1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo

89 679 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, nghiên cứu gây trồng các loài cây thuốc có giá trị kinh tế cao đang là hướng đi mới, không những góp phần tăng thêm thu nhập, mà còn góp phần vào công tác phòng và bảo vệ sức k

Trang 1

1

Phần thứ nhất THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

1 Lời nói đầu

Trong những năm qua, kinh nghiệm và tri thức sử dụng cây thuốc Nam để chữa bệnh của người dân vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khoẻ không chỉ cho người dân trong vùng mà cả những tỉnh, thành, vùng khác trong khu vực phía Bắc Đặc biệt là đối với những người nghèo

Kinh nghiệm và tri thức sử dụng cây thuốc của người dân vùng đệm VQG Tam Đảo là rất phong phú và đa dạng, bởi ở đó là một cộng đồng 7 dân tộc khác nhau, với các tri thức sử dụng khác nhau Tuy nhiên, việc thu hái cây thuốc trong nhiều năm với khối lượng lớn không chỉ phục vụ cho các hoạt động phòng và chữa bệnh tại cộng đồng

mà còn buôn bán tại các thị trường cây thuốc lớn trong nước (Ninh Hiệp, Nghĩa Trai), thậm chí cả xuất khẩu sang Trung Quốc qua đường tiểu ngạch, đã dẫn đến tình trạng khan hiếm và có nguy cơ biến mất của một số loài cây thuốc tại vùng núi Tam Đảo

Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện chủ trương của vùng đệm về chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá đa canh và bền vững Nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi các tiến bộ kỹ thuật mới được đưa vào sản xuất nông nghiệp, được người dân trong huyện ủng hộ và đón nhận Trong đó, nghiên cứu gây trồng các loài cây thuốc có giá trị kinh tế cao đang là hướng đi mới, không những góp phần tăng thêm thu nhập, mà còn góp phần vào công tác phòng và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân vùng đệm, đồng thời bảo tồn được các tri thức bản địa vật thể và phi vật thể quý giá của các dân tộc thiểu số về sử dụng các loài cây thuốc Nam

2 Tên đề tài:

Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại Vườn quốc gia Tam Đảo

3 Chủ nhiệm đề tài:

Th.S Đỗ Văn Tuân – Cán bộ Vườn quốc gia Tam Đảo

4 Cơ quan thực hiện đề tài:

Vườn quốc gia Tam Đảo – Tổng cục Lâm nghiệp

5 Cấp quản lý đề tài:

Cấp cơ sở

6 Cơ quan phối hợp:

7 Thời gian thực hiện đề tài:

Trang 2

2

04 năm, Từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2012

8 Kinh phí thực hiện:

Tổng số kinh phí: 400,0 triệu đồng Trong đó:

- Ngân sách sự nghiệp khoa học: 400,0 triều đồng

- Nguồn khác : 0 triệu đồng

9 Lý do nghiên cứu:

Trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở VQG Tam Đảo, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Trong số đó, trên 80% tổng số loài cây thuốc là mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng Rừng cũng là nơi tập trung hầu hết các cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua, cùng với các nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở VQG Tam Đảo đã bị giảm sút

nghiêm trọng Như Ba Kích (Morinda officinalis How); Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia Craib), đã phải đưa vào Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ

cây thuốc Việt Nam nhằm khuyến cáo bảo vệ Vì vậy, bảo vệ tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng đã trở thành yêu cầu cấp bách, nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội hiện tại và tương lai Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi đề xuất tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững

một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại Vườn quốc gia Tam Đảo”

10 Tổng quan tình hình nghiên cứu

10.1.Khái quát tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới

10.1.1 Tình hình điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc

a Tình hình điều tra, thống kê nguồn tài nguyên cây thuốc

Trong tất cả các nền văn hóa của nhân loại từ thời thượng cổ đến nay, con người vẫn luôn coi trọng cây cỏ như là một nguồn thuốc chủ yếu để chữa bệnh và bảo

vệ sức khỏe

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đến năm 1985, trên thế giới

đã có khoảng 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và bậc thấp trong số các loài đã biết được sử dụng trực tiếp làm thuốc, hoặc là nguyên liệu để cung cấp các hoạt chất tự nhiên dùng làm thuốc Hiện nay số loài cây thuốc được sử dụng trên thế giới ước tính

từ 30.000 đến 70.000 loài Trong đó, ở vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc Ở Ấn Độ 6.000 loài, ở Trung Quốc là 5.136 loài

Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nước

Trang 3

dụng cây cỏ để trị bệnh Trong tập “Thần nông bản thảo” chỉ rõ khoảng 5000 năm

trước đây người Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và

chữa bệnh Vào đời nhà Hán (năm 168 trước CN) trong cuốn sách “Thủ Hậu cấp phương”, tác giả thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân thống kê 1.200 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”

Các tài liệu cổ xưa về sử dụng cây thuốc cũng được người Ai Cập cổ đại ghi chép cách đây khoảng 3600 năm trước với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc Nguời

Ấn Độ cổ đại cách đây 2000 năm để lại tài liệu về công dụng của cây cỏ làm thuốc của người Hindu

Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của Châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm

ẩn rất nhiều giá trị Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã

được kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia”, v.v

b Nghiên cứu, đánh giá về giá trị của nguồn tài nguyên cây thuốc

Ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số tỏ ra tín nhiệm với việc chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền, mà trong đó cây cỏ là nguồn thuốc chủ yếu đã được sử dụng Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số các loài cây thuốc đã biết hiện nay có đến 80% số loài (khoảng 4.200 loài) là được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc

Bên cạnh các phương thức dùng cây thuốc theo cách cổ truyền như sắc, thuốc cao, thuốc ngâm rượu, thuốc bột, thuốc chườm – bó và xoa bóp,… từ nhiều năm nay, người ta còn chế tạo ra hàng trăm loại thuốc hiện đại, có hiệu lực chữa bệnh cao, mà nguồn gốc là các hợp chất tự nhiên được chiết xuất từ cây cỏ Phương pháp nghiên cứu sàng lọc hóa học và dược lý để tạo thuốc mới ngày càng được quan tâm nhiền hơn không chỉ ở các quốc gia phát triển, mà còn ở các quốc gia đang phát triển Hiện chưa có con số thống kê nào về tổng khối lượng nguyên liệu các loài thực vật mỗi năm, được dùng và mục đích làm thuốc là bao nhiêu Chỉ đoán rằng, đó sẽ là một khối lượng rất lớn Ở Trung Quốc, số dược liệu (từ thực vật) sử dụng trong y học cổ truyền hàng năm

Trang 4

4

từ 0,7 – 1,0 triệu tấn, Nhu cầu thuốc từ cây cỏ ở Trung Quốc vào khoảng 1.600.000 tấn/năm, với tỷ lệ tăng trưởng hằng năm khoảng 9% Tỷ lệ này ở châu Âu và Bắc Mỹ khoảng 10% mỗi năm, v.v

Chúng ta vẫn coi Hoa hồng (Rosa spp.) là loài hoa biểu tượng cho sắc đẹp và

tình yêu, quê hương của chúng ở đất nước Bulgary lại coi đây là một loại cây thuốc Người Bulgary dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho thấy trong cánh Hoa hồng có chứa một lượng tamin, glycosyd, tinh dầu Lượng tinh dầu này ngoài việc dùng làm hương liệu còn có khả năng chữa nhiều bệnh

Người Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare (Retz.) Merr.) sao vàng, sắc đặc chữa kiết lỵ, tiêu chảy Bồ cu vẽ ( Breynia fruticosa (L.) Hook.f.) vốn là

loài mọc hoang dại phổ biến tại nhiều nơi, ít ai biết rằng nó có nhiều công dụng chữa bệnh Người Phillpipine dùng vỏ cây này sắc uống cầm máu rất có hiệu quả, tán bột rắc lên mụn nhọt, lở loét v.v

Người dân Malaysia lấy cây Húng chanh (Coleus amboinicus Lour.) sắc lấy

nước cho sản phụ uống; trị các chứng ho gà, đau cổ họng, sổ mũi ở trẻ em,…

Mặt khác, theo số liệu của Trung tâm Thương mại Quốc tế cho biết, nhu cầu sử dụng cây thuốc ở các nước công nghiệp phát triển không ngừng tăng lên, năm 1976 đã

nhập khẩu 335 triệu USD, đến năm 1980 đã tăng lên 551 triệu USD (O Akerele, 1991) Chỉ tính riêng 12 loại dược liệu có nhu cầu sử dụng cao ở Mỹ là: Bạch quả,

Sâm Triều tiên, Tỏi, Kawa,… năm 1998 đã đạt doanh số bán lẻ là 552 triệu USD, v.v…

Mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ hơn thuốc có nguồn gốc từ hoá học và công nghệ sinh học, cây cỏ làm thuốc vẫn được buôn bán khắp nơi trên thế giới Trên quy mô toàn cầu, doanh số mua bán cây thuốc ước tính khoảng 16 tỉ Euro mỗi năm Đã có 119 chất tinh khiết được chiết tách từ khoảng 90 loài thực vật bậc cao được sử dụng làm thuốc trên toàn thế giới, trong đó có tới 74% chất có mối quan hệ với kinh nghiệm sử dụng của các cộng đồng, ví dụ như: theophyllin từ cây Chè, reserpin từ cây Ba gạc, rotundin

từ cây Bình vôi, Riêng Trung Quốc, trong giai đoạn từ 1979-1990 đã có 42 chế phẩm thuốc mới từ cây thuốc được đưa ra thị trường, trong đó có 11 chế phẩm chữa các bệnh tim mạch, 5 chế phẩm chữa ung thư và 6 chế phẩm chữa các bệnh đường tiêu hoá Dự đoán, nếu phát triển tối đa các thuốc thảo mộc từ các nước nhiệt đới, có thể làm ra

khoảng 900 tỉ USD mỗi năm cho nền kinh tế của các nước thế giới thứ ba

Trang 5

5

Tại Trung Quốc, có khoảng 1.000 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng, chiếm 80% thuốc bán trên thị trường trong nước, với tổng giá trị (1992) là 11 tỉ Nhân dân tệ

Hồng Kông là nơi có thị trường thuốc thảo mộc lớn nhất của thế giới, hàng năm nhập một lượng dược liệu trị giá 190 triệu USD, trong đó có 70% được sử dụng tại chỗ

và 30% được tái xuất, trong khi đó chỉ có 80 triệu USD thuốc tây được nhập trong cùng thời gian Trung bình tiền sử dụng thuốc cây cỏ của người dân Hồng Kông là 25 USD/năm

Việc phát hiện ra hoá chất chữa trị bệnh ung thư hiệu nghiệm trong cây Thông

đỏ vùng Thái Bình Dương, một loài cây bản địa của các rừng cổ Bắc Mỹ đã mang lại lợi nhuận kinh tế cao Trong vòng hai mươi năm qua ngành công nghiệp chế biến Thông đỏ thành thuốc chữa ung thư đã mang lại lợi nhuận là 500 triệu USD/năm, những thuốc này đang được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu và Châu Á Hãng dược phẩm danh tiếng Biotech của Bỉ mỗi năm điều tra nghiên cứu sàng lọc 1.500 đến 2.000 loài cây thuốc từ các quốc gia trên thế giới

Tại Nhật Bản, 42,7% người dân sử dụng thuốc cổ truyền để chữa bệnh với tổng chi tiêu khoảng 150 triệu USD (1983) Tại Ấn Độ, có 400 loài trong số 7.500 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng với lượng lớn ở các xưởng sản xuất thuốc nhỏ Doanh số bán thuốc thảo mộc ở các nước Tây Âu năm 1989 là 2,2 tỉ USD so với tổng doanh số buôn bán dược phẩm là 65 tỉ USD…v.v

c Nghiên cứu, đánh giá về tiềm năng của nguồn tài nguyên cây thuốc

Các vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm lưu vực sông Amazon của châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ - Malaixia, Tây Phi chứa đựng kho tàng cây cỏ khổng lồ cũng như giàu có về tri thức sử dụng, có tiềm năng lớn trong nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới từ cây cỏ

Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người Hán (Trung y), các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền (Traditional Ethno-medicine) sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc Trong đó, có 5 nền y học chính là y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài)

Theo một hướng khác, nghiên cứu cây thuốc trên thế giới được tập trung theo các mục đích ứng dụng cụ thể Nhiều công trình theo hướng này đã được công bố trong những năm gần đây: Các cây chữa bệnh ung thư, Các cây thuốc chữa bệnh tiểu

Trang 6

6

đường, v.v Tài nguyên thực vật là đối tượng quan trọng để sàng lọc tìm các thuốc mới Viện Ung thư Quốc gia Mỹ đã đầu tư nhiều tiền bạc để sàng lọc đến 35.000 trong

số trên 250.000 loài cây cỏ trên khắp thế giới để tìm thuốc chữa ung thư Theo nguồn

dữ liệu NAPRALERT, đến năm 1985 đã có khoảng 3.500 cấu trúc hoá học mới có nguồn gốc từ thiên nhiên được phát hiện, trong đó 2.618 từ thực vật bậc cao, 512 từ thực vật bậc thấp và 372 từ các nguồn khác Rõ ràng là nguồn tài nguyên thực vật và tri thức sử dụng chúng để làm thuốc còn là một kho tàng khổng lồ, trong đó phần đã khám phá còn quá ít ỏi

Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoá học của dược liệu được quan tâm trên quy mô rộng lớn Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên

Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: Sulfua, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch.); tamin (Zizyphusjụuba Miller) Mỗi loài

cây với từng công năng tác dụng, ở mỗi địa phương lại được sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc

Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng chế phẩm có dược tính mạnh có nguồn gốc

từ thực vật Ở Madagsaca người ta dùng cây Hồng hoa (Catharanthus roseus) để chữa

bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỉ lệ sống của trẻ từ 10 lên đến 90%

Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là các hợp chất tự nhiên

có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất được tiến hành và đã thu được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao Do vậy, đây là các nghiên cứu được triển khai ở các nước phát triển và một số các nước đang phát triển Các cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất ancanoit, flavonoit, cumarin hiện đang được quan tâm nhiều,v.v

10.1.2 Khái quát nghiên cứu, xác định các mối đe dọa đối với nguồn tài nguyên

cây thuốc trên thế giới

Suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc là một thách thức lớn đối với sự phát triển của xã hội trong tương lai Để bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc trên trái đất, các nhà nghiên cứu thống nhất rằng việc xác định chính xác các nguyên nhân hay các mối đe dọa gây ra hiện trạng trên là yêu cầu thực tế Bởi lẽ chỉ

Trang 7

a Mất rừng và thay đổi nơi sống của thực vật

Hầu hết các loài cây thuốc trên thế giới phân bố và sinh trưởng tốt trong các kiểu rừng Một số loài chỉ tồn tại và sinh trưởng bình thường trong một kiểu rừng nhất định Vì vậy, mất rừng chính là mất điều kiện tồn tại của hầu hết các loài thực vật, trong đó có các loài làm thuốc

Theo tài liệu mới công bố của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF, 1998), trong thời gian 30 năm (1960 – 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần 13%, tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km2

xuống 32 triệu km2, với tốc độ giảm trung bình 160.000 km2/năm Sự mất rừng lớn nhất xảy ra ở các vùng nhiệt đới,

ở Amazone (Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19.000 km2 trong suốt hơn

20 năm qua Bốn loại rừng bị hủy diệt lớn là rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70% Châu Á là nơi mất rừng nguyên sinh lớn nhất, khoảng 70%

Nói đến đa dạng sinh học phải kể đến các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới Vai trò của các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới rất quan trọng, chúng chỉ chiếm 5% diện tích bề mặt trái đất, nhưng ước tính chúng chứa được hơn 50% tổng số loài Diện tích ban đầu của rừng mưa nhiệt đới và các loại rừng ẩm nhiệt đới khác chiếm khoảng 16 triêụ km2

(Primack, 1999) Năm 1982 dựa theo ảnh và số liệu viễn thám chỉ còn lại 9,5 triệu km2, và 3 năm sau bị mất thêm 1 triệu km2

rừng nữa Hiện nay trung bình hàng năm mất 80.000 km2 rừng và 100.000 km2 rừng bị suy thoái làm cho cấu trúc hệ sinh

thái rừng hoàn toàn bị thay đổi

Số liệu của Viện nghiên cứu kinh tế Ifo ở Munich, Đức công bố ngày 19/1/2006 cho biết từ năm 1990 đến 2005, diện tích rừng trên trái đất đã giảm 3%, tức trung bình mỗi ngày mất 20.000 héc ta rừng Đây là hiện tượng đáng báo động ở nhiều quốc gia Đặc biệt là ở Brazil và Sudan, rừng bị phá vô tội vạ để trồng cây Cọ dừa và Đậu tương

và các loại cây sản xuất nhiên liệu sinh học, 47% diện tích rừng thế giới hàng năm bị thu hẹp trước hết là ở hai nước này

Trang 8

8

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến làm mất rừng trên thế giới, tập trung chủ yếu vào các nhóm nguyên nhân sau đây:

- Mở rộng diện tích đất nông nghiệp: Để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực,

trong đó sản xuất nhỏ du canh là nguyên nhân quan trọng nhất Rowe (1992) cho rằng, có đến 60% rừng nhiệt đới bị chặt phá hàng năm là do nguyên nhân này Hiện nay mở rộng diện tích nông nghiệp ở Châu Á và Châu Phi đang xảy ra với tốc độ mạnh hơn so với Châu Mỹ La Tinh; sở dĩ có tình trạng ngày càng giảm diện tích rừng mưa nhiệt đới là do việc mở rộng diện tích đất canh tác, một số chuyển hoàn toàn thành đất nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, các trang trại trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và số khác là do khai thác gỗ, củi Trong thế kỷ qua, diện tích đất canh tác trên toàn thế giới tăng 74%, diện tích đất đồng cỏ tăng 113% Cũng trong thời gian đó, rừng và các thảm thực vật cây gỗ khác giảm 21%,…

- Khai thác gỗ và các sản phẩm rừng: Việc đẩy mạnh khai thác gỗ cũng như các tài

nguyên rừng khác cho phát triển kinh tế và xuất khẩu cũng là nguyên nhân dẫn đến làm tăng tốc độ phá rừng ở nhiều nước Hiện nay việc buôn bán gỗ xảy ra mạnh mẽ

ở vùng Đông Nam Á, chiếm đến gần 50% lượng gỗ buôn bán trên thế giới Ví dụ,

ở Malaisia rừng nguyên sinh che phủ gần như toàn bộ đất nước vào năm 1990, đến năm 1960 đã có trên 1/2 diện tích rừng bị khai thác gỗ cho xuất khẩu Còn ở Philippine, đến năm 1980 rừng đã bị phá hủy khoảng 2/3 diện tích, trong đó khai thác gỗ cho xuất khẩu chiếm một phần lớn,…

- Nhu cầu lấy củi: Chặt phá rừng cho nhu cầu lấy củi đốt cũng là nguyên nhân quan

trọng làm cạn kiệt tài nguyên rừng ở nhiều vùng Lượng gỗ sử dụng làm chất đốt trên thế giới đã tăng từ 600 triệu m3

vào năm 1963 lên 1.300 triệu m3 vào năm

1983 Hiện nay vẫn còn khoảng 1,5 tỷ người chủ yếu dựa vào nguồn gỗ củi cho nấu ăn Riêng ở Châu Phi đã có 180 triệu người thiếu củi đun,… Khai thác gỗ củi thực tế không làm biến mất các cánh rừng, nhưng làm cho rừng nghèo kiệt và thay đổi điều kiện tự nhiên của sinh cảnh ảnh hưởng trực tiếp tới tồn tại của các loài thực vật

- Phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản: Nhiều diện tích rừng trên thế

giới đã bị chặt phá lấy đất trồng cây công nghiệp và các cây đặc sản phục vụ cho kinh doanh Mục đích là để thu được lợi nhuận cao mà không quan tâm đến lĩnh vực môi trường Ở Thái Lan, một diện tích lớn rừng đã bị chặt phá để trồng sắn xuất khẩu, hoặc trồng côca để sản xuất sôcôla Ở Pêru, nhân dân phá rừng để trồng coca, diện tích trồng côca ước tính chiếm 1/10 diện tích rừng của Pêru Các cây công nghiệp như cao su, cọ dầu cũng đã thay thế nhiều vùng rừng nguyên sinh ở

Trang 9

9

các vùng đồi thấp của Malaisia và nhiều nước khác,… Đặc biệt là ở Brazil và Sudan, rừng bị phá vô tội vạ để trồng cây Cọ dầu, Đậu tương và các loại cây sản xuất nhiên liệu sinh học, 47% diện tích rừng thế giới hàng năm bị thu hẹp trước hết

là ở hai nước này

- Chăn thả gia súc: Sự chăn thả trâu bò và các gia súc khác đòi hỏi phải mở rộng

các đồng cỏ cũng là nguyên nhân làm giảm diện tích rừng Ở Châu Mỹ La Tinh, có khoảng 35% rừng bị chặt phá do những người sản xuất nông nghiệp nhỏ Phần còn lại do chăn thả súc vật Riêng ở Nam Mỹ việc mở rộng diện tích đồng cỏ với tốc độ 20 nghìn km2/năm trong giai đoạn 1950 – 1980 Còn ở Braxin, khoảng 3/4 diện tích rừng bị phá hủy ở vùng Amazone đến 1980 có liên quan trực tiếp đến việc nuôi bò,…

- Cháy rừng: Cháy rừng là nguyên nhân khá phổ biến ở các nước trên thế giới và

có khả năng làm mất rừng một cách nhanh chóng Ví dụ, năm 1977 đã xảy

ra cháy rừng ở nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ Chỉ tính riêng ở Indonesia trong một đợt cháy rừng (năm 1977) đã thiêu hủy gần 1 triệu ha rừng Còn ở Mỹ, trong năm 2000 đã có 2,16 triệu ha rừng bị cháy,…

b Khai thác quá mức vì mục đích thương mại

Tư liệu từ Tổ chức về Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này có thông tin, hiện có tới

30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (World conservation monitoring centre – IUCN, 1992 và 1993) Trong tổng số 30.000 loài

này, đương nhiên có rất nhiều loài được dùng làm thuốc

Ở Bangladesh có một số cây thuốc quý như Tylophora indica (dùng làm thuốc chữa hen), Zannica indica (thuốc tẩy xổ),… trước kia dễ tìm kiếm, nay đã trở nên hiếm hoi (A.S Islam, 1991) Hoặc là loài Ba gạc – Rauvolfia serpentina vốn mọc tự

nhiên khá phổ biến ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Thái Lan,… mỗi năm khai thác được khoảng 1.000 tấn nguyên liệu xuất sang thị trường Âu – Mỹ, làm thuốc chữa cao huyết áp (riêng Ấn Độ chiếm 40 – 50%) Song, do bị khai thác liên tục nhiều năm đã làm cho cây thuốc này mau cạn kiệt Một số bang ở Ấn Độ đã chính thức tạm đình chỉ

khai thác loài Ba gạc kể trên (O Akerele, 1991; L de Alwis, 1991 và A.S Islam, 1991) Một loài cây thuốc quí khác là Coptis teeta mọc nhiều ở vùng Đông – Bắc Ấn

Độ, trước kia khai thác hàng chục tấn mỗi năm bán sang các nước vùng Đông Nam Á,

nay đã trở nên rất hiếm, thậm chí đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng (O Akerele, 1991)

Trang 10

10

Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming, 1985 ở Trung Quốc vốn có một số loài Dioscorea spp trữ lượng khá lớn, trong thập kỷ 50, đã từng khai thác tới 30.000

tấn, hiện đã bị giảm sút nhiều, có loài thậm chí phải trồng Một vài loài cây dân tộc

thuốc quí như Fritillaria cirrhosa (làm thuốc ho) phân bố phổ biến ở vùng Tây – Bắc

tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn sót lại ở 1 – 2 điểm, với số lượng các thể ít Hoặc loài

Iphigenia indica có tác dụng chữa ung thư, chỉ phân bố rất hẹp ở vùng Lijang và Dali

tỉnh Vân Nam, do bị tìm kiếm khai thác gay gắt, hiện có thể đã bị tuyệt chủng Một số

loại cây thuốc quí khác như Paris polyphylla, Gastrodia elata, Nervilia fordii,… cũng

là những ví dụ điển hình về sự tồn tại mong manh của chúng ở Trung Quốc (P.G Xiao, 1991)

“Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự”, Sara Oldfield, tổng

thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo quốc tế, nhận xét

Phần lớn dân số thế giới, trong đó có 80% người châu Phi, hoàn toàn phụ thuộc vào dược thảo để chữa bệnh Theo một báo cáo của tổ chức bảo tồn quốc tế Plantlife, trên khắp thế giới có khoảng 50.000 loại cây có thể dùng làm thuốc, nhưng xấp xỉ 15.000 trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Tình trạng thiếu dược thảo

đã xảy ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nepal, Tanzania và Uganda Có thể nói giá trị

và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn Ở Mỹ mỗi năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD Ở Trung Quốc, chỉ riêng việc xuất khẩu cao đơn hoàn tán cũng cho doanh thu khoảng 2 tỷ USD/ năm Hiện nay, phong trào dùng cây thuốc để phòng và chữa bệnh trên thế giới đã đặt ra một vấn đề cần lưu tâm: 2/3 trong số 50.000 loài cây thuốc được sử dụng, khai thác từ các cây hoang dại sẵn có nhưng không được trồng lại để bổ sung

Theo một nghiên cứu của nhà thực vật học người Anh là Alan Hamilton, thành viên của Quỹ Thế giới Bảo vệ Thiên Nhiên (viết tắt là WWF), có tới 4.000 – 10.000 loài cây cỏ dùng làm thuốc có nguy cơ bị tiệt chủng Nguyên nhân không phải hoàn toàn do sự phát triển của Y học cổ truyền mà theo tác giả là do thị trường dược thảo ở Châu Âu và Bắc Mỹ tăng trưởng 10% mỗi năm trong vòng 10 năm nay Trên quy mô toàn cầu, doanh số mua bán cây thuốc hàng năm ước tính lên tới 16 tỷ Euro

Khai thác quá mức vì mục đích thương mại là nguyên nhân chủ yếu khiến dược thảo ngày càng trở nên khan hiếm

c Các nguyên nhân khác

Ngoài hai nguyên nhân chính nêu trên, nguồn tài nguyên cây thuốc (và tài nguyên sinh vật nói chung) còn bị đe dọa bởi nhiều nguyên nhân khác Tuy nhiên, so

Trang 11

11

với hai nguyên nhân chính, tác động của các nguyên nhân này chưa lớn, thậm chí chưa được đánh giá rõ ràng

- Sự ô nhiễm môi trường do hoạt động của con người

Ô nhiễm môi trường hiện nay chủ yếu được gây ra bởi các hoạt động của các trung tâm công nghiệp Thực tế cho thấy các mỏ khai thác khoáng sản (than đá, bauxite, chì, thiếc, ) và các nhà máy sản xuất hóa chất gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường Một số lĩnh vực công nghiệp gây ảnh hưởng trên một quy mô rất lớn Một số nhà máy hóa chất do không xử lý chất thải tốt có thể gây ảnh hưởng trong phạm vi hàng trăm km dọc theo các con song

- Các thảm họa do thiên tai

Trong số các tác động do thiên tai, lũ lụt và động đất là nguyên nhân gây tác động lớn nhất Một số trận lụt lớn đã làm ngập và hủy hoại sinh vật trên hàng trăm km vuông Sau các trận lụt này, hầu hết các loài sinh vật trong đó có cây thuốc bị hủy diệt

trên một phạm vi khá lớn

Mặc dù động đất và sụt lở đất thường gây hậu quả lớn đối với tính mạng và tài sản, tuy vậy, các nghiên cứu chi tiết cho thấy một số vụ động đất gây tác động không

nhỏ tới các khu rừng tự nhiên và các loài sinh vật

- Tác động do biến đổi khí hậu

Có thể nói đây là nguyên nhân được nhắc nhiều đến trong các nghiên cứu gần đây, tuy nhiên bằng chứng thực tế về các hậu quả của biến đổi khí hậu gây ra đối với tài nguyên cây thuốc còn ít và chưa thất rõ ràng Dự đoán rằng các loài sinh vật nói chung, trong đó có cây thuốc chủ yếu bị tác động do nước biển dâng làm mất nơi sống

và tăng cao nhiệt độ không khí làm hạn chế sự thích nghi với môi trường Có thể đây

sẽ là yếu tố cần tính đến trong thời gian sau này

- Do ý thức và nhận thức của con người

Ý thức và nhận thức của con người tác động tiêu cực đối với nguồn tài nguyên cây thuốc trước hết do thu hái cây thuốc một cách hủy diệt Nhiều loài cây thuốc bị khai thác trắng hoặc khai thác các cơ quan sinh sản đã làm cho chúng rất khó tái sinh thậm chí bị hủy diệt trên một phạm vi lớn

Trong không ít trường hợp, thảm thực vật và kèm theo đó là các loài sinh vật bị biến mất do quyết định của các nhà lãnh đạo trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

10.1.3 Khái quát tình hình nghiên cứu bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc

Trang 12

12

Lo ngại trước tình hình vốn tài nguyên cây thuốc, cùng những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng đang bị mai một, nên ngay từ hội nghị lần thức 40 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tháng 5 năm 1987 đã tái xác định những quan điểm

chính được đưa ra ở Hội nghị Alma – Ata từ năm 1979, là: “cần phải khởi xướng những chương trình nhằm nhận biết về giá trị, bào chế và trồng trọt, cùng với việc bảo tồn cây thuốc”

Tháng 3 năm 1988, tại Chiang Mai – Thái Lan, một số Tổ chức quốc tế (WHO, IUCN, WWF) đã phối hợp với Bộ Y tế - Chính phủ Hoàng gia Thái Lan tổ chức một Hội thảo Quốc tế đầu tiên chuyên về bảo tồn cây thuốc Từ diễn đàn của Hội thảo này, một lần nữa các nhà khoa học đã khẳng định về tầm quan trọng và vai trò to lớn của cây thuốc trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng Đồng thời, kêu gọi Liên Hợp Quốc và các quốc gia thành viên cùng với các Tổ chức quốc tế khác cần có những hành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc Bảo tồn cây thuốc chính là bảo tồn giá trị

đa dạng sinh học (ĐDSH), trong các nền văn hóa của mỗi quốc gia

Tiếp theo Hội nghị Quốc tế Bảo tồn cây thuốc, tổ chức ở Thái Lan năm 1988,

năm 1993 WHO, IUCN và WWF đã đưa ra một tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” (Giudeline on Conservation of Medicinal Plants) Đây không phải là loại tài

liệu về phương pháp nghiên cứu, nhưng những người biên soạn đã có chủ ý đề cập từ khâu điều tra nghiên cứu cho đến tiến hành khai thác sử dụng, phát triển trồng thêm và quản lý cây thuốc, đều là những hoạt động có liên quan và phục vụ cho mục đích bảo tồn Tuy nhiên, để cho công tác bảo tồn cây thuốc có hiệu quả, cần phải căn cứ vào tình hình của mỗi quốc gia, từ đó đưa ra các giải pháp và chương trình hành động phù hợp

Năm 1993 trên toàn thế giới có 8.619 khu bảo tồn, đến năm 1997 đã có 12.754 khu bảo tồn được Liên hợp quốc công nhận Ngoài ra, còn khoảng hơn 17.500 điểm khác không được đưa vào danh sách của Liên hợp quốc vì diện tích nhỏ hơn 1.000 ha, không đáp ứng được tiêu chuẩn tối thiểu của quốc tế Tổng diện tích khoảng 8 triệu

km2 Dù ở dạng nào, các khu bảo tồn này đã được quản lý nhằm mục đích bảo vệ nghiêm ngặt các dạng tài nguyên cho đến việc khai thác tài nguyên được kiểm soát hoặc được sử dụng theo mục đích khác, tất cả các khu bảo tồn đều góp phần, bằng cách này hay cách khác vào mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học

Mặc dù con số về các khu bảo tồn trên đây là khá ấn tượng, song chúng cũng chỉ đại diện cho khoảng 6% tổng diện tích bề mặt trái đất và chỉ có 3,5% tổng diện tích đất đai của thế giới thuộc loại được bảo bệ nghiêm ngặt cho mục đích nghiên cứu khoa học Có lẽ diện tích các khu bảo tồn nguyên vị sẽ không bao giờ vượt quá 7 đến 10%

Trang 13

Ngoài ra, các vườn thực vật cũng tham gia vào chương trình hồi phục các loài thực vật nguy cấp và các hệ sinh thái bị suy thoái Sự đóng góp của các vườn thực vật đối với công tác bảo tồn loài mở rộng ra đối với các loài đang bị đe dọa ngoài tự nhiên Theo hướng này, các vườn thực vật cung cấp cây giống cho các nghiên cứu và vùng trồng cấy cây thuốc Chúng cũng là nơi triển khai các hoạt động giáo dục kỹ năng và

ý thức bảo tồn cho cộng đồng

Tóm lại, bảo tồn cây thuốc trên thế giới hiện được triển khai theo hai hình thức chính:

- Bảo tồn cây thuốc theo hình thức bảo tồn nguyên hay tại chỗ vị (in situ); đây là

hình thức bảo tồn thực hiện tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Theo hình thức này, các loài cây thuốc bị đe dọa được bảo tồn ngay tại nơi chúng phân bố hay đã từng phân bố

- Bảo tồn cây thuốc theo hình thức chuyển vị (ex situ): thường thực hiện tại các

vườn thực vật, các trang trại hoặc vườn rừng Hình thức này còn bao gồm cả các biện pháp bảo tồn trong các phòng thí nghiệm và viện nghiên cứu (các ngân hàng hạt, ngân hàng mô, )

Để hoạt động bảo tồn đạt kết quả, nhiều hoạt động khác được triển khai trong

đó đặc biệt chú trọng tới công tác giáo dục về bảo tồn, nâng cao năng lực quản lý (hoạch định chính sách, pháp luật, tổ chức hoạt động) và kỹ thuật phục vụ công tác bảo tồn (kỹ thuật nhân giống, chăm sóc, bảo vệ cây trồng,…)

Cho tới nay, công tác bảo tồn cây thuốc đã có nhiều thành quả, các phương pháp nghiên cứu và triển khai đã được thống nhất để áp dụng trên phạm vi thế giới

Trang 14

10.2.1 Tình hình điều tra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc

a Tình hình điều tra, thống kê nguồn tài nguyên cây thuốc

Việt Nam nằm dọc trên bán đảo Đông Dương, kéo dài theo hướng bắc nam với hơn 1.600 km trên đất liền, từ 8o30’ ở mũi Cà Mau – tỉnh Cà Mau đến Lũng Cú – tỉnh

Hà Giang Tổng diện tích phần đất liền là 325.360 km2, ngoài ra còn nhiều đảo và quần đảo lớn, như Cát Bà, Cồng Cỏ, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Cù Lao Chàm, Hoàng

Sa, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu,…

Nước Việt Nam có hình dạng hẹp về chiều ngang, nơi rộng nhất chỉ khoảng 600

km, nơi hẹp nhất là hơn 40 km Trên đó, có tới 3/4 lãnh thổ là đồi núi, với nhiều dãy núi lớn và cao như Hoàng Liên Sơn có các đỉnh Fan Si Păng 3.143 m (cao nhất Đông Dương), Ngũ Chỉ Sơn 3.096 m, Phu Xi Lung 3.075 m Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới Việt Lào, về phía nam mở rộng ra thành các cao nguyên với một số đỉnh núi nhô cao như Ngọc Linh 2.589 m, Chư Yang Sin 1.405 m, Bi Đúp 2.287 m Xen kẽ với các vùng núi kể trên là là một hệ thống các sông suối chằng chịt Song đáng chú ý nhất là hai con sông lớn Hồng Hà và Cửu Long, đã tạo ra ở hai miền Bắc và Nam hai vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn

Sự chia cắt mạnh và phức tạp của bề mặt địa hình là nhân tố quan trọng tạo nên

sự đa dạng cao trong bản đồ sinh khí hậu ở Việt Nam Nằm ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm Trong đó, tính nhiệt đới gió mùa điển hình thấy rõ ở các vùng núi thấp phía Nam và thiên dần sang khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi hay gần như á nhiệt đới ở các vùng núi cao phía Bắc

Tất cả những nhân tố về địa lý, địa hình và khí hậu kể trên,… đã góp phần tạo nên ở Việt Nam có nguồn tài nguyên động – thực vật phong phú đa dạng Theo ước tính có cơ sở của các nhà khoa học, về thực vật bậc cao có mạch có tới 12.000 loài

Bên cạnh đó còn 800 loài Rêu, 600 loài Nấm và hơn 2.000 loài Tảo (Phan Kế Lộc, 1998; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997…) Trong đó, có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng được sử dụng làm thuốc (Nguyễn Tập, 2002)

Trong lịch sử, Việt Nam đã có nhiều danh y nghiên cứu, thống kê về các loài

cây thuốc Chu Tiên biên soạn cuốn sách “Bản thảo cương mục toàn yếu” là cuốn

sách thuốc đầu tiên xuất bản năm 1429 Tuệ Tĩnh, tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (vào

Trang 15

15

thế kỷ XIV) đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc

nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật,

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với phương châm của Đảng đề

ra tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp, ngành Y tế đã được đưa thuốc nam vào phát huy

vai trò to lớn của nó, xây dựng nên “Toa căn bản”, nêu các phương pháp chữa bệnh

bằng 10 vị thuốc thông thường [65] Đặc biệt, các nhà dược học Việt Nam đã nghiên cứu và sử dụng sáng tạo nhiều cây thuốc để phục phụ công tác chữa bệnh trong kháng chiến (sản xuất thuốc an thần từ củ Bình vôi, điều trị nhiễm trùng bằng cây Ráy lá rách, v.v.)

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, công tác sưu tầm các nguồn tài liệu về thuốc nam, tổ chức điều tra cây thuốc và nghiên cứu thành phần hoá học của cây thuốc được

triển khai mạnh mẽ Trong số các công trình được công bố đáng chú ý bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập do Đỗ Tất Lợi biên soạn năm 1957, năm 1961

tái bản in thành 2 tập Trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc

nam [44] Từ 1962 – 1965 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của Ông nghiên cứu đã lên

tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản thứ 13 (2005) Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại

Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc,

trong đó có 150 loài mới phát hiện trong“Sổ tay cây thuốc Việt Nam” Viện Dược liệu

(Bộ Y tế) cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu, điều tra ở 2.795 xã, phường, thuộc 351 Huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nước, đã có những đóng góp đáng kể trong các điều tra sưu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử

dụng cây thuốc trong Y học cổ truyền dân gian Kết quả được đúc kết trong “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”, “Danh lục cây thuốc Việt Nam”, tập “Atlas (bản đồ) cây thuốc” Võ Văn Chi năm 1976, trong luận văn PTS khoa học của mình, Ông đã

thống kê 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Đến năm

1991, trong một báo cáo tham gia Hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc Việt Nam có 2.280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của mình và các tài liệu đã công bố, năm 1997 ông đã biên

soạn và xuất bản “Từ điển cây thuốc Việt Nam” Có thể nói tài liệu này đã giới thiệu

một số lượng loài cây thuốc lớn nhất và đầy đủ nhất của nước ta cho tới nay, v.v Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu thành phân loài cây thuốc của nhiều vùng nước ta

Trang 16

16

đã được thực hiện Sau nhiều năm điều tra, nghiên cứu, tới nay chúng ta đã biết được

số lương các loài thực vật làm thuốc ở Việt Nam lên tới 3.948 loài

Nhiều công trình điều tra thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những năm vừa qua Trong thời gian 2000 - 2010, phòng Thực Vật dân tộc học thuộc Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã triển khai nghiên cứu tại các cộng đồng dân tộc người H'mông, Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mú, Tày, Nùng, Hoa tại các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự nghiên cứu khá chi tiết thành phần loài cây thuốc của dân tộc Thái tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Trần Văn Ơn nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại VQG Ba Vì

Ty Thị Hoàn nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của người Cao Lan tại Tuyên Quang, Trần Thị Dung nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc Bru - Vân Kiều tại Quảng Trị Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác đã được công

bố Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc nước ta có nhiều tri thức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo để phòng và chữa bệnh Nhiều bài thuốc dân tộc có hiệu quả điều trị cao đã được thu thập và đưa vào nghiên cứu thực nghiệm Đồng thời, đã phát hiện nhiều loài cây thuốc mới; đặc biệt là các công dụng mới của nhiều loài cây thuốc Như vậy, nghiên cứu cây thuốc truyền thống của các dân tộc thiểu số đã góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên cây thuốc nước ta

b Nghiên cứu, đánh giá về giá trị của nguồn tài nguyên cây thuốc

Việt Nam là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hoá, trong đó quan trọng nhất là hai luồng văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ; là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, trong

đó cộng đồng người Việt (Kinh) có dân số lớn nhất, chủ yếu phân bố ở các vùng châu thổ Các dân tộc còn lại chủ yếu phân bố ở các khu vực đồi núi, nơi chiếm đến 3/4 diện tích cả nước, có thành phần đa dạng, bao gồm các nhóm dân tộc Tày-Thái, Hmông-Dao, Tạng Miến ở miền núi phía Bắc hiện còn bà con đang sinh sống ở Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Myanmar; các nhóm dân tộc sinh sống ở miền Trung và miền Nam thuộc nhánh ngôn ngữ Môn-Khmer có bà con sinh sống ở Lào, Campuchia, Thái Lan; nhóm các dân tộc sinh sống dọc ven biển miền Trung và Tây Nguyên có quan hệ họ hàng với những dân cư đang sinh sống ở Malaysia, Indonesia Các dân tộc sinh sống ở Việt Nam tạo nên một hình ảnh thu nhỏ của khu vực Đông Nam Á

Mỗi dân tộc có tập quán, niềm tin, tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc khác nhau Điều này dẫn đến sự đa dạng về tri thức sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Để thừa kế các kinh nghiệm quý báu trong y học cổ truyền, thời gian qua ngành

y tế nước ta đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân gian gia truyền của

Trang 17

17

12.531 lương y Có nhiều dược phẩm được phát triển gần đây dựa trên tri thức sử dụng

của cộng đồng, như Ampelop, dựa trên kinh nghiệm dùng cây Chè dây (Ampelopsis cantoniensis (Hook Et Arn.) Planch.) để chữa bệnh của người Tày ở Cao Bằng, v.v

Trong y học dân gian, mỗi cộng đồng miền núi (cấp xã) thường biết sử dụng từ

300 - 500 loài cây cỏ sẵn có trong khu vực để làm thuốc Mỗi gia đình biết sử dụng từ vài cây đến vài chục cây để chữa các chứng bệnh thông thường ở cộng đồng đó Mỗi cộng đồng thường có 2 - 5 thầy lang (hay hơn) có kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc

Để bảo đảm công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại tuyến y tế cơ sở, Bộ Y tế

đã ban hành “Danh mục thuốc thiết yếu”, có quy định 188 vị thuốc y học cổ truyền

thiết yếu và 60 loài cây làm thuốc cần trồng tại tuyến xã, gọi là thuốc Nam thiết yếu

Theo kết quả điều tra tương đối có hệ thống của Viện Dược liệu từ năm 1961 đến nay, đã xác định ở Việt Nam hiện đã biết 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm thực vật bậc cao cũng như bậc thấp (kể cả nấm và tảo) Cụ thể ở Bảng 1

Bảng 1: Số loài cây thuốc đã biết ở Việt Nam

(Số liệu điều tra của Viện Dược liệu)

Trong tổng số 3.948 loài cây thuốc đã biết đến ở Việt Nam hiện nay, phần lớn được sử dụng theo kinh nghiệm (truyền khẩu) trong nhân dân Số loài được xác minh khoa học về giá trị, cơ chế chữa bệnh (kể cả nguồn tài liệu của nước ngoài) chỉ chiếm khoảng 20 – 30% Chúng được sử dụng để điều trị từ các chứng bệnh thông thường mắc phải trong cuộc sống hàng ngày, như cảm sốt, cảm lạnh, cầm máu – làm lành vết thương, ăn uống khó tiêu, bong gân – sai khớp do ngã, bó – nắn gãy xương,… cho đến

cả một số bệnh nan y khó chữa như bệnh tim mạch, gan, thần kinh, tiểu đường,… Trong một số công bố gần đây về 920 loài cây thuốc, các tác giả của công trình đã liệt

Trang 18

18

kê ra được 64 loại bệnh chứng đã được điều trị bằng cây thuốc theo cách cổ truyền (nhiều tác giả, 2004; Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam; T.1 và 2) Một số loại bệnh nan giải về gan, thận, đau dạ dày, thấp khớp, bó gãy xương, chữa rắn cắn,… nhìn chung người dân tỏ ra có tín nhiệm hơn kho điều trị bằng cây thuốc theo kinh nghiệm của y học cổ truyền

Mặt khác, tính phong phú về sử dụng cây thuốc trong Y học cổ truyền còn thể hiện ở kinh nghiệm của từng cá nhân hay của mỗi cộng đồng dân tộc Trên một số cây thuốc, mỗi bộ phận hoặc sau khi đã chế biến, có thể được sử dụng với những công dụng khác nhau

Số liệu thống kê của ngành Y tế gần đây cho biết, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ

từ 30 – 50.000 tấn các loại dược liệu khác nhau Trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trong nước Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20.000 tấn mỗi năm Tuy vậy, khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ 200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện nay Bên cạnh đó còn nhiều loài cây thuốc khác vẫn được thu hái sử dụng tại chỗ trong cộng đồng, hiện chưa có con số thống kê cụ thể

Các dân tộc thiểu số trên thế giới nói chung, và ở Việt Nam nói riêng, do đời sống còn gắn liền với việc khai thác và sử dụng thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri thức quý trong lĩnh vực chế biến, sử dụng thực vật; đặc biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc Tuy nhiên, các tri thức và kinh nghiệm dân tộc thường chỉ được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ, gia đình), vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã hội và có nguy cơ thất thoát rất cao Nhận thức được tầm quan trọng này, trong khoảng hơn 10 năm lại đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc

(Ethnomedical plants) được đặc biệt quan tâm tại một số cơ sở của nước ta và đã thu

được nhiều kết quả khả quan

Mặt khác, nghiên cứu về giá trị kinh tế của cây thuốc ở Việt Nam hiện nay, tạm thời có thể chia ra một số đầu mối tiêu thụ như sau:

- Sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền, chủ yếu dưới dạng thuốc chén và thuốc thang, ước lượng từ 20 – 30.000 tấn / năm

- Là nguyên liệu cho công nghiệp dược, bao gồm chiết xuất từ hợp chất nhiên để làm thuốc và sản xuất thuốc đông dược (sản xuất bằng máy ở các nhà máy dược phẩm và xí nghiệp), nhu cầu gần 20.000 tấn / năm

- Dược liệu để xuất khẩu mỗi năm từ 5.000 đến gần 10.000 tấn, với giá trị khoảng 15 triệu USD

Trang 19

19

Trong những năm gần đây, Việt Nam còn xuất khẩu một số bán thành phẩm thuốc dưới dạng hoạt chất như berberin, palmatin, rotundin, rutin,… Một số doanh nghiệp đã xuất khẩu được thuốc hoạt chất như Artemisinin, Artesunat,… và nhiều dạng thuốc đông dược khác Hiện chưa có những con số thống kê đầy đủ về tổng giá trị thương mại quốc nội, cũng như xuất khẩu về dược liệu và thuốc từ dược liệu của Việt Nam

Trong khối công nghiệp dược, cả nước có 286 cơ sở sản xuất dược phẩm (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, công ty, tổ hợp sản xuất, tư nhân) đang sản xuất 1.294 loại dược phẩm được sản xuất từ nguyên liệu thực vật hoặc chất chiết xuất từ thực vật, chiếm 23% số loại dược phẩm được phép sản xuất và lưu hành từ năm 1995-

2000, sử dụng 435 loài cây cỏ Nhu cầu dược liệu cho khối công nghiệp dược khoảng 20.000 tấn, và cho xuất khẩu khoảng 10.000 tấn/năm Theo số liệu năm 1998, Tổng công ty Dược Việt Nam đã xuất khẩu được 13 triệu USD, trong đó dược liệu, tinh dầu

và các hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng cung cấp dược liệu có thể đạt

500 - 800 tỷ đồng

Các công ty dược sử dụng nhiều dược liệu như Xí nghiệp dược phẩm T.Ư 26,

Xí nghiệp dược phẩm T.Ư 3, Công ty dược liệu T.Ư 1, Công ty cổ phần TRAPHACO, Bảo Long Đường, Xí nghiệp chế biến Đông dược quận 5 (TP Hồ Chí Minh) Riêng Công ty Cổ phần TRAPHACO hằng năm sử dụng lượng dược liệu khoảng 500 tấn của hơn 100 loài cây thuốc,…

c Nghiên cứu, đánh giá về tiềm năng của nguồn tài nguyên cây thuốc

Cùng với việc điều tra về thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng thiểu số; nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc để ứng dụng rộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xây dựng được chú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây Từ kinh nghiệm truyền thống của dân tộc Tày, nhóm nghiên cứu Đại học Dược Hà Nội đã sản xuất thành công thuốc chữa đau

dạ dày từ cây chè dây (Ampenopsis cantoniensis) Viện Hóa học các hợp chất Thiên nhiên sản xuất thành công thuốc chữa viêm loét dạ dày từ củ Nghệ vàng (Curcuma longa) dựa trên cơ sở bài thuốc dân gian Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã đưa

vào thử nghiệm lâm sàng bài thuốc chữa phì đại tuyến tiền liệt TLC-02, được phát triển từ bài thuốc dân tộc đang được đánh giá và nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều cơ

quan nghiên cứu; nghiên cứu hoạt chất ức chế ung thư của dịch chiết từ cây Ngái (Ficus hispida) tại Đại học Khoa học tự nhiên; nghiên cứu các bài thuốc dân tộc chữa

sỏi thận, viên gan tại Viện Y học cổ truyền trung ương, v.v Có thể nhận thấy, nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây

Trang 20

vàng (Artermisia annua), chiết tách 1-tetrahydropalmatine làm thuốc an thần từ củ của các loài Bình vôi (Stephania spp.), chiết tách rutin từ Hoa Hòe (Sophora japonica), chiết tách curcumine từ củ Nghệ vàng (Curcuma longa) để chữa bệnh viêm loét dạ dày

Hiện nay triển vọng sử dụng cây thuốc Việt Nam để điều chế các loại thuốc mới điều trị các bệnh hiểm nghèo (HIV/AIDS, ung thư, tiểu đường, v.v.) đang được tập trung nghiên cứu tại Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam và tại một số cơ quan y tế (Viện Dược liệu, ĐH Y Hà Nội, Đại học Dược Hà Nội) Từ hạt của cây Chay

(Artocarpus tokinensis) các nhà khoa học đã điều chế thành công chất auronol glycozit

làm thuốc ức chế miễn dịch để chữa các bệnh liên quan tới hệ miễn dịch (bệnh nhược

cơ, luput ban đỏ, đào thải các tạng ghép v.v.), từ lá của cây Bùm bụp (Mallotus apelta) đã chiết xuất thành công chất maloapelta và sản xuất dạng thuốc tiêm để kìm

hãm phát triển một số dạng ung thư, v.v Hiện tại số loài thực vật ở nước ta đưa vào chiết xuất hợp chất để làm thuốc còn rất hạn chế Với nguồn tài nguyên thực vật (cả động vật) phong phú, cùng với vốn kinh nghiệm ethnobotanic và ethnomedicin của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, hy vọng, đó là nguồn tiềm năng để nghiên cứu, tạo ra những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao

10.2.2.Khái quát nghiên cứu, xác định các mối đe dọa đối với nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Nhìn chung, các mối đe dọa tới nguồn tài nguyên cây thuốc của nước ta có thể nằm trong các nhóm sau:

a Các mối đe dọa trực tiếp

(1.)Mất rừng và suy thoái đa dạng sinh học

Diện tích rừng của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn biến động khác nhau Theo thống kê của tác giả Paul Maurand (1943), năm 1943 Việt Nam có diện tích rừng

là 14,3 triệu hecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43% Từ năm 1943-1975, diện tích rừng đã bị suy giảm còn 11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976)

Trang 21

21

Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục

vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếp tục giảm xuống, diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ chỉ đạt 27,8%

Giai đoạn 1990 đến nay Chính phủ đã có nhiều biện pháp về chính sách và đầu tư nên diện tích rừng đã dần được phục hồi kể cả diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng Năm 2005, diện tích rừng đã đạt trên 12,6 triệu hecta với độ che phủ 37%

Bảng 2: Diễn biến diện tích và độ che phủ rừng qua các thời kỳ

(%)

Ha/Đầu người

Nguồn: Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Cục Kiểm lâm, năm 2006

Về chất lượng, trước năm 1945 rừng nước ta có trữ lượng gỗ vào khoảng 200 – 300m3/ha, trong đó các loài gỗ quí như: Đinh, Lim, Sến, Táu, Nghiến, Trai, Gụ là rất phổ biến Những cây gỗ có đường kính 40 – 50cm chiếm tới 40 – 50% trữ lượng của rừng Rừng tre nứa với những cây tre có đường kính 18 – 20cm, nứa 4 – 6cm và vầu 8 – 12cm rất phổ biến (Hoàng Hòe, 1998) Hiện nay chất lượng rừng đã giảm sút đáng

kể, chỉ còn chủ yếu là rừng nghèo có giá trị kinh tế không cao Trữ lượng gỗ rừng năm

1993 ước tính khoảng 525 triệu m3

(trung bình 76 m3/ha) Tốc độ tăng trưởng trung bình của rừng Việt Nam hiện nay là 1 – 3m3/ha/năm, đối với rừng trồng có thể đạt 5 –

10 m3/ha/năm

Sự tàn phá các hệ sinh thái trên diện rộng làm suy thoái đa dạng sinh học đã là điều hiển nhiên, thì sự chia cắt manh mún các hệ sinh thái ra từng phần nhỏ cũng tác động không nhỏ đến quá trình làm suy giảm và huỷ diệt các loài

Trang 22

22

Do nhiều nguyên nhân đã làm cho diện tích rừng tự nhiên bị giảm sút trong thời gian qua đã kéo theo sự suy giảm về đa dạng sinh học đối với các hệ sinh thái rừng nói chung

Sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới ngày càng một gia tăng, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các hoạt động của con người vào tự nhiên Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực Nguyên nhân của sự mất

đa dạng sinh vật ở Việt Nam: có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học như sau:

- Khai thác gỗ: trong giai đoạn từ năm 1985 đến 1991, các lâm trường quốc

doanh đã khai thác rừng bình quân 3,5 triệu m3 gỗ/năm, thêm vào đó khoảng

1-2 triệu m3

ngoài kế hoạch Số gỗ này nếu qui ra diện tích thì khoảng 80.000 ha

bị mất mỗi năm Hơn nữa, nạn chặt trộm gỗ xảy ra ở nhiều nơi, kết quả là rừng

bị cạn kiệt nhanh chóng cả về diện tích và chất lượng, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng

- Sự mở rộng đất nông nghiệp: mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn

vào đất rừng, đất ngập nước là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái đa dạng sinh học, trong đó có cây thuốc Quá trình điều tra dược liệu của Viện Dược liệu – Bộ Y tế, từ năm 1970 – 1990 đã phát hiện nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị xóa sổ, thay vào đó là nương rẫy và các công trình dân sự Năm 1972 – 1973, vùng núi Hàm Rồng ở thị trấn

Sa Pa – Lào Cai là một khu rừng rậm rạp, có nhiều cây thuốc, kể cả các loài quý

hiếm như: Sâm vũ điệp (Panax bipinnatifidus Seem.), Tam thất hoang (P stipuleanatus H T Tsai et K M Feng), Hoàng liên gai (Berberis julinae

Schneid.),… đến năm 1985, rừng ở đây đã hoàn toàn bị phá hủy, để trồng ngô

và các loại cây trồng khác Tình trạng này còn thấy ở Dốc Cun – Hòa Bình, nay

là nương chè và nhà ở Năm 1983, trong khi tiến hành điều tra dược liệu huyện Trà My tỉnh Quảng Nam, tính trung bình 1 hộ dân người K’Ho có 6 – 8 nhân khẩu, mỗi năm trung bình phá 1,2 hecta rừng nguyên sinh để trồng lúa nương Trong các khu rừng này có nhiều cây thuốc quí như Vàng đắng, Thiên niên kiện, Ngũ gia bì chân chim, Hoàng đằng,… chưa kịp điều tra và khai thác Bên cạnh nạn phá rừng và mất đất rừng (do cháy rừng và lũ lụt), việc khai thác rừng (lấy gỗ), trồng mới thuận loại (bạch đàn, ke lá tràm, keo tai tượng, thông,…) cũng làm mất đi nhiều loại cây thuốc vốn có trong các tầng cây bụi và thảm tươi ở đó

Trang 23

23

- Khai thác củi: hàng năm, một lượng củi khoảng 21 triệu tấn được khai thác từ

rừng để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình Lượng củi này nhiều gấp

6 lần lượng gỗ xuất khẩu hàng năm

- Khai thác các sản phẩm ngoài gỗ: các sản phẩm ngoài gỗ như song mây, tre

nứa, lá, cây thuốc được khai thác cho những mục đích khác nhau Đặc biệt, khu

hệ động vật hoang dã đã bị khai thác một cách bừa bãi

- Cháy rừng: trong số 9 triệu ha rừng còn lại thì 56% có khả năng bị cháy trong

mùa khô Trung bình hàng năm khoảng từ 25.000 đến 100.000 ha rừng bị cháy, nhất là vùng cao nguyên miền Trung

- Xây dựng cơ bản: như giao thông, thuỷ lợi, khu công nghiệp, thuỷ điện, cũng

là một nguyên nhân trực tiếp làm mất đa dạng sinh học Ví dụ: Hàng chục ngàn hecta rừng ở tiểu cao nguyên An Khê (thuộc 2 tỉnh Gia Lai và Bình Định), trước kia vốn là một trung tâm phân phối lớn nhất Việt Nam cây Vàng đắng

(Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.) – nguyên liệu chiết Berberin, hiện đã

nằm dười lòng hồ chứa nước của thủy điện Vĩnh Sơn Rừng bị mất do làm hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện, cho các công trình thủy lợi, mở mang mạng lưới giao thông hoặc tạo những khu tái định cư mới Các việc làm này thường được trù liệu với mục đích rõ ràng Tuy nhiên nếu không nghiên cứu kỹ hoặc quản lý tốt, sẽ dẫn đến các hậu quả thứ cấp, như: thay đổi môi trường sinh thái cục bộ, hoặc cây thuốc ở đó sẽ bị khai thác triệt để hơn, do mạng lưới giao thông đã được cải thiện

- Chiến tranh: trong giai đoạn từ 1961 đến 1975 đã có khoảng 13 triệu tấn bom

và 72 triệu lít chất độc hoá học rãi xuống chủ yếu ở phía Nam đã huỷ diệt khoảng 4,5 triệu ha rừng

(2.)Khai thác cây thuốc quá mức

- Cường độ khai thác lớn

Bên cạnh tác động của nạn phá rừng và mất rừng, việc khai thác liên tục nhiều năm, chưa chú ý bảo vệ tái sinh cũng làm cho nguồn cây thuốc ở Việt Nam mau cạn kiệt Tình hình nay có thể thấy rất rõ đối với những loài cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, nhất là cây nguyên liệu cho công nghiệp dược

Ví dụ: Vàng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.) là một loài dây leo

gỗ lớn Kết quả điều tra đến năm 1986 đã xác định cây phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam (từ vĩ độ 16o

15’ ở Phú Lộc – Thừa Thiên Huế trở vào), trên phạm vi 121 xã, 44 huyện, 14 tỉnh Từ năm 1980 – 1990 tính trung bình khai thác từ 1.000 – 2.500

Trang 24

24

tấn/năm, ở các tỉnh Gia Lai – Kon Tum, Nghĩa Bình, Quảng Nam – Đà Nẵng, Đắk Lắk

và Sông Bé (theo đơn vị hành chính lúc đó) Đến giai đoạn 1991 – 1995, mỗi năm chỉ còn dưới 200 tấn Từ năm 1995 đến nay, về cơ bản không còn khai thác vàng đắng ở nước ta (Nguyễn Tập và một số người khác 1986 và 1996) Đặc biệt là một số cây

thuốc có nhu cầu dường như không hạn chế, như Ba Kích (Morinda officinalis How); Đảng Sâm (Campanumoea javanica Blume) và các loài Hoàng tinh thuộc chi Disporopsis và Polygonatum,… vốn phân bố khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía

Bắc, lượng khai thác những cây thuốc nay hiện đã suy giảm nghiêm trọng, thậm chí trở nên khan hiếm đến mức đã được đưa vào Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (Nguyễn Tập, 1985, 1990, 1997, 2001, 2006) và Sách Đỏ Việt Nam – Phần thực vật, năm 1996, 2007 Nhiều loài thuốc quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong đó 31 loài ở mức bị đe dọa tuyệt chủng cao Các cây thuốc trước kia có thể khai thác hàng chục nghìn tấn/năm như: Ba kích, Đẳng sâm, Hoàng tinh, đã giảm rõ rệt Ông Ngô Quốc Luật, Viện Dược liệu, cho biết, ngay cả ở các khu bảo tồn thiên nhiên, tình trạng khai thác cây thuốc cũng rất tùy tiện Chẳng hạn, tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu, Phước Bửu (Bà Rịa - Vũng Tàu), từ năm 1998, hàng ngày có khoảng 5-10 người tự do vào rừng lấy dây Ký ninh (trị sốt rét) và vận chuyển ra khỏi rừng một cách công khai với số lượng khoảng 80-100 kg dây tươi/người

Tại khu bảo tồn thiên nhiên Ta Kou (Bình Thuận), thần xạ (một dược liệu có công dụng chính là trị viêm xoang) bị khai thác với số lượng lớn, bán công khai cho khách thập phương

Cao Bằng dù có trên 617 loài cây thuốc, thuộc 211 họ thực vật, trong đó nhiều loại quý hiếm, giá trị kinh tế cao như: Thanh thiên quỳ, Lan gấm, Hà thủ ô, Ba kích, Thổ phục linh, Giảo cổ lam, Sâm cau, Sa nhân,… nhưng ngày một cạn kiệt do khai thác quá mức

Vườn Quốc gia Hoàng Liên được ví như kho thuốc quý của Việt Nam, nhưng đáng lo ngại là kho thuốc này ngày một cạn kiệt vì tình trạng khai thác vô tội vạ Đặc biệt cây Hoàng liên chân gà – một cây thuốc quý, mọc tự nhiên đã được Sách đỏ Việt Nam năm 1996 và 2007 xếp vào hạng rất nguy cấp nhưng vẫn tiếp tục bị khai thác và người ta vẫn thấy chúng được bày bán ở chợ Sa Pa

Núi Ba Vì, từ lâu đã được nhiều người biết đến như một “núi thuốc nam” có

một không hai của vùng đồng bằng sông Hồng rộng lớn Thế nhưng, qua hơn 20 năm được đồng bào người Dao tại đây khai thác và sử dụng, nguồn tài nguyên cây thuốc đã gần như cạn kiệt, 12 loại cây thuốc ở đây đã gần như tuyệt diệt, trong đó có: Hoa tiên, Huyết đằng, Bát giác tiên, Râu hùm, Hoàng đằng,…

Trang 25

Hữu Lũng, Lạng Sơn bắt đầu khai thác gỗ Hoàng đàn để bán Đầu tiên các cây to bị chặt, sau đó khai thác đến cây con, cành nhánh, gốc và rễ cây Thậm chí, mìn cũng được dùng để thu các rễ Hoàng đàn len lỏi trong các kẽ đá Giá bán từ 45.000 đến 120.000 đ/kg tùy theo kích cỡ của gỗ và rễ cây Với cách khai thác hủy diệt này, Hoàng đàn, một loài cây quý, hiếm thuộc nhóm IA của Nghị định 32/2006/NĐ-CP đã

gần như tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (Vũ Văn Dũng và Mai Thế Bồi, 2006)

Cùng với sự ưu ái của tự nhiên về “nguồn vàng xanh”, các cộng đồng dân tộc ở

khắp các tỉnh miền núi phía Bắc cũng đang sở hữu một kho tri thức bản địa lâu đời về các bài thuốc nam Song, trong số hàng trăm, hàng nghìn bài thuốc được lưu truyền lại qua nhiều thế hệ bằng cách ghi chép, truyền khẩu,… đã có không ít bài thuốc bị thất truyền, mà một phần nguyên nhân là do nạn khai thác cây thuốc vô tội vạ như hiện nay

- Cách thức thu hái, khai thác chưa phù hợp

Nhiều loài cây thuốc bị khai thác không đúng với bộ phận sử dụng của chúng hoặc khai thác đúng bộ phận nhưng lại khai thác kiệt Ví dụ như: Lá khôi thì chỉ cần thu hái lá mà không cần đào cả thân, rễ Cây lấy rễ củ như Bách bộ, Hoàng đằng, Thổ phụ linh, Cẩu tích, Hà thủ ô trắng, Củ mài, chỉ nên thu hái một phần rễ cho cây tái sinh hoặc thu hái xong phải lấp chồi gốc lại cho tái sinh mùa sau Những cây lấy thân như Thiên niên kiện thì không khai thác kiệt hết cả khóm bụi mà nên chừa lại một số cây cho tái sinh, phát triển mùa sau Như vậy do hình thức thu hái không phù hợp mà nhiều loài mất giống, loài không còn khả năng tái sinh, loài không kịp tái sinh dẫn tới

sẽ bị diệt vong

- Lịch thu hái không đúng thời vụ

Trong hoạt động sản xuất cũng như tự nhiên thì các loài cây sẽ cho các sản phẩm có chất lượng cao trong một thời gian, mùa vụ nhất định, do đó mà khi thu hái con người phải biết vận dụng để mang lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, đối với các loài thu hái cả năm, người dân khai thác cả thời kỳ cây ra hoa kết quả, điển hình là các loài: Rễ chay, Hoàng đằng, Sắn dây rừng, dẫn tới nhiều loài không còn nguồn hạt để phát tán, dẫn giống mở rộng phạm vi phân bố cho các thế hệ tiếp theo do đó cây trở nên khan hiếm dần nguy cơ đe dọa diệt chủng

Trang 26

(2).Sự di dân

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, chính phủ đã động viên khoảng 1 triệu người

từ vùng đồng bằng lên khai hoang và sinh sống ở vùng núi, cuộc di dân này đã làm thay đổi sự cân bằng dân số ở miền núi Những năm 1990, nhiều đợt di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ vào các tỉnh phía Nam, Tây nguyên sự di dân này đã ảnh hưởng rõ rệt đến đa dạng sinh học của vùng này, trong đó có cây thuốc

(3).Nghèo đói

Với gần 80% dân số ở nông thôn, vì vậy phụ thuộc phần lớn vào nông nghiệp

và tài nguyên thiên nhiên Trong các khu bảo tồn được nghiên cứu, 90% dân địa phương sống dựa vào nông nghiệp và khai thác rừng Người nghèo không có vốn để đầu tư lâu dài, sản xuất và bảo vệ tài nguyên, họ buộc phải khai thác, bóc lột ruộng đất của mình, làm cho tài nguyên càng suy thoái một cách nhanh chóng trong đó có cây thuốc

(4).Trình độ dân trí thấp

Kết quả điều tra cho thấy số người mù chữ vẫn còn nhiều Số trẻ em bỏ học còn nhiều, phần vì đường xa, đi lại khó khăn, phần vì gia đình nghèo đói, Do trình độ dân trí thấp nên nhận thức của người dân của người dân về chính sách pháp luật của Nhà nước còn hạn chế, phương tiện thông tin thiếu nên chưa nhận biết được các loài cây thuốc quý hiếm cần bảo vệ, không nắm được thông tin về thị trường cây thuôc trong nước và xuất khẩu, chưa biết cách sơ chế, bảo quản một số loài LSNG

Mặt khác, theo PGS.TS Trần Công Khánh, Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát

triển câythuốc cổ truyền dân tộc (CREDEP): “Chính vì không hiểu gì về công dụng của cây thuốc, lại được các đầu nậu thu mua tận nơi nên đại đa số bà con sống ở những nơi có cây thuốc sinh trưởng và phát triển đều khai thác theo kiểu chặt tận gốc, nhổ cả rễ Và thế là những thầy lang giàu kinh nghiệm chữa bệnh giờ cũng chẳng dễ dàng gì kiếm được cây thuốc cho những bài thuốc gia truyền của mình, để rồi một

Trang 27

27

ngày nào đó nó sẽ trở thành các “bài thuốc chết” vì không kiếm đâu ra cây thuốc nguyên liệu”,

(5).Tác động của kinh tế thị trường

Nhu cầu sử dụng cây dược liệu chế xuất thuốc trong nước và trên thế giới rất lớn và ngày càng tăng Riêng trong nước, hàng năm cần đến trên 50.000 tấn cây dược liệu để chế xuất thuốc

Báo cáo của Tổng Công ty Dược Việt Nam cho thấy, TCT đã nhập khẩu 182 loại Dược liệu với tổng khối lượng 18.300 tấn, với 81 loại nhập trên 100 tấn/loại Trong đó, có 13 loại thuốc đi từ động vật và khoáng vật; 169 loại từ cây thuốc, trong

đó nhiều loại là thuốc bắc đầu vị, một số không có ở Việt Nam

Theo ông Nguyễn Bá Hoạt, đã có trên 20 loài cây thuốc vốn đã nhập nội thành công ở nước ta, đã từng sản xuất đạt sản lượng lớn, nay cũng phải nhập khẩu trở lại, như: Bạch chỉ, Bạch truật, Đương quy, Huyền sâm, Ngưu tất, Sinh địa, Thục địa, Xuyên khung, Đỗ trọng 45 loài là những cây trồng thế mạnh của Việt Nam cũng phải nhập từ nước khác, gồm Bạch biển đậu, Binh lang (hạt cau), Hoắc hương, Xạ can, Địa liền, Hồng hoa, Gừng, Xuyên tâm liên, Ý dĩ,

Tình trạng này cũng xảy ra tương tự với 25 loài là cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam, đã từng khai thác xuất khẩu, như Ba kích: (205 tấn), Bồ công anh (170 tấn), Chi tử (150 tấn), Nhân trần (150 tấn), Mạch môn (180 tấn), Thạch xương bồ (127 tấn),

Tế tân (148 tấn), Kim tiền thảo (125 tấn), Kim ngân hoa (176 tấn),

Như vậy, trong khi thường xuyên xuất khẩu gần 100 loại dược liệu, bán thành phẩm và thành phẩm từ dược liệu, doanh thu khoảng 30-50 triệu USD/năm, thì Việt Nam vẫn phải nhập khẩu dược liệu, chủ yếu từ Trung Quốc Không những thế, còn xuất hiện tình trạng xuất khẩu tiểu ngạch dược liệu qua các cửa khẩu vùng biên dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài cây thuốc quý hiếm

(6).Hiệu quả pháp luật và chính sách quản lý cây thuốc chưa tốt

Tại các địa phương, các cơ quan quản lý Nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến tài nguyên cây thuốc, chưa có hình thức tuyên truyền vận động thích hợp, công tác quản lý còn lỏng lẻo nên vẫn để cho người dân, các đại lý thu mua một số loài cây thuốc quý hiếm, loài nằm trong danh mục cấm khai thác và hạn chế khai thác dẫn tới nguồn cây thuốc có giá trị cao ngày càng trở nên hiếm Nhà nước chưa đầu tư thích đáng cho việc phát triển cây thuốc, đặc biệt là các loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao Một số vùng người dân trồng còn manh mún, tự phát chưa tạo lập được thị trường

ổn định và vững chắc

Trang 28

28

Đặc biệt từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, từ khâu khai thác, vận chuyển đến kinh doanh dược liệu có nhiều thành phần kinh tế tham gia (chủ yếu là tư nhân), gây khó khăn cho công tác quản lý Vì lợi nhuận, người ta bất chấp tất

cả, khai thác cả những loài cây thuốc thuộc diện cấm và bảo tồn (có tên trong Nghị định số 18/NĐ – CP trước kia nay là Nghị định số 48/NĐ – CP và trong Sách Đỏ Việt Nam – Phần thực vật (1996, 2007) và trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2001, 2006)) Trong khi đó nhiều văn bản về quản lý tài nguyên hiện chưa đến được với người dân, thậm chí cả một số doanh nghiệp Dược

Hiện nay, vẫn chưa có một kế hoạch khai thác hợp lí để có thể phát triển sản xuất mà vẫn sử dụng lâu bền nguồn tài nguyên cây thuốc Mặt khác, cũng chưa có những chính sách ưu đãi để khuyến khích người dân bảo vệ nguồn giống cây thuốc

Ngay như Viện Dược liệu, mặc dù đã cố gắng nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề kinh phí nên mới chỉ thu thập được khoảng 100 loại gen cây thuốc

Câu hỏi “làm gì để bảo tồn nguồn gen cây thuốc ?” vẫn còn để ngỏ,

(7).Phong tục tập quán của cộng đồng

Từ lâu đời cộng đồng các dân tộc thiểu số vẫn xem rừng là kho báu thiên nhiên

vô tận nên họ chỉ biết ỉ lại, dựa dẫm vào tài nguyên thiên nhiên, trong đó có cây thuốc

mà chưa biết gây trồng và phát triển chúng để phục vụ cho lợi ích của gia đình và cộng đồng

Các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp trên đây, mỗi nguyên nhân không tách rời nhau mà có mối quan hệ qua lại biện chứng, nguyên nhân này ảnh hưởng đến nguyên nhân kia và ngược lại

10.2.3.Khái quát tình hình nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam

Nhận thức được vai trò của cây thuốc và các mối đe doạ sự phát triển lâu bền của chúng trong tự nhiên, Nguyễn Tập và các cán bộ Viện Dược liệu đã nghiên cứu xây dựng Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam làm cơ sở để xác định các loài cần ưu bảo tồn, cụ thể: Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam được biên soạn tương đối hoàn chỉnh lần đầu tiên vào năm 1996 bao gồm 128 loài thuộc 59 họ thực vật bậc cao có mạch Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam năm 2001 (lần thứ 2) đã được xây dựng, với tổng số 114 loài, đánh giá theo tiêu chuẩn khung phân hạng IUCN (1994) Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam 2006 (lần thứ 3) được công bố gồm 139 loài thuộc 58 họ thực vật bậc cao

có mạch Tất cả các loài trong Danh lục Đỏ được đánh giá theo khung phân hạng IUCN (2001) Đến năm 2007, nâng số loài trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam lên

144 loài, thuộc 58 họ thực vật bậc cao có mạch Trong cuốn cẩm nang này, thuộc

Trang 29

29

ngành Lá thông (Psilotophyta): 1 loài; ngành Thông đất (Lycopodiophyta): 1 loài; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 2 loài; ngành Thông (Pinophyta): 17 loài; ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 123 loài Tất cả các loài trong Danh lục Đỏ đã được đánh giá về mức độ bị đe dọa theo IUCN (2001) cụ thể như sau: Thuộc cấp CR (Critically Endangered) có 18 loài Thuộc cấp EN (Endangered) có 57 loài Thuộc cấp VU (Vulnerable) có 69 loài

Bảo tồn nguyên vị các loài cây thuốc tại các khu bảo tồn là hình thức chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian vừa qua Sau ngày thống nhất đất nước, hệ thống các khu bảo tồn được dần dần mở rộng, bổ sung và hoàn thiện cả về quy mô diện tích, và hệ thống quản lý bảo vệ Hệ thống các khu bảo tồn của Việt Nam hiện nay có 211 khu, bao gồm: Các khu bảo tồn rừng (khu rừng đặc dụng) thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang quản lý là: 128 khu (đã được Chính phủ công nhận); Các khu bảo tồn biển do Bộ Thủy sản đề xuất là: 15 khu; Khu bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và môi trường đề xuất: 68 khu Các KBT đất ngập nước và trên biển hiện mới chỉ mới đề xuất, nhưng chưa có quyết định phê duyệt chính thức

Hiện nay xu hướng bảo tồn cây thuốc đang được triển khai nghiên cứu tại nhiều VQG và KBTTN của Việt Nam (VQG Jork Đôn, KBTTN Pù Mát, VQG Cát Bà, v.v.) Theo hướng nghiên cứu này nhiều công trình đang được triển khai trong thời gian hiện nay, điển hình như:

- Trần Văn Ơn đã xây dựng cơ sở khoa học và mô hình bảo tồn cây thuốc tại cộng đồng người Dao VQG Ba Vì, trên cơ sở nghiên cứu các cây thuốc bị thu hái quá mức

- Nguyễn Thị Thuỷ nghiên cứu bảo tồn cây thuốc tại cộng đồng người Hmông, Dao của VQG Hoàng Liên Sơn,

Trong những năm qua nhiều đề tài nghiên cứu bảo tồn chuyển vị cây thuốc đã được triển khai ở Việt Nam Các công trình chủ yếu vào nghiên cứu bảo tồn một số loài cây thuốc có giá trị kinh tế cao hiện đang bị đe doạ trong tự nhiên, điển hình như:

- Dự án Bảo tồn nguồn cây thuốc cổ truyền đã được Bộ Y tế giao cho Viện Dược liệu chủ trì thực hiện từ năm 1997 Trải qua 12 năm thực hiện dự án, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc, đem về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc Đặc biệt là 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng tại: Vùng Sa Pa (8 vườn); khu vực Vườn Quốc gia Bạch Mã (4 vườn); Yên Bái (2 vườn); Nghệ An (1 vườn); Hòa Bình (1 vườn); Thanh Hóa (1 vườn); Lạng Sơn (4 vườn); Hà Giang (1 vườn); Vĩnh Phúc (1 vườn); Hà Nội (1 vườn) Ngoài ra, còn tổ chức

Trang 30

30

đào tạo, tập huấn và truyền thông cho người dân để nâng cao nhận thức về bảo tồn, sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc nói chung và cây thuốc dân tộc nói riêng Đồng thời bảo tồn được tri thức bản địa về sử dụng các loài cây thuốc

chữa bệnh của cộng đồng dân tộc Việt Nam (Ngày 10/4/2010, Viện Dược liệu

đã tổ chức Hội thảo Tổng kết 12 năm thực hiện dự án Bảo tồn nguồn cây thuốc

cổ truyền)

- Lưu Đàm Cư và cộng sự đã nghiên cứu và đưa vào bảo tồn dưới hình thức chuyển vị hơn 40 loài cây thuốc trong vườn rừng của các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai Mô hình này hiện đang được ứng dụng và nhân rộng tại các tỉnh Sơn

La, Hà Giang, Lạng Sơn

- Dự án “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam”, tại xã Bình Dương (Vĩnh Tường,

Vĩnh Phúc) được tiến hành năm 1999 do Quỹ Môi trường toàn cầu tài trợ, đã: vận động trên 800 hộ xây dựng vườn thuốc gia đình, gieo trồng 70 loài cây thuốc có giá trị kinh tế; xây dựng mô hình trồng cây thuốc dưới tán cây; mô hình trồng xen cây thuốc với cây ăn quả; xây dựng được một vườn bảo tồn cây thuốc Nam tại khu lưu niệm Bác Hồ (thôn Lạc Trung) Tổng diện tích cây thuốc năm 1999 là 20.366 m2, năm 2000 tăng hơn gấp đôi, 43.896m2 Ngoài ra còn trồng xen ghép 8 loài cây thuốc có giá trị kinh tế như: Địa liền, Nghệ đen, Mã

đề, Hoài Sơn, Cúc hoa, Bạch chỉ, Ngưu tất, Nhãn trên diện tích 4.440m2,…

- Dự án "Vườn thuốc nam” do Hội Thanh niên Việt Nam tại Pháp tài trợ (tháng

2/2010) đã xây dựng, bảo tồn và phát triển mạng lưới vườn dược thảo, gồm những cây thuốc quý tại 5 xã của huyện A Lưới là: Bắc Sơn, Hồng Trung,

Đông Sơn, Hồng Thái và Hồng Thượng Vườn thuốc nam đã trở thành "tủ thuốc" chăm sóc sức khỏe ban đầu hữu hiệu cho người dân ở đây, v.v

Ngoài hai biện pháp trên, còn có rất nhiều biện pháp khác nhằm mục đích góp phần bảo tồn các loài cây thuốc ở Việt Nam, như:

- Biện pháp về giáo dục, bao gồm: xây dựng nguồn nhân lực, mở rộng các hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học;

- Biện pháp về quản lý, bao gồm: quản lý vùng đệm, bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng, giảm sức ép về dân số;

- Bảo tồn đa dạng cây thuốc bằng công cụ luật pháp: tại Việt Nam, các quy định pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó có cây thuốc được hình thành khá sớm Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng

có thể được coi là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này Hiện nay,

Trang 31

31

Việt Nam có luật Đa dạng Sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 Ngoài ra còn nhiều bộ luật và văn bản liên quan khác, như: Luật Bảo vệ Môi trường (năm 2005); Luật Thương mại (năm 2005); Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng (năm 2004); Luật Thủy sản (năm 2003); Bộ luật Hình sự (năm 1999); Nghị Định 109/2003 ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước; Kế hoạch hành động về ĐDSH của Việt Nam đến năm

và cần một đội ngũ cán bộ khoa học có kinh nghiệm, tâm huyết

11 Mục tiêu của đề tài

- Bảo tồn một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp phục vụ cho chương trình phát triển quỹ gen và đa dạng sinh học của quốc gia

- Góp phần phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng đệm VQG Tam Đảo

12 Nội dung, quy mô và địa điểm thực hiện

12.1 Nội dung thực hiện

- Nghiên cứu thành phần loài cây thuốc tại VQG Tam Đảo

- Nghiên cứu điều kiện sinh thái, vùng phân bố của các loài cây thuốc

- Nghiên cứu, đánh giá các mối tác động tới nguồn tài nguyên cây thuốc

- Nghiên cứu, xác định thành phần hóa học của một số loài cây thuốc và khả năng ứng dụng

- Nghiên cứu về thực trạng khai thác và thị trường cây thuốc trong vùng đệm VQG Tam Đảo

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh trưởng, phát triển và các kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc có trong sách đỏ và có giá trị cao

- Nghiên cứu các biện pháp bảo tồn cây thuốc ở VQG Tam Đảo

- Nghiên cứu các biện pháp thu hoạch, bảo quản, chế biến và gia tăng giá trị các

sản phẩm từ cây thuốc

Trang 32

32

12.2 Quy mô và địa điểm thực hiện

Tổng diện tích xây dựng mô hình vườn cây thuốc 1,5 ha tại Vườn quốc gia Tam Đảo và các hộ gia đình sống tại vùng đệm

13 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

13.1 Cơ sở lý luận

Đề tài sử dụng cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu phát triển nguồn gen bao gồm nhiều lĩnh vực và nhiều chuyên ngành Bên cạnh đó, có sự cùng tham gia của người dân, cán bộ địa phương, các nhà khoa học, doanh nghiệp, người tiêu dùng

Thừa kế các kết quả nghiên cứu đã có về khai thác, sử dụng các loài cây Trà hoa vàng hoang dại, kết hợp sử dụng kiến thức, kinh nghiệm truyền thống của cộng đồng người dân ở các khu vực Mặt khác, tìm hiểu giá trị kinh tế của chúng, từ đó nghiên cứu xây dựng được các mô hình khai thác và phát triển Trà hoa vàng có hiệu quả cao

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, sinh thái học của loài để đề xuất kỹ thuật áp dụng trong công tác nhân giống và trồng trọt, chăm sóc hiệu quả

Theo dõi các đối tượng, nhân tố nghiên cứu bằng phương pháp thống kê, đo đếm định kỳ Từ đó xây dựng các báo cáo tổng hợp, phân tích, đánh giá

13.2 Phương pháp nghiên cứu

13.2.1 Phương pháp kế thừa

Nguồn tài liệu bao gồm: Các công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo của VQG Tam Đảo; Sách, tạp chí, các bản báo cáo của Trung ương, địa phương có liên quan đến các loài cây thuốc, được coi là nguồn thông tin quan trọng, định hướng cho các hoạt động nghiên cứu

13.2.2 Phương pháp điều tra tài nguyên cây thuốc

Được thực hiện theo Quy trình điều tra dược liệu của Viện Dược liệu, bao gồm:

Bao gồm điều tra theo tuyến và bằng ô tiêu chuẩn trên thực địa

a Phương pháp điều tra cây thuốc trên tuyến:

Trang 33

33

Bước 1: Điều tra sơ bộ

Căn cứ vào bản đồ, tài liệu và các thông tin liên quan để sơ bộ đánh giá, điều tra phát hiện loài tại VQG Tam Đảo

Bước 2: Điều tra tỉ mỉ trên tuyến

Dựa vào kết quả điều tra sơ bộ, đề tài tiến hành lập các tuyến điều tra Các tuyến này phân bố trên các dạng địa hình, đai cao và các dạng sinh cảnh khác nhau của VQG Tam Đảo Tổng chiều dài các tuyến là 223,9 km, với chiều rộng trung bình các tuyến là 10m, đi qua độ cao từ 50 - 1.500m Quá trình điều tra trên tuyến sử dụng GPS để xác định hướng đi, chiều dài tuyến điều tra; đồng thời có sự tham gia hỗ trợ của người dân địa phương để nhận mặt cây thuốc Tiến hành chụp ảnh cây thuốc bằng máy ảnh kỹ

thuật số

Trên tuyến tiến hành ghi chép các thông tin về độ cao, toạ độ gặp cây thuốc, dạng sinh cảnh, sự xuất hiện và tình hình sinh trưởng, tái sinh của cây thuốc,… theo Mẫu biểu 01 - Phụ lục 1

b Phương pháp điều tra cây thuốc trên ô tiêu chuẩn:

Trên các tuyến điều tra, lập các ô tiêu chuẩn đại diện, điển hình cho từng trạng thái, từng kiểu rừng Sử dụng GPS để xác đinh tọa độ địa lý của ô tiêu chuẩn và chụp ảnh cây thuốc,… Trong ô tiêu chuẩn thống kê các loài cây được dùng làm thuốc ở tầng cây cao, tầng cây tái sinh, tầng cây bụi thảm tươi, theo Mẫu biểu 02 - Phụ lục 1

Sau mỗi chuyến điều tra, các thông tin từ phiếu điều tra được tập hợp thành một bảng kết quả Thông tin cụ thể không có sự đồng nhất giữa những người cung cấp tin khác nhau và còn phụ thuộc vào người ghi chép thông tin Từ các thông tin thu được,

xử lý, chỉnh lý lại, phân nhóm, Bảng kết quả tổng hợp của mỗi chuyến thực địa sẽ được mang đi kiểm tra, đối chiếu và thu thập thông tin trong các đợt thực địa tiếp theo

13.2.3 Phương pháp nghiên cứu giá trị sử dụng của cây thuốc

Để nghiên cứu về tri thức, giá trị sử dụng của cây thuốc, chúng tôi tiến hành điều tra, phỏng vấn ở các xã có các cộng đồng người dân tộc Dao và Sán Dìu sinh sống Ngoài ra, chụp ảnh một số hoạt động sản xuất của cộng đồng địa phương gắn với cây thuốc Số liệu đươc thu thập theo mẫu biểu 03 - Phụ lục 1

13.2.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật

Các bước từ thu mẫu, ghi chép thông tin, xử lý mẫu, định tên, lập danh lục được thực hiện theo Quy trình điều tra thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Trong quá trình thực hiện đề tài, nghiên cứu sinh được sự phối hợp, giúp đỡ của các cán

Trang 34

34

bộ Phòng Thực vật và Phòng Thực vật dân tộc học của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Phòng Sinh học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Khoa Sinh học của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội

Để đánh giá tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn

13.2.5 Phương pháp đánh giá mức độ đe doạ

Dựa trên các tài liệu đã ban hành về sự nguy cấp của thực vật để đánh giá mức

độ bị đe doạ của các loài cây thuốc, đó là: Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Phần II -

Thực vật; Nghị định số 32/2006/ NĐ - CP về: “Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm”

Ngoài ra, còn căn cứ vào tình hình khai thác, sử dụng và buôn bán tại địa phương để xác định các loài có nguy cơ bị đe doạ trong khu vực nghiên cứu

13.2.6 Phương pháp nghiên cứu về thị trường cây thuốc trong vùng đệm

Để nghiên cứu về thị trường cây thuốc tại vùng đệm, chúng tôi sử dụng hai phương pháp sau:

- Quan sát trực tiếp: Quan sát về người thu hái, buôn bán, các cây thuốc được buôn bán,… những khó khăn của người người bán, người mua gặp phải trong quá trình giao dịch

- Thu thập và phân tích thông tin thông qua phỏng vấn người dân, thầy lang tham gia vào chuỗi thị trường buôn bán cây thuốc theo các câu hỏi được chuẩn bị sẵn trong Mẫu biểu 04 và 05 - Phụ lục 1

Bên cạnh đó, thu thập thêm các dữ liệu về thị trường cây thuốc thông qua các nguồn tài liệu phổ biến như các ấn bản, tạp chí thương mại, các buổi triển lãm thương mại và internet, v.v

13.2.7 Phương pháp xác định các mối đe dọa đối với nguồn tài nguyên cây thuốc

Để nghiên cứu, xác định các mối đe dọa đối với nguồn tài nguyên cây thuốc như: Mất môi trường sống, nghèo đói, tình trạng quản lý,… Chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là RRA và PRA

- RRA (Đánh giá nhanh nông thôn): Là quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xã hội, các thông tin liên quan đến cây thuốc, tại các thôn, xã, huyện vùng đệm

- PRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia): Thu thập thông tin trong quá trình điều tra, phỏng vấn các cá nhân, tổ chức có liên quan như: Các trưởng thôn, thầy lang,

Trang 35

35

người dân thu hái cây thuốc, Ủy ban Nhân dân các cấp, Ban quản lý VQG Tam Đảo, các Hạt, Trạm kiểm lâm địa bàn về tình hình tổ chức quản lý tài nguyên rừng, thực trạng khai thác, sử dụng cây thuốc, đời sống của người dân vùng đệm, Các câu hỏi được thiết kế trong Mẫu biểu 04 và 05 - Phụ lục 1

13.2.8 Phương pháp nghiên cứu thành phần lý hóa của đất

Phẫu diện đất là một mặt cắt tự nhiên của một thực thể đất đại diện cho một đơn

vị phân loại đất Phẫu diện là một tập hợp các tầng đất có quan hệ về phát sinh học và phản ánh sự biến đổi có quy luật của quá trình hình thành đất

Phẫu diện được đào ở đất tự nhiên, phần trên dốc, chưa bị các tác nhân làm biến dạng Mặt cắt của phẫu diện dùng để quan trắc được hướng về phía dưới dốc và được chiếu sáng tốt nhất để dễ quan sát Kích thước một hố phẫu diện là rộng 70 - 90cm x120 - 150cm; độ sâu đạt đến tầng đá mẹ Phẫu diện phụ có kích thước nhỏ và nông hơn Phẫu diện được mô tả theo 3 phần: Tình hình nơi nghiên cứu; đặc trưng và nhận xét phẫu diện, sơ bộ định loại và tên đất

Tại mỗi khu vực đại diện, chúng tôi tiến hành thu 03 phẫu diện chính và 03 phẫu diện phụ

Để đánh giá các thành phần của đất: Độ chua (pH), sử dụng phương pháp của S.N Tartrinov; Đạm (N) tổng số, sử dụng phương pháp Kjeldahl; Đạm (N) dễ tiêu, sử dụng phương pháp Chiurin-Kononova; Lân (P2O5) tổng số, sử dụng phương pháp Loren; Lân (P2O5) dễ tiêu, sử dụng phương pháp Oniani; Kali (K2O) tổng số, sử dụng phương pháp nung chảy, đo trên quang kế ngọn lửa; Kali (K2O) dễ tiêu, sử dụng phương pháp chiết bằng amon acetat, đo trên quang kế ngọn lửa,…

13.2.9 Các phương pháp nghiên cứu nhân giống, bảo tồn cây thuốc

Về nguyên tắc chung, các nhân tố nghiên cứu phải được bố trí thành các công thức khác nhau; nhân tố không nghiên cứu phải được đồng nhất giữa các công thức nghiên cứu; dung lượng mẫu của mỗi công thức phải đủ lớn (n ≥ 30)

13.2.9.1 Nhân giống vô tính bằng hom

a Ngoại nghiệp

Cách lấy hom: Hom được lấy của những cây mẹ đã thành thục phân bố trong tự nhiên, có thân và hình tán đẹp, cây sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, có hoa to đẹp (nếu có) Chọn các cành thứ cấp (cành cấp 2, 3), hoặc hom chồi vượt càng tốt, các cành có hom được chọn là cành bánh tẻ, mới ra trong mùa sinh trưởng, khoảng cách các đốt tương đối đều, mỗi hom sau khi về cắt phải được ít nhất 2 đốt (khoảng 3 lá),

Trang 36

36

Cách cắt hom: Dùng kéo thật sắc bén để cắt hom, vết cắt cần dứt khoát để tránh dập và trầy xước, chiều dài hom từ 8 - 10cm, cắt bỏ một phần lá của hom để giảm bớt sự thoát hơi nước cho hom (thường cắt bỏ 2/3 lá trên hom),…

Xử lý và cắm hom: Hom cắt xong được thả ngay vào chậu nước sạch để tránh khô héo khi chưa xử lý kịp thời Trước khi xử lý hóa chất hom được ngâm vào dung dịch benlat 0,1 % trong 15 phút để diệt nấm Sau đó vớt ra và lần lượt xử lý thuốc điều hòa sinh trưởