NGHIÊN CứU VAI TRò CủA SjVO2 TRONG HồI SứC BệNH NHÂN CTSN NặNG PHẠM XUÂN HIỂN, LƯU QUANG THÙY, CHU MẠNH KHOA TểM TẮT Nghiên cứu 31 bệnh nhân CTSN nặng, với độ tuổi trung bình 37,23 tu
Trang 1Y học thực hành (764) - số 5/2011 53
khỏe chưa được quan tâm hoặc chưa có hiệu quả ở
các môi trường giáo dục các cấp
Kết luận
Các can thiệp giảm sử dụng và lạm dung rượu/bia
nên tập trung vào các nhóm có nguy cơ đáng quan
tâm và có nguy cơ cao như nam giới thuộc nhóm tuổi
trẻ 18-24 tuổi, nhóm tuổi từ 45 trở lên và nam giới
thuộc nhóm ngành như thợ và công nhân
Vì tình hình sử dụng rượu/bia đang phổ biến rộng
rãi ở mọi tầng lớp, cùng với các chính sách nhằm hạn
chế cung cấp rượu/bia, các chương trình truyền thông,
giáo dục hành vi cần được thực hiện tích cực và có
hiệu quả hơn nhằm ngăn chặn sự gia tăng tình trạng
lạm dụng rượu/bia ở Việt Nam
Tài liệu tham khảo
1 World Health Organization: Global Status Report
on Alcohol 2004 2004
2 ủy Ban các vấn đề xã hội -Quốc hội Việt Nam: Kỷ yếu Hội thảo chính sách phòng chống lạm dụng rượu bia
Hà Nội; 2003
3 Kim Bao Giang, Peter Allebeck, Minh HV, Fredrik Spak, Truong Viet Dzung: Alcohol use and alcohol related problems in rural Vietnam: an epidemiological survey using AUDIT Substance Use and Misuse 2008, 43(3):481-495
4 Kim Bao Giang, Fredrik Spak, Truong Viet Dzung, Peter Allebeck: The use of AUDIT to access level of alcohol problem in rural Vietnam Alcohol & Alcoholism
2005, 40(6):578-578
5 Bộ Y tế, Tổng cục thống kê: Điều tra Y tế quốc gia 2001-2002 Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; 2003
6 Viện chiến lược và Chính sách y tế: Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; 2006
NGHIÊN CứU VAI TRò CủA SjVO2 TRONG HồI SứC BệNH NHÂN CTSN NặNG
PHẠM XUÂN HIỂN, LƯU QUANG THÙY, CHU MẠNH KHOA TểM TẮT
Nghiên cứu 31 bệnh nhân CTSN nặng, với độ tuổi trung
bình 37,23 tuổi Chúng tôi nhận thấy SjVO 2 và PaCO 2 có sự
tương quan chặc r = 0,58, phương trình tương quan tuyến
tính y = 0,72x + 48,67 Nghiên cứu cho thấy SjVO 2 khác
nhau có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm I (GOS 1), nhóm II
(GOS 2,3) và nhóm III (GOS 4,5) Nhóm bệnh nhân khi điều
chỉnh SjVO 2 về được giá trị bình thường có chất lượng hồi
phục tốt
Theo dõi SjVO 2 là biện pháp đơn giản, giúp cải thiện
chất lượng điều trị và có thể tiên lượng được khả năng hồi
phục của bệnh nhân CTSN nặng
Từ khóa : •Lưu lượng máu não •Tỷ lệ chuyển hóa oxy
của não •áp lực tưới máu não •Tổn thương não •Thiếu
máu não •Độ bão hòa oxy tĩnh mạch cảnh trong
Summary
Study of 31 patients with severe cranial trauma,
mean age 37.23 We find that, SjVO 2 have relative
with PaCO 2 correctly, r = 0.58, y = 0.72x + 48.67 The
marked SjVO 2 differences between the three groups,
group I (GOS 1), group II (GOS 2.3), group III (GOS
4.5)
Check SjVO 2 is the simple method, help improve on
the quality treatment, may be anticipate the
neurological recovery
Keywords: cerebral blood flow, cerebral metabolic
rate of oxygen, cerebral perfusion pressure, head
injury, ischemia, jugular venous oxygen saturation
MỞ ĐẦU
Đánh giá tình trạng oxy của tĩnh mạch từ não đi ra
đã được nghiên cứu hơn 50 năm, gần đây các nhà hồi
sức tiến hành đặt catheter vào hành cảnh (Jugular
bulb) để nghiên cứu độ bão hòa oxy tại hành cảnh
đánh giá gián tiếp sử dụng oxy của não, từ đó chỉ định
phương thức điều chỉnh thông khí thích hợp, cụ thể tăng hoặc giảm thông khí và giúp tiên lượng bệnh nhân
Sinh lý bệnh SjVO2:
Chỉ số bình thường: Bình thường SjVO2 trong giới hạn 55%- 75%, đối với bệnh nhân CTSN SjVO2 thấp thường kèm theo sự phục hồi tri giác kém (0) Ngay cả bệnh nhân phẫu thuật tim mạch nếu SjVO2 thấp dưới 50% cũng gia tăng các biến chứng thần kinh (0) SjVO2 giảm: Biểu hiện sự tăng sử dụng oxy hoặc giảm cung cấp oxy não
SjVO2 tăng: Tăng cung cấp oxy hoặc không có sự
sử dụng oxy của não (Chết não)
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân CTSN nặng (G ≤ 8đ), tuổi ≥ 16, không có đa chấn thương kèm theo, không có tình trạng shock và Hct ≥ 27% Bệnh nhân sau khi vào phòng hồi sức tích cực được cho an thần, thở máy (điều kiện không được chống máy) Tiến hành đặt catheter vào hành cảnh
Xét nghiệm khí máu động mạch ở hành cảnh, điều chỉnh máy thở tăng hoặc giảm thông khí bằng cách tăng hoặc giảm Vt 20% Xét nghiệm lại khí máu tương
tự trên sau khi điều chỉnh thông khí 30 phút Đánh giá
sự phục hồi tri giác dựa vào thang điểm GOS (Glasgow Outcome Scale)
KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
Nghiên cứu trên 31 bệnh nhân với độ tuổi trung bình 37,23 tuổi, tỷ lệ hồi phục tri giác sau chấn thương
được đánh giá theo thang điểm GOS: GOS 1 19,7%, GOS 2,3 41,9%, GOS 4,5 38,7%
Khi thay đổi PaCO2 chúng tôi thấy SjVO2 cũng có
sự thay đổi tương ứng
Trang 2Y học thực hành (764) - số 5/2011 54
Giá trị trung
bình
SjVO2 (%)
(X ± SD) 52,5 ± 3,5
66,43 ± 5,07
80,45 ± 4,98 < 0,01 PaCO2 (mmHg)
(X ± SD)
24,45 ±
4,03
29,06 ± 2,16 35,5 ± 6,5 < 0,05 Tương quang giữa SjVO2 và PaCO2 theo nghiên
cứu của chúng tôi là tương quang chặc r = 0,58
phương trình y = 0,72x + 48,67
Đánh giá sự liên quan giữa SjVO2 với sự phục hồi tri
giác chúng tôi nhận thấy SjVO2 quá cao ≥ 75% hoặc
quá thấp ≤ 55% đều có ảnh hưởng đến sự phục hồi tri
giác của bệnh nhân Sự khác nhau về sự phục hồi tri
giác giữa các nhóm SjVO2 có ý nghĩa thống kê
Tri giác
SjVO2
p
≤ 55% 55%- 75% ≥ 75%
III (GOS
GOS 4,5 có 11 bệnh nhân đều có trị số SjVO2 trong
giới hạn bình thường, ngược lại GOS 1 có 6 bệnh nhân
SjVO2 đều nằm ngoài giới hạn cho phép
Khi tăng hoặc giảm thông khí nhằm điều chỉnh
SjVO2 trở về giới hạn bình thường nhận thấy PaCO2 có
sự thay đổi tương ứng
Thông
Khí
Tăng thông khí (n = 26) Giảm thông khí (n = 18)
Trước
(X±SD
)
Sau (X±SD )
(X±SD )
Sau (X±SD )
p
SjVO2(%) 74,95±
10,15
69,99±
8,13
<0,0
1
64,29±
6,29
72,29±
6,96
<0,0
1 PaCO2(%
)
34,04±
5,57
27,45±
3,9
<0,0
1
22,29±
5,46
29,24±
6,74
<0,0
1 Liên quan giữa đáp ứng SjVO2 khi thay đổi thông
khí với sự phục hồi tri giác
Tri giác
SjVO2 trở về bình thường
p
Có (n,%) Không (n,%)
1 (GOS 1) 4 (33,3%) 0 (0%) 4 (44,4%) < 0,05
II (GOS 2,3) 7 (58,4%) 2 (66,7%) 5 (55,6%)
III (GOS 4,5) 1 (8,3%) 1 (33,3%) 0 (0%)
Khi có sự thay đổi thông khí tăng hoặc giảm, nhóm
GOS I có 4 bệnh nhân không có bệnh nhân nào có
SjVO2 thay đổi theo, trong khi đó có 3 bệnh nhân có sự
đáp ứng thay đổi SjVO2 thì không có bệnh nhân nào
nằm trong nhóm GOS I
BÀN LUẬN
Thủ thuật đặt catheter vào hành cảnh là một thủ
thuật đơn giản, tỷ lệ thành công cao, dễ thực hiện ở
các tuyến cơ sở và rất có giá trị thực tiển
não, ưu thán (PaCO2 tăng) làm giãn mạch máu não,
tác dụng ngược lại làm giảm lưu lượng máu não (0)
Khi PaCO2 tăng từ 20-80 mmHg thì lưu lượng máu
não tăng tương ứng 2%- 4% cho mỗi mmHg PaCO2,
tác dụng của CO2 lên mạch máu não thông qua sự trao đổi ion H+
ở dịch não tủy và dịch ngoại bào nhờ
sự khuếch tán tự do của nó qua hàng rào máu não,
do vậy hiệu ứng này xảy ra rất nhanh khoảng 2 phút sau khi có sự thay đổi PaCO2 và đạt tối đa sau 30
não, tăng thể tích trong hộp sọ, tăng áp lực nội sọ
Đây là cơ sở của liệu pháp tăng thông khí (Hyperventilation) trong hồi sức chấn thương sọ não Tuy nhiên nếu tăng thông khí quá mức sẽ dẫn đến co mạch não gây thiếu máu não, trên lâm sàng có hai tình huống bất lợi xãy ra là cung vượt quá cầu hoặc nhu cầu tiêu thụ oxy não vượt quá sự cung cấp, vì vậy nếu hàm lượng oxy máu động mạch bình thường thì việc theo dõi độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch tại hành cảnh (SjVO2) cho phép sơ bộ đánh giá tình trạng sử dụng oxy của não, đây là cơ sở lý luận của phương pháp theo dõi SjVO2 Vì giữa SjVO2 và PaCO2 có mối liên quan tuyến tính y = 0,72x + 48,67 với hệ số tương quan r = 0,58 do vậy để tránh tăng thông khí quá mức
có thể đưa đến tình trạng thiếu máu não ta có thể dựa
của chúng tôi để duy trì SjVO2 trong giới hạn bình
Đánh giá sự liên quan giữa SjVO2 và sự phục hồi tri giác: Theo tác giả Hayden White, Andrew Baker cùng nhiều tác giả khác đều xác nhận giá trị bình thường
ra ngoài giới hạn cho phép đều chứng tỏ có sự mất cân bằng giữa cung và cầu oxy cho tế bào não và như vậy
đều ảnh hưởng đến sự phục hồi tri giác Nghiên cứu trên 31 bệnh nhân, đánh giá sự phục hồi tri giác theo
vong, 55% ≤ SjVO2 ≤ 75% không có bệnh nhân tử vong, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Theo sơ đồ biểu diễn hình 2, trên lâm sàng thường gặp nhất khi SjVO2 ≤ 75% là bệnh nhân chết não, khả năng sử dụng oxy của não quá kém, SjVO2 ≤ 55% thường do tăng thông khí quá mức, tụt huyết áp hoặc áp lực nội
sọ tăng quá cao, tất cả những trường hợp trên đều tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao
Vì SjVO2 và PaCO2 có sự tương quan tuyến tính
và SjVO2 liên quan đến sự phục hồi tri giác nên chúng tôi điều chỉnh SjVO2 trở về trong giới hạn cho phép, thực tế chứng minh sự tăng hoặc giảm thông khí của chúng tôi có hiệu quả và cũng có tác dụng rõ rệt lên
sự thay đổi SjVO2 cũng như tri giác Trong 4 bệnh nhân SjVO2 không trở về bình thường thì tất cả đều nằm trong nhóm tử vong (GOS 1), trái lại có 3 bệnh nhân SjVO2 trở về bình thường thì không nằm trong nhóm GOS 1 (p < 0,05) Điều này chứng tỏ việc điều chỉnh thông khí và theo dõi SjVO2 ngoài vấn đề điều trị còn có tác dụng tiên lượng bệnh nhân, khi điều chỉnh thông khí mà bệnh nhân còn đáp ứng thường tiên lượng tốt hơn bệnh nhân không có sự đáp ứng với tăng hoặc giảm thông khí
KẾT LUẬN
Trang 3Y học thực hành (764) - số 5/2011 55
Đặt catheter vào hành cảnh là thủ thuật đơn giản
dễ tiến hành ở các tuyến cơ sở, theo dõi SjVO2 có giá
trị thực tiển cao
Tăng thông khí trong hồi sức bệnh nhân chấn
thương sọ não là việc làm cần thiết nhằm làm giảm áp
lực trong sọ, tuy nhiên tăng bao nhiêu là vừa đủ, tăng
thông khí quá mức cũng gây tổn thương thứ phát nguy
cơ tử vong cao như tổn thương tiên phát Do vậy vấn
đề đặt ra không chỉ tăng thông khí mà ngược lại một số
trường hợp cần thiết phải giảm thông khí Theo dõi
SjVO2 giúp ta giải quyết vấn đề trên, ngoài ra còn giúp
tiên lượng bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bardt TF, Unterberg AW, Kiening KL, Schneider
GH, Lanksch WR (1998), “Multimodal cerebral
monitoring in comatose head-injured patients”, Acta
Neurochir (Wien), vol.140, pp.357–65
2 Chen CS, Leu BK, Liu K (1996), “Detection of
cerebral desaturation during cardiopulmonary bypass by cerebral oximetry”, Acta Anaesthesiol Sin, vol.34, pp.173–
8
3 Christian Werner (2004), “Cerebral monitoring and
Anaesthesiologists, pp.60
4 Cormio M, Valadka AB, Robertson CS (1999),
“Elevated jugular venous oxygen saturation after severe
head injury”, J Neurosurg, vol.90, pp 9–15
5 Goetting MG, Preston G (1991), “Jugular bulb
catheterization does not increase intracranial pressure”,
Intensive Care Med, vol.17, pp.1–8
6 Gopinath SP, Robertson CS, Contant CF, et al
(1994), “Jugular venous desaturation and outcome after
head injury”, J Neurol Neurosurg Psychiatry, vol.57,
pp.717–23
Tình trạng sâu răng vĩnh viễn của học sinh 7-11 tuổi tại trường tiểu học Đông ngạc A - Từ liêm - Hà Nội
Vũ Mạnh Tuấn, Nguyễn Quốc Trung
Đặt vấn đề
Chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho
học sinh tiểu học của xã Đông Ngạc - Từ liêm - Hà Nội,
đã được sự quan tâm của sở Y tế và Trung tâm Y tế
huyện Từ Liêm Công tác nha học đường đã và đang
được thực hiện có hiệu quả, Bộ môn Nha cộng đồng -
Viện Đào tạo răng hàm mặt thường xuyên có những
hoạt động khám chăm sóc sức khoẻ Răng miệng cho
học sinh tiểu học, trong đó có học sinh trường tiểu học
Đông Ngạc A Để có cơ sở khoa học cho những hoạt
động chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh
được tốt hơn,chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Tình trạng sâu răng vĩnh viễn của học sinh 7-11 tuổi
tại trường tiểu học Đông ngạc A -Từ liêm - Hà Nội”.Với
mục tiêu nghiên cứu:
Xác định tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của học sinh 7-11
tuổi đang theo học tai trường Tiểu học Đông Ngạc A
trong năm học 2009- 2010
Đánh giá tình trạng sâu răng vĩnh viễn bằng chỉ số
sâu mất trám DMFT
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lứa tuổi 7-11 đang học tại Trường Tiểu
học Đông Ngạc A, Từ Liêm - Hà Nội (2009-2010)
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 đến tháng
10-2010
- Địa điểm nghiên cứu: Trường Tiểu học Đông Ngạc
A, Từ Liêm - Hà Nội (2009-2010)
3 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp
nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Tổng số học sinh khám là 616 học sinh, học sinh
được khám theo phương pháp trực quan thông thường
Đánh giá tình hình sâu răng bằng chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn (DMFT) [4.5.6]
4 Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập và phân tích
bằng phương pháp thống kê y học, sử dụng phần mềm SPSS 13.0 và một số thuật toán thống kê khác
5 Đạo đức nghiên cứu: Đối Tượng nghiên cứu
được giải thích và tự nguyện tham gia khám để phát hiện các tổn thương sâu răng vĩnh viễn
Kết quả nghiên cứu và Bàn luận
Bảng 1 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo giới tính Tình trạng răng
Giới
Sâu răng Không sâu răng
p
Nam (n=328) 174 49,4 154 58,3
<0,05 Nữ (n=288) 178 50,6 110 41,7
Tổng số (n=616) 352 57,1 264 42,9 Nhận xét:
Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chiếm 57,1% Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở nam chiếm 49,4% thấp hơn ở nữ chiếm 50,6% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).Chúng tôi có nhận xét yếu tố giáo dục nha khoa phần nào có tác dụng ở học sinh nữ hơn vì đã có nhiều công trình nghiên cứu của Bộ môn Nha cộng
đồng đã cho thấy hiệu quả về giáo dục nha khoa trong
thực hành vệ sinh răng miệng của nhóm học sinh trên
Bảng 2 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo tuổi Tình trạng răng
Tuổi
Sâu răng Không sâu răng
p
7 (n=64) 22 34,4 42 65,6
<0,05
8 (n=199) 101 50,8 98 49,2
9 (n=176) 116 65,9 60 34,1