệ, bản quyền Vốn lưu động là khoản tiền dành cho các chi phí thường xuyên hàng ngày, hàng tháng trong thời gian khoảng 3 tháng đầu, cộng thêm một số khoản chi phí không thường xuyên khác
- Lập kế hoạch lợi nhuận và kế hoạch tién mặt cho năm đầu tiên: Kinh doanh có nghĩa
là phải cớ lãi, công việc đánh giá lợi nhuận rất quan trọng Cần lập một kế hoạch tiền mặt giúp “nhìn Ihấy trước” những sự cố để có biện pháp phòng ngừa, tránh dản đến khủng hoang vốn, mặt khác kế hoạch tiền mặt còn giúp cho doanh nghiệp tương lai
“căn chỉnh” lại số vốn cần có để khởi sự một doanh nghiệp Để lập một kế hoạch tiền mặt cần tính tổng số tiền vào trong tháng, tổng các chi phí của tháng Lấy tổng tiền và trừ đi tổng chi ta sẽ có số dư của tháng tiếp theo Nếu kết quả không âm thì việc kinh doanh trong tháng là bình thường Dựa vào kết quả đó chúng ta điều chỉnh các hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao hơn
- Sau khi đã lập bảng kế hoạch tiền mặt cho năm kinh doanh đầu tiên, ta đã có con số khá tin cậy về sô' vốn cần để khởi sự kinh doanh Từ đó có kế hoạch ủm kiếm nguồn vốn hợp lý Có rất ít doanh nghiệp có đủ vốn ngaytừ đẩu do vậy tìm những nguồn vốn khác là tất yếu nhưng cần cân nhắc kỹ những lợi ích và lãi suất cần phải trả cho các khoản vay để có phương án trả nợ
- Chúng ta đã có một quá trình để khởi sự một doanh nghiệp, nhưng các nhà quản lỷ doanh nghiệp cần phải học hỏi thêm những kỹ năng của một nhà quản trị thì mới có thể điều hành tốt một doanh nghiệp Các kỹ năng rất quan trọng phải kể đến là kỹ năng quản trị nhân sự, quản trị mua hàng, quản trị hàng hoá, quản trị chi phí, giá thành, quản trị số liệu kế toán Chuẩn bị cho mình những kỹ năng này các nhà doanh nghiệp trẻ sẽ
tự tin hơn khi tham gia vào thương trường đầy cạnh tranh, ngăn ngừa dược các rủi ro đáng tiếc
6
Trang 121.2 HOAT ĐỔNG T Ư V Ẩ N r n
1.2.1 Khái niêm.
Tư vấn là mội lĩnh vực luôn được quan tâm trong mọi thời kỳ phát triển của xã hội loài người Hoạt dộng tư vấn đã tồn tại và phát triển liên tục từ khi các nền vãn minh trên thế giới mới bắt đầu xuất hiện Từ thời các hoàng đế La Mã cho đến các triều đại lịch sử của Trung Quốc Ở nước ta, sự hưng thịnh, suy vong của các triều đại phong kiến trong lịch sử vẫn dựa vào các nhà quân sư mà tên tuổi được lưu truỵển cho đến ngày nay, như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Trường T ộ
Từ thế kỷ X IX , cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, vai trò của hoạt động tư vấn được coi trọng hơn Hoạt động tư vấn bắt đầu phát triển Irong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, pháp luật, giáo dục Năm
1913, sự ra đời của liên đoàn quốc tê' các kỹ sư tư vấn ờ Lausanne-Thuỵ Sỹ đã đánh dấu một bước tiến mới trong sự phát triển của tư vấn: tính chuyên nghiệp và mức độ chuyên môn hoá theo lĩnh vực sâu sắc của dịch vụ tư vấn và xu hướng toàn cầu hoá của dịch vụ
tư vấn thế giới Hiện nay, dịch vụ tư vấn đã và đang phát triển mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia trên thế giới, từ những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật, Đức đến những nước có nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, châu Phi
Theo định nghĩa của từ điển OXFORD, tư vấn cớ nghĩa là trao lời khuyên Bản chất của tư vấn là qúa trình “cung cấp lời khuyên” Tuy nhiên, giá tộ của lời khuyên dó tuỳ thuộc nhiều vào khả năng tiếp nhận của người sử dụng tư vấn Với ý nghĩa đó tư vấn được coi là một nghể nghiệp Mặc dù bản chất của hoạt động tư vấn đã có sự thống nhất nhưng cách hiểu về tư vấn hay khái niệm tư vấn còn có sự khác nhau Có thể chia
ra hai cách tiếp cân cơ bản sau:
Một là: Nhìn nhận tư vấn theo nghĩa rộng, cũng là cách mà những người theo trường phái chức năng ủng hộ, tư vấn dược xem xét với tư cách một hoạt động hay một chức năng Theo nghĩa rộng, tư vấn có nhiểu dạng từ đơn giản đến phức tạp và đề câp đến bất kỳ lĩnh vực hoạt động hay lợi ích nào của con người
Hai là: Nhìn nhận tư vấn theo nghĩa hẹp, với tư cách là một dịch vụ chuyên môn Theo đó tư vấn được dùng để chỉ việc một tổ chức hoặc cá nhân chuyên gia “cung cấp dịch vụ cố vấn cho khách hàng”, hoặc “bán năng lực giải quyết vấn đề”, hoặc tiến hành
7
Trang 13ìuyển giao cho tổ chức khách hàng các “thòng tin, tri thức, giải pháp, kỹ năng đã được 'a chon xử lý - thích nghi hoá cho từng trường hợp”
Trên thực tế ờ nước ta hiện nay, khái niệm tư vấn được hiểu một cách đầy đủ vé
ín chấí và nội dung theo cả hai cách tiếp cận trên còn là vấn đề mới mẻ, thậm chí
>ay cả đối với đội ngũ tư vấn nòng cốt của nhiều tổ chức tư vấn Tư vấn thường được
ểu một cách phổ biến như là việc bán những lời khuyên nghề nghiệp hoặc chuyển
ao năng lực giải quyết vấn đề Hơn thế, còn có sự lẫn lộn giữa tư vấn và môi giới, giữa nạt động tư vấn và việc đưa ra lời khuyên đơn giản, cũng thường có sự lẫn lộn giữa
:ột chuyên gia kỹ thuật và một nhà tư vấn
Hoạt động tư vấn có thể mô tả bàng sơ đồ sau:
2.2 Đăc trung của hoat đồng tư vấn.
hẳng định hoạt động tư vấn là một nghề nghiệp cũng có nghĩa là khẳng định những
Ịc trung cơ bản của nghề nghiệp này Nghề tư vấn hàm chứa một số đặc trưng mà các iại hình nghể nghiệp khác không thể có
- Hoạt động tư vấn là hoạt động cung cấp các loại hình dịch vụ tư vấn cho khách hàng
- Hoạt dộng tư vấn không bị giới hạn bởi các “biên giới”
- Sản phẩm của dịch vụ tư vấn là một sản phẩm đặc biệt- sản phẩm của trí tuệ
8
Trang 14- Hoạt động tư vấn không được xác định như các loại hình sản xuất hay dịch vụ khác chỉ thuần tuý theo mối quan hệ cung cầu mặc dù thừa nhận tính nghề nghiệp của nó.
