SKKN: Ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy lí thuyết Vật lý 9Vật lý là môn khoa học của thực nghiệm, vì vậy trong giảng dạy môn Vật lý làm thí nghiệm là một khâu có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc các kiến thức lý thuyết mà còn làm tăng tính nhạy bén trực quan của học sinh.Việc lồng ghép các thí nghiệm vào trong các bài học Vật lý là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần tích cực trong hoạt động truyền đạt kiến thức cho học sinh.
Trang 1I - PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Vật lý là môn khoa học của thực nghiệm, vì vậy trong giảng dạy môn Vật lýlàm thí nghiệm là một khâu có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc các kiến thức lý thuyết mà còn làm tăng tính nhạy bén trực quan của học sinh
Việc lồng ghép các thí nghiệm vào trong các bài học Vật lý là một biện phápquan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần tích cực trong hoạt độngtruyền đạt kiến thức cho học sinh
Đổi mới nội dung và phương pháp trong dạy học Vật lý phải gắn liền với việctăng cường sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học Để có một giờ dạy lí thuyếtvật lí tạo được hứng thú, hiểu bài sâu sắc, hình thành được tư duy tích cực, độc lậpsáng tạo cho học sinh người giáo viên vật lí phải hết sức nỗ lực Bên cạnh đó, cónhững bài có khối lượng kiến thức nhiều, hầu hết trong các bài đều có thí nghiệm.Nếu dạy theo phương pháp truyền thống và với những thí nghiệm thật thì đôi khi sẽkhông đủ thời gian Mặt khác, với điều kiện cơ sở vật chất hiện nay thì các trườngtrung học cơ sở vẫn chưa có nhiều dụng cụ thí nghiệm để đáp ứng yêu cầu của bàihọc theo sách giáo khoa mới Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và tiếnhành các thí nghiệm ảo trên máy vi tính là một giải pháp quan trọng trong việcgiảng dạy, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng, sâu sắc, tintưởng vào kiến thức mà mình chiếm lĩnh được, đồng thời tạo hứng thú học tập chohọc sinh trong từng bài học
Trên cơ sở đó nên tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy lí thuyết Vật lý 9 ” Để thể hiện hiệu quả của việc ứng
dụng công nghệ thông tin vào dạy học các môn nói chung, môn Vật lý 9 nói riêng
Trang 2cận phương pháp dạy học mới, không còn bị động trong quá trình giảng dạy, năngcao hiệu quả giảng dạy.
- Thấy được vai trò, tác dụng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy lí thuyết môn vật lí nói riêng và các môn học khác nói chung Nhằm giúp ích cho bản thân trong quá trình giảng dạy môn vật lý ở trường THCS Từ đónâng cao chất lượng dạy và học bộ môn trong phạm vi nhất định
II PHẦN NỘI DUNG
1 Chương 1: Tổng quan
1.1 Cơ sở lý luận
- Ta đã biết Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, các khái niệm, định luật, thuyết Vật lí đều xây dựng trên cơ sở khảo sát, phân tích các hiện tượng và được kiểm tra bằng thực nghiệm Do vậy việc sử dụng các thiết bị dạy học (TBDH), dụng cụ thí nghiệm (DCTN) và ứng dụng phần mềm công nghệ thông tin
( CNTT ) Vật lí trong dạy và học trở nên một hoạt động quan trọng để thực hiện phương pháp dạy học mới nhằm phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo và hành động thực tiễn cho học sinh
Kể từ khi đổi mới chương trình và sách giáo khoa đến nay thì chương trìnhVật Lí luôn đi sâu vào phần thực hành với rất nhiều thí nghiệm Vì vậy việc sửdụng phương pháp dạy học truyền thống (dạy chay) tại các phòng học thôngthường không còn hiệu quả cao nữa mà phải sử dụng đến phòng học bộ môn vìphòng học bộ môn (Với đầy đủ các thiết bị dạy học (TBDH) và dụng cụ thínghiệm (DCTN) và ứng dụng phần mềm công nghệ thông tin ( CNTT ) Vật lí ) sẽ
có những ưu điểm hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
- Ở trường tôi sự chỉ đạo, giám sát của ban giám hiệu, tổ chuyên môn, bộ phận
quản lí thí nghiệm rất chặt chẽ mà Bộ giáo dục đã trang bị mới rất nhiều dụng cụ thí nghiệm nên các giờ dạy, giáo viên đều sử dụng tốt các thí nghiệm Tuy nhiên chỉ những giờ dạy được chuẩn bị kĩ hệ thống câu hỏi nhằm giúp học sinh tự lực phát hiện, lĩnh hội kiến thức, những giờ dạy gắn với nhiều kiến thức thực tế phù hợp với các em và đặc biệt là những giờ dạy có sử dụng công nghệ thông tin mới thực sự mang lại hiệu quả cao
- Thực tế, do điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường về phòng học chức năng, vềphương tiện máy chiếu qua đầu, về trình độ tin học của giáo viên, về ý thức quyết tâm vươn tới lĩnh hội công nghệ mới của giáo viên còn chưa đồng đều nên việc dạy học có áp dụng công nghệ thông tin còn chưa phát triển mạnh mẽ, rộng khắp Trong khi môn vật lí 9 bao gồm phần điện, quang, điện từ, năng lượng có khá
Trang 3nhiều thí nghiệm, nhiều nội dung kiến thức gắn với thực tế, đời sống của học sinh
mà nhờ áp dụng công nghệ thông tin sẽ giúp ích vô cùng lớn cho hiệu quả của giờ dạy
2 Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu.
