1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của tổ hợp các chất điều hòa sinh trưởng và nước dừa đến sinh khối mô sẹo cây trinh nữ hoàng cung (crinum latifolium l )

5 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 149,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ HỢP CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG VÀ NƯỚC DỪA ĐẾN SINH KHỐI MÔ SẸO CÂY TRINH NỮ HOÀNG CUNG Crinum latifolium L., Vũ Thị Lan1, Quách Thị Liên2, Nguyễn Đức Thành 2 1 Trư

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ HỢP CÁC CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG VÀ NƯỚC DỪA

ĐẾN SINH KHỐI MÔ SẸO CÂY TRINH NỮ HOÀNG CUNG (Crinum latifolium L.,)

Vũ Thị Lan1, Quách Thị Liên2, Nguyễn Đức Thành 2

1

Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên, 2 Viện Công nghệ Sinh học

TÓM TẮT

Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu về nuôi cấy thu nhận sinh khối mô sẹo cây Trinh nữ hoàng cung và định tính ancaloit trong các mẫu mô sẹo thu được Mô sẹo sau khi tạo khoảng 50 ngày, được cắt thành các miếng nhỏ có kích thước khoảng 0,7cm x 0,7cm, trọng lượng khoảng 0,35- 0,40 g, cấy lên các môi trường nuôi cấy sinh khối khác nhau có nền môi trường cơ bản là

MS, sucrose 30 g/l, agar 7 g/l, bổ sung kết hợp NAA 2mg/l với BAP ở các nồng độ khác nhau (0,5; 1,0; 1,5; 2,0 mg/l) hoặc kinetin (nồng độ 0,5; 1,0; 1,5; 2,0 mg/l) hoặc nước dừa ( nồng độ 10; 20; 30; 40 %) Kết quả thu được cho thấy: Môi trường thích hợp cho sự sinh trưởng mô sẹo để thu sinh khối là: SB1(MS + 2 mg/l NAA + 0,5 mg/l BAP) và SB2 (MS + 2 mg/l NAA + 1,0 mg/l BAP); SK6 (MS + 2 mg/l NAA + 1,0 mg/l kinetin) và SK7 (MS + 2mg/l NAA + 1,5 mg/l kinetin); SN9 (MS + 2mg/l NAA + 10% nước dừa) và SN10 (MS + 2mg/l NAA + 20% nước dừa) Bước

đầu đã định tính phát hiện có ancaloit trong các mẫu mô thu được

Từ khoá: Ancaloit, cây Trinh nữ hoàng cung, môi trường, nuôi cấy, sinh khối mô sẹo

∗ MỞ ĐẦU

Hiện nay, các nhà khoa học đang rất quan tâm

đến các ứng dụng thực tiễn của công nghệ

nuôi cấy mô tế bào thực vật để tổng hợp các

hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học

Những năm gần đây, cây Trinh nữ hoàng

cung (TNHC) đã nhận được sự quan tâm đặc

biệt của các nhà khoa học cả ở trong nước và

nước ngoài vì các tính năng dược học quan

trọng của nó Đó là các tính năng chữa bệnh

như phì đại tuyến tiền liệt ở nam giới và u xơ

tử cung ở phụ nữ, đặc biệt là khả năng chống

ung thư [8], [9], [12] Trinh nữ hoàng cung

đang trở thành cây thuốc rất có giá trị trong

việc điều trị chứng phì đại lành tính tuyến tiền

liệt Vì vậy, nhu cầu về số lượng và chất

lượng nguyên liệu để sản xuất thuốc đối với

cây thuốc này ngày càng tăng

Ở Việt Nam, để tăng nguồn cung cấp nguyên

liệu cho chế biến thuốc ở qui mô công nghiệp,

đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học

ứng dụng phương pháp nuôi cấy in vitro vào

việc nhân giống Trinh nữ hoàng cung và nhận

được những kết quả khả quan, góp phần giải

quyết nhu cầu nguồn nguyên liệu [1], [3]

Tel: 091 4504250, Email: lanvtdhkhtn@gmail.com

Hiện nay, không chỉ các tác giả ngoài nước

mà đã có nhiều công trình khoa học, các bài báo của các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và xác định tương đối đầy đủ về thành phần hoá học của cây Trinh nữ hoàng cung Việt Nam [4], [6], [7], [10],[11] Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu quy trình nuôi cấy

mô tế bào cây Trinh nữ hoàng cung để thu nhận sinh khối và phân tích các chất có hoạt tính sinh học trong mô chưa được quan tâm Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một số kết quả về ảnh hưởng của sự tổ hợp các chất