- Hàng hoá mà các nhà tư vấn cung cấp cho khách mang tính đơn chiếc
- Thị trường của sản phẩm tư vấn là thị trường có phạm vi rộng và không dừng lại ở một loại sản phẩm cụ thể
- Các giai đoạn khác nhau của quá trình tạo ra sản phẩm tư vấn được thực hiện thống nhất và tập trung ở một đối tượng là nhà tư vấn
- Vai trò của các nhà tư vấn riêng lẻ rất quan trọng
- Tính chuyên biệt của dịch vụ tư vấn đã hình thành nên vãn hoá tư vấn
1.2.3 Hoat đông tư vấn ỏ mỏt sỏ quốc gia trên thế giói.
TRUNG Q UỐ C:
Khoảng 20 năm trở lại đây các cổng ty tư vấn có điều kiện ra đời và phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh do chính sách mở cửa và ưu đãi của nhà nước Trung Hoa Trước đây các công tỵ tư vấn của Trung Quốc liên doanh với các công ty nước ngoài để học hỏi và rút kinh nghiệm Nay họ đã có thể hoạt động độc lập với hơn
300 công tỵ tư vấn lớn với hơn 40 vạn cán bộ Các công ty này hiện đã có đủ năng lực
tư vấn cho tất cả các ngành công nghiệp, các lĩnh vực như môi trường, năng lượng hàng không, thông tin, hoá chất, chế tạo máy, xây dựng Hơn thế, các công tỵ tư vấn Trung Quốc hiện đang từng bước vươn ra thị trường nước ngoài Các còng ty tư vấn lớn của Trung Quốc ngày nay đã không dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ tư vấn phục vụ sản xuất - kinh doanh đơn thuẫn cho các doanh nghiệp mà còn tư vấn cả các dự án lớn, các
kế hoạch - chương trình phát triển cấp vùng và khu vực Điều đó đủ thấy dược sự lớn mạnh và lương lai rực rỡ của các công ty tư vấn Trung Quốc
SINGAPORE:
Là một quốc gia có nển kinh tế phát triển bậc nhất Đông Nam Á, các tổ chức tư vấn Singapore hầu hết có sức mạnh vì tiềm lực tài chính dồi dào, khả năng cạnh tranh mạnh VI thế, Singapore cam kết mở cửa toàn bộ thị trường tư vấn trong nước Song,
9
Trang 15Singapore đặc biệt quan tâm và có quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn, trình độ của các công ty tư vấn.
ẤN ĐỔ:
Tư vấn chính thức xuất hiện ở Ấn Độ từ những năm 1960 Thời kỳ đầu, các công ty
tư vấn chủ yếu của nhà nước hoặc phụ thuộc rất nhiều vào nhà nước và phần lớn tập trung và lĩnh vực tài chính và phát triển cơ sở hạ tầng Hiện nay có trên 5000 tổ chức tư vấn ở Ân Độ, tuy chủ yếu là quy mô nhỏ, song toàn ngành tư vấn An Độ lại thu hút một lượng lớn lao động với khoảng trên 40 vạn Sự phát triển có chọn ỉọc của tư vấn Ân Độ
đã tạo ra nhiều tổ chức tư vấn lớn hoạt động rộng khắp với hàng nghìn chuyên gia cótrình độ Nhiều hãng nổi tiếng như: Data Consulting Engineers, Davy Power G as Hiện nay các công ty tư vấn Ân Độ chú Trọng mở rộng và phát triển phạm vi cung cấp dịch vụ của minh đối với các lĩnh vực mới, hiện đại, đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh
tế xã hội
HOA K Ỳ :
Ra đời từ những năm 20 của thế kỷ X X , nhưng nó đã nhanh chóng thể hịên là một lĩnh vực hoạt động có tính quốc tế cao Các cơ sở tư vấn không chỉ hoạt động ở Mỹ mà nhanh chóng lan sang các nước khác Hiện nay, hoạt động tư vấn ở Mỹ có bước phát triển mới về cả lượng và chất Các công tỵ tư vấn quy mô nhỏ phạm vi hoạt động chỉ gói gọn trong một bang, hoặc chỉ làm tư vấn cho một số ít doanh nghiệp trước đây nay
đã phát triển mạnh: số nhân viên từ vài chục lên tới hàng nghìn người, hoạt dộng tư vấn bao gồm tất cả các lĩnh vực, khía cạnh trong đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là các lĩnh vực mang tính chuyên môn phức tạp Nhiều công ty tư vấn đã lớn mạnh trở thành những tập đoàn tư vấn xuyên quốc gia, hoạt động ở nhiểu nước trên thế giới như: Andersen Consulting; Mckinsey & Co; Ernst & Young
NHẰT BẢN:
Lúc đẩu, các công ty tư vấn Nhật được thành lập trên cở sở liên doanh hay hợp tác với những hãng tư vấn của Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai Với linh thần chịu khó học hỏi cộng với lòng tự hào dân tộc, người Nhật đã phát triển nền kinh tế đất nước một cách nhanh chóng, trong đó có ngành tư vấn Thời gian đầu, dịch vụ tư vấn phụ thuộc
10
Trang 16nhiều vào các công ty nước ngoài, nhưng tới thập niên 70, các tổ chức tư vấn nội địa Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ gắn với các tập đoàn công nghiệp hùng mạnh: Mitsubishi, Sony, Matsusita Khác với Mỹ, phần lớn các công ty tư vấn mạnh của Nhật không phát triển thành những tạp đoàn độc lập mà dựa vào các tập đoàn công nghiệp lớn để phát triển, đóng vai trò nhu một bộ phận trực thuộc trong các tập đoàn này.
