1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TÌM HIỂU CÁC TRANH CHẤP TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC PHÁP LUẬT

197 435 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản 1 Điều 9 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy địnhvề nghĩa vụ của doanh nghiệp: “Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều

Trang 1

ĐỀ ÁN 2- CHƯƠNG TRÌNH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ 2008-2012

BỘ TƯ PHÁP

TÌM HIỂU CÁC TRANH CHẤP TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC PHÁP LUẬT

NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP NĂM 2012

Trang 2

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:

Nguyễn Thúy Hiền

Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban chỉ đạo Đề án

THAM GIA BIÊN SOẠN:

1 TS Lê Thu Hằng, Học viện Tư pháp

2 ThS Vũ Thị Thu Hiền, Học viện Tư pháp

3 ThS Nguyễn Thị Hạnh, Học viện Tư pháp

4 ThS Nguyễn Thị Hằng Nga, Học viện Tư pháp

5 TS Đỗ Thị Ngọc Tuyết, Học viện Tư pháp

6 ThS Tống Thị Thanh Thanh, Học viện Tư pháp

7 ThS Ngô Ngọc Vân, Học viện Tư pháp.

LỜI GIỚI THIỆU

Ngày 27/02/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết

định số 270/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án: “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước” thuộc Chương trình phổ biến, giáo dục

pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012 Mộttrong các hoạt động của Đề án là cung cấp, hỗ trợ tài liệunghiệp vụ, tài liệu pháp luật cho các đối tượng của Đề án, gópphần nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũthực hiện công tác này trong thời kỳ mới

Nhằm đáp ứng nhu cầu về bồi dưỡng kiến thức pháp luật,

kỹ năng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nhữngngười trực tiếp thực hiện công tác này, đặc biệt là đội ngũ Báocáo viên pháp luật, Ban chỉ đạo Đề án tổ chức biên soạn và

phối hợp với Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn: “Tìm hiểu các tranh chấp trong một số lĩnh vực pháp luật” Cuốn sách

cung cấp cho báo cáo viên các vụ việc liên quan tới pháp luậttrong lĩnh vực kinh doanh thương mại, hình sự, dân sự, hànhchính, lao động,… đã diễn ra trên thực tế, quyết định của Tòa

án và những bình luận pháp luật của các tác giả về những vụviệc trên

Trang 3

Ban chỉ đạo Đề án trân trọng cảm ơn sự tham gia nhiệt

tình của tập thể tác giả và sự phối hợp tích cực của Vụ Phổ

biến, giáo dục pháp luật - thường trực Ban chỉ đạo Đề án để

hoàn thành cuốn sách này

Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được những ý

kiến đóng góp quý báu của bạn đọc về nội dung cuốn sách

BAN CHỈ ĐẠO ĐỀ ÁN

I BÌNH LUẬN MỘT SỐ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH

Vụ việc số 1

Ngày 15 tháng 9 năm 2010, bà Th ký với Công tyCBTHSXK - Việt Ph, hai hợp đồng không số, tên gọi là “Hợpđồng vay vốn để sản xuất kinh doanh” cùng do ông Trần Văn

K nguyên giám đốc đại diện ký, cho Công ty vay 20.000USD/1 hợp đồng, lãi suất 4,5%/tháng, thời hạn 06 tháng và 12tháng Trong hợp đồng, bên cho vay có ghi là bà Nguyễn Thị

Th, địa chỉ 35 Nguyễn An N, quận 1 - Thành phố H; bên đivay là Công ty CBTHSXK - Việt Ph, do ông Trần Văn K -Giám đốc, địa chỉ 57 Nguyễn T, quận 1, Thành phố H đạidiện Hợp đồng chỉ có chữ ký của ông K, không đóng dấuCông ty

Thực hiện hợp đồng, bà Th đã giao cho ông K 38.000USD, ông K đã trả được 3.353 USD nên vốn gốc chỉ còn là34.647 USD Khi bà Th giao USD cho ông K không có biênlai ký nhận của Kế toán trưởng hay Thủ quỹ của Công tyCBTHSXK - Việt Ph Công ty CBTHSXK- Việt Ph không cólưu hợp đồng hoặc các chứng từ liên quan trong hồ sơ tạiPhòng tài vụ - kế toán của Công ty CBTHSXK - Việt Ph Ông

Trang 4

Trần Văn K không báo việc ký kết, thực hiện hợp đồng với bà

Th trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty

CBTHSXK - Việt Ph

Hết hạn thanh toán, bà Th kiện Công ty CBTHSXK - Việt

Ph; yêu cầu Công ty CBTHSXK - Việt Ph phải trả cho bà Th

các khoản tiền sau:

- Vốn gốc là 34.647 USD tương đương 557.123.760 đồng;

- Lãi là 733.354.928 đồng

Tổng cộng tính tròn hai khoản là: 1.290.000.000 đồng

Bình luận

- Thứ nhất: Về hình thức, hai “Hợp đồng vay vốn để

kinh doanh” cùng ký ngày 15/9/2010 được xác lập giữa bà Th

với Công ty CBTHSXK - Việt Ph Tuy nhiên, thực tế thực

hiện hợp đồng lại thể hiện đây là quan hệ cho vay giữa cá

nhân với cá nhân (bà Th và ông K), với những tình tiết để

chứng minh là việc giao tiền được thực hiện giữa cá nhân bà

Th với ông K, không qua tài khoản Công ty, nội bộ Công ty

không được biết về việc vay tiền này, hợp đồng không theo

biểu mẫu hợp đồng của Công ty và không được đóng con dấu

Công ty Vì vậy, việc bà Th khởi kiện đề nghị Tòa án buộc

chính Công ty CBTHSXK - Việt Ph trả nợ sẽ không được Tòa

án chấp nhận

Có quan điểm cho rằng, nếu hợp đồng được đóng dấu củaCông ty, thì cho dù ông K đứng ra nhận tiền, không chuyểntiền cho Công ty, Công ty vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ Cònviệc ông K sử dụng danh nghĩa của Công ty vay tiền, khôngtrả được nợ, gây thiệt hại cho Công ty sẽ được xem xét ở quan

hệ pháp luật khác Quan điểm này cũng đã gây nhiều tranh cãitrong thực tiễn xét xử

Vấn đề mấu chốt không phải là hợp đồng được đóng dấuCông ty hay không được đóng dấu Công ty vì xét cho cùngcon dấu không làm thay đổi bản chất và hiệu lực của hợpđồng Việc đóng dấu chỉ là sự xác thực về mặt hành chính chữ

ký của người có thẩm quyền đại diện cho một tổ chức Quantrọng là để làm rõ bản chất quan hệ cho vay được xác lập giữa

bà Th với Công ty hay với cá nhân ông K, cần phải xác định:+ Ý chí cho vay của bà Th là cho Công ty hay cá nhânông K vay? Tại sao bà Th chuyển tiền cho cá nhân ông K màkhông qua tài khoản, kế toán Công ty?

+ Ý chí của ông K là vay với danh nghĩa cá nhân haydưới danh nghĩa đại diện cho Công ty? Tại sao ông K trực tiếpnhận tiền, trả tiền, không qua sổ sách kế toán Công ty, khôngthông báo việc vay nợ trong nội bộ Công ty?

Việc làm rõ ý chí của các bên, một mặt để xác định rõ bảnchất quan hệ hợp đồng, mặt khác còn làm rõ hiệu lực của giaodịch (hợp đồng sẽ vô hiệu do bị lừa dối nếu ý chí bà Th là cho

Trang 5

Công ty vay nhưng ông K đã lừa dối bà Th để bà Th giao tiền

trực tiếp cho ông K) và làm rõ lỗi trong việc ông K lợi dụng

danh nghĩa của Công ty để vay tiền, từ đó xác định rõ trách

nhiệm của từng chủ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ

- Thứ hai: Mặc dù khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh

chấp, bà Th đã quy đổi giá trị đòi nợ bằng tiền Việt, tuy nhiên

việc cho vay bằng USD là đã vi phạm pháp luật nên hợp đồng

sẽ bị Tòa án tuyên vô hiệu

Theo quy định của Điều 22 Pháp lệnh Quản lý ngoại hối

năm 2005 thì các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam phải được

thực hiện bằng đồng tiền nội tệ Vi phạm quy định này được coi

là vi phạm điều cấm của pháp luật và là một trong những căn cứ

để tuyên hợp đồng vô hiệu theo Điều 122 Bộ luật Dân sự

Điều 22 Pháp lệnh Quản lý ngoại hối quy định:

Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm

yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không

được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các giao dịch với tổ chức

tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian

gồm thu hộ, uỷ thác, đại lý và các trường hợp cần thiết khác

được Thủ tướng Chính phủ cho phép

Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về điều kiện

có hiệu lực của giao dịch:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện

sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Và Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.”

Thực tiễn xét xử hiện nay cho thấy, các giao dịch đượcxác lập bằng ngoại tệ khi giải quyết Tòa án sẽ tuyên giaodịch vô hiệu vì cho rằng nội dung của hợp đồng đã viphạm điều cấm của pháp luật (không được phép giao dịchbằng ngoại hối) Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm khácnhau xung quanh vấn đề giao dịch được xác lập bằng ngoại

tệ Có quan điểm cho rằng việc vi phạm quy định về quản

lý ngoại hối chỉ là sự vi phạm về quản lý hành chính và vìvậy các chủ thể chỉ phải chịu chế tài xử phạt vi phạm hànhchính mà không làm vô hiệu hợp đồng Tác giả cho rằngcần thiết phải làm rõ đối tượng của hợp đồng là gì, nếu đốitượng của hợp đồng là giao dịch cho vay thì lúc này nội

Trang 6

dung của hợp đồng được coi là vi phạm điều cấm của pháp

luật, còn nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hóa mua bán,

dịch vụ thuê, mượn thì việc các bên thỏa thuận đồng tiền

thanh toán bằng ngoại tệ chỉ làm vô hiệu điều khoản về

thanh toán chứ không làm cho nội dung của hợp đồng bị vi

phạm điều cấm như cách hiểu hiện nay Vì vậy, đối với

những hợp đồng mua bán, thuê mà các bên thỏa thuận

thanh toán bằng ngoại tệ thì Tòa án chỉ tuyên vô hiệu điều

khoản này và buộc các bên phải khôi phục tình trạng đã

thực hiện cho đúng quy định của pháp luật về quản lý

ngoại hối

Vụ việc số 2

Ngày 01/8/2010, Công ty điện máy, xe máy, xe đạp TTD

(bên A - không có chức năng cho thuê nhà xưởng) và Công ty

trách nhiệm hữu hạn T (bên B) có ký hợp đồng thuê nhà

xưởng với nội dung: Bên A cho bên B thuê 01 nhà 02 tầng và

03 dãy nhà xưởng trên diện tích 2000 m2 đất tại số 42Q ngõ 67

phố Đ, quận L, thành phố H Thời hạn thuê từ 01/9/2010 đến

30/8/2012 Giá cho thuê là 140.000.000 đồng/tháng Bên B

thanh toán cho bên A 03 tháng một lần Nếu chậm thanh toán

sẽ bị phạt với mức lãi suất 05%/tháng cho số tiền và thời gian

chậm thanh toán

Sau khi thanh lý hợp đồng, bên B phải giao lại cho bên Atoàn bộ mặt bằng, tài sản của bên A và cả phần sửa chữa củabên B (được bên A cho phép)

Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận về trách nhiệm của cácbên và chọn cơ quan tài phán

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty trách nhiệm hữuhạn T đã trả tiền thuê đến hết tháng 3/2011 Sau đó bị đơnkhông trả tiền thuê nhà nữa, mặc dù phía nguyên đơn đã cónhiều công văn nhắc nhở, bị đơn vẫn không thực hiện

Do đó đến ngày 11/6/2011, nguyên đơn đã có công văn số71/ĐM-XĐXM thông báo cho bị đơn về việc hủy bỏ hợp đồng

và yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ diện tích nhà xưởng đang thuê.Đến ngày 24/8/2011, nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu:

- Bị đơn trả lại toàn bộ diện tích thuê

- Hoàn trả số tiền thuê nhà còn thiếu là 308.000.000 đồng

và lãi là 50.976.875 đồng

Bình luận

- Thứ nhất, Hợp đồng cho thuê nhà xưởng của các bên sẽ

bị Tòa án tuyên vô hiệu do bên A không có chức năng chothuê nhà xưởng để thực hiện hợp đồng, vi phạm Điều 9 LuậtDoanh nghiệp năm 2005, Điều 122 và Điều 127 Bộ luật Dân

sự năm 2005

Trang 7

Khoản 1 Điều 9 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định

về nghĩa vụ của doanh nghiệp: “Hoạt động kinh doanh theo

đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp

luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.”

Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng hợp đồng trên là hợp

đồng cho thuê tài sản (là hợp đồng dân sự) nên Bên A không

nhất thiết phải có chức năng kinh doanh trong việc cho thuê

tài sản thuộc sở hữu của mình Quan điểm này cũng gây nhiều

tranh cãi trong thực tiễn xét xử

- Thứ hai: Về việc xử lý hậu quả của hợp đồng nêu trên

khi bị tuyên vô hiệu cũng có nhiều ý kiến khác nhau Theo

quy định của Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hợp đồng

bị vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên,

các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn

trả được bằng tiền thì hoàn trả bằng hiện vật và bên nào có lỗi

gây thiệt hại thì phải bồi thường

Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay

đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời

điểm xác lập.

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại

tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu

không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.”

Thực tiễn xét xử cho thấy, khi hợp đồng cho thuê nhàxưởng bị vô hiệu thì các bên chấm dứt việc thực hiện hợpđồng và bên đi thuê phải thanh toán tiền thuê cho thời gian đãthuê (vì việc sử dụng không thể hoàn trả nên hoàn trả bằngtiền) vì không có quy định và giải thích cụ thể trường hợp nàothì “lợi tức, hoa lợi” thu được phải bị tịch thu sung quỹ Nhànước Tuy nhiên, việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vôhiệu như vậy vô hình trung là đã thừa nhận hợp đồng, đặc biệt

là trong trường hợp thời hạn hợp đồng thuê đã hết, các bên đãthực hiện xong hợp đồng và chỉ còn nợ tiền thuê Theo quanđiểm của tác giả, tiền thuê trong trường hợp mà bên cho thuêkhông có chức năng mà lại cho thuê là khoản lợi tức khônghợp pháp và bên cho thuê không được hưởng mà phải sungquỹ Nhà nước

Mặt khác, quy định “bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồithường” cần phải thống nhất hiểu “lỗi” ở đây là lỗi làm chohợp đồng bị vô hiệu chứ không phải lỗi trong thực hiện hợpđồng vì khi hợp đồng bị vô hiệu thì không làm phát sinhquyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên Và tác giả cũng chorằng, nếu đã là lỗi làm cho hợp đồng bị vô hiệu thì chỉ có khả

Trang 8

năng cả hai bên cùng có lỗi (50/50) hoặc một bên có lỗi

(100%) chứ không thể cân nhắc lỗi theo mức 70/30 hay 40/60

v.v… phù hợp với mức độ thiệt hại được Tuy nhiên, thực tế

xét xử hiện nay cho thấy việc xem xét lỗi trong việc giải quyết

hậu quả của hợp đồng vô hiệu còn rất khác nhau

Vụ việc số 3

Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại TL

và Công ty cổ phần đầu tư sản xuất động cơ phụ tùng và lắp

ráp ô tô, xe máy T cùng thỏa thuận và ký kết một số hợp đồng

kinh tế Theo các hợp đồng kinh tế số 01/XNTL-L1/HĐKT

ngày 01/10/2009, số 02/XNTL-L1/HĐKT ngày 12/7/2009, số

03/XNTL-L1/HĐKT ngày 01/10/2009, hai bên thỏa thuận:

Công ty TL bán cho Công ty T vành xe máy gồm: vành trước

là 60.000 cái, vành sau là 60.000 cái Tổng giá trị cả 03 hợp

đồng là 4.909.080.000 đồng, kèm theo thỏa thuận thanh toán

theo từng hóa đơn xuất hàng trong vòng 30 ngày kể từ ngày

Công ty TL giao hàng

Hợp đồng số 01/MTL-L1/HĐKT ngày 12/11/2009, Công

ty TL bán cho Công ty T 15.000 mặt nạ nhựa, tổng giá trị hợp

đồng là 67.500.000 đồng và thỏa thuận thanh toán trong vòng

20 ngày kể từ ngày giao nhận hàng

Việc giao nhận hàng và trả tiền giữa hai bên được thực

hiện như sau:

- Về loại hàng vành xe máy tính đến thời điểm cuối cùng

là ngày 24/10/2010, Công ty TL đã giao số lượng hàng trị giá4.473.644.252 đồng, Công ty T đã trả 3.875.713.918 đồng,còn nợ là 597.930.334 đồng

- Về loại hàng mặt nạ nhựa tính đến ngày 10/9/2010,Công ty TL đã giao trị giá 125.613.000 đồng, tính trừ một sốhàng phải trả lại thì giá trị còn lại là 125.263.000 đồng, Công

ty T chưa trả được đồng nào

Tại biên bản đối chiếu công nợ này 17/11/2010, hai bênxác nhận: Tổng số tiền Công ty T còn nợ của Công ty TL là729.193.334 đồng, trong đó nợ tiền vành xe máy là597.930.334 đồng; tiền mặt nạ nhựa là 125.263.000 đồng và6.000.000 đồng tiền khuôn đúc phía Công ty TL đã ứng trảthay cho Công ty T

Sau khi chốt nhận nợ, Công ty TL đã nhiều lần đôn đốc,nhắc nợ; ngày 02/4/2011 Công ty T trả tiếp 50.000.000 đồng.Ngày 17/10/2011 Công ty TL đã có công văn số 101/2011/CVgửi Công ty T yêu cầu trả nốt số nợ gốc 679.193.334 đồngtrước ngày 25/10/2011; mặc dù đã nhận được văn bản nhưngCông ty T không trả lời và cũng không thanh toán nợ Do vậy,ngày 06/12/2011 Công ty TL đã có đơn khởi kiện yêu cầubuộc Công ty T phải trả số nợ gốc là 679.193.334 đồng

Ngoài ra, Công ty TL còn yêu cầu Công ty T phải hoàn trảlãi phát sinh trong thời gian chậm thanh toán là 208.947.323

Trang 9

đồng (theo thỏa thuận trong hợp đồng là 05%/tháng trên số tiền

chậm trả, thời gian chậm trả và lãi được tính lũy tiến, cộng lãi

vào gốc để tính)

Tòa án đã thụ lý vụ việc và nhận định cách tính lãi lũy

tiến lấy lãi cộng gốc để tính và lãi suất 05%/tháng là không

phù hợp với quy định về lãi suất cho vay được quy định tại

Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005

Bình luận

- Thứ nhất: Sau ngày Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu

lực, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế hết hiệu lực thì không còn

tồn tại khái niệm hợp đồng kinh tế Vì vậy, việc các bên vẫn

còn sử dụng thuật ngữ hợp đồng kinh tế trong giao kết hợp

đồng là không chính xác

- Thứ hai: Việc Tòa án áp dụng Điều 476 Bộ luật Dân sự

năm 2005 để xem xét thỏa thuận của các bên về việc phạt lãi

do vi phạm nghĩa vụ thanh toán gây nhiều băn khoăn bởi Điều

476 Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định về lãi suất của hợp

đồng vay Quy định này có đương nhiên được áp dụng cho

việc thỏa thuận về lãi suất phạt chậm thanh toán trong các hợp

đồng thương mại theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005

hay không cũng chưa thực sự rõ ràng

Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không

được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 quy định:

“Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Có quan điểm cho rằng, trong tình huống này hai bên đã cóthỏa thuận khác nên thỏa thuận phạt này hoàn toàn phù hợpĐiều 306 Luật Thương mại năm 2005, cần phải được chấp nhận.Tuy nhiên có quan điểm khác cho rằng dù các bên có thỏa thuậnkhác thì mức lãi phạt cũng không được cao hơn mức 150% lãisuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định Như đã đề cập ởtrên, liệu Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 về lãi suất tronghợp đồng vay có đương nhiên áp dụng cho các hợp đồng kháchay không? Quan điểm của tác giả là không áp dụng, bởi bảnchất của thỏa thuận phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong các

Trang 10

hợp đồng thương mại là một chế tài để răn đe và trừng phạt các

chủ thể cố tình vi phạm nghĩa vụ, không thuộc phạm vi điều

chỉnh về lãi suất cho vay để kiểm soát hoạt động cho vay, thực

hiện chính sách về tiền tệ của Nhà nước Do đó, không nhất thiết

phải điều chỉnh bởi mức tỷ lệ do pháp luật quy định để tạo sự ổn

định và cân bằng trong quản lý tiền tệ Vậy nên, theo chúng tôi,

trên thực tế xét xử các thẩm phán vẫn áp dụng Điều 476 Bộ luật

Dân sự năm 2005 để xem xét về thỏa thuận phạt lãi trong các

hợp đồng thương mại là không hợp lý

- Thứ ba: Theo hợp đồng thì việc thanh toán phải thực

hiện không quá 20 ngày đối với mặt nạ nhựa, không quá 30

ngày đối với vành xe máy kể từ ngày bên A giao hàng theo

từng hóa đơn; ngoài thời hạn trên được coi là chậm trả Như

vậy, hết thời hạn này mà bên có nghĩa vụ vẫn không thanh

toán là đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, trong quá

trình thực hiện hợp đồng nếu phía Công ty TL không có ý

kiến gì; các văn bản đối chiếu nợ cũng chỉ ghi nhận khoản nợ

gốc mà không đề cập đến lãi quá hạn thì coi như Công ty TL

đã mặc nhiên chấp nhận việc vi phạm Do vậy, thời điểm tính

lãi suất chậm thanh toán được lấy mốc từ ngày đối chiếu xác

nhận công nợ chứ không phải tính từ mốc vi phạm theo thỏa

Hợp tác xã ĐT đồng ý liên doanh với Công ty cổ phần

MT Công ty cổ phần MT đồng ý đầu tư liên doanh của Hợptác xã ĐT để chăn nuôi lợn siêu nạc xuất khẩu với hình thứcgóp vốn, khoán gọn, thu lợi nhuận (lãi suất 0,7%/tháng) Công

ty cổ phần MT phải thanh toán lãi cho Hợp tác xã ĐT vàongày cuối tháng hoặc cuối quý

Hợp tác xã ĐT chỉ đầu tư lượng tài chính để liên doanh là

500 triệu đồng trong thời gian 05 năm Hết thời hạn, Công ty

cổ phần MT phải thanh toán hết gốc và lãi cho Hợp tác xã ĐT.Tài sản Công ty cổ phần MT làm thế chấp cho Hợp tác

xã ĐT là hệ thống cây xăng đang hoạt động với trị giá 1,4

tỷ đồng

Ngày 14/3/2011, Hợp tác xã ĐT đã chuyển cho Công ty

cổ phần MT 150 triệu đồng (phiếu chi số 41) căn cứ vào vănbản đề nghị tạm ứng vốn số 01/VBĐN-CT ngày 06/3/2011của Công ty cổ phần MT