điều hòa sinh trưởng và nước dừa đến sinh

khối mô sẹo thu được từ mẫu củ cây Trinh nữ hoàng cung và kết quả ban đầu về định tính ancaloit trong các mẫu mô sẹo thu được bằng phương pháp sắc kí lớp mỏng

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Vật liệu

Cây Trinh nữ hoàng cung Crinum latifolium

L., thuộc họ Thuỷ tiên Amaryllidaceae do Viện Dược liệu cung cấp

Phương pháp

- Phương pháp nuôi cấy sinh khối mô sẹo:

Nguồn nguyên liệu, phương pháp tạo mô và môi trường tạo mô sẹo được công bố theo

Trang 2

Quách Thị Liên và cs, 2005 [5] Mô sẹo được

cắt thành các miếng nhỏ có kích thước

khoảng 0,7 cm x 0,7 cm và trọng lượng

khoảng 0,35 - 0,4g cấy lên các môi trường

nuôi cấy mô sẹo khác nhau với nền môi

trường cơ bản là MS, đường sucrose 30 g/l,

agar 7 g/l và bổ sung thêm các chất điều

hòa sinh trưởng (ĐHST) với các nồng độ

khác nhau

- Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Các môi trường nuôi cấy thu nhận sinh khối

được kí hiệu từ SB1-SN12, chia làm 3 nhóm:

kí hiệu SB1 - SB4: MS bổ sung 2 mg/l NAA

kết hợp với BAP (0,5; 1,0; 1,5; 2,0 mg/l); kí

hiệu SK5 - SK8: MS bổ sung 2 mg/l NAA kết

hợp với kinetin (0,5; 1,0; 1,5; 2,0 mg/l); kí

hiệu SN10 – SN12: MS bổ sung 2mg/l NAA

kết hợp với nước dừa (10; 20; 30; 40%)

Mỗi công thức môi trường tiến hành theo dõi

trên 10 bình tam giác 250 ml Mỗi bình cấy 4

mẫu mô Nuôi cấy trong phòng tối Sau

khoảng thời gian 120 ngày thu sinh khối, cân

trọng tươi của mô (g/bình) Mô sẹo sau khi

thu được sấy khô ở 40 - 50 0C đến trọng

lượng không đổi

- Phương pháp sắc kí lớp mỏng

Định tính alcaloid trong mô sẹo bằng phương

pháp sắc kí lớp mỏng theo Bùi Thị Bằng [2] Khảo sát dịch chiết: Hoà tan mẫu nghiên cứu trong dung môi chiết Dùng mao quản hút mẫu chấm lên bản mỏng tráng sẵn Silicagel DC- Alufoluen 60 F254 (Merck 5554) Để khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng Đưa vào hệ dung môi CHCl3: MeOH (9:1) để sắc kí Hiện kết quả trên bản mỏng bằng thuốc thử Dragendof

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Kết quả nghiên cứu tạo mô sẹo từ củ Trinh nữ hoàng cung của tác tác Quách Thị Liên và cộng

sự cho thấy hai loại auxin nghiên cứu là NAA

và 2.4D đều có tác dụng tốt tới khả năng tạo mô

sẹo và sự sinh trưởng phát triển của mô sẹo [5] Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy sự có mặt của 2,4D trong môi trường kích thích sự nhân nhanh và kéo dài tế bào lại ít kích thích sự sản xuất các chất trao đổi thứ cấp bằng IAA và NAA Mặt khác, 2,4D là chất có khả năng gây ung thư nên được hạn chế dùng hoặc dùng với lượng rất nhỏ

Bảng 1 Ảnh hưởng của tổ hợp các chất ĐHST và nước dừa đến đặc điểm hình thái

và sinh trưởng, phát triển mô sẹo cây TNHC

Môi

trường

NAA

(mg/l)

BAP (mg/l)

Kinetin (mg/l)