1.2.4 Mỏi trường pháp lý của hoat đồng tư vấn.
Mồi trương pháp lý là mộl trong hai môi trường ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển của tư vấn Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nưóc thể chế hoá bằng pháp luật các quy định điều chỉnh lĩnh vực tư vấn trong đời sống kinh tế xã hội
- Nghị định 92/1998/NĐ-CP ngày 10/11/1998 của Chính phủ về hành nghề tư vấn pháp luật của luật su nước ngoài tại Việt Nam
- Nghị định số 175/CP ngày 29/4/1981 cửa Chính phủ về việc ký kết hợp đồng kinh
tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật Nghị định cho phép mọi cán bộ khoa học kỹ thuật được ký kết và thực hiện hợp đổng kinh tế trong nghiên cứu khoa học
và triển khai kỹ thuật theo nguyên tắc tự nguyện và được hưởng khoản tiền thù lao theo hợp đổng
- Nghị định số 16/CT ngày 13/6/1983 của Chủ tịch Hội đổng Bộ trưởng về chế độ kiêm nhiệm của cán bộ khoa học kỹ thuật đã thừa nhận cán bộ khoa học kỹ thuật có quyền tham gia các công tác khác, trong đó được hiểu bao gồm làm tư vấn theo chế độ kiêm nhiệm
- Ngày 20/7/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành tiếp quyết định số 268/CT về đăng ký hoạt động của tổ chức làm kinh tế do cơ quan hành chính và các đoàn thể thành lập
- Nghị định 175/CP và Quyết định lố l/C T thừa nhận việc làm tư vấn cá nhân
- Nghị định 268/CT cho phép thành lập các tổ chức dịch vụ tư vấn
- Quyếl định số 494/TT ngày 5/10/1993 về thành lập tổ chuyên gia tư vấn vể cải cách kinh tế và cải cách hành chính
11
Trang 17- Quyết định số 567/TTg ngày 18/11/1993 về cơ chế sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia tư vấn cho các cơ quan của chính phủ trong một số lĩnh vực công tác.
Ngoài ra còn có một số vãn bản liên quan khác và vãn bản pháp lý quy định cho các loại hình tư vấn cụ thể
1.2.5 Mối trường kinh tê' xả hỏi Thủ đó.
Trong 10 nãm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của các cấp chính quyén Trung ương và địa phương, Thủ đỏ Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Sự phát triển toàn diện các lĩnh vực của đời sống kinh tế
xã hội thủ đó đã có tác động thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hoạt động tư vấn Đảng bộ và chính quyền Thành phố đã có chủ trương phát triển lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là những dịch vụ chất lượng cao Đây là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển các loại hình tư vấn như: tư vấn bảo hiểm, tư vấn xuất nhập khẩu, tư vấn thuế, tư vấn kế toán, kiểm toán
Cùng với sự phát triển toàn diện kinh tế xã hội Thủ đô, sự ra đời của hàng loạt các công ty, tổ chức sản xuất, kinh doanh trong nước cũng như nước ngoài dã làm cho nhu cẩu sử dụng tư vấn trên địa bàn Hà Nội ngày càng cao Điều này đã thúc đẩy sự phát triển dịch vụ tư vấn Thủ đỏ, nhất ỉà các lĩnh vực kinh tế đang phát triển mạnh Lĩnh vực hoạt động của dịch vụ tư vấn không ngừng được mở rộng, tới nay đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội: từ đầu tư, chuyển giao cồng nghệ, xây dựng tài chính đến
tư vấn vấn đề xã hội, tâm lý, sức khoẻ Nhiều loại hình tư vấn đã tồn tại từ lâu nhưng chưa phát triển, nay có điều kiện bung ra khá mạnh mẽ với nhiều hình thức, tổ chức đa dạng Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các thành phần kinh tế, giữa các lĩnh vực kinh tế xã hội đã có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các loại hình
tu vấn ở Thủ đô Việc tiếp thu những tiến bộ khoa học - công nghệ trên thế giới vào Hà Nội đã kéo theo nhu cầu tư vấn trong một sô' íĩnh vực như đầu tư, chuyển giao công nghệ, mỏi trường, áp dụng hộ thống quản lý chất lượng ISO Ngày càng có nhiều công ty nước ngoài đầu tư vào Hà Nội, trong qúa trình hoạt động ở Hà Nội, đa số các
dự án đầu tư nước ngoài đều sử dụng tư vấn nước ngoài làm tư vấn chính thức trong thiết kế, tổ chức đấu thầu do trình độ, năng lực cũng như kinh nghiệm của các tổ chức tư vấn trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của chủ dự án Tuy nhiên, khi thực
12
Trang 18hiện công việc thì các tổ chức tư vấn nước ngoài thường hợp tác với các chuyên gia, tổ chức tư vấn Việt Nam Đây là cơ hội tốt cho các tổ chức tư vấn trong nước có điểu kiện tiếp cận với tiến bộ khoa học - kỹ thuật, sử dụng cống nghệ liên tiến, học tập kinh nghiệm quản lý, nhờ đó có thể nâng cao trình độ, khả năng cũng như uy tín trong lĩnh vực được hợp tác- lĩnh vực mà các cổng tỵ nước ngoài đã có bề dày kinh nghịêm từ hàng trãm năm nay Kinh tế Thủ đô đã và đang tăng trưởng với tốc độ cao Môi trường kinh tế xã hội đã, đang và sẽ có những diễn biến tích cực đòi hỏi phải thay đổi phương thức quản lý sản xuất, kinh doanh phù hợp với thông lệ quốc tế Lĩnh vực dịch vụ, trong
đó có dịch vụ tư vấn được phát triển đa dạng với trình độ chất lượng ngày càng cao
1.3 TÓM TẤT VỂ G M P riOl [18]
GMP bắt đầu được hình thành từ năm 1960 và cho đến nay nó đang được áp dụng trên một trăm quớc gia, bao gồm:
- GMP riêng của một số nước : Mỹ, Canada, N hật
- GMP của một số nước trong khu vực:
+ GMP của cộng đồng các nước Châu Âu (EURO GMPs) : Bỉ, Đan mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý , Hà L an ,.,
+ GMP của hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN GMPs) : Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thái Lan, Việt N am
- GMP của tổ chức Y tế thế giới (WHO GMPs): Các nước đang phát triển không thuộc nhóm nêu trên
Ở Việt Nam từ năm 1996, Đãng và Chính phủ đã chú ý tới việc nâng cao chất lượng thuốc Để nâng cao chất lượng thuốc sản xuất trong nước, chuẩn bị hoà nhập vào các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, để thực hiện mục tiêu cơ bản của Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Y tê đã ban hành Quyết dịnh số 1516/BYT-QĐ ngày 9/9/1996 về việc triển khai áp dụng các nguyên tấc tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc của hiệp hội các nước Đông Nam Á (GMP-ASEAN) ở tất cả các cơ sở sản xuất thuốc tân dược và Thông tư số 12/BYT'TT ngày 12/9/1996 hướng dẫn thực hiện triển khai áp dụng quyêì định trên
13
II
Trang 19Ngày 15/10/2004, TS Cao Minh Quang, Cục trưởng Cục quản lý Dược Việt Nam, đã
ký ban hành công văn số 8017/QLD-CL về việc triển khai áp dụng đông thời GMP, GLP, GSP
Ngày 3/11/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế PGS, TS Trần Thị Trung Chiến đã ký quyết định
số 3886/Q D -BYT về việc triển khai áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất thuốc” theo khuyên cáo của tổ chức y tế thế giới (CiMP- WHO)
1.3.1 Khái niêm
Ỉ.3 Ỉ.ỉ Định nghĩa.
Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP : good manufacturing practices) là hệ thống
những quy định chung hay hướng dẫn nhằm đảm bảo các nhà sản xuất có thể cho ra các sản phẩm luôn luôn:
- Đạt các tiêu chuẩn đã đăng ký
- An toàn cho người sử dụng
ỉ 3.1.2 Mục tiêu áp dụng GMP.
Trong quá trình sản xuất thuốc có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng Ihuốc như tình trạng lộn xộn , nhầm lãn hay nhiễm chéo
Việc kiểm tra chất lượng thuốc có thể bị hạn chế vì:
- Chỉ kiểm tra một số mẫu đại diện cho lô sản xuất
- Khả nâng của phương pháp hay thiết bị kiểm nghiệm có giới hạn
Do đó mục tiêu áp dụng GMP là giúp các nhà sản xuất thuốc phòng ngừa hay giảm thiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chát lượng thuốc trong quá trình sản xuất như tình trang lộn xộn, nhẩm lẫn hay nhiễm chéo
1,3.1.3, Mười nguyên tắc căn bản của GMP.
6 Bảo trì thiết bị theo kế hoạch
7 Đào tạo thường xuyên và cập nhật
14
Trang 208 Giữ gìn sạch sẽ và ngăn nắp
9 Cảnh giác cao về chất lượng
10 Kiểm tra sự thực hiện đúng
Ì3 Ỉ.4 Năm yếu tố quan trọng của GMP.
- Môi trường - Nguyên liệu
1.3.2.4 Biện pháp vệ sinh và tiêu chuẩn vệ sinh.
Phải có các biện pháp vệ sinh và tiêu chuẩn vệ sinh ở mức cao ở mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh trong sản xuất như vệ sinh con ngưòi, nhà xưởng thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, bao bì và tất cả những gì có thể gây ô nhiễm sản phẩm Phải có mộl chuơng trình toàn diện vé các biện pháp vệ sinh hoàn chỉnh để loại trừ được các nguồn gốc gây
ố nhiễm có thể có, bằng những vẫn bản quy định cụ thể
15
I I
Trang 211.3.2.5 Sản xuất.
Đây là khâu quan trọng nhất trong sản xuất thuốc Do đó việc sản xuất thuốc phải tuân theo những quy trình đã được thiết lập rõ ràng (các SOP) nhằm cung cấp những sản phẩm với chất lượng ổn định và đạt tiêu chuẩn mong muốn Chất lượng của sản phẩm không phải chỉ được chứng nhận bởi kết quả kiểm nghiệm mà được quyết dịnh bởi quá trình sản xuất, việc sản xuất thuốc được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa những người có trách nhiệm sản xuất với những người có trách nhiệm vể kiểm tra chất lượng, bất cứ sự sai lệch nào so với quy trình đã được thiết lập cần phải được ghi vào
hồ sơ lô, nếu cẩn thì thẩm định lại các quy trình ấy
1.3.2.6 Chất lượng.
Chất ỉượng thuốc tà cái đích của các nhà sản xuất, do đó để đảm bảo chất lượng thuốc trong sản xuất bao giờ cũng có hai bộ phận: đảm bảo chất lượng thuốc và kiểm tra chất lượng thuốc
Phòng đảm bảo chất lượng thuốc ban hành các chính sách chất lượng, xây dựng sổ tay chất lượng và thành lập mạng lưới bảo đảm chất lượng trong sản xuất; Tổ chức và thực hiện chính sách chất ỉượng thông qua mạng lưới đảm bảo chất lượng; Tổ chức đào tạo
về GMP, GLP và GSP; Hỗ trợ các bộ phận về những hoạt động liên quan đến chất lượng; Kiểm tra việc thực hiện công tác đảm bảo chất lượng thông qua tự thanh tra nhằm mục đích củng cố và hoàn thiện hộ thống
1.3.2.7 T ự thanh tra.
Tự thanh tra là một việc làm hết sức cần thiết để tự nâng cao chất lượng thuốc, phát hiện ngay những sai sót trong các quy trình và thao tác nhằm đề ra biện pháp khắc phục kịp thời
1.3.2.8 X ử lý khiêu nại.
Khiếu nại, trả lại, thu hổi sản phẩm là điều nhiều khi không tránh khỏi trong sản xuất Việc quy định những thủ tục này là điều cần thiết và đều được ghi vào hồ sơ ỉưu
1.3.2.9 Tài liệu hồ sơ.
Tài liệu hổ sơ về việc sản xuất là một phần của hệ thống thông tin quản lý chất lượng gồm có các đặc điểm kỹ thuật, qui trình, phưưng pháp và hướng dẫn, ghi chép và báo
16
1 1
Trang 22cáo và các tài liệu khác cần thiết cho việc lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, và đánh giá
toàn bộ hoạt động sản xuất thuốc
QA= GMP + QC + other factors QC
Trang 23Hiên nay trong nước đã có khoảng 48 doanh nghiệp đạt thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) - đang chiếm thị phần 59,78% về sản lượng nhưng chỉ chiếm 38% thị phần về giá trị trên thị trường dược nội địa Hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu
300 triệu USD tiền thuốc chưa kể hàng chục triệu USD thuốc viện trợ Để thấy rõ tình hình sản xuất thuốc trong nước, ta phân tích từ cái nhỏ nhất: viên thuốc, v ề hình ĩhức, tuy có đổi mới nhiều so vói trước đây, có nhiều dạng bào chế hơn, nhưng được làm ra hầu hết bằng nguyên liệu nhập từ nước ngoài Các doanh nghiệp dược đang rơi vào tình trạng thấy dễ ăn là đổ xô vào khai thác Do sản xuất nhiều mặt hàng trùng lặp nên phải cạnh tranh bằng giá “Cạnh tranh gay gắt do quá nhiều sản phẩm đăng ký trên cùng một dược chất Tỷ lệ trung bình một dưực chất có số sản phẩm đăng ký khai thác hiện dao động từ 1/14 đến 1/23 trong khi đó tỷ lệ này ở thuốc nước ngoài là 1/4 hoặc 1/5.5 Chính sự cạnh tranh này dẫn đến lợi nhuận không đáng kể” Giá bán thấp - lợi nhuận ít
- tích luỹ cho đầu tư tiếp thị kém - năng lực cạnh tranh yếu - lại tiếp tục giảm giá đã tạo thành một vòng xoáy nghiệt ngã cho các doanh nghiệp dược đặc biệt khi đứng trước cánh cửa hội nhập, cạnh tranh và mở cửa thị trường
Cũng phải thấy rằng, ngành Dược Việt Nam trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất còn thấp Ngành công nghiệp vẫn đi theo hướng sản xuất thuốc gốc, chưa có khả năng sản xuất thuốc công nghệ cao, chưa nghiên cứu và bào chế được nguồn nguyên liệu cung cấp cho sản xuất trong nước Trang thiết bị lại không đồng bộ về nguồn gốc và mức độ hiện đại Do đó mà chất lượng thuốc trong nước còn thấp và khó nâng cao Đầu