Ngày 28/4/2011, Hợp tác xã ĐT đã chuyển cho Công ty

cổ phần MT 100 triệu đồng (phiếu chi số 70)

Công ty cổ phần MT sau khi ký hợp đồng với Hợp tác xã

ĐT đã ký 03 hợp đồng về lợn giống, thiết bị chuồng lợn với

Xí nghiệp tập thể BH, Công ty cổ phần Hùng S, Công ty trách

Trang 11

nhiệm hữu hạn CHAROEN P - Những hợp đồng này Công ty

cổ phần MT không chuyển đúng tiền thanh toán trong hợp

đồng nên đã bị phạt 221.323.550 đồng và các thiệt hại khác

Tổng thiệt hại hơn 300 triệu đồng

Công ty cổ phần MT đã chuyển Hợp tác xã ĐT tiền lợi

nhuận khoán gọn hàng tháng (từ tháng 3/2011 đến tháng

11/2011, tổng số tiền lợi nhuận đã chuyển là 11.550.000

đồng) Từ tháng 11/2011, Công ty cổ phần MT ngừng chuyển

tiền lãi cho Hợp tác xã ĐT

Phía Hợp tác xã ĐT, sau khi ký hợp đồng với Công ty cổ

phần MT đã bị Ủy ban kiểm tra huyện C kiểm tra và kết luận

việc ký và thực hiện hợp đồng liên doanh kinh tế giữa Hợp tác

xã ĐT và Công ty cổ phần MT là vi phạm điều lệ Hợp tác xã,

Nghị quyết đại hội xã viên bất thường ngày 07/6/2011, không

tìm hiểu kỹ đối tác kinh doanh mà huyện ủy C đã có thông

báo số 151/TB-HU Đại hội đại biểu xã viên Hợp tác xã ĐT

ngày 29/5/2011 đã yêu cầu thu hồi số tiền 250 triệu đồng cho

Công ty cổ phần MT vay về quỹ Hợp tác xã

Từ ngày 01/6/2011 đến 09/11/2011, Hợp tác xã ĐT liên

tục yêu cầu Công ty cổ phần MT thanh lý hợp đồng, yêu cầu

Công ty cổ phần MT chuyển trả lại 250 triệu đồng mà Hợp tác

xã đã chuyển, nhưng Công ty cổ phần MT không thực hiện

Còn Công ty cổ phần MT yêu cầu Hợp tác xã ĐT hoặc

thanh lý hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng Hợp tác xã

ĐT phải bồi thường đầy đủ mọi thiệt hại của Công ty cổ phần

MT do Hợp tác xã ĐT gây ra

Tranh chấp giữa hai bên không giải quyết được Ngày10/02/2012, Hợp tác xã ĐT gửi đơn và hồ sơ khởi kiện đếnTòa án nhân dân thành phố HP đề nghị giúp Hợp tác xã ĐTthu hồi 250 triệu đồng đã chuyển cho Công ty cổ phần MT.Công ty cổ phần MT cũng có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa ánbuộc Hợp tác xã ĐT phải bồi thường các thiệt hại phát sinhcho Công ty cổ phần MT

Bình luận

- Thứ nhất: Hợp đồng liên doanh kinh tế số 03/HĐ-CT

ký kết ngày 01/3/2011 giữa Hợp tác xã ĐT và Công ty cổphần MT bị vô hiệu toàn bộ

Tại Điều 2 của hợp đồng có quy định: Hợp tác xã ĐT chỉđầu tư lượng tài chính để liên doanh là 500.000.000 đồng vàovốn lưu động của Công ty cổ phần MT trong thời hạn 05 năm.Nhưng tại Điều 1, Điều 3 quy định: khoán gọn, thu lợi nhuậnlãi suất 0,7%/tháng Công ty cổ phần MT đã phải trả lãi hàngtháng cho Hợp tác xã ĐT cho đến tháng 11/2011 Tại văn bản

đề nghị số 01/VBĐN-CT ngày 06/3/2011 của Công ty cổ phần

MT xác định Hợp tác xã ĐT là bên đầu tư tài chính cho Công

ty cổ phần MT trên cơ sở khoán gọn, trả lãi hàng tháng theohợp đồng số 03/HĐ-CT ngày 01/3/2011

Trang 12

Giấy ủy quyền nhận tiền số 01/GUQ-CT ngày 11/3/2011

của Công ty cổ phần MT ghi rõ là nhận số tiền vay 150.000.000

đồng Phiếu chi số 41 ngày 14/3/2011 của Hợp tác xã ĐT ghi rõ

chi theo văn bản đề nghị vay vốn của Công ty cổ phần MT

Phiếu chi 100.000.000 đồng ngày 28/4/2011 của Hợp tác xã ĐT

ghi chi theo hợp đồng vay vốn Một số phiếu thu của Hợp tác xã

ĐT ghi rõ thu tiền lãi cụ thể: phiếu thu số 02 ngày 28/6/2011,

phiếu thu số 24 ngày 15/5/2011; phiếu thu số 01 ngày

15/6/2011; phiếu thu số 06, 07 ngày 18/7/2011

Từ căn cứ trên thể hiện, thực chất hợp đồng kinh tế số

03/HĐ-CT ngày 01/3/2011 giữa Hợp tác xã ĐT với Công ty

cổ phần MT chỉ là hợp đồng vay vốn

Như vậy, hợp đồng hợp tác kinh doanh bị vô hiệu do giả

tạo vì che dấu bản chất là một hợp đồng cho vay vốn theo

Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005

Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo

nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô

hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường

hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn

tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.”

Giao dịch bị che giấu ở đây là hợp đồng cho vay vốn vẫn

bị vô hiệu vì vi phạm Điều 6, Điều 7 của Luật Hợp tác xã năm

2003 Cụ thể, Hợp tác xã không được cho vay đối với các tổchức, cá nhân không phải là xã viên Hợp tác xã và khôngđược kinh doanh ngoài những ngành, nghề đã đăng ký

Khoản 8 Điều 6 Luật Hợp tác xã quy định Hợp tác xã có

quyền: “Vay vốn của tổ chức tín dụng và huy động các nguồn vốn khác; tổ chức tín dụng nội bộ theo quy định của pháp luật.”

Khoản 1 Điều 7 Luật Hợp tác xã quy định Hợp tác xã có

nghĩa vụ: “Sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đúng ngành, nghề, mặt hàng đã đăng ký.”

- Thứ hai: Công ty cổ phần MT yêu cầu Hợp tác xã ĐT

phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do có lỗi dẫn đến hợp đồng

vô hiệu là không có cơ sở để chấp nhận bởi Công ty cổ phần

MT buộc phải có nghĩa vụ biết chức năng kinh doanh củaHợp tác xã là không được phép cho vay vốn Vì vậy, trongtrường hợp này lỗi làm cho hợp đồng bị vô hiệu là 50/50 (trừkhi Hợp tác xã ĐT lừa dối làm cho Công ty cổ phần MT tinvào việc Hợp tác xã có chức năng này), Công ty cổ phần MTphải gánh chịu 1/2 thiệt hại của mình

Trang 13

II BÌNH LUẬN MỘT SỐ TRANH CHẤP HỢP

ĐỒNG TÍN DỤNG

Vụ việc số 1

Ngày 07/3/2009, Công ty thương mại xây dựng có thư

bảo lãnh số 142 cho Chi nhánh Sài Gòn V là đơn vị thuộc

Công ty thương mại xây dựng vay tiền của Chi nhánh Ngân

hàng Công thương thành phố H thuộc Ngân hàng Công

thương Việt Nam Thư bảo lãnh với số tiền 10 tỷ đồng có tài

khoản 710-A00477 tại Ngân hàng Công thương Việt Nam và

tài khoản ngoại tệ số 362-111-37-0333 tại Ngân hàng Ngoại

thương Việt Nam Từ thư bảo lãnh này, Chi nhánh Sài Gòn V

đã lập khế ước vay Ngân hàng như sau:

1 Ngày 29/7/2009 mở L/C số 0104106/T95LC91 trả

chậm một năm không quy định lãi suất, nhưng có phí

chuyển tiền với số tiền là 232.416 USD Từ ngày 23/8/2010

đến ngày 15/11/2010 đã trả được 203.670 USD, nợ gốc còn

28.746 USD

2 Khế ước số 95000634 ngày 02/10/2009 vay số tiền là

2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng) và đã trả lãi

Ngày 15/4/2011, Công ty thương mại xây dựng đượckhoanh nợ 05 tháng và được trừ lãi đã thu vào gốc là975.000.000 đồng Như vậy, tổng số tiền mà phía bị đơn đãtrả được 1.600.000.000 đồng tiền gốc Còn nợ gốc sau khoanh

nợ là 5.400.000.000 đồng và 28.746 USD

Hết thời gian khoanh nợ, Ngân hàng Công thương đã đếnChi nhánh Sài Gòn V lập biên bản nhận nợ và hai bên đã xácnhận với nhau: Sài Gòn V còn nợ Ngân hàng là 5.400.000.000đồng tiền gốc và 3.544.152.741 đồng tiền lãi quá hạn Vềngoại tệ: nợ gốc 28.746 USD, lãi nợ quá hạn 16.994,39 USD.Sau nhiều lần đề nghị thanh toán không thành, Ngân hàng

đã tiến hành khởi kiện Chi nhánh Sài Gòn V với yêu cầu Tòa

án buộc Chi nhánh Sài Gòn V phải trả nợ và xác định Công tythương mại xây dựng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan phải đứng ra trả nợ thay cho Chi nhánh Sài Gòn V khiChi nhánh không thực hiện nghĩa vụ

Công ty thương mại xây dựng từ chối thực hiện nghĩa

vụ bảo lãnh với lý do trong văn bản hoạt động của Công ty

Trang 14

có quy định Chi nhánh tự chịu trách nhiệm pháp lý đối với

các khoản nợ mà Chi nhánh đã vay và sử dụng không

hiệu quả

Bình luận

- Thứ nhất, việc Ngân hàng khởi kiện Chi nhánh Sài Gòn

V với tư cách bị đơn và xác định Công ty thương mại xây

dựng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải đứng ra

trả nợ thay cho Chi nhánh Sài Gòn V khi Chi nhánh không

thực hiện nghĩa vụ là đã kiện sai đối tượng

Theo quy định của khoản 2 Điều 37 Luật Doanh nghiệp

năm 2005, Điều 92, 93 Bộ luật Dân sự năm 2005, chi nhánh là

đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện

toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả

chức năng đại diện theo ủy quyền và doanh nghiệp phải chịu

trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do

người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân

Khoản 2 Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:

“Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm

vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh

nghiệp kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền Ngành, nghề

kinh doanh của chi nhánh phải phù hợp với ngành, nghề kinh

doanh của doanh nghiệp.”

Điều 92 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“1 Pháp nhân có thể đặt văn phòng đại diện, chi nhánh

ở nơi khác với nơi đặt trụ sở của pháp nhân.

2 Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó.

3 Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền.

4 Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân Người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền.

5 Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện.”

Điều 93 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định:

“1 Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.

2 Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho thành viên của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân.

Trang 15

3 Thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân

sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân

xác lập, thực hiện.”

Như vậy, mặc dù các Khế ước vay nợ được lập giữa Chi

nhánh Ngân hàng Công thương tại Thành phố Hồ Chí Minh

với Chi nhánh Sài Gòn V và Công ty thương mại xây dựng

đứng ra bảo lãnh trả nợ nhưng về bản chất pháp lý thì quan hệ

hợp đồng tín dụng được hình thành giữa hai chủ thể đó là:

i/Bên cho vay là Ngân hàng Công thương Việt Nam; ii/ Bên đi

vay là Công ty thương mại xây dựng Việc Ngân hàng Công

thương Việt Nam để cho Công ty thương mại xây dựng phát

hành thư bảo lãnh cho Chi nhánh của mình vay vốn là đã hiểu

không đúng các quy định của pháp luật Bên bảo lãnh phải là

bên thứ ba độc lập trong quan hệ hợp đồng vay (Điều 361 Bộ

luật Dân sự năm 2005)

Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo

lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo

lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây

gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được

bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ

phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả

năng thực hiện nghĩa vụ của mình.”

Có quan điểm cho rằng, Ngân hàng khởi kiện Chi nhánh SàiGòn V cho nên cần phải xác định Chi nhánh là bị đơn vì theoquy định của khoản 3 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn

“là người bị nguyên đơn khởi kiện” Tuy nhiên, cần hiểu rằng

“người” trong quan hệ tố tụng có thể là cá nhân hoặc tổ chức cónăng lực pháp luật tố tụng dân sự được quy định tại Điều 57 Bộluật Tố tụng dân sự Đối với cá nhân thì phải đủ 18 tuổi trở lên,đối với tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân, trừ những tổ chứckhông có tư cách pháp nhân nhưng không lệ thuộc bất kỳ tổchức nào khác (ví dụ: tổ hợp tác, hộ gia đình…)

Điều 57 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

“1 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2 Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.

3 Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy

đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.

Trang 16

4 Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất

năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố

tụng dân sự Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp

của họ thực hiện.

5 Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười

lăm tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp

của họ thực hiện.

6 Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ

mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động

hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự

mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ

lao động hoặc quan hệ dân sự đó Trong trường hợp này, Toà

án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham

gia tố tụng Đối với những việc khác, việc bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp cho họ tại Toà án do người đại diện hợp pháp

của họ thực hiện.

7 Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp

pháp tham gia tố tụng.”

- Thứ hai, việc Công ty thương mại xây dựng từ chối thực

hiện nghĩa vụ bảo lãnh với lý do trong văn bản hoạt động của

Công ty có quy định Chi nhánh tự chịu trách nhiệm pháp lý

đối với các khoản nợ mà Chi nhánh đã vay và sử dụng không

hiệu quả cũng là chưa hiểu đúng các quy định của pháp luật

về trách nhiệm của pháp nhân

Mặc dù Quy chế hoạt động của Công ty thương mại xâydựng có quy định như vậy nhưng sự ràng buộc của những quyđịnh này chỉ có tính chất “quản lý nội bộ” Về mặt pháp lý,pháp nhân vẫn phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với nhữnggiao dịch và hoạt động do chi nhánh của mình xác lập

Vụ việc số 2

Căn cứ Quyết định số 146/2009/QĐ-UB ngày 15/3/2009của Uỷ ban nhan dân (UBND) tỉnh THB - Phê duyệt mức vốnvay “Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm” đối với dự án sản xuất vàchế biến nấm xuất khẩu của Công ty nấm xuất khẩu TB, ngày25/4/2009, trên cơ sở đơn đề nghị nhận tiền vay do ôngNguyễn Tiến Tr, Giám đốc Công ty nấm xuất khẩu TB ký tên

và đóng dấu của Công ty, Chi nhánh Ngân hàng chính sách xãhội tỉnh THB đã ký hợp đồng tín dụng số 68/HĐ-TD cho ôngNguyễn Tiến Tr, Giám đốc Công ty nấm xuất khẩu TB vay

200.000.000 đồng, mục đích vay để “mở rộng dây chuyền sản xuất và chế biến nấm xuất khẩu”; thời hạn vay là 24 tháng; lãi

suất vay trong hạn là 0,5%/tháng; lãi quá hạn là 1%/tháng;hình thức đảm bảo: “Bảo lãnh bằng tài sản” của một số cánhân gồm:

+ Ông Vũ Xuân T ký “Hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản”

Trang 17

số 4 HĐ/BLTS ngày 14/02/2009 và hợp đồng bổ sung số 05

HĐ/BS ngày 21/4/2009, thế chấp nhà ở của gia đình mình để

bảo lãnh cho số tiền vay là 85 triệu đồng cả gốc và lãi của ông

Nguyễn Tiến Tr

+ Bà Nguyễn Thị H ký “Hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản”

số 03/HĐ-BLTS ngày 24/4/2009, thế chấp nhà và đất của gia

đình mình để bảo lãnh cho số tiền vay là 50 triệu đồng cả gốc

và lãi của ông Nguyễn Tiến Tr

+ Ông Phạm Văn K và vợ là bà Đinh Thị Ph ký “Hợp

đồng bảo lãnh bằng tài sản” số 05/HĐ-BLTS ngày

12/6/2009, thế chấp nhà và đất của gia đình mình để bảo

lãnh cho số tiền vay là 62 triệu đồng cả gốc và lãi của ông

Nguyễn Tiến Tr

Hợp đồng vay có ghi rõ bên vay là ông Nguyễn Tiến Tr

-Giám đốc Công ty nấm xuất khẩu TB Hợp đồng do ông Tr

ký, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng chính sách THB ký và

đóng dấu hai bên Các văn bản bảo lãnh nói trên đều có cam

kết “nếu ông Nguyễn Tiến Tr không trả được thì lúc đó tôi sẽ

có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội cả gốc

và lãi theo pháp luật”.

Thực hiện hợp đồng tín dụng số 68/HĐ-TD ngày

25/4/2009, Chi nhánh ngân hàng chính sách tỉnh THB đã giao

cho ông Nguyễn Tiến Tr với tư cách là Giám đốc Công ty

nấm xuất khẩu TB ký nhận tiền như sau:

Bình luận

- Thứ nhất, Ngân hàng khởi kiện cá nhân ông Nguyễn

Tiến Tr là không đúng đối tượng

Mặc dù hợp đồng vay ghi rõ tên bên vay là ông NguyễnTiến Tr - Giám đốc Công ty Tuy nhiên, cần phải làm rõquan hệ hợp đồng vay thực chất phát sinh giữa Ngân hàngvới cá nhân ông Tr hay với Công ty nấm xuất khẩu TB doông Tr làm đại diện Cần phải xem xét đến các chứng cứkhác liên quan đến việc cho vay như căn cứ để Chi nhánhNgân hàng chính sách tỉnh THB ký kết hợp đồng tín dụngnày là Quyết định số 146/2009/QĐ-UB ngày 15/3/2009 củaUBND tỉnh THB về việc phê duyệt cho Công ty nấm xuấtkhẩu TB (chứ không phải cá nhân ông Nguyễn Tiến Tr)được vay 200 triệu đồng tiền vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợviệc làm; các đơn đề nghị nhận tiền vay đều do ông Nguyễn

Trang 18

Tiến Tr, Giám đốc Công ty nấm xuất khẩu TB ký tên và

đóng dấu của Công ty nấm xuất khẩu TB Như vậy, chủ thể

được quyền vay tiền của Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm ở

đây phải là Công ty nấm xuất khẩu TB chứ không phải cá

nhân ông Nguyễn Tiến Tr

Thứ hai, hai hợp đồng bão lãnh ký giữa ông Vũ Xuân T,

bà Nguyễn Thị H với Chi nhánh Ngân hàng chính sách tỉnh

THB đều bị vô hiệu tuyệt đối nên sẽ không làm phát sinh

nghĩa vụ bảo lãnh của ông T và bà Hưng

Bên bảo lãnh là ông Vũ Xuân T, bà Nguyễn Thị H dùng

tài sản chung của hai vợ chồng để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo

lãnh nhưng lại thiếu chữ ký của vợ ông Vũ Xuân T và chồng

bà Nguyễn Thị H là vi phạm quy định về chế độ sở hữu chung

vợ chồng Khi tài sản bảo lãnh là tài sản chung vợ chồng thì

cần phải được cả vợ và chồng nhất trí định đoạt mới có giá trị

pháp lý (Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005)

Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản

chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau

trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3 Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho

nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4 Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.”

Mặt khác việc bảo lãnh bằng tài sản là quyền sử dụngđất phải thực hiện thủ tục công chứng và đăng ký giao dịchbảo đảm theo quy định của pháp luật mới đảm bảo hiệu lực

về mặt hình thức của giao dịch (Điều 122 Bộ luật Dân sựnăm 2005, khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2003 vàĐiều 3 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 vềđăng ký giao dịch bảo đảm)

Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 quy định :

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Điểm a khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2003 quy định:

“Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của hộ

Trang 19

gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận

của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân

dân xã, phường, thị trấn nơi có đất;”

Điều 3 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 quy định:

“1 Các giao dịch bảo đảm sau đây phải đăng ký:

a) Thế chấp quyền sử dụng đất;

b) Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng;

c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;

d) Thế chấp tàu biển;

đ) Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.

2 Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản không thuộc các

trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được đăng ký khi

cá nhân, tổ chức có yêu cầu”.

Mặt khác, về chủ thể được nhận bảo lãnh, trong các văn

bản bảo lãnh đều ghi là “nếu ông Nguyễn Tiến Tr không trả

được…”; như vậy, việc bảo lãnh được đặt ra cho cá nhân ông

Nguyễn Tiến Tr chứ không phải là Công ty nấm xuất khẩu TB

do ông Tr làm đại diện, nên rất khó buộc những người bảo

lãnh phải thực hiện nghĩa vụ, trừ khi những người này thừa

nhận họ đứng ra bảo lãnh cho Công ty chứ không phải cho cá

nhân ông Tr

Rõ ràng có thể thấy rằng, những sai sót về nghiệp vụcủa Ngân hàng như xác định không đúng chủ thể vay vốn,chủ thể được bảo lãnh vay vốn và không tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về các điều kiện để giao dịch bảo đảm

có hiệu lực sẽ mang lại cho Ngân hàng những hậu quả rấtbất lợi

Vụ việc số 3

Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh H và Công ty

cổ phần thương mại và phát triển gia súc TTĐN có ký kết 04hợp đồng tín dụng, cụ thể:

Hợp đồng tín dụng số 09/HĐTD ngày 24/6/2004 với sốtiền vay là 3.500.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, ngàytrả hết nợ lãi và gốc là 24/6/2009 Ngày 16/6/2004, hai bên kýkết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền vớiđất số 01/TC là quyền sử dụng 16.970 m2 đất và tài sản hìnhthành từ vốn vay gắn liền với đất, với tổng giá trị tài sản bảođảm là 5.280.351.000 đồng;

Hợp đồng tín dụng số 12/HĐTD ngày 28/10/2004 với sốtiền vay là 600 triệu đồng, thời hạn cho vay là 60 tháng, ngàytrả hết nợ gốc và lãi là 28/10/2009 Cùng ngày hai bên còn kýhợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, giá trị tài sản

dự kiến sẽ hình thành từ vốn vay là 850.000.000 đồng;

Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD ngày 04/4/2005 với

Trang 20

số tiền vay là 525.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng,

ngày trả hết nợ gốc và lãi là ngày 04/4/2010 Cùng ngày

hai bên còn ký hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn

vay, giá trị tài sản dự kiến sẽ hình thành từ vốn vay là

700.000.000 đồng;