Nước

Hầu hết các mô tạo rễ to

xanh nhạt Một số mô tạo nhiều rễ nhỏ

nhạt, rắn chắc Một số mô tạo rễ to

Trang 3

Các thí nghiệm được chúng tôi bố trí trên nền

môi trường cơ bản: MS + 30 g/l sucrose + 7%

agar + 2mg/l NAA và bổ sung kết hợp với các

chất ĐHST là BAP hoặc kinetin hoặc nước

dừa ở các nồng độ khác nhau Kết quả thu

được trình bày ở bảng 1 và 2

Kết quả thu được cho thấy: hầu hết các môi

trường nuôi cấy bổ sung kết hợp 2 mg/l NAA

với BAP hoặc kinetin hoặc nước dừa mô sẹo

đều sinh trưởng và phát triển tốt, khối mô to,

rắn chắc, có màu xanh lục, vàng nhạt hoặc

trắng sáng ngà Quá trình sinh trưởng và phát

triển của mô sẹo có sự liên quan mật thiết với

sự phân hóa và phát sinh hình thái rễ Ở

những môi trường mô sẹo không tạo rễ, khối

mô sẹo thường nhỏ, sinh trưởng chậm và

nhanh già, thâm đen Điều này hoàn toàn phù

hợp vì nuôi cấy mô sẹo thường có xu hướng

biệt hoá cơ quan tạo rễ hoặc chồi

Hình thái mô sẹo cây TNHC được chia làm

ba loại sau:

a) Mô sẹo màu xanh lục, khối mô to, xốp, và

phân hoá nhiều rễ to Loại mô này đặc trưng

cho các môi trường bổ sung kết hợp với BAP

(SB1 và SB2)

b) Mô sẹo có màu vàng nhạt hoặc trắng sáng ngà, khối mô sẹo to, rắn chắc, có nhiều rễ nhỏ Loại mô này đặc trưng cho các môi trường bổ sung kết hợp với kinetin (SK5, SK6)

c) Khối mô sẹo to, dạng hạt, rắn chắc, có màu xanh lục và ít tạo rễ Loại mô này đặc trưng cho các môi trường bổ sung kết hợp với nước dừa (SN9, SN10)

Hình 1 Mô sẹo cây Trinh nữ hoàng cung

(a) Rễ to; b) Rễ nhỏ; c) Không tạo r ễ )

Kết quả thu được ở bảng 2 cho thấy sinh khối

mô sẹo thu được trên cả ba nhóm môi trường

bổ sing tổ hợp các chất ĐHST khác nhau đã

có sự khác biệt nhau rõ rệt Tỉ lệ NAA/ BAP

và NAA/ nước dừa khác nhau có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển mô sẹo,

do vậy sinh khối mô sẹo thu được có sự dao

động lớn từ 4,26 g/bình đến 31,66 g/bình sau

120 ngày nuôi cấy

Bảng 2 Ảnh hưởng của các chất ĐHST và nước dừa đến sinh khối mô sẹo cây TNHC

Môi trường

Trọng lượng tươi của mô (g/ bình)

Trang 4

Đối với các môi trường MS bổ sung kết hợp

2mg/l NAA với BAP (môi trường từ SB1 đến

SB4): Mô sẹo sinh trưởng và phát triển rất tốt

và đồng đều ở giai đoạn đầu, sau đó tốc độ

sinh trưởng của các môI trường mới có sự

chênh lệch nhau Sau 120 ngày nuôi cấy, sinh

khối mô sẹo đạt cao ở môi trường SB1và

SB2, lần lượt đạt 26,57 và 31,66 g/bình tăng

17,1 và 18,96 so với ban đầu Sinh khối mô

sẹo giảm dần ở các môi trường SB3 và SB4

Đối với các môi trường MS bổ sung kết hợp

2mg/l NAA với kinetin (môi trường từ SK5

đến SK8): Mô sẹo sinh trưởng và phát triển

tương đối tốt, tuy nhiên giữa các môi trường

khác nhau trọng lượng mô sẹo thu được có sự

chênh lệch nhau Sau 120 ngày nuôi cấy, sinh

khối mô sẹo đạt cao và tương đương nhau ở

môi trường SK6 và SK7, lần lượt đạt 22,58 và

22,48 g/ bình tăng 16,14 và 15,36 lần so với

ban đầu

Đối với các môi trường MS bổ sung kết hợp

2mg/l NAA với nước dừa (môi trường SN10

–SN12): Mô sẹo đều sinh trưởng tốt ở giai

đoạn đầu, sau đó mới có sự khác biệt giữa các

môi trường Môi trường SN9 và SN10, mô

sinh trưởng và phát triển khá tốt, trọng lượng

mô đạt được sau 120 ngày nuôi cấy lần lượt

là: 23,26g và 24,30g

Định tính alcaloid trong mô nuôi cấy

Sinh khối mô sẹo sau khi thu, được sấy khô

và bảo quản để tiến hành các phân tích định

tính ancaloit

Quy trình chiết alcaloid như trình bày ở phần

phương pháp Sau khi chiết, chúng tôi tiến

hành chạy sắc kí lớp mỏng (SKLM) với hệ

dung môi CHCl3: MeOH (9:1) đối với 12

mẫu sẹo thu được từ các thí nghiệm nuôi cấy

sinh khối

Sắc kí đồ SKLM của các môi trường SB1-

SN12 trên hình 2 cho thấy: hầu hết các mẫu

mô đều có 1 phân đoạn màu da cam đậm

tương đương với Rf của mẫu chuẩn (Rf =

0,6) Điều này chứng tỏ các mẫu mô sẹo nuôi

cấy đều có chứa các hợp chất ancaloit Ngoài

ra, các mẫu mô sẹo còn có nhiều hơn từ 2-3 phân đoạn có Rf khác nhau nhưng do chưa