tư sản xuất ở tùng doanh nghiệp còn mang tính tự phát, dàn trải, thiếu sự phối kết giữa các doanh nghiệp và Hiệp hội sản xuất kinh doanh Và mặc dù chúng ta có tới 48 nhà máy có dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) nhưng lại chỉ có 26 cơ sở đạt thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc (GLP), và 11 cơ sở đạt thực hành tốt tồn trữ thuốc (GSP) Chính sự không đồng bộ này làm cho chất lượng thuốc của chúng ta chưa được quản lý chặt chẽ
Đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp dược trong nước hiện nay là khoảng 250 công ty nước ngoài thuộc khoảng 29 nước với khoảng 5000 số đăng ký thuốc lưu hành, Đây là cuộc cạnh tranh khổng cân sức và ưu thế thuộc về các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, thể hiện ở các đặc điểm: sản phẩm mang nhãn hiệu ngoại, thế mạnh về tài chính,
1.4 THƯC TRANG T41 [9] [11] 21]
18
Trang 24năng lực quản lý và trình độ tiếp thị Điều này thể hiện ở việc chúng ta chỉ nắm được phân khúc thị trường có thu nhập thấp, phân khúc thị trường trung bình thuộc về Trung Quốc, Ấn Độ và thu nhập cao do đoanh nghiệp các nưức châu Âu, Mỹ nắm giữ Điều đáng nói ở đây là thị trường thuốc đặc trị nằm trong tay các công ty thuốc nước ngoài, doanh nghiệp dược Việt Nam chưa có khả năng sản xuất và tiếp thị để giành lấy phân khúc này của Ihị trường.
Tất cả những nguy cơ và thách thức đó, hơn ai hết bản thân từng doanh nghiệp dược
là người hiểu rõ nhất Vi thế, cách lựa chọn duy nhất và cũng là đường đi ngắn nhất là phải nhanh chóng nâng cao năng lực Từ đó từng doanh nghiệp phải nghĩ ngay đến chuyện phấn đấu, đầu tư cho sản xuất, nghiên cứu thị trường, marketing, quảng bá thương hiệu, xác định những lợi thế cạnh tranh có được để phát huy, đồng Ihời khắc phục nhanh những hạn chế khi tham gia hội nhập Một số doanh nghiệp trong nước đã làm được khá tốt, việc quảng bá dược thương hiệu và có sản phẩm không trùng lắp ví dụ: X í nghiệp dược phẩm TW 26 nay là công ty cổ phần OPC vào thập niên 90 suýt phải giải thể khi thuốc làm ra khống ai mua X í nghiệp đã phát động chiến dịch bán thuốc để thu hồi vốn cùng với thay đổi nhân sự và nâng cao trình độ quản lý nghiên cứu Hiện công ty đã có những mặt hàng uy tín trên Ihị trường như : Kim tién thảo, dầu khuynh diệp Doanh thu năm 2003 của công ty là 110 tỷ đồng, xuất khẩu 406.000 USD Cồng ty Pharmađic doanh thu nàm 2003 là gần 100 tỷ đồng, sản phẩm không trùng lắp có sucrafar trị loét dạ dày, ofloxacin nhỏ mắt, nhỏ tai H ay như công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây cũng đã tìm được hướng đi cho mình với việc đầu tư nâng cao trình độ, công nghệ Hiện nay công ty có hai dây chuyền được cấp chứng nhận thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP-ASEAN) và còn nhiều công ty khác nữa Sự thành công của các công ty trên cho thấy hướng phái triển hiện nay nên xoáy vào nguồn nguyên liệu trong nước và sáng tạo trong nghiến cứu làm thế mạnh
Năm 2004 đã có nhiều nhà máy sản xuất đạt GMP ra đời, để tâng chất lượng thuốc sản xuất trong nước không chỉ có thế GMP giống như giấy lưu hành giúp dễ dàng hơn khi hội nhập Để có thể cạnh tranh và lớn mạnh thì phải lưu ý đến hiệu quả thực sự của thuốc Muốn vậy phải đầu tư nhiều cho nghiên cứu và phát triển Đã có nhiều công ty làm được như vậy ví dụ: Pharmedic- là một công ty cổ phần, làm ãn hiệu quả, doanh số
tăng trưởng qua từng năm, vì công ty có những sản phẩm đặc trị được người tiêu dùng
tín nhiêm rất nhiều, như BAR- thuốc lợi gan mật, Gastrogel trị đau dạ dày, thuốc mỡ
Trang 25kem trị đau mắt, tai mũi họng, thuốc trị bệnh tâm thần Nhưng công ty cũng gặp nhiều khó khăn, VI đây là đơn vị dầu tiên sản xuất thuốc sát trùng Povidine ngay sau đó
có khoảng 7 đơn vị đưa sản phẩm này ra thị trường X í nghiệp dược phẩm và sinh học y
tế cũng đã đưa doanh số lên gần một trăm tỉ đồng trong nảm qua nhờ sản xuất một số thuốc được người tiêu dùng tín nhiệm như: Fenbrat hạ lipid máu, Glucofaft trị tiểu dường., thuốc Vapzatal trị huyết áp, tim mạch của công ty sau khi Irình làng, bán chạy
là có ngay một sô' công ty khác., làm theo Thuốc Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh chất lượng với thuốc các nước Châu Á bởi nhân lực và trang thiết bị hiện nay nhiểu nơi
đã ngang bằng một số nước trong khu vực, sản phẩm làm ra có mẫu mã chất lượng không thua kém Tuy nhiên một số đơn vị vẫn chỉ thích “ăn theo” những sản phẩm của công ty khác đã có tên tuổi, chỗ đứng trên thị trường để thu lợi nhuận ngay mà không nghĩ đến chuyện lâu dài Chúng ta “cần tập trung đi theo chuyên sâu, cố gắng phối hợp với nước ngoài sản xuất nhượng quyền qua nhiều cách: phối hợp đầu tư máy móc, chuyển giao công nghệ Như vậy thuốc sản xuất trong nước giá thành sẽ rẻ hơn nước
sở tại và sử dụng hết công suất nhà máy khi xây dựng thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP)” - DS Trần Việt Hùng - trưởng phòng quản lý dược SYT tp Hồ Chí Minh về vân đề phát triển công nghệ dược đã cho biết
Trước thực tế đó Đảng và Nhà nước, cũng như Bộ y tế và Cục quản lý dược Việt Nam
đã có rất nhiều biện pháp để vực dậy ngành công nghiệp dược Trong chiến lược phát triển ngành Dược đến 2010, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt quyết định số 108/QĐ- TTg ngày 15/8/2002 có nêu “phát triển ngành Dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá, chủ động hội nhập với khu vực
và trên thế giới nhầm đảm bảo cung ứng đủ thuốc thường xuyên và có chất lượng, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý an toàn và phục vụ sức khoẻ nhân dân Bảo đảm sản xuất Irong nước chiếm 60% nhu cầu thuốc phòng và chữa bệnh của xã hội, mức tiêu thụ thuốc bình quân đạt 1 2 - 1 5 USD/ người/ năm” Và để thực hiện mục tiêu trên, đã có ba nhóm giải pháp được nêu ra Đó là nhóm giải pháp về sản xuất, nhóm giải pháp vể tài chính, và nhóm giải pháp vể tổ chức
20
Trang 26PHẨN 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Đôi tương nghiên cứu.
❖ Nghiên cứu môi trường kinh doanh của doanh nghiệp:
■ Môi trường vĩ mô: kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ thông qua các báo cáo tổng kết, các vãn bản pháp quy của ngành Dược cũng như của Bộ Y
tế, Bộ Tài chính, Viện nghiên cứu phát triển tư vấn
■ Môi trường vi mô:
♦ Đối thủ cạnh tranh: Tìm hiểu hoạt động của một số công ty có tư vấn
về GMP
♦ Tìm hiểu nhu cầu sử dụng tư vấn GMP của các doanh nghiệp dược
❖ Chính sách marketing cho các sản phẩm của công ty
❖ Phương pháp quản trị tài chính của doanh nghiệp
2.2 Phương pháp nghiên cứu
❖ Điéu tra:
+ Bộ câu hỏi (Phụ lục)+ Phỏng vấn trực tiếp
Sử dụng phương pháp chọn mẵu không xác suất có mục đích
Do diều kiện và thời gian có hạn đề tài tiến hành khảo sát 20 doanh nghiệp trong đối tượng khách hàng mục tiêu để ủm hiểu, phát hiện nhu cầu, đồng thời tìm hiểu, nắm bắt tình hình thực tế của các công ty
Đề tài cũng lựa chọn một số các doanh nghiệp dã triển khai GMP, để tìm thêm kinh nghiệm thực tế, và dự báo khó khăn
- Hổi cứu số liêu:
+ Thu thập số liệu: Từ các báo cáo tổng kết, từ điều tra thực tế
+ Phân tích số liệu:
21
, 1 1
Trang 27• 3C : Company (công tỵ), Competitors (đối thủ cạnh tranh), Customers (khách hàng).
Trang 28PHẨN 3: K Ế T QUẢ N G H IÊN c ứ u VẢ BẢN LU Â N
3 X Phán tích mồi trường kinh doanhĩ
3.1.1 Môi trường vĩ mô.
* Môi trường kinh tế:
Nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây đang có những bước phát triển rất đáng
tự hào GDP hàng năm tăng khoảng 7,7%, năm 2003 đạt 483 USD/người/năm và đến năm 2004 là 553 USD/người/nãm Đây vẫn là một con số hết sức khiêm tốn trong khu vực và trên thế giới
Trong thời kỳ bao cấp, có đủ thuốc dể dùng đã là mơ ước cảu nhân dân, bây giờ đời sống kinh tế đã được nâng lên thì nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ càng tãng lén., nhân dân muốn được khám bệnh và điều trị bằng những tràng thiết bị hiện dại và bằng thuốc
có hiệu lực điều trị, an toàn khi sử dụng nhưng cũng phảiphù hợp với thu nhập Đây là nhu cầu hoàn toàn chính đáng của nhân dân Để có thể nâng cao chất lưựng thuốc trong nước thì việc ra đời các nhà máy sản xuất dược phẩm đạt tiêu chuẩn GMP là cần thiết
và phù hợp với xu thế chung của thời đại Trên cơ sở đó thì việc ra đời công ty tư vấn triển khai thực hiện GMP là tất yếu khách quan
* Môi trường chính trị:
Môi trường chính trị là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh tới các quyếl định kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường chính trị bao gồm hệ hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của Nhà nước,tổ chức bộ máy và cơ chế điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội
Nước ta dang trong quá trình đamg phán để ra nhập WTO, đòi hỏi phảihoàn chỉnh nền kinh tế tbị trường Muốn vây chúng ta phải có một hành lang pháp lý hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu, có môi trường thuận lợi phát triển đa dạng các ngành nghề trong
đó có dịch vụ tư vấn
Quyết định số 3886/Q Đ -BYT về việc ttriển khai áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn GMP theo khuyến cáo của tổ chức Y Tế thế giới, thì đến hết 2006 bắt buộc các cơ sở phải đạt
I
Trang 29GMP-WHO mới được phép sản xuất tân dược và đến hết 2010 là tất cả các cơ sở sản xuất thuốc.
Để điều chỉnh hành vi kinh doanh thậm chí tiêu dùng, quan hệ trao đổi thương m ại các nước đều có một hệ thống luật pháp Ở Việt Nam trong những năm gần dây đã ban hành nhiều luật, pháp lệnh và nghị định như: Hiến pháp 1992, luật doanh nghiệp, luật Thương mại, luật Khuyến khích đầu tư trong nước, luật Đầu tư nước ngoài, luật Thuế,
dự thảo luật cạnh tranh, luật Ngân hàng Nhà nước, luật Các tổ chức tín dụng Hiện nay nhà nước vẫn tiếp tục sửa đổi, bổ sung pháp luật, cơ chế chính sách để tạo khung pháp
lý đồng bộ, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Trong lĩnh vực tư vấn cũng có các văn bản quản lý nhà nưức về tư vấn, đó là hành lang pháp lý tốt để các doanh nghiệp tư vấn ra dời
Hệ thống này được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, được hình thành trên cơ sở đường lối chung và đường lối kinh tế của Đảng Bao gồm: chính sách tài chính tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách phát triển các thành phần kinh
t ế tất cả đều ỉiên quan đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp
Nghị định của Chính Phủ số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Trích chương II điều 11 “ Chính Phủ khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc cung cấp thông tin, tư vấn và đào tạo nhân lực.”
Trích nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành Trung Uơng Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân
“Mở rộng hệ thống dịch vụ tư vấn khoa học, công nghệ cho các hộ kinh doanh và doanh nghiệp”, “Tiếp tực đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”
“Đại hội VII của Đảng quyết định chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991-2000 Đại hội IX đánh giá việc thực hiện chiến lược đó và quyết định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho 10 nãm đầu của thế kỷ X X I - Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây đựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.” Trong đó có đoạn “ Phát
triển mạnh các dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vân, dịch vụ phục vụ đời sống, đáp ứng
nhu cầu đa dạng trong sản xuất, kinh doanh và dòi sống xã hội”; “ Toàn bộ các hoạt
24
Trang 30động dịch vụ tính theo giá trị gia tăng dạt nhịp độ tăng trưởng bình quân 7-8% năm và đến 2010 chiếm 42-43% GDP, 26-27% tổng số lao động”
Quyết định số 161/CT ngày 13/6/1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chế độ kiêm nhiệm của cán bộ khoa học kỹ thuật đã thừa nhận cán bộ khoa học kỹ thuật có quyển tham gia các công việc khác, trong đó được hiểu bao gồm làm lư vấn theo chế
độ kiêm nhiệm
Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) tiếp tục khẳng định chủ trương, đường lối chung phái triển lĩnh vực dịch vụ Báo cáo chính trị lại dại hội nêu rõ: “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, kể cả thương mại điện tử, hàng không, hàng hải và các loại dịch vụ vận tải khác, bưu chính - viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm chuyển giao công nghệ, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường” Tư vấn là một loại hình hoạt động có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của khoa học - công nghệ Bân thân nhà tư vấn cũng có thể coi như một người làm khoa học, bởi dịch vụ do nhà tư vấn cung cấp là một dịch vụ trí tuệ của những người có trình độ cao, có khả năng cung cấp những lời khuyên mang tính chất chuyên gia và chuyên nghiệp
Hệ thổng những văn bản pháp luật trên cho thấy ngành tư vấn đang là một trong những ngành được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển Việc ra đời của các công ty tư vấn là cần thiết và phù hợp với xu thế của thời đại
* Môi trường công nghệ kỹ thuật:
Môi trường công nghệ kỹ thu ạt bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh hưởng đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường mới
Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã làm cho sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên phức tạp Một doanh nghiệp luôn đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàn của nhiều
bộ phân, từ khâu sản xuất, cung cấp nguyên liệu, chuẩn bị nguồn nhân lực, chỉ đạo tác nghiệp, kiểm tra chất lượng Nảy sinh nhiểu vấn đề phức tạp, các nhà quản lý doanh nghiệp có quá nhiều vấn dề cần giải quyết và không thể tự mình đưa ra các quyết định chính xác khi có các vấn đề phát sinh Khi đó họ có xu hướng tìm đến nhà tư vấn để tìm kiếm những giải pháp hợp lý và hiệu quả vì nhà tư vấn ỉà người đủ kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn để cho ra những quyết định chính xác
25
Trang 31* Mỏi trường vãn hoá:
Nhân dân ta, đa số thích dùng thuốc ngoại vì nghĩ chất lượng của thuốc ngoại tốt hơn Chất lượng thuốc ngoại tốt thì điều đó đúng nhưng giá của thuốc ngoại cũng rất đắt so với thuốc nội Bay giờ, chất lượng thuốc trong nước đã được cải thiện đáng kể, giá cả hợp lý dã ỉàm thay đổi được được nhu cầu của nhân dân, một phẩn không nhỏ đã chuyển sang dùng thuốc nội thay vì dùng thuốc ngoại Đây cũng là một điều khích lệ cho nền công nghiệp Dược trong nước Để làm được điều đó thì sự ra đời GMP đóng một vai trò rất lớn
3.1.2 Môi trường vi mô:
Bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ đến doanh nghiệp và có ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp khi phục vụ khách hàng Đó là các nhân tố nội tại của doanh nghiệp, các kênh marketing, thị trường khách hàng, đối thủ cạnh tranh, người cung cấp, các tổ chức trung gian Trong chừng mực nhất định, doanh nghiệp có thể tác động để cải thiện môi trường vi mô
* Khách hàng:
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn chuyên môn thì khách hàng là các công ty đang hoạt động Irong lĩnh vực chuyên môn đó, để các công ty có thể giải quyết được các vấn để của mình nhanh chóng và hiệu quả hơn
Trong ngành Dược hiện nay có 22 doanh nghiệp dược nhà nước, 589 DNTN, CT TNHH, CT CP, 250 doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài đã được cấp phép hoạt động tại Việt Nam Trong đó có 165 công ty có sản xuất dược phẩm, và chỉ có 48 công ty đã đạt GMP, và còn lại sẽ là những khách hàng mục tiêu của công ty
* Phân tích ngành kinh doanh và đối thủ cạnh tranh:
Tư vấn từ lâu đâ trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trong vai trồ một loại hình dịch vụ mang tính chuyên môn dặc biệt giúp các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đánh giá phân tích và giải quyết các vấn đề trong quá trình phát triển, nhất là trong hoạt dộng sản xuất kinh doanh Trên thế giới, nhiều loại hình dịch vụ tư vấn đã ra đời, tồn tại và phát triển
26
Trang 32từ nhiều thập kỷ nay Tư vấn đã được công nhận ìk một nghề trong hệ thống ngành kinh
tế quốc dân ở rất nhiều nưóc trên thế giới
Tại các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada dịch vụ tư vấn được đánh giá rất cao và rất được coi irọng bởi lẽ nó đã có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay và vai trò không thể thiếu được đối với các hoạt dộng kinh tế xã hội Vào những thời điểm nhất định, ngành tư vấn được coi là một ngành “cống nghiệp”, tuy nó khống trực tiếp tạo ra sản phẩm xã hội, nhưng laị góp phần làm tãng đáng kể hiệu quả của các hoạt động sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút thêm đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các hãng, giữa các quốc g ia
Tổ chức kinh tế theo mó hình khoa học - công nghệ - tư vấn - sản xuất đã được xây dựng và phát triển khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Hành trình khoa học - công nghệ - tư vấn - sản xuất là một quá trình khép kín, bắt đầu từ nhu cầu thực tiễn, nhiệm
vụ nghiên cứu khoa học ỉà tạo ra giải pháp công nghệ, thông qua công tác tư vấn để áp dụng vào thực tế và nâng cao hiệu quả của sản phẩm Trí tuệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Mô hình này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới từ khá sớm, ví
dụ ở Mỹ từ những năm 1950 - 1960 trên đại lộ 128, con đường nối Viện đại học - Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ, là kết quả của mô hình này Ớ Trung Quốc từ những nãm 1980 cũng xuất hiện hàng loạt các mô hình Viện - X í nghiệp - Thị trường Tại Nhật Bản, các công tỵ lớn, tập đoàn xây dựng thành lạp các viện nghiên cứu riêng và mời các chuyên gia đầu ngành về phụ trách, thành phố trí tuệ Tsukuba tập trung hàng chục cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất thử có sự kết hợp chặt chẽ với nhau
và tạo dựng các dịch vụ hoàn hảo về thông tin, thiết bị thí nghiệm, công nghệ tin học để thúc đẩy sự hơp tác phát triển
Tại Việt Nam các dịch vụ tư vấn đã phát triển khá mạnh trong vài năm gần đây, và ngày càng đa dạng hơn Theo kết quả khảo sát của dự án VIE/95/038 - Nâng cao năng lực tư vấn trong phục vụ phát triển nguồn nhân lực và điều tra sơ bộ của đề tài này, có đến 80% các tổ chức và doanh nghiệp đã có những íĩnh vực cần sử dụng tư vấn trong nước, chỉ có 13,5% chưa có nhu cầu về tư vấn và 6,5% chưa nghĩ đến nhu cầu tư vấn Trong đó, 87,5% các cơ quan quản lý Nhà nước, 92% các tổ chức xã hội, 89,9% các doanh nghiệp nhà nước có nhu cđu sử dụng tư vấn, tỷ lệ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ít hơn với 63.1% có nhu cầu sử dụng tư vấn, thấp nhất là các hộ gia đình, chỉ có
27
Trang 3333,3% cần sử dụng tư vấn Khi đề cập đến nhu cầu tư vấn trong một tương lai gần thì cũng thu được một tỷ lệ tương tự như trên, cho thấy mong muốn sử dụng tư vấn trong các hoạt động của các tổ chức và doanh nghiệp rất lớn.
Trên thị trường tư vấn trong nước, ra đời sớm nhất, phát triển nhất là tư vấn xây dựng Tuy nhiên tư vấn xây đựng trong nước mới chỉ thành thạo việc cung cấp các dịch
vụ thiết kế, giám sát công trình, thiếu khả năng cung cấp các dịch vụ trọn gói (bao hàm tất cả các khâu, cóng đoạn của tư vấn xây dựng từ khảo sát dự án, phân tích kinh tế - kỹ thuật đự án, thiết kế công trình, giám sát thi công, quản lý liến độ, quản lý khối lượng, quản lý tài chính, vận hành khai thác và bảo tr ì.,.) hoặc mang tính tổng hợp hơn Cũng phát triển không kém và ngày càng nhiều đó là tư vấn tài chính, tư vấn thị trường, tư vấn pháp luật, tư vấn lao động việc làm, tư vấn nông nghiệp và phát triển nông thôn và
tư vấn áp dụng hệ thống quản ỉý chất lượng ISO ISO là một tổ chức quốc tế vể tiêu chuẩn hoá, mà Việt Nam là thành viên từ năm 1977 Tại Việt Nam việc áp dụng ISO tại các doanh nghiệp chỉ thực sự phổ biến từ năm 1996 Việc áp dụng bộ tiêu chuẩn này đã kéo theo sự ra đời và phát triển dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực này Trong thời gian đầu, việc cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý chất lượng sản phẩm được thực hiện bởi các chuyên gia tư vấn nước ngoài, nhưng đến nay khi các doanh nghiệp tư vấn trong nước
ra đời giúp các doanh nghiệp giảm chi phí tư vấn dáng kể Tuy nhiên chất lượng của các công ty tư vấn trong nước vẫn chưa bằng các chuyên gia nước ngoài, điều này cũng
dễ hiểu vì các nhà tư vấn trong nước chưa có điều kiện để tiếp xúc thực tế nhiều như các chuyên gia nước ngoài
Tư vấn thực hiện GMP ở Việt Nam thực sự là một vấn đề mới mẻ và mang tính thực
tế cao Trong thị trường tư vấn trong nước không phải không có doanh nghiệp nào tư vấn về vấn đề này nhưng nó mang tính không đồng bộ, không trọn gói Các cỏng ty tư
đã tham gia tư vấn về GMP chỉ là các công ty tư vấn xây dựng và có tham gia tư vân xây dựng các dây chuyền sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP mà thôi, ngoài ra thì đó
có thể là các công ty kinh doanh máy móc, thiết bị làm sạch không khí Vì các máy móc này khi bán đã bao gồm cả hướng dẫn Các công ty tư vấn trong lĩnh vực này có thể kể đến là công ty Descon, công ty cổ phần và dầu tư thiết kế xây dựng, các công
ty này đã tham gia tư vấn về mặt xây dựng các dây chuyền cho các nhà máy của ICA, Ranbaxy Chí phí cho tư vấn thiết kế các dây chuyền hiện nay là:
28
Trang 34Giá trị thiết kế = (2 - 3% X Giá trị đầu tư) Trong đó, giá trị đầu tư = (Diện tích sử dụng
Trong GMP thì phần cứng không phải là vấn đề khó khãn nhất, các công ty có thể Iham khảo kinh nghiệm từ các doanh nghiệp đi trước, nhờ tư vấn Nhưng còn phần mềm, đây thực sự là vấn đề khó khăn cho các công ty mới bắt đầu hoặc có ý định triển khai GMP, nhiều khi là cả các công ty đã iriển khai GMP Trong phần mềm thì vấn đề nhân lực cũng được các công ty quan tâm, bởi lẽ nguồn nhân lực đang làm việc tại các dây chuyền GMP hiện nay chua được đào tạo về GMP một cách rộng rãi và chưa có cơ
sở nào kiểm tra, chịu trách nhiệm với chất lượng của việc đào tạo này Ớ các công ty lớn công nhân làm việc tại các dây chuyền GMP là những công nhân có nhiều kinh nghiệm được chuyển sang, kiến thức về GMP được trang bị nhờ có các cán bộ chuyên môn đi tập huấn rồi về phổ biến lại, xem băng hình hoặc mời chuyên gia từ nước ngoài giảng một số buổi Còn với những công ty đang xây dựng, sắp xây dựng các dây chuyền GMP thì nguồn nhân lực thực sự thiếu, và chưa có kinh nghiệm về GMP (nói cách khác là thiếu con người đạt GMP) Không chỉ thiếu về nguồn nhân công sản xuất trực tiếp, mà các cán bộ quản lý cũng chưa đạt GMP, chưa được đào tạo một cách chính thống
Cóng ty tư vấn triển khai thực hiện GMP, Vạn Xuân ra đời sẽ giúp các cóng ty giải Ị
quyết được vấn đề này Vạn Xuân là công ty duy nhất tư vấn trọn gói về GMP hiện nay trên thị trường, chúng tôi cũng sẽ là người di tiên phong trong việc đào tạo nguồn nhân lực đạt GMP để cung cấp cho các công ty có nhu cẩu Chính vì thế mà Vạn Xuân
Điểm mạnh và diểm yếu của một số công ty tư vấn xây dựng có tham gia tư vấn xây dựng các dây chuyền đạt tiêu chuẩn GMP có khả năng cạnh tranh với Vạn Xuân:
29
I II