b) Về thực tế dạy một tiết lí thuyết vật lí và việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy vật lí:
Ở trường tôi sự chỉ đạo, giám sát của ban giám hiệu, tổ chuyên môn, bộ phận quản lí thí nghiệm rất chặt chẽ và Bộ giáo dục đã trang bị mới rất nhiều dụng cụ thí nghiệm nên các giờ dạy, giáo viên đều sử dụng tốt các thí nghiệm Tuy nhiên chỉ những giờ dạy được chuẩn bị kĩ hệ thống câu hỏi nhằm giúp học sinh tự lực phát hiện, lĩnh hội kiến thức, những giờ dạy gắn với nhiều kiến thức thực tế phù hợp với các em và đặc biệt là những giờ dạy có sử dụng công nghệ thông tin mới thực sự mang lại hiệu quả cao
Thực tế, do điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường về phòng học chức năng, vềphương tiện máy chiếu qua đầu, về trình độ tin học của giáo viên, về ý thức quyết tâm vươn tới lĩnh hội công nghệ mới của giáo viên còn chưa đồng đều nên việc dạy học có áp dụng công nghệ thông tin còn chưa phát triển mạnh mẽ,rộng khắp Trong khi môn vật lí bao gồm phần điện, quang, điện từ, năng lượng có khá nhiều thí nghiệm, nhiều nội dung kiến thức gắn với thực tế, đời sống của học sinh mà nhờ áp dụng công nghệ thông tin sẽ giúp ích vô cùng lớn cho hiệu quả của giờ dạy
2.2 Những biện pháp cơ bản để dạy một giờ lí thuyết vật lí đạt hiệu quả cao:
a) Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm trên lớp.
Vật lí phổ thông là môn khoa học thực nghiệm, các tri thức vật lí là sự khái quát
hóa các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng diễn ra trong đời sống Không có thí nghiệm, học sinh rất khó có cơ sở để thực hiện các thao tác tư duy đểtiếp nhận tri thức mới Có thí nghiệm,học sinh tiếp thu hứng thú hơn, dễ dàng, hiệuquả hơn
Xác định rõ như vậy nên BGH và tổ chuyên môn trường tôi chỉ đạo, kiểm tra sát sao, đôn đốc tận dụng tối đa điều kiện đã có để không dạy chay Thậm chí có
Trang 4dạy bài “Sự truyền âm,phản xạ âm”trước đây, tôi đã phải đến trường THCS Hải Hòa nhờ bạn mượn được cái chuông điện, sang các trường khác mượn đế và cái chụp thủy tinh, về lại nhờ bạn là thợ điện lạnh lấy lốc của tủ lạnh làm bơm hút khí.Mua bộ nguồn hạ thế có nắn dòng 220V-6V (tháo bỏ điôt) thành máy hạ thế xoay chiều (để chuông kêu liên tục-đỡ phải đóng ngắt) Tìm keo dán,thay ống để đảm bảo có được môi trường chân không Hay để dạy bài ”Màu sắc vật dưới ánh sáng trắng và dưới ánh sáng màu” phải có đèn phát ánh sáng màu, đèn màu quay tôi phải đi nhiều cửa hàng mới tìm được đèn phù hợp Nhưng bù đắp lại, nhìn vẻ hứngthú, háo hức của học sinh, thấy kết quả giờ dạy- tôi lại thấy mình có thể quyết tâm
đi tìm, mượn được lần khác nữa
b) Chuẩn bị kĩ lưỡng hệ thống câu hỏi giúp tổ chức tốt cho học sinh làm việc.
Chuẩn bị thí nghiệm đôi khi là một kì công Nhưng cái hồn của giờ dạy, để đạt kết quả cao tôi cho rằng còn là hệ thống câu hỏi Nếu không khéo léo dẫn dắt,
để học sinh nhập vai ”người nghiên cứu”, tiết học vẫn có thể mang tính áp đặt, họcsinh ít hứng thú Từ nội dung kiểm tra bài cũ sao cho gắn kết bài cũ bài mới, gắn được với đời sống mang tính sâu sắc đến nội dung kiến thức cần truyền đạt, rồi phần củng cố hướng dẫn về nhà, đặt câu hỏi liên kết cho bài sau đều cần một hệ thống câu hỏi mang tính hệ thống,đảm bảo tính logic Đặc biệt là phần thí nghiệm, học sinh phải được hiểu rõ mục đích để hiểu rõ từng dụng cụ, được dự đoán trước hiện tượng xảy ra(dựa trên kiến thức cũ), rồi mới quan sát hoặc làm, phân tích kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có liên quan để đi đến tri thức mới Có những câu hỏi chung, khái quát cho học sinh khá giỏi Học sinh trung bình, yếu phải được trả lời các câu hỏi cụ thể chi tiết hơn Hệ thống câu hỏi phải phát huy được năng lực của mọi đối tượng Giáo viên cũng phải chuẩn bị các câu hỏi gợi ý chi tiết, các câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng ngắn gọn Các câu hỏi củng cố phải bám sát mục đích yêu cầu, trọng tâm của bài cố gắng liên kết kiến thức cũ, mới để học sinh nắm kiến thức theo mạch một cách logic, về nhà học và làm bài sẽ dễ dàng Qua hệ thống câu hỏi của giáo viên, câu trả lời của học sinh – giáo viên còn tiếp nhận thông tin ngược từ học sinh để tiếp nhận những tri thức còn thiếu, uốn nắn những sai lầm thường mắc phải
Nói chung một hệ thống câu hỏi có tính hệ thống, logic, thực tế, gắn với đời sống sẽ tạo điều kiện để học sinh làm việc độc lập, giúp học sinh hoàn thiện tri thức cũ, mới và biết vận dụng các tri thức đó để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn,giờ học sẽ đạt hiệu quả cao
c) Coi trọng tính thực tế gắn với đời sống của kiến thức cần truyền đạt
Trong phần kiểm tra bài cũ, khi dạy kiến thức mới và đặc biệt là phần củng
cố luyện tập – Phần hấp dẫn mà quan trọng – đó là câu hỏi, bài tập có nội dung thực tế gắn với đời sống Mỗi học sinh dù ở trình độ, năng lực nào đều có ít nhiều kinh nghiệm sống – về những hiện tượng vật lý đã học Nếu người giáo viên chịu khó khai thác, khéo léo đưa vào bài học thì những bài giảng mới thật sự đạt hiệu
Trang 5quả cao Mới đạt được một mục đích của môn học : học sinh hoàn thiện tri thức mới và biết vận dụng tri thức đó để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn Kinh
nghiệm cho thấy phần này, học sinh tham gia hào hứng, thích thú không kém phầnhọc có thí nghiệm Và học sinh phải cảm thấy ở đâu trong cuộc sống cũng có thể thấy kiến thức liên quan đến vật lý
Vậy người giáo viên khai thác tính thực tế gắn với đời sống của kiến thức vật
lý như thế nào ? tôi nghĩ rằng nếu đã có mục đích thì bất cứ lúc nào, ở đâu ta cũng thu lượm được những gì ta cần Nghe bản tin
qua đài, đọc từ báo( nhất là báo Thiếu niên ), xem qua vô tuyến ( Đặc biệt là các cuộc thi của học sinh các cấp trên truyền hình ), qua các câu chuyện hàng ngày, qua các câu thành ngữ từ xưa để lại, thậm chí đến bóc một tờ lịch cũng thấy điều tacần – thật là thú vị Trong tháng 5 -07 tôi nghe được thông tin về năng lượng sinh học, về êtanon sản xuất từ mía thay được xăng dầu,về nhà máy sản xuất điện từ gió bắt đầu xây dựng ở Miền Trung nước ta, về vấn đề hạt nhân ở Bắc Triều tiên vừa may lúc tôi chuẩn bị dạy bài “ Năng lượng và sự chuyển hóa năng lượng “ Rồi một lượng thông tin lớn ở tài liệu chuyên môn , sách tham khảo, ở trên mạng theo địa chỉ ”thư viện tư liệu vật lí” mà người giáo viên phải tự chủ động tìm kiếm
và gìn giữ
Những kiến thức cần khai thác tôi chia làm các dạng : vốn sống của học sinh
về những hiện tượng vật lý đã gặp ; tìm hiểu từ những kiến thức đã học ; những câu chuyện về các nhà bác học liên quan đến lịch sử vật lý (khi tôi kể các em nghe
về nhà vật lí người Anh J.P.Jun, là chủ một hãng sản xuất rượu bia vì say mê vật lí
mà trở thành nhà bác học các em đã rất hứng thú); những trò chơi vật lý ; những tưliệu có tính giáo dục tư tưởng ; những câu hỏi để học sinh vận dụng tri thức giải quyết bài toán thực tiễn, những câu thành ngữ, tục ngữ dân gian Tôi nghĩ rằng,dùmình đã quan tâm tìm kiếm, cũng chưa khai thác được nhiều Tuy nhiên những gì tôi đã tìm được cũng khó có thể ghi hết lại ở đây Tôi xin phép chỉ đơn cử lại một trong các tư liệu tôi đã sử dụng để dạy học
+ Một số câu thành ngữ dân gian để lại như : “Tranh tối tranh sáng” ( bài ánh sáng )
Rồi một câu hát thôi – trong một bài hát của các em : “Hương lúa chín thoang thoảng bay làm lung lay hàng cột điện “ ( Bài “Em đi giữa biển vàng “ – nhạc sỹ Bùi Đình Thảo ) cũng cho các em dẫn chứng điện đã về đến nông thôn ( Dạy bài truyền tải điện năng đi xa) Mục “ Kính lúp trả lời “ , “ Em yêu khoa học “ của báo Thiếu Niên – thật quý báu cho những em thích tìm hiểu và hiểu sâu kiến thức vật lý Báo cũng cho khá nhiều câu chuyện giúp giáo dục tư tưởng chẳng hạn bài
“Khi học trò sử dụng điện thoại “ Tôi đã nêu sau khi dạy bài ứng dụng của nam châm ) ; ảnh hai học trò nông thôn trèo cột điện ( khi dạy bài sử dụng an toàn và tiết kiệm điện), tôi hỏi:quan sát bức ảnh em thấy được gì?-hình ảnh đồng lúa, cột
Trang 6hiểm ; Bài “Khi gặp cơn giông” giúp các em hiểu hơn và biết cách phòng
tránh;”Bệnh truyền hình”,”Nói vỡ giọng” … tăng thêm hiểu biết cho cac em
- Sưu tầm hệ thống câu hỏi để học sinh vận dụng tri thức giải quyết các bài
toán thực tiễn là việc làm rất cần thiết giúp học sinh củng cố kiến thức, phát huy năng lực độc lập sáng tạo biết vận dụng kiến thức vào đời sống
1 Vì sao đồ vật ẩm ướt lại thẫm mầu hơn Phản xạ ánh sáng
2 Vì sao cửa kính chắn gió trước cửa ôtô lại
4 Vì sao phải phát triển việc tải điện bằng dòng
điện một chiều cao thế ?
Tải điện năng đi xa
5 Vì sao khi chạm vào vỏ kim loại của đồ điện
lại có cảm giác tê tê ?
Vì sao phải có dây nối đát ở các thiết bị
điên ?
Hiện tưởng cảm ứng điện
từ
6 Xung quanh trái đất có từ trường
vậy lực hút của trái đất có liên quan đến từ
trường này không ?
Hiện nay hai cực từ của NC trái đất đang ở vị
trí nào ?
Từ trường của trái đất
7 Vì sao vật thể lại có màu sắc? Màu sắc vật
8 Mái che màu xanh trong ở chợ có nhược
điểm gì?
Màu sắc vật dưới ánh sáng trắng và dưới ánh sáng màu
9 -Hang động ở vịnh Hạ Long trang bị thêm
các đèn phát ánh sáng màu để làm gì ?
Màu sắc vật dưới ánh sáng trắng và dưới ánh sáng màu
10 Ở các phòng tranh nên bố trí hệ thống đèn
như thế nào? có nên dùng đèn màu rực rỡ
không? Tại sao?
Màu sắc vật
11 Quang cảnh Vịnh Hạ Long vào các thời điểm
khác nhau trong ngày,trong năm có khác
nhau không? Tại sao?
Màu sắc vật
12 Tại sao đoàn người đi trên sa mạc hoặc đồng
cỏ hay nhìn thấy ảo ảnh là thành phố người
đi lại ở phía trước ?
Trang 7ánh sáng đó đi đâu?
15 Vì sao bầu trời màu xanh ? Màu sắc vật
16 Tại sao tường , trần lớp học lại quét vôi trắng
18 Nước ta,tỉnh ta hiện nay có bao nhiêu nhà
máy điện?quay roto bằng cách nào? Em có
biết nước ta sắp xây dựng những nhà máy
điện nào không?những nhà máy ấy phải được
xây dựng ở địa điểm có vị trí địa lí như thế
nào?
Máy phát điện xoay chiều
19 Tại sao khi muốn tạo ra d đ xoay chiều lại chỉ
chọn cách quay NC hoặc cuộn dây dẫn ?
Máy phát điện xoay chiều
20 Máy biến thế có biến đổi được hiệu điện thế
giữa 2 cực pin Con thỏ hay acqui được
không?Vì sao?
Máy biến thế
21 Trong lớp em có bao nhiêu bạn bị cận,vì sao
các bạn ấy cận và bị từ bao giờ?
Mắt cận,mắt lão
22 Vì sao ngắm súng lại phải nheo 1 mắt? Mắt
23 Hiện nay ở các quốc gia dùng những cách gì
để giảm hao phí điện năng trên đường dây tải
điện ? còn nước ta?
Truyền tải điện năng
24 Tại sao dùng bóng đèn huỳnh quang tiết
kiệm điện hơn bóng đèn dây tóc?
Tại sao phải tiết kiệm điện?