Hợp đồng tín dụng số 16/HĐTD ngày 04/4/2005 với

số tiền vay là 1.900.000.000 đồng, thời hạn vay là 12

tháng, ngày trả hết nợ gốc và lãi là 04/4/2006, tiền vay

được bảo đảm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm

tiền vay kèm theo hợp đồng vay; đến hạn Công ty không

trả được nợ gốc và lãi, Ngân hàng được quyền xử lý tài sản

thế chấp để thu hồi cả nợ gốc và lãi Thực tế thì không có

hợp đồng bảo đảm kèm theo hợp đồng tín dụng nêu trên

nhưng có giấy thỏa thuận đăng ký nghĩa vụ được bảo đảm

nợ vay Ngân hàng do hai bên lập không đề ngày chỉ ghi

tháng 4/2005 với nội dung: Tài sản thế chấp chính chủ và

tài sản hình thành từ vốn vay là 16.970 m2 đất tại thôn

Nguyệt Viên, xã HQ, huyện H, tỉnh TH do UBND tỉnh TH

cấp ngày 03/9/2003 cho Công ty Tài sản gắn liền với đất

là văn phòng làm việc, trang trại chăn nuôi, tài sản khác là

xe con điều hành được tiếp tục sử dụng để đảm bảo thực

hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng số 16/HĐTD ngày

04/4/2005 thay thế cho nghĩa vụ được bảo đảm của hợp

đồng tín dụng ngày 01/9/2004 Giấy thỏa thuận này chưa

được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công chứng,

chứng thực và đăng ký theo quy định của pháp luật

Tại biên bản làm việc ngày 22/01/2007, hai bên thỏathuận: “1 Công ty TTĐN đồng ý bàn giao, Ngân hàng đồng ýnhận lại các tài sản thế chấp theo danh mục sau để xử lý thuhồi nợ:

Các tài sản theo danh mục tại hợp đồng thế chấp tài sản

số 01/TC ngày 16/6/2004; nguyên giá 5.151.256.000 đồng;Trại nái 131 con theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày28/10/2004: nguyên giá 828.670.462 đồng;

Trạm nghiền thức ăn gia súc theo hợp đồng thế chấp tàisản ngày 04/4/2005: nguyên giá 700.000.000 đồng;

Tổng giá trị theo nguyên giá là 6.733.926.462 đồng

Các tài sản trên được đảm bảo cho khoản nợ vay tại Ngânhàng Hoằng Hóa với số tiền gốc là 6.133.156.000 đồng

Tại biên bản làm việc ngày 10/02/2007, hai bên thốngnhất bàn giao tài sản của Công ty TTĐN theo hợp đồng đảmbảo, riêng đàn lợn theo đúng thực tế tại thời điểm bàn giao và

ấn định ngày bàn giao là ngày 13/02/2007

Cũng trong ngày 10/02/2007, Công ty TTĐN ký hợpđồng chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất với ông LêKhả Thủy, bao gồm: Chuồng lợn 800m2, tường rào baoquanh, đường giao thông nội khu, hồ sinh thái, bể phốt, tháp

Trang 21

nước và hệ thống cấp nước, san lấp mặt bằng trên diện tích

7.746 m2 tại thôn 8 xã HQ, huyện H, tỉnh TH với giá

110.000.000 đồng và Công ty TTĐN bán cho Lê Khả Th

300 con lợn thành tiền là 152.290.000 đồng Ngày 11 và

13/12/2007, Công ty TTĐN bán cho ông Lê Khả L 358 con

lợn thành tiền là 300.341.000 đồng

Ngày 12/02/2007, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án

buộc Công ty TTĐN phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền

nợ gốc và lãi của 04 hợp đồng tín dụng nói trên tính đến ngày

31/01/2007 gồm: nợ gốc là 6.133.516.000 đồng, và nợ lãi là

558.411.000 đồng

Khi Tòa án chưa nhận đơn và thụ lý vụ án thì ngày

13/12/2007, Ngân hàng và Công ty đã có văn bản thỏa

thuận thống nhất bàn giao tài sản thế chấp của các hợp đồng

tín dụng trên có trị giá là 6.732.229.528 đồng và Ngân hàng

đã đơn phương bán tài sản thế chấp mà không có sự thỏa

thuận thống nhất của Công ty TTĐN Cụ thể là Ngân hàng

đã trưng cầu Trung tâm tư vấn tài chính giá cả TH định giá

lại tài sản bàn giao ngày 13/02/2007 với kết quả định giá là

6.167.763.000 đồng Ngày 04/7/2007, Ngân hàng tổ chức

bán đấu giá tài sản cho Công ty cổ phần CN HH với giá

4.020.000.000đ, sau khi trừ chi phí chăm sóc đàn lợn thì số

tiền còn lại Ngân hàng thực thu từ việc bán tài sản là

3.245.589.736 đồng để trừ vào các khoản vay nợ của Công

ty TTĐN theo 04 hợp đồng tín dụng trên Công ty TTĐNđược thông báo về việc này nhưng cũng không có ý kiếnphản đối

Theo tính toán của Ngân hàng thì số tiền còn lại mà Công

ty TTĐN còn nợ sau khi đã được khấu trừ số tiền bán tài sảnthế chấp là 2.889.926.000 đồng nợ gốc và 1.837.750.000 đồng

nợ lãi, tổng cộng là 4.725.676.000 đồng

Ngược lại, phía Công ty TTĐN lại có yêu cầu phản tố chorằng Ngân hàng đã bán tài sản gây thiệt hại cho Công ty là416.052.856 đồng (theo tính toán của Công ty về giá trị tài sảntrừ đi nợ của Công ty)

Bình luận

Văn bản pháp luật để xem xét việc xử lý tài sản bảo đảmtiền vay vào thời điểm này là Nghị định số 178/1999/NĐ-CPngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các

tổ chức tín dụng và Thông tư liên tịch số NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 hướng dẫnviệc xử lý tài sản bảo đảm bằng tiền vay để thu hồi nợ của các

03/2001/TTLT-tổ chức tín dụng

Việc Ngân hàng tự xử lý tài sản thế chấp để khấu trừcông nợ là vi phạm các quy định của pháp luật nên yêu cầukhởi kiện của Ngân hàng sẽ không được Tòa án xem xétchấp nhận Mặc dù việc Ngân hàng và Công ty TTĐN bàn

Trang 22

giao tài sản thế chấp và xác định giá trị tài sản bàn giao để

thu hồi nợ trước hạn là phù hợp với hướng dẫn tại Thông tư

liên tịch số 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC

Tuy nhiên, khi có tranh chấp thì đáng lẽ ra trong quá trình

Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án, Ngân hàng phải yêu

cầu Tòa án xử lý tài sản này để thu hồi nợ và phải chờ kết

quả giải quyết của Tòa án theo đúng quy định tại khoản 4

Điều 34 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999

của Chính phủ

Tiểu mục 5.2 Mục I Phần B Thông tư liên tịch số

03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC quy định về các

phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận như sau:

5.2 Tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế

cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm.

a Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm lập biên bản nhận tài

sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được

bảo đảm Biên bản phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận, định

giá xử lý tài sản bảo đảm và thanh toán nợ từ việc xử lý tài

sản bảo đảm theo quy định tại Thông tư này

b Sau khi nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực

hiện nghĩa vụ được bảo đảm, tổ chức tín dụng được làm thủ tục

nhận chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm

hoặc được bán, chuyển nhượng tài sản bảo đảm cho bên mua,

bên nhận chuyển nhượng tài sản theo quy định của pháp luật.

Khoản 4 Điều 34 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP quy định

về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay như sau: “Trong trường hợp các bên có tranh chấp và khởi kiện, thì tài sản bảo đảm tiền vay được xử lý theo bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.”

Mặt khác, việc Ngân hàng xử lý bán tài sản thế chấp bàngiao ngày 13/02/2007 cũng không phù hợp với các quy địnhcủa Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC

Đối với yêu cầu phản tố của Công ty TTĐN: Do quátrình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty TTĐN đã khôngthực hiện đúng cam kết về thời gian trả nợ nên việc Ngânhàng yêu cầu xử lý nợ trước hạn là do lỗi của Công ty.Trong quá trình bàn giao và giải quyết việc xử lý tài sản,Ngân hàng đã trưng cầu Trung tâm tư vấn giá cả và kết quảđịnh giá, mặc dù không có sự tham gia của Công ty, nhưngCông ty đã được thông báo và không có sự phản đối sự địnhgiá này nên khả năng được Tòa án chấp nhận yêu cầu phản

tố này là khó khả thi

Như vậy, tình huống trên cho thấy các Ngân hàng khi xử

lý tài sản bảo đảm tiền vay phải nắm vững các quy định củapháp luật để đảm bảo sự chủ động của Ngân hàng đồng thờiđảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng được pháp

Trang 23

luật bảo vệ, tránh tình trạng tự ý xử lý như tình huống của

Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh H dẫn đến yêu cầu khởi

kiện không được Tòa án chấp nhận xem xét, gây thiệt hại lớn

Vụ việc số 1

Đầu năm 2011, bà Lan A, ông Trần C, ông Nguyễn Tấn

L, ông Nguyễn Phú T và bà Đặng Thị Kiều Ch cùng nhaubàn bạc và thống nhất thành lập Công ty trách nhiệm hữuhạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu HB, dự kiến giaocho ông L làm giám đốc và đại diện theo pháp luật của công

ty Các thành viên cũng thống nhất cử bà Lan A sẽ làm Chủtịch Hội đồng thành viên, ông Trần Công M (do bà Lan Agiới thiệu) làm thủ quỹ Để các cổ đông yên tâm góp vốn vàthể hiện sự công bằng, các thành viên giao cho ông T mở vàđứng tên tài khoản, việc rút tiền từ ngân hàng phải có chữ

ký của cả ông T và ông M Các cổ đông phải nộp một phầntiền trước ngày 10/4/2011 để trang trải cho việc thành lậpcông ty Ông L chịu trách nhiệm soạn thảo điều lệ công ty

để các thành viên thông qua và đăng ký với Sở Kế hoạch vàĐầu tư qua mạng Internet

Ngày 07/4/2011, các thành viên gồm ông L, ông T và bà

1 Chúng tôi gọi tắt các tranh chấp phát sinh giữa thành viên công ty

với công ty, thành viên công ty với nhau liên quan đến tổ chức,hoạt động và giải thể doanh nghiệp là “tranh chấp công ty”

Trang 24

Kiều Ch, có cả ông M, ông Trần C cùng đến Vietcombank

-chi nhánh BT mở tài khoản cho ông T đứng tên Việc nộp tiền

được thực hiện như sau: ông Nguyễn Phú T nộp 01 tỷ đồng;

bà Đặng Thị Kiều Ch nộp 2,5 tỷ đồng; ông Nguyễn Tấn L nộp

2,5 tỷ đồng

Sau khi nộp hồ sơ và được cấp biên nhận, Sở Kế hoạch và

Đầu tư thành phố H phát hiện số CMND mang tên Nguyễn

Thị Lan A không trùng khớp với số CMND ghi trong sổ hộ

khẩu nên yêu cầu bà Lan A điều chỉnh hoặc có xác nhận hợp

lệ bổ sung hồ sơ thành lập công ty nhưng bà Lan A không đáp

ứng yêu cầu này

Do bất đồng ý kiến giữa các bên nên cuối cùng Công ty

HB không được thành lập Theo kiểm kê quĩ thì tổng số các

khoản chi lên đến 2,2 tỷ đồng nhưng ông T, ông M không giải

trình các khoản chi này một cách hợp lý (nhiều khoản chi

phục vụ mục đích mua sắm cá nhân)

Ông L và bà Kiều Ch khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu ông

T trả lại toàn bộ số tiền góp vốn

Bình luận

- Có quan điểm cho rằng, đây là tranh chấp liên quan đến

việc thành lập doanh nghiệp theo Điều 14 Luật Doanh nghiệp

năm 2005, khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ

việc cần phải được khởi kiện tại Tòa Kinh tế Tuy nhiên, quan

điểm này không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành

Điều 14 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:

1 Thành viên, cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo

uỷ quyền được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước khi đăng ký kinh doanh.

2 Trường hợp doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp là người tiếp nhận quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này.

3 Trường hợp doanh nghiệp không được thành lập thì người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm tài sản về việc thực hiện hợp đồng đó.

Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Tòa

kinh tế có thẩm quyền giải quyết đối với: Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức

tổ chức của công ty.

Tuy nhiên, áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành,

vụ việc nói trên không thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế, bởi

để tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế thì chủ thể

Trang 25

của tranh chấp phải là các thành viên công ty với công ty, các

thành viên công ty với nhau Trong một số trường hợp đặc

biệt, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định thêm

những trường hợp tranh chấp giữa thành viên công ty với

người chưa là thành viên công ty trong việc chuyển nhượng

vốn cũng thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế

Tiểu mục 3.5 mục I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP

ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối

cao quy định:

3.5 Về các tranh chấp giữa công ty với các thành viên

của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên

quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp

nhất, chia, tách chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

quy định tại khoản 3 Điều 29 của BLTTDS cần phân biệt

như sau:

a Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của

công ty là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên

đối với công ty (thông thường phần vốn góp đó được tính

bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng giá trị

quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ

phiếu phát hành đối với mỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu

một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào

công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu

lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công

ty đổi các khoản nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công

ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

b Các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau là các tranh chấp giữa các thành viên của công ty về việc trị giá phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên;

về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với

số cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

c Khi thực hiện hướng dẫn tại điểm a và điểm b tiểu mục

Trang 26

3.5 này, nếu giữa công ty với các thành viên của công ty hoặc

giữa các thành viên của công ty có tranh chấp với nhau,

nhưng tranh chấp đó không liên quan đến việc thành lập,

hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển

đổi hình thức tổ chức của công ty mà chỉ liên quan đến các

quan hệ khác như quan hệ lao động, quan hệ dân sự (ví dụ:

Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, về trợ cấp cho người lao

động, về hợp đồng lao động, về hợp đồng vay, mượn tài

sản ) thì tranh chấp đó không phải là tranh chấp về kinh

doanh, thương mại quy định tại khoản 3 Điều 29 của

BLTTDS Tùy từng trường hợp cụ thể để xác định đó là tranh

chấp về dân sự hay tranh chấp về lao động.

Ở tranh chấp này, các chủ thể chưa có tư cách thành viên

nên vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Kinh

tế như nhiều quan điểm về việc này Về bản chất, đây là các

tranh chấp về việc thực hiện các hợp đồng dân sự phục vụ cho

việc thành lập doanh nghiệp Vì vậy, loại việc tranh chấp này

thuộc thẩm quyền của Tòa Dân sự theo quy định của Điều 25

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định Tòa

Dân sự có thẩm quyền giải quyết các loại việc sau:

1 Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch

5 Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6 Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7 Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

8 Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật.

9 Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.

- Về việc ông L và bà Kiều Ch khởi kiện riêng ông Tài đểđòi lại phần vốn góp, theo chúng tôi là chưa đúng

Theo quy định của khoản 3 Điều 14 Luật Doanh nghiệpnăm 2005 thì khi doanh nghiệp không được thành lập, thànhviên, cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo uỷ quyền phảichịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa

vụ tài sản phát sinh Như vậy, trong tình huống vụ việc, cácthành viên của công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệmcho những khoản chi phục vụ cho việc thành lập doanhnghiệp nhưng không thành Theo đó, ông L, bà Kiều Ch nên

Trang 27

khởi kiện tất cả các thành viên còn lại với tư cách là đồng bị

đơn để phân chia về nghĩa vụ của từng thành viên đối với các

nghĩa vụ tài sản đã phát sinh chứ không chỉ thuần túy khởi

kiện riêng ông T để đòi lại tiền góp vốn Bản thân ông L, bà

Ch cũng phải gánh vác một phần nghĩa vụ tài sản do doanh

nghiệp không được thành lập Tuy nhiên, ông L, bà Kiều Ch

nên chọn Tòa án nơi ông T có trụ sở để tiện cho việc giải

quyết vụ án và thi hành án theo quy định tại Điều 36 Bộ luật

Tố tụng dân sự

Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh

chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương

mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn

thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm

việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải

quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh

tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có

trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt

Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn

có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết; đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết

Trang 28

Vụ việc số 2

Trong đợt phát hành cổ phiếu của Công ty cổ phần vận tải

hành khách TX vào cuối tháng 12/2010 đầu tháng 01/20111,

Công ty TNHH công nghệ và thiết bị hàn đã mua 10.000 cổ

phiếu (tương ứng với 01 tỷ đồng) tăng giá trị cổ phần lên

1.560.000.000 đồng, ông Lê Huy C mua 4.000 cổ phiếu

(tương ứng 400.000.000 đồng) tăng giá trị cổ phần lên

1.011.099.120 đồng, bà Bùi Thanh H mua 4.000 cổ phiếu

(tương ứng 400.000.000 đồng) tăng giá trị cổ phần lên

405.375.048 đồng Kết quả việc bán cổ phiếu và tỷ lệ vốn của

từng người đã được Đại hội đồng cổ đông của Công ty cổ

phần vận tải hành khách TX công nhận trong Nghị quyết số

11/HĐQT ngày 07/4/2011 Số cổ phần của các nguyên đơn đã

được Công ty ghi nhận trên sổ sách của Công ty để chia cổ tức

của mỗi người

Tuy nhiên, đến ngày 09/11/2011, Công ty cổ phần vận tải

hành khách TX lại tiến hành Đại hội đồng cổ đông bất thường

và ra Nghị quyết số 186/HĐQT huỷ bỏ kết quả bán 25.000 cổ

phần năm 2010 - 2011 Nghị quyết do Chủ tịch Hội đồng

quản trị Nguyễn Hoàng A của Công ty ký

Cho rằng Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Hoàng A có

thù ghét cá nhân với mình nên ông C đã làm đơn khởi kiện ra

Tòa Kinh tế, đề nghị hủy Nghị quyết số 186/HĐQT và công

1 Thời điểm diễn ra vụ việc được thay đổi

nhận kết quả bán cổ phần năm 2010 - 2011

Bình luận

- Thứ nhất, Đại hội đồng cổ đông của Công ty cổ phần

vận tải hành khách TX đã vi phạm pháp luật trong việc hủy bỏkết quả bán 25.000 cổ phần năm 2010 - 2011

Theo quy định của pháp luật thì Đại hội đồng cổ đôngkhông có thẩm quyền để hủy Nghị quyết của chính Đại hộiđồng cổ đông đã ban hành Thẩm quyền xem xét lại hiệulực của việc bán cổ phần của Công ty thuộc Tòa án chứkhông phải Đại hội đồng cổ đông (khoản 2 Điều 96 LuậtDoanh nghiệp năm 2005, Điều 107 Luật Doanh nghiệpnăm 2005)

Khoản 2 Điều 96 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định

về quyền và nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông như sau:

a) Thông qua định hướng phát triển của công ty;

b) Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;

c) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát;

d) Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng

Trang 29

hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo

tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy

định một tỷ lệ khác;

đ) Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, trừ

trường hợp điều chỉnh vốn điều lệ do bán thêm cổ phần mới

trong phạm vi số lượng cổ phần được quyền chào bán quy

định tại Điều lệ công ty;

e) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;

g) Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán

của mỗi loại;

h) Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị,

Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;

i) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;

k) Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật

này và Điều lệ công ty.

Điều 107 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:

Trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được

biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả

kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, thành

viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban

kiểm soát có quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài xem xét,

huỷ bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong các trường

hợp sau đây:

1 Trình tự và thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty;

2 Trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định

vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

- Thứ hai, ông C khởi kiện cá nhân ông Nguyễn Hoàng A

là không đúng

Mặc dù Nghị quyết do Chủ tịch Hội đồng quản trị kýnhưng việc ông Hoàng A ký Nghị quyết là đại diện cho Hộiđồng quản trị để ban hành văn bản thể hiện quyết định của đạihội đồng cổ đông của Công ty Hành vi này là hành vi củangười đại diện cho Công ty chứ không phải hành vi của cánhân ông Nguyễn Hoàng A Vì vậy, chủ thể phải khởi kiện ởđây là Công ty cổ phần vận tải hành khách TX chứ phải là cánhân ông Nguyễn Hoàng A Cần xác định đúng đây là tranhchấp giữa thành viên công ty với công ty chứ không phải làtranh chấp giữa thành viên công ty với nhau

Trang 30

(giá gốc mua là 100.000.000 đồng) cho ông Lê H với giá

500.000.000đ Khi ông đến Công ty để làm thủ tục chuyển

nhượng thì Hội đồng quản trị Công ty, đại diện là ông Th,

Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty lại gây

khó dễ và không cho chuyển nhượng

Qua nhiều lần trao đổi, cuối cùng ông Thành đã đồng ý

cho ông H trở thành cổ đông của Công ty, đồng thời chấm dứt

hợp đồng lao động với anh T vì ông Th cho rằng khi chuyển

nhượng cổ phần thì anh T không còn là người của Công ty nữa

Trước đó, anh T có ký hợp đồng lao động với Công ty với

công việc là lái xe cho các chuyến hàng từ Thanh Hóa ra Hà

Nội và ngược lại Giám đốc Công ty có thỏa thuận giao khoán

cho anh T thực hiện các hợp đồng vận chuyển riêng với Công

ty TNHH A theo cơ chế lời ăn lỗ chịu, trích phí quản lý cho

công ty 10% từ giá trị hợp đồng thu được; lương và các chế

độ khác anh T vẫn được hưởng theo hợp đồng lao động đã ký

Sau khi hoàn thành công việc thì hai bên sẽ đối chiếu và Công

ty sẽ trả tiền cho anh T trên cơ sở thanh lý hợp đồng với các

đối tác Do có sự kiện mất mát hàng hóa phát sinh trong quá

trình vận chuyển nên đối tác không chịu thanh toán phí vận

chuyển cho Công ty

Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên của Công ty (được

tổ chức theo đúng trình tự, thủ tục luật định) về việc chia cổ

tức cho cổ đông, Đại hội đã kết luận và ra Nghị quyết giữ lại

toàn bộ cổ tức của anh T để khấu trừ số tiền mà Công tyTNHH A không trả cho Công ty do lỗi của anh T

Bình luận

- Thứ nhất, để xem xét việc Chủ tịch Hội đồng quản trị

không cho phép anh T chuyển nhượng cổ phần là đúng haysai thì cần phải kiểm tra ngày Công ty được cấp Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh (nay là Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp) là ngày nào Mặc dù cổ phần được tự dochuyển nhượng nhưng theo quy định của khoản 5 Điều 84Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì trong vòng 03 năm kể từngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh, cổ phần của các cổ đông sáng lập không được chuyểnnhượng ra bên ngoài nếu chưa được sự đồng ý của Đại hộiđồng cổ đông công ty

Khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:

“Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho

cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các

Trang 31

cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở

thành cổ đông sáng lập của công ty.

Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy

chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần

phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ”.

- Thứ hai, việc ông Th cho rằng sau khi chuyển nhượng

cổ phần thì anh T không còn là người của Công ty nữa là

không đúng

Quan hệ mua bán cổ phần để anh T không còn là một trong

các chủ sở hữu của Công ty và quan hệ lao động giữa anh T và

Công ty là hai quan hệ pháp luật độc lập Khi anh T chuyển

nhượng cổ phần, anh T không còn là cổ đông, người sở hữu

công ty nhưng hợp đồng lao động giữa anh T và công ty không

đương nhiên bị chấm dứt vì để chấm dứt hợp đồng lao động thì

phải do anh T tự nguyện xin chấm dứt hợp đồng hoặc do anh T

vi phạm kỷ luật lao động và Công ty sa thải Việc sa thải phải

tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật lao động quy định

- Thứ ba, việc Đại hội đồng cổ đông thường niên của

công ty quyết định giữ lại toàn bộ cổ tức của anh T để khấu

trừ số tiền mà Công ty TNHH A không trả cho Công ty là đã

vi phạm quyền của cổ đông được quy định tại Khoản 1 Điều

79 Luật Doanh nghiệp năm 2005

Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định

như sau:

“1 Cổ đông phổ thông có các quyền sau đây:

a) Tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết;

b) Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;

c) Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty; d) Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật này;

đ) Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;

e) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công

ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;

g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty;

Trang 32

h) Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ

công ty.”

Cho dù Công ty đã tổ chức Đại hội đúng trình tự, thủ tục

triệu tập thì nội dung của Nghị quyết Đại hội về việc giữ lại

cổ tức của anh T là sai Việc chia cổ tức và việc xử lý nợ ở các

hợp đồng khoán nội bộ là những quan hệ pháp luật độc lập,

Công ty không được quyền giữ lại cổ tức của cổ đông dưới

mọi hình thức vì như vậy là vi phạm quyền của cổ đông, trừ

trường hợp trong hợp đồng giữa anh T và Công ty có thỏa

thuận rõ về việc này

Vụ việc số 4

Công ty TNHH BT có vốn điều lệ 03 tỷ đồng, do 03

thành viên D, Kh, Th cùng cam kết góp vốn Trong đó, D cam

kết góp 01 tỷ tiền mặt (đã góp), Kh cam kết góp 1,5 tỷ bằng

nhà xưởng (chưa góp), Th góp 500 triệu tiền mặt (đã góp) D

là Giám đốc, Kh là Chủ tịch Hội đồng thành viên và cũng là

người đại diện theo pháp luật của công ty

Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,

đến thời hạn góp vốn lần cuối, do Kh không có khả năng góp

vốn nên Kh đã nhượng lại phần vốn góp cho H Kh cho rằng,

mình là Chủ tịch Hội đồng thành viên, là người đại diện theo

pháp luật của công ty và cũng là người góp nhiều vốn nhất

nên đã không thông báo việc chuyển nhượng vốn của mình

cho 02 thành viên còn lại Kh lập một hợp đồng chuyểnnhượng vốn, trong đó Kh vừa ký tên với tư cách là ngườichuyển nhượng vốn, vừa ký tên với tư cách là người đại diệntheo pháp luật của công ty xác nhận việc chuyển nhượng này

D và Th phản đối việc làm trên vì cho rằng việc chuyểnnhượng của Kh phải thực hiện thủ tục chào bán trong nội bộ,nếu không có ai mua hoặc mua không hết mới được chuyểnnhượng ra bên ngoài theo quy định của Điều 44 Luật Doanhnghiệp năm 2005

Bình luận

Việc chuyển nhượng giữa Kh với H là vi phạm khoản 4Điều 18 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 15/11/2010hướng dẫn một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2005 chứkhông phải vi phạm Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2005như cách hiểu của D và Th

Trong vụ việc này, do Kh đến thời hạn góp vốn lần cuối

mà vẫn chưa góp nên Kh sẽ không được chuyển nhượng vốntheo quy định tại khoản 4 Điều 18 Nghị định số102/2010/NĐ-CP

Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP quy định:

“Sau thời hạn cam kết góp lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp vốn đã cam kết góp, thành viên chưa góp vốn vào công ty theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên

Trang 33

của công ty và không có quyền chuyển nhượng quyền góp vốn

đó cho người khác; số vốn chưa góp được xử lý theo quy định

tại khoản 5 Điều này.”

Trong tình huống trên, Công ty sẽ phải xử lý phần vốn góp

của anh Kh theo khoản 5 Điều 18 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP

Cụ thể:

Khoản 5 Điều 18 Nghị định số 102/NĐ-CP quy định:

“Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn

lần cuối, số vốn chưa góp đủ được xử lý theo thứ tự ưu tiên

như sau:

a) Các thành viên còn lại nhận góp một phần hoặc toàn

bộ số vốn chưa góp theo tỷ lệ số vốn đã góp vào công ty;

b) Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn

chưa góp;

c) Huy động thêm người khác góp đủ số vốn chưa góp.”

Như vậy, để xử lý việc góp vốn của anh Kh, Công ty phải

tổ chức họp Hội đồng thành viên thông qua việc này Theo đó,

Hội đồng thành viên sẽ tiến hành các thủ tục để nếu các thành

viên còn lại có khả năng nhận góp vốn thì họ sẽ được ưu tiên

góp theo tỷ lệ số vốn đã góp vào công ty H chỉ được góp khi

các thành viên này từ chối không nhận góp

Vụ việc số 5

Tháng 10/2010, Công ty cổ phần súc sản xuất khẩu THđược chuyển đổi từ một doanh nghiệp Nhà nước trước đâysang công ty cổ phần Tại Đại hội cổ đông sáng lập, ông PhạmXuân D được các cổ đông bầu vào Hội đồng quản trị kiêm giữchức vụ Phó giám đốc Công ty Tại cuộc họp Hội đồng quảntrị ngày 10/3/2011, mặc dù chỉ có 2/5 thành viên Hội đồngquản trị tham dự cuộc họp, nhưng ông Chủ tịch Hội đồngquản trị Công ty (là một trong hai thành viên tham dự cuộchọp) vẫn ban hành quyết định số 18 ngày 11/3/2011 miễnnhiệm chức vụ Phó giám đốc Công ty của ông Phạm Xuân D.Theo ông Phạm Xuân D, cuộc họp ngày 10/3/2011 chỉ cóhai người tham gia là không hợp lệ vì theo Điều lệ Công tyquy định phải có 3/5 thành viên Hội đồng quản trị tham giamới hợp lệ Ông Phạm Xuân D cho rằng việc ban hành quyếtđịnh miễn nhiệm đối với ông đã gây ảnh hưởng nghiêm trọngđến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, vi phạm Điều

lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp Do đó, ông Phạm Xuân D

đề nghị Tòa án xử hủy bỏ quyết định số 18 ngày 11/3/2011của Chủ tịch Hội đồng quản trị về việc miễn nhiệm chức vụPhó giám đốc và khôi phục chức vụ Phó giám đốc cho ôngPhạm Xuân D

Về cuộc họp Hội đồng quản trị ngày 10/3/2011: ông

Lê Quang Đ trình bày: Hội đồng quản trị có năm thànhviên, trong đó có một thành viên đại diện vốn Nhà nước là

Trang 34

ông Hồ Chí Tr, khi Nhà nước bán cổ phần của Công ty thì

đương nhiên ông Tr không còn là thành viên Hội đồng

quản trị của Công ty nữa Như vậy, Hội đồng quản trị chỉ

còn 04 thành viên Trong bốn thành viên có ông Phạm

Hồng Q bị ốm lâu dài Cuộc họp Hội đồng quản trị quý

I-2011 còn có ba thành viên Đối với ông Phạm Xuân D mời

họp bốn lần nhưng ông D trốn tránh Vì vậy Hội đồng quản

trị vẫn phải họp để giải quyết các công việc và ông cho là

vẫn hợp pháp, ông Phạm Xuân D không dự họp là mất

quyền lợi của mình

Tỷ lệ biểu quyết 2/2 là hợp lệ vì nếu đủ bốn thành viên thì

kết quả là 50% nhưng bên nào có phiếu của Chủ tịch Hội

đồng quản trị thì bên đó thắng

Tỷ lệ dự họp 2/4 cũng phù hợp với tỷ lệ 3/5 vì 2/4 của

bốn thành viên tương đương với 3/5 của năm thành viên

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật là tranh

chấp giữa thành viên của Công ty với thành viên Công ty liên

quan đến hoạt động của Công ty, theo quy định tại khoản 3

Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự và xác định ông Lê Quang Đ

tham gia tố tụng với tư cách bị đơn

Bình luận:

Theo chúng tôi, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định không

đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và từ đó xác định sai tư

Trong vụ việc này, chúng tôi không bàn luận về trình tự,thủ tục, điều kiện để tổ chức Hội đồng quản trị có phù hợpĐiều lệ và Luật Doanh nghiệp hay không mà chỉ xem xét việcmiễn nhiệm chức vụ của ông D có đúng quy định của LuậtDoanh nghiệp hay không?

Theo quy định của khoản 2 Điều 96 Luật Doanh nghiệpthì thành viên Hội đồng quản trị do các cổ đông bầu Vì vậy,

về nguyên tắc quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm thuộc về người

có quyền bầu Và nguyên tắc này cũng đã được quy định tạiĐiều 96 của Luật Doanh nghiệp

Khoản 2 Điều 108 Luật Doanh nghiệp quy định Hội đồng

quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau: “Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng

Trang 35

khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định mức lương và

lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại diện

theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn

góp ở công ty khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác

của những người đó.”

Đối chiếu với quy định trên của pháp luật cho thấy, việc

miễn nhiệm chức vụ của ông D là không đúng quy định của

Luật Doanh nghiệp Ngoài ra, việc dùng thuật ngữ “miễn

nhiệm” trong trường hợp này cũng không chính xác, miễn

nhiệm chỉ áp dụng cho trường hợp người bị miễn nhiệm có

đơn tự nguyện xin thôi giữ chức vụ

IV BÌNH LUẬN MỘT SỐ TÌNH HUỐNG VỀ XỬ

LÝ CÁC HÀNH VI CƯỚP TÀI SẢN, TRỘM CẮP TÀI SẢN, CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Vụ việc số 1

Đoàn Văn T là công nhân làm việc tại Công ty IK V(Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đóng tại khu chế xuấtTân An, huyện A, tỉnh B Do biết được sự sơ hở trong việcquản lý sản phẩm của Công ty nên T đã bàn với Nguyễn Văn

V, Tạ Minh G lấy sản phẩm của công ty đưa ra ngoài cho V,

G mang đi tiêu thụ lấy tiền tiêu xài và được cả bọn đồng ý.Khoảng 11h00 ngày 21/8/2010, lợi dụng lúc công nhâncủa Công ty đi ăn cơm trưa, Đoàn Văn T đã lẻn vào bộ phậnmài 3 của Công ty lấy một số sản phẩm là muỗng Inox bỏ lên

xe đẩy rồi đẩy đến kho hàng đang bỏ trống của Công ty Đếnkho, T dùng thang bắc lên cửa kính trên vách tường của công

ty T đã lấy sẵn 02 chiếc bao tải nhỏ rồi đổ hết số muỗng lấyđược vào 2 bao này, sau đó lần lượt đỡ lên vai leo thangquăng qua cửa kính ra bên ngoài cho Nguyễn Văn V và TạMinh G đang chờ sẵn chở đi tiêu thụ G, V mỗi người vác 1bao Khi G và V mang số tài sản trên ra đến cổng sau khu chếxuất thì bị 2 anh Q, Y (là bảo vệ khu chế xuất Tân An) phát

Trang 36

hiện đuổi bắt Do bị áp sát, G, V quay lại chống trả G để bao

tải xuống đất quay lại đánh tới tấp vào anh Y khiến anh Y mất

đà ngã xuống đất, sau đó G vác bao tải bỏ chạy Thấy không

thể chống đỡ được anh Q, V bỏ lại bao tải chạy ra ngoài

đường Nghe tiếng hô của 2 bảo vệ, các công nhân đã kịp thời

đuổi theo và bắt giữ được G, V

Qua thu giữ xác định số tài sản gồm 2.036 cái muỗng Inox

là sản phẩm của Công ty IK V dùng để xuất khẩu Theo lời khai

của đại diện Công ty IK V thì giá thành lao động khoảng 0,8 tới

0,9 USD/cái, trị giá thành tiền khoảng 28.000 đồng/1 cái Toàn

bộ số tài sản này được trao trả cho công ty IK V

Ngày 24/8/2010, Cơ quan điều tra Công an huyện A ra

quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Tạ Minh G

và Nguyễn Văn V Qua lời khai của G, V, Cơ quan điều tra đã

khởi tố bị can đối với Đoàn Văn T

Công an huyện A đã ra lệnh tạm giam T, G, V 3 tháng kể

từ ngày 24/8/2010

Tại cơ quan điều tra:

- G khai: khi đang chống trả với 2 bảo vệ, thấy có thể

thoát ra được, V hét lớn bảo tôi cố mang bao tải to đang để

dưới đất ra ngoài trước, còn bao nhỏ mất cũng không sao Do

đó, tôi mới dùng hết sức mình đánh người bảo vệ ngã rồi vác

đồ bỏ chạy

- V khai: tôi cam đoan không hề có việc tôi bảo G mang

đồ bỏ chạy trước, lúc đó tôi chỉ cố thoát thân mà thôi nên bảo

G "chạy nhanh lên"

Bình luận

Trường hợp 1

Nếu lời khai của V tại cơ quan điều tra là chính xác thì:

* Hành vi của T, V chỉ cấu thành tội “trộm cắp tài sản”theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 BLHS, vì:

- T, V, G chỉ bàn bạc về việc lén lút lấy sản phẩm củaCông ty IK V mang đi tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài

- Khi bị bảo vệ Công ty IK V phát hiện, V chỉ chống trảnhằm tẩu thoát

* Hành vi của G là hành vi dùng vũ lực tấn công bảo vệCông ty IK Vinna nhằm chiếm đoạt cho được tài sản nên đủyếu tố cấu thành tội “cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1Điều 133 BLHS vì;

- Việc G tấn công anh Y để giữ bằng được tài sản là hành

vi vượt quá của người đồng phạm, không nằm trong kế hoạchbàn bạc chung V không bàn bạc thống nhất với G tấn cônganh Q, anh Y để giữ cho được tài sản Chỉ có hành vi này của

G đủ yếu tố cấu thành tội “cướp tài sản” nên V không phảichịu trách nhiệm về sự vượt quá này

Trang 37

Như vậy, hành vi của T, V chỉ đủ yếu tố cấu thành tội

“trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138

Bộ luật Hình sự Điều luật của BLHS năm 1999 được sửa đổi,

bổ sung năm 2009 tham chiếu:

“Điều 20 Đồng phạm

1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý

cùng thực hiện một tội phạm.

2 Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục,

người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc

thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người

khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần

hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu

kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.”

“Điều 138 Tội trộm cắp tài sản

1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị

từ 02 triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới 02

triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì

bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

….”

Hành vi của G đủ yếu tố cấu thành tội “cướp tài sản” theoquy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS Điều luật của BLHStham chiếu:

“Điều 133 Tội cướp tài sản

1 Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì

bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

… ”

Trang 38

Trường hợp 2:

Nếu lời khai của G tại cơ quan điều tra là chính xác thì:

* Hành vi của T chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản theo

quy định tại Điều 138 BLHS vì:

- T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Công ty

IK V mang đi tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài

- Hành vi này được thực hiện theo sự thỏa thuận, bàn bạc

ban đầu với 02 đối tượng Nguyễn Văn V và Tạ Minh G T sẽ

lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý sản phẩm của Công ty IK

V để lấy sản phẩm của Công ty đưa ra ngoài cho V, G mang

đi tiêu thụ Tuy nhiên, hành vi của V và G sẽ không bị xem

xét, truy cứu trach nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo

Điều 138 BLHS vì hành vi của họ có những điểm vượt quá so

với thỏa thuận ban đầu

* Hành vi của V, G sẽ cấu thành tội cướp tài sản theo quy

định tại Điều 133 BLHS, vì:

- Khi G và V mang số tài sản chiếm đoạt được ra đến

cổng sau khu chế xuất thì bị 2 anh Q, Y (là bảo vệ khu chế

xuất Tân An) phát hiện đuổi bắt Do bị áp sát, G, V quay lại

chống trả G để bao tải xuống đất quay lại đánh tới tấp vào

anh Y khiến anh Y mất đà ngã xuống đất, sau đó G vác bao tải

bỏ chạy Hành vi đánh anh Y của G không phải là hành vi

chống trả để tẩu thoát mà thực chất nhằm mục đích giữ bằng

được tài sản đã chiếm đoạt được Đây chính là hành vi dùng

vũ lực để chiếm đoạt bằng được tài sản G đã thực hiện hành

vi theo yêu cầu của V (tiếp nhận mục đích giữ bằng được tàisản của V)

- V chính là người đã hét lớn bảo G cố mang bao tải tođang để dưới đất ra ngoài trước, còn bao nhỏ mất cũng khôngsao Lời nói của V đã thúc đẩy G thực hiện việc chống trả mộtcách quyết liệt Do đó, G mới dùng hết sức mình đánh ngườibảo vệ ngã rồi vác đồ bỏ chạy Hành vi này không nằm trongthỏa thuận ban đầu với T

- Hành vi của V và G là hành vi vượt quá của người đồngphạm nên chỉ G, V phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vivượt quá của mình Đây là biểu hiện của trường hợp đồngphạm giản đơn (V và G tiếp nhận mục đích phạm tội củanhau)

Như vậy, trong trường hợp này, T sẽ phải chịu tráchnhiệm hình sự theo quy định tại Điều 138 BLHS; V, G chịutrách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 133 BLHS

Trang 39

bán lấy tiền tiêu, Th đồng ý Tr bảo Th mượn xe máy (hiệu

Supper Halim biển số 100U1-5256) của mẹ Th là bà Phạm

Kiều Anh để thuận tiện cho việc thực hiện kế hoạch Tr đưa

Th một biển số giả 100L1-3672 gắn vào xe, còn biển số thật

cất tại nhà trọ của Tr Tr đưa 10.000 đồng cho Th ra chợ

Bình Y mua tiêu xay và ớt xay Khi Th mua về, Tr đem tiêu,

ớt pha với nước lã cho vào chai nhựa (loại chai nước suối 0,5

lít), còn lại một ít tiêu xay Tr bỏ vào bao thuốc lá hiệu Texas

Th chuẩn bị 01 con dao dài 20 cm (loại dao dùng rọc giấy),

01 khúc gỗ tròn dài 40 cm, đường kính 3,5 cm

Khoảng 22h30 cùng ngày, Tr bảo Th điều khiển xe chở

Tr Th giấu dao trong người, khúc gỗ để ở ba-ga xe Tr đem

theo một ca nhựa (loại ca dùng uống nước) cùng chai nước

đã pha tiêu và ớt xay Khi đến đoạn đường vắng, phát hiện

người điều khiển xe máy đi một mình, cả hai thống nhất Th

sẽ điều khiển xe chạy áp sát xe người đi đường, Tr sẽ đổ

nước có pha tiêu và ớt xay vào ca nhựa rồi tạt vào mặt làm

họ cay mặt, mất phương hướng mà ngã xuống đường Th sẽ

lấy xe bỏ chạy Nếu người này chống cự thì Th dùng dao và

Tr dùng khúc gỗ để tấn công, khống chế để cướp xe máy, lấy

được xe thì cả hai quay về nhà trọ của Tr

Khoảng 23h30 cùng ngày, khi Tr và Th đang chạy xe

trên đường Lê Lợi, hướng từ Lê Lợi về Trần Hưng Đạo, đến

khu vực xã A, huyện B thì bị lực lượng tuần tra của công an

xã A, huyện B phát hiện xe gắn biển số giả Công an xã đãyêu cầu Th dừng xe lại để kiểm tra giấy tờ xe Trong quátrình kiểm tra, các đồng chí công an đã phát hiện những công

cụ mà cả hai chuẩn bị nên đưa về công an xã lập hồ sơ

Sau khi tiến hành điều tra ban đầu, ngày 17/7/2010, cơquan điều tra công an huyện B ra quyết định khởi tố vụ án,khởi tố bị can đối với Trần Văn Tr và Trần Văn Th Ngày18/7/2010, cơ quan điều tra công an huyện B ra lệnh tạmgiam Tr, Th 04 tháng

VKSND huyện B ra bản cáo trạng truy tố Trần Văn Tr vàTrần Văn Th về tội “cướp tài sản” theo quy định tại điểm a, dkhoản 2 Điều 133 BLHS (với tình tiết tăng nặng định khung

“có tổ chức”, “có tính chất chuyên nghiệp”) và chuyển toàn

bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện B Đồng tình vớiquan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, ngày05/01/2011, Tòa án nhân dân huyện B ra quyết định đưa vụ án

ra xét xử

Ngày 25/01/2011, Tòa án nhân dân huyện B mở phiên toàxét xử sơ thẩm đối với Trần Văn Tr và Trần Văn Th Tạiphiên toà, đại diện Viện kiểm sát cho rằng việc Tr và Thchuẩn bị kỹ lưỡng công cụ, phương tiện phạm tội, bàn tính, dựliệu tình huống xảy ra cũng như phương án xử lý cho thấy các

bị cáo rất chuyên nghiệp Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụngtình tiết tăng nặng định khung “có tính chất chuyên nghiệp”

Trang 40

Bình luận

Với nội dung vụ việc nêu trên, không ít người cho rằng,

Tr và Th không phạm tội vì họ chưa sử dụng vũ lực với bất kỳ

ai để chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, cách hiểu này không

chính xác vì những việc mà Tr, Th đã thực hiện trước khi bị

công an phát giác đã thể hiện rõ nét biểu hiện của hành vi

phạm tội được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 133

BLHS Bởi lẽ:

- Trần Văn Tr và Trần Văn Th đã cùng nhau bàn bạc,

chuẩn bị hung khí, chuẩn bị phương tiện và đang trên

đường tìm kiếm người có tài sản để khống chế nhằm chiếm

đoạt tài sản

- Hành vi của Tr, Th thể hiện sự câu kết chặt chẽ giữa

những người cùng thực hiện tội phạm Đây là biểu hiện của

trường hợp phạm tội có tổ chức (là tình tiết định khung tăng

nặng được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 BLHS)

- Việc Tr, Th sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội

chính là sử dụng phương tiện nguy hiểm để phạm tội Tình

tiết này được quy định là tình tiết định khung tăng nặng tại

điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS

- Tr là người chủ động bàn bạc và hướng dẫn phương

thức hành động cho Th Th là người chưa thành niên (chưa

đủ 16 tuổi) bị Tr xúi giục cùng thực hiện tội phạm

- Hành vi của Tr và Th tuy chưa trực tiếp dùng vũ lực đedọa người có tài sản, nhưng họ đã chuẩn bị đầy đủ các điềukiện để thực hiện hành vi cướp tài sản là tội rất nghiêmtrọng, đe dọa trực tiếp đến sự an toàn về tính mạng, sức khỏe

và sự bất khả xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân

- Hành vi của Th và Tr ở giai đoạn chuẩn bị phạm tộicướp tài sản là tội rất nghiêm trọng nên họ phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội định thực hiện

Như vậy, hành vi của Trần Văn Tr và Trần Văn Th đã đủyếu tố cấu thành tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 133BLHS Điều luật của BLHS áp dụng:

“Điều 17 Chuẩn bị phạm tội Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự

Ngày đăng: 30/08/2015, 22:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w