được tinh sạch nên chưa tách biệt rõ ràng và ở

dạng vết mờ

Hình 2 Sắc ký đồ SKLM, C: mẫu chuẩn; kí hiệu

từ 1-12 là thứ tự các công thức SB1- SN12 Chúng tôi vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để lựa chọn môi trường nuôi cấy đặc hiệu và tìm ra phương pháp tinh sạch nguyên liệu cho phương pháp SKLM đạt kết quả tốt hơn KẾT LUẬN

Môi trường thích hợp cho sự sinh trưởng mô sẹo để thu sinh khối từ củ cây Trinh nữ hoàng cung là:

- Môi trường SB1(MS + 2 mg/l NAA + 0,5 mg/l BAP) và SB2 (MS + 2 mg/l NAA + 1,0 mg/l BAP)

- Môi trường SK6 (MS + 2 mg/l NAA + 1,0 mg/l kinetin) và SK7 (MS + 2mg/l NAA + 1,5 mg/l kinetin);

- Môi trường SN9 (MS + 2mg/l NAA + 10% nước dừa) và SN10 (MS + 2 mg/l NAA + 20% nước dừa)

Phương pháp sắc ký lớp mỏng với hệ dung môi CHCl3 : MeOH (9:1) thích hợp cho việc

định tính alcaloid trong mô cây Trinh nữ

hoàng cung nuôi cấy in vitro Bước đầu đã

định tính phát hiện có alcaloid trong các mẫu

mô thu được

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1].Tạ Như Thục Anh, Phạm Văn Hiển (1998), ” Nghiên cứu nhân nhanh in vitro cây Trinh nữ

hoàng cung (Crinum latifolium L.)”, Tạp chí Dược

liệu, 3 (1), tr.13 – 16

Trang 5

[2] Bùi Thị Bằng (2006), Các phương pháp sắc

ký, Nghiên cứu thuốc từ thảo dược, CI, Phần IV:

Các phương pháp hoá lý ứng dụng trong phát

triển và kiểm nghiệm dược liệu, NXB khoa học và

kỹ thuật, tr.493 – 607

[3] Nguyễn Văn Bằng, Vũ Đoan Trang, Nguyễn

Thị Thu Hằng (1997), ”Bước đầu nghiên cứu cây

Hoàng cung trinh nữ (Crinum Latifolium L) - Một

cây thuốc có khả năng chữa bệnh ung thư”, Tạp

chí Dược học, số 3, tr 7-9

[4] Võ Thị Bạch Huệ, Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ,

Ngô Vân Thu, Delome Frederic Daniel F, Michel

Bechi (1999),”Khảo sát alcaloid chiết từ lá cây

Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium L.,

Amaryllidaceae) bằng kỹ thuật sắc kí ghép với khối

phổ (GC- MS)”, Tạp chí Dược học, Số 4, tr.9-11

[5] Quách Thị Liên, Vũ Thị Lan, Lê Thị Vân

Anh, Nguyễn Đức Thành (2005),”Nuôi cấy mô

sẹo cây Trinh nữ hoàng cung”, Tạp chí Công nghệ

Sinh học, số 3 (3), 353-362

[6] Nguyễn Thị Minh, Trần Bạch Dương, Nguyễn

Tuấn Anh, Phan Tống Sơn (1997), ” Đóng góp

vào việc nghiên cứu các alcaloid của cây Tỏi lơi lá

rộng (Crinum latifolium L.) của Việt Nam, Tạp

chí HH & CNHC, số 3, tr 13 - 16

[7] Mai Đình Trị, Nguyễn Công Hào (2005), Phenylpropanoit và flavonol glycosides được cô lập từ lá tươi Trinh nữ hoàng cung (Crinum

Latifolium L.)”, Tạp chí Hoá học, 43(2), 162-164

[8] Nguyễn Thị Ngọc Trâm, Kamenarska Z,, Bankova V., Popop S., Zvetkova E., Katzarovo E.,

Lê Mai Hương (2001),“ Hoạt tính gây độc tế bào

của các phân đoạn alcaloid từ cây Trinh nữ hoàng

cung (Crinum latifolium L Amaryllidaceae)”, Tạp

chí Dược học, số 11, 21 -23

[10] Trần Văn Sung, Trịnh Phương Liên (1997),

“Một số kết quả ban đầu về nghiên cứu thành phần

hoá học cây Trinh nữ hoàng cung”, Tạp chí Hoá

học, Số 1, 64-65

[11] Elgorashi E.E., Drewes S.E., Johannes Van Staden (1999), “Alcaloids from Crinum

bulbispermum”, Phytochemistry, 52, pp.533-536

[12] Ghosal S., Sain K.S., Razdan S (1985),

“Crinum alcaloids: their chemistry and biology”,

Phytochemistry, 24(10), 2141-2156

[9] Phan Tống Sơn, Trần Bạch Dương, Phan Minh Giang, Nguyễn Thị Minh, Walter C Taylor

(2001), Nghiên cứu các alcaloid từ củ cây náng lá

rộng (Crinum latifolium L., Amaryllidaceae) của

Việt Nam“, Tạp chí Hoá học, Số 3, 83-88

SUMMARY

EFECT OF GROWTH REGULATOR COMBINATION AND COCONUT MILK

ON CALLUS BIOMASS OF (Crinum latifolium L.,)

Vu Thi Lan1∗, Quach Thi Lien2, Nguyen Duc Thanh 2

1 College of Sciences - TNU, 2 Institute of Biotechnology

Nowaday, scientists are interested in the practical aspects of plant tissue culture technology in

order to biosynthesis of variety of natural compounds or bioactive compounds In this paper, the results on callus biomass culture of Crinum latiffolium L are presented Callus formation affer 50

days having certain size and weight was used for callus biomass culture experiments Callus pieces were cultured on MS medium containing 30 g/l sucrose, 7 g/l agar and added 2,0mg/l NAA in combination with BAP, kinetin and coconut milk Affter 120 culture days, the obtained results indicated that the suitable media for callus biomass cultures were SB1and SB2 medium (MS added 2,0 mg/l NAA + 0,5 mg/l or 1,0 mg/l BAP); SK6 and SK7 medium (MS added 2,0 mg/l NAA + 1,0mg/l or 1,5mg/l kinetin); SN9 and SN10 medium (MS added 2,0 mg/l NAA + 10% coconut milk or 20% coconut milk) The method of thin layer chromatography used with solvent system CHCl3: MeOH (9:1) was suitable for qualification of alkaloid and early qualitative results showed that the alkaloid was presented in callus tissue biomass

Key words: Alcaloid, callus biomass, culture, Crinum latifolium L., medium

Tel: 091 4504250, Email: lanvtdhkhtn@gmail.com

Ngày đăng: 30/08/2015, 10:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Ảnh hưởng của tổ hợp các chất ĐHST và nước dừa đến đặc điểm hình thái - Ảnh hưởng của tổ hợp các chất điều hòa sinh trưởng và nước dừa đến sinh khối mô sẹo cây trinh nữ hoàng cung (crinum latifolium l )
Bảng 1. Ảnh hưởng của tổ hợp các chất ĐHST và nước dừa đến đặc điểm hình thái (Trang 2)
Hình 1. Mô sẹo cây Trinh nữ hoàng cung  (a) Rễ to; b) Rễ nhỏ; c) Không tạo rễ)  Kết quả thu được ở bảng 2 cho thấy sinh khối - Ảnh hưởng của tổ hợp các chất điều hòa sinh trưởng và nước dừa đến sinh khối mô sẹo cây trinh nữ hoàng cung (crinum latifolium l )
Hình 1. Mô sẹo cây Trinh nữ hoàng cung (a) Rễ to; b) Rễ nhỏ; c) Không tạo rễ) Kết quả thu được ở bảng 2 cho thấy sinh khối (Trang 3)
Hình  thái  mô  sẹo  cây  TNHC  được  chia  làm - Ảnh hưởng của tổ hợp các chất điều hòa sinh trưởng và nước dừa đến sinh khối mô sẹo cây trinh nữ hoàng cung (crinum latifolium l )
nh thái mô sẹo cây TNHC được chia làm (Trang 3)
Hình 2. Sắc ký đồ SKLM, C: mẫu chuẩn; kí hiệu - Ảnh hưởng của tổ hợp các chất điều hòa sinh trưởng và nước dừa đến sinh khối mô sẹo cây trinh nữ hoàng cung (crinum latifolium l )
Hình 2. Sắc ký đồ SKLM, C: mẫu chuẩn; kí hiệu (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w