Tiết kiệm điện
25 Pin mặt trời có tác dụng như thế nào ?
Hiện nay ở nước ta vùng nào đang sử dụng
khuyến khích hoặc khi củng cố, cho chép về nhà tìm hiểu Những câu hỏi như vậy
đã hỗ trợ cho những bài giảng của tôi thêm phong phú, sâu sắc Và những học sinh thường vẫn hay sợ vật lý , cho rằng vật lý khô khan trừu tượng sẽ bớt căng thẳng hơn, yêu thích môn học hơn Tôi nghĩ rằng người giáo viên không nên bỏ lỡ
cơ hội để giờ học nhẹ nhàng , sinh động mà sâu sắc hơn
d) Cố gắng tiếp cận và làm chủ các phương tiện dạy học hiện đại
Đơn giản nhất là máy chiếu dạy kết hợp với bảng đen Có thể thay thế các bảng phụ rất thuận tiện
Trang 8Rất khó nhưng không phải là không thể học được để sử dụng đến một mức
độ nào đó là dạy bằng giáo án điện tử Có khi cũng chưa hẳn là giáo án điện tử, mới chỉ là sử dụng Power Point để trình chiếu như một bảng phụ Nhưng hiệu quả vẫn hơn hẳn dùng bảng phụ, rất tiện lợi và sắc nét Để dạy bằng cách này người giáo viên rất vất vả, từ việc phải học vi tính tối thiểu trình độ A, học cách dùng Power Point, vẽ hình động, phải có máy tính xách tay đến soạn bài,còn nếu chưa
có phòng học chức năng thì còn vất vả hơn nữa Khi chưa tự vẽ được tôi đã phải hỏi đồng nghiệp và bạn bè học CNTT để có mô hình quay của máy phát điện xoaychiều kiểu nam châm quay và bức tranh động về hình ảnh các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, điện gió, điện nguyên tử, hình vẽ trong bài MẮT CẬN, MẮT LÃO, lênmạng lấy mô hình động máy phát điện ,máy phát điện một chiều, ảnh các đường sức từ Copy từ đĩa học nghiệp vụ hè mô hình động của máy phát điện xoay chiềuloại cuộn dây quay, tất cả được liên kết vào bài giảng và khi chưa thạo tin học tôi
đã phải liên tục hỏi một đồng nghiệp là giáo viên tin học, tôi đã được chỉ bảo rất tận tình Một điều nữa cũng rất quan trọng, dạy bằng máy chiếu dùng Power Point tùy theo từng bài, lượng kiến thức hay tranh vẽ, mô hình đưa vào bài mà một bài dạy có thể phải có nhiều trang, nhưng làm sao để các kiến thức toàn bài luôn luôn được lưu lại là tốt nhất Ở bài “MÀU SẮC VẬT DƯỚI ÁNH SÁNG TRẮNG VÀDƯỚI ÁNH SÁNG MÀU” tôi đã cố gắng đạt được điều đó bằng cách thiết kế bài dạy trên một trang Toàn bộ kiến thức của bài tôi cho thể hiện trên một bảng thu nhỏ vừa đủ, phần còn lại của trang Nhưng đến bài “DÒNG ĐIỆN XOAY
CHIỀU” và “MÁY PHÁT ĐIỆN XOAY CHIỀU” và bài MẮT CẬN MẮT LÃO thì tôi lại phải xử lí cách khác để đảm bảo kiến thức cơ bản phải được xuất hiện đúng lúc
Một vấn đề nữa khi dạy bằng máy vi tính là cỡ chữ, màu nền, màu chữ,l oại hiệu ứng Tôi chọn cỡ chữ 13 cho dù dùng phông chữ Times New Roman hay VnTime, chữ chính màu đen, chữ cho đáp án hay để chú ý trọng tâm tôi dùng màu khác, nền màu trắng Tôi nghĩ, không nên lạm dụng hiệu ứng vào bài, chỉ nên dùng một loại hiệu ứng đơn giản, không chọn quá nhiều màu lòe loẹt, hình viền bài dạy hoa lá cành Tất cả những thứ đó dễ thu hút học sinh rời xa bài học
Tóm lại, phải nỗ lực vừa làm vừa học hỏi một cách nhiệt tâm cùng với cơ sởvật chất thuận tiện và sự hỗ trợ nhiệt tình của đồng nghiệp thì mới dạy được bằng máy chiếu Bây giờ tôi xin trình bày lại bài dạy tôi đã thực hiện được
*) Giáo án minh họa
Bài 55 - Tiết 60 Vật lý lớp 9 :
Màu sắc các vật dưới ánh sáng trắng và dưới ánh sáng màu
Tôi xin trình bày ở đây bài soạn cho cả 2 cách dạy bằng bảng đen đơn thuần vàbằng máy để thấy rõ sự tiện lợi khi sử dụng công nghệ thông tin
1 Mục tiêu
Trang 9a – Trả lời được câu hỏi: có ánh sáng màu nào vào mắt khi ta nhìn thấy một vật màu đỏ,màu xanh,vật màu đen
b – Giải thích được hiện tượng : khi đặt các vật dưới ánh sáng trắng ta thấy có vật màu đỏ,vật màu xanh,vật màu đen
c – Giải thích được hiện tượng : khi đặt các vật dưới ánh sáng đỏ thì chỉ các vật màu đỏ mới giữ nguyên được màu,còn các vật màu khác thì màu sắc sẽ bị thay đổi
Tự h/s phải phát hiện chọn đúng hình đã quan sát thấy trong hộp ( khi phải trả lời :
em quan sát thấy gì trong hộp )
Cho các phương án dạy các máy:
+ Đèn phát nhiều màu cùng lúc – quay được
+ Đèn phát được lần lượt nhiều màu khác nhau
+ Búp bê có tóc bạch kim , váy chủ yếu là màu trắng hồng
+ Tranh (lịch treo tường) cảnh hồ gươm có màu chủ đạo là màu
xanh da trời
+ 4 bộ nam châm to , kích thước các bộ khác nhau (Cho phương án bảng phụ )
- Bộ 1 : Màu trắng,đỏ,xanhlục = 3 nam châm
- Bộ 2 : Màu đỏ,xanh,tối = 3 nam châm
- Bộ 3 : Màu xanh lục,đen,xanh lục = 3 nam châm
- Bộ 4 : Màu đen,đen,đen = 3 nam châm + Bảng phụ ghi các nội dung :
- Câu hỏi kiểm tra bài cũ :
2 hình vẽ: hiện tượng phản xạ ánh sáng ở gương phẳng, tán xạ ánh sáng ở
bề mặt vật không phẳng:
Câu 1 :Khi nào mắt ta nhìn thấy một vật ?
Em hãy chọn câu trả lời đúng :
A.Khi vật được chiếu sáng
B.Khi vật được phát ra ánh sáng
C.Khi có ánh sáng từ vật truyền vào mắt ta
D.Khi có ánh sáng truyền từ mắt ta vào vật
Câu 2 : Em hãy chọn câu trả lời đúng nhất :
Trang 10A Mắt ta nhận biết được ánh sáng khi có ánh sáng truyền vào mắt ta
B Ta nhìn thấy một vật khi có ánh sáng đi từ vật đó đến mắt ta,ánh sáng ấy cóthể do vật tự nó phát ra hoặc hắt lại ánh sáng chiếu vào nó
C Vật đen là vật không tự phát ra ánh sáng và cũng không hắt lại ánh sáng chiếu vào nó.Ta nhận biết được vật vì có ánh sáng từ các vật bên cạnh đếnmắt ta
D Các phát biểu A,B,C đều đúng
_ Câu hỏi củng cố :
Câu 1 : Khi nhìn thấy vật màu đen thì ánh sáng màu nào đã đi vào mắt ta ?
A Không có màu nào
B Màu đỏ và màu lục
C Màu xanh và màu tím
D Màu đen Câu 2 : Chọn câu đúng :
A Tờ bìa đỏ để dưới ánh sáng màu nào cũng có màu đỏ
B Tờ giấy trắng để dưới ánh sáng đỏ vẫn thấy trắng
C Mái tóc đen ở chỗ nào cũng là mái tóc đen
D Chiếc bút màu xanh để ở trong phòng tối cũng vẫn thấy màu xanh Câu 3 : Phát biểu nào sau đây là sai khi nói về khả năng tán xạ ánh sáng màu củacác vật
A Vật màu trắng tán xạ tốt ánh sáng màu đỏ
B Vật màu vàng tán xạ tốt ánh sáng màu vàng
C Vật màu đen tán xạ tốt mọi ánh sáng màu
D Vật màu đỏ tán xạ rất kém ánh sáng màu xanh
Câu 4 : Hãy chọn từ thích hợp để điền vào chỗ trống trong các câu sau :
A Khi nhìn thấy vật màu thì có ánh sáng màu đi từ vật đến mắt ta
B Vật màu có khả năng tán xạ tất cả các ánh sáng màu
C Vật màu thì tán xạ mạnh ánh sáng màu nhưng kém ánh
sáng các màu
E Vật màu không có khả năng tán xạ ánh sáng màu nào
- Nhận xét sau phần I – SGK (144) + Phấn trắng,xanh lục,đỏ,bút dạ màu đỏ.(khi dạy máy chiếu H)
+ In Photo cho từng học sinh bẳng kẻ sẵn(dù dạy bằng máy nào) để học sinh dễ ghi bài
hoặc giáo viên và học sinh kẻ sắn trước khi vào lớp (do bài dài
và cách ghi bài có thể khác với ngày thường)
+ Chuẩn bị các ví dụ thực tế có liên quan đến các kiến thức trong bài
-Tại sao tường,trần lớp học lại quét vôi trắng ?
-Mái che màu xanh trong ở chợ Hạ Long I có nhược điểm gì ?
Trang 11-Hang động ở vịnh Hạ Long trang bị thêm các đèn phát ánh sáng màu để làm gì ?
-Quan sát phong cảnh vào thời điểm khác nhau trong ngày,trong năm có gì khác nhau ?
-Bố trí đèn trong các phòng triển lãm tranh có cần chú ý không ?
-Trong rạp hát,vũ trường có hệ thống đèn màu,đèn lade để làm gì ?
- Lỗ đen vũ trụ là gì ?
3 Thiết kế giáo án :
* Đây là một bài dài,khó dạy “Hộp quan sát “ của bộ trang bị, khi học sinh bấm nút phát ánh sáng đỏ, xanh lục rất khó nhận xét là vật trong hộp có màu gì + Để tiết kiệm thời gian tôi đã rất trăn trở để tiết kiệm từng phút, ngoài việc thiết kế bài dạy hợp lý, tôi phải thực hiện một vài sáng tạo sau :
- Giáo viên ghi bảng, học sinh ghi vào vở nội dung tiến trình bài theo bảng
kẻ sẵn (trên bảng đen hoặc trên màn hình) Nhằm tiết kiệm thời gian nhưng cũng
để làm nổi bật trọng tâm bài , học sinh dễ so sánh để đi đến nhận xét, kết luận của từng phần và toàn bài
- Khi dạy bằng bảng phụ, ở trong bảng đã kẻ để ghi nội dung bài : thay vì phải viết “vật màu ” tôi thay bằng việc gắn lên bảng ( các lớp học đều đã trang bị bảng hút được nam châm ) các vật màu đều là nam châm Vừa nhanh, học sinh dễ thấy bằng trực quan – các em cũng bất ngờ và thấy thú vị Còn khi dạy bằng vi tính tôi vẽ các vật màu hình tròn theo đúng màu của nó
- Dùng bằng bảng phụ hoặc máy chiếu để kiểm tra bài cũ, củng cố bằng câu hỏi trắc nghiệm, điền từ cũng tiết kiệm được rất nhiều thời gian và được rất nhiều nội dung
- Là bài khó dạy vì dài, chỉ qua thí nghiệm mà tự bản thân học sinh phải bật ra được màu sắc các vật dưới ánh sáng trắng ánh sáng màu phụ thuộc vào gì
để giải thích được các hiện tượng thường thấy về màu sắc vật Đòi hỏi giáo viên
có một hệ thống câu hỏi dẫn dắt hợp lý, logic, trọng tâm, rõ ý Các học sinh phải được làm việc thực sự một cách hiệu quả để tự phát hiện, nắm bắt kiến thức
Trang 12C©u 3:
Sù ph¶n x¹ ¸nh s¸ng ë bÒ mÆt g ¬ng ph¼ng
Sù t¸n x¹ ¸nh s¸ng ë bÒ mÆt vËt kh«ng ph¼ng
Giáo án cụ thể :
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ : (Trên màn hình ) (3’)
Câu1-Trên màn hình hiện dần :kiểm tra bài cũ, từng dòng câu 1, yêu cầu 1 học
sinh trả lời, hs khác nhận xét, gv có thể hỏi”có em nào có ý kiến khác””bao nhiêu
em đồng ý với bạn”” rồi ‘cô cũng đồng ý với các em”, hiện tiếp đáp án
Câu 2 cũng tương tự (Nếu bằng bảng phụ phải treo cả 2 câu cùng lúc)
* Đáp án
câu 1: Chọn câu C.mắt ta nhìn thấy một vật khi có ánh sáng từ vật truyền vào mắt
ta
câu 2: Chọn D các phát biểu A,B,C đều đúng
Nếu dùng bằng bảng phụ tôi thể hiện việc chọn đáp án bằng cách dùng bút
dạ khoanh tròn chữ cái viết hoa trước đáp án đúng, còn dạy bằng vi tính tiện lợi vàsinh động hơn rất nhiều Có thể dùng Violet , còn tôi đã chọn cách đơn giản hơn
để không thu hút học sinh chú ý đến những vấn đề ngoài nội dung bài học Tôi copy câu đúng ra, bôi màu đỏ và hiệu ứng cho nó rồi lại”gắp” nó vào đúng chỗ cũ,
vì cùng một cỡ chữ nên không thấy rõ 2 tầng chữ Khi hiện đáp án rất rõ ràng và đẹp
Giáo viên lưu ý học sinh nhớ nội dung kiến thức đã kiểm tra để vận dụng vào bài hôm nay
Câu 3: Giáo viên cho học sinh quan sát hình vẽ xuất hiện lần lượt trên màn hình: mặt gương phẳng, bề mặt vật không phẳng, từng tia tới đến GP, từng tia tới đến
Trang 13mặt vật không phẳng, từng pháp tuyến tại mỗi điểm tới của mỗi loại bề mặt vật, từng tia phản xạ tương ứng Yêu cầu học sinh quan sát, so sánh để nhắc lại hiện tượng phản xạ ánh sáng ở gương phẳng, tán xạ ánh sáng ở bề mặt vật không nhẵn phẳng và khẳng định vật hắt lại ánh sáng chiếu tới nó có thể như 2 hiện tượng đã thấy Khi các tia sáng tới bị vật hắt lại theo mọi phương khác nhau, giúp ta nhìn thấy vật (Học sinh không thể tự trả lời vì các em học từ năm lớp 7- hiện tượng tán
xạ chỉ được giới thiệu ở mục “có thể em chưa biết” Nhưng học sinh phải được nhắc lại – vì trong bài mới có liên quan đến việc hiện tượng tán xạ ánh sáng )
Ở câu 3,nếu dùng bằng bảng phụ không thể tiện ích cho việc dễ dàng thấy và so sánh các tia tới, tia phản xạ ở 2 loại bề mặt vật như vậy chỉ có hình ảnh các tia tới,tia phản xạ trên gương phẳng, rồi đến hình ảnh các tia tới, tia phản xạ trên bề mặt vật không phẳng, nếu vẽ từng tia rất mất thời gian
Còn ở tiến trình bài dạy:
+Nếu dạy bằng bảng phụ: GV ghi bảng , học sinh ghi vở, không mới theo cách dạytruyền thống nên học sinh ghi bài bình thường
+Nếu dạy bằng máy vi tính:
- Thay vì ghi bảng giáo viên chỉ việc dùng chuột hoặc phím là các nội dung sẽ lần lượt hiện trên màn hình, học sinh thì lại quen ghi theo cô nên giáo viên phải hướng dẫn học sinh ghi bài theo bảng đã kẻ, theo màn hình: tự ghi tất cả các kiến thức có trên màn hình theo tiến độ của bài, còn những câu hỏi và trả lời khi củng
GV : Ta đang nhìn thấy nhiều vật màu trong lớp : tường, bảng, búp bê, bức tranh
Hồ Gươm, (giáo viên lần lượt để lên bàn búp bê, tranh) dưới ánh sáng mặt trời và ánh sáng đèn nêon gọi là ánh sáng gì các em nhỉ ? ( HS:ánh sáng trắng ) Màu sắc của chúng sẽ thế nào nếu chúng ta chiếu đến chúng các ánh sáng màu sắc khác nhau ? (cho 1 học sinh nêu dự đoán) – Hãy tắt đèn,đóng cửa và quan sát GV bật đèn quay – rồi tắt Bật đèn phát lần lượt các màu khác nhau vào búp bê, bức tranh
”các em thấy hiện tượng gì ?”– Giáo viên tắt đèn – Yêu cầu học sinh mở cửa , bật đèn Em nào giải thích được hiện tượng vừa rồi ? ( Để 1 học sinh trả lời nếu giơ tay ) – GV :chỉ thấy rất đẹp phải không ? bây giờ chúng ta sẽ nhìn các vật màu bằng con mắt của nhà vật lý nhé Các em mở vở,SGK (144) để học bài mới
Trên màn ảnh xuất hiện (hoặc ghi bảng):
Tiết 60- Bài 55: Màu sắc vật dưới ánh sáng trắng và dưới ánh sáng màu
+Xuất hiện khung bảng đã kẻ đủ các cột, các dòng
GV chỉ lên đầu bài,”theo em cần chuẩn bị gì để tìm hiểu màu sắc vật khi đặt
Trang 14Bài 55: MÀU SẮC CÁC VẬT DƯỚI ÁNH SÁNG TRẮNG
(3) Trắng (8)
(4) Đỏ (9)
(5) Xanh lục
(10)(6)
Không cóánh sángmàu nàotới mắt(11)
HS : Thí nghiệm, đọc SGK, chuẩn bị vật màu, nguồn phát ánh sáng trắng, ánh sáng màu
GV : Có thể phải bổ xung và nói tiếp - Ta thống nhất chọn các vật có màu trắng,
đỏ, xanh lục, đen để nghiên cứu Nguồn phát ánh sáng trắng là mặt trời, đèn điện +GV : Ta sẽ đặt chúng dưới ánh sáng trắng trước, nói và đồng thời hiện (hoặc viếtbảng) lần lượt : “I- Đặt vật dưới ánh sáng trắng” (ô1); thì “Vật có màu” gì ?(ô2) hiện hình vẽ các vật màu trắng, màu đỏ, màu xanh lục, màu đen (hoặc gắn các nam châm có màu tương ứng lên bảng) (vào các ô 3,4,5,6)
GV: Hãy đọc phần 1 – SGK,tự chọn vật cùng màu trong thực tế,áp dụng kiến thức
cũ để trả lời C1 trong SGK.thời gian là 2 phút
HS : Làm việc,giáo viên quan sát học sinh
GV yêu cầu sau 2 phút :1 hs đọc câu hỏi C1 trong SGK,cho biết em đã chọn vật màu trắng,đỏ,xanh lục,đen như thế nào?(có thể là tường,áo,tóc ) rồi trả lời câu C1
GV có thể nói:Em nào có ý kiến khác ? ( ),các em đã quan sát và trả lời tốt.+GV: Như vậy(và hiện lần lượt trên màn hình hoặc viết bảng bằng phấn màu tương ứng) :Ánh sáng từ vật tới mắt có màu (ô 7),;Trắng,Đỏ,Xanh lục,không có ánh sáng màu nào tới mắt.( ở các ô 8,9,10,11 theo hàng dọc )
GV : Các vật ta nghiên cứu có tự phát ra ánh sáng không ? HS : Không ạ !
GV : Vậy tại sao khi chiếu ánh sáng trắng tới vật màu đỏ lại có ánh sáng đỏ truyền
từ vật hắt lại vào mắt ta ?
HS : Trong ánh sáng trắng có ánh sáng đỏ.Vật màu đỏ đã tán xạ tốt ánh sáng đỏ đó( Học sinh có thể không trả lời được,GV giải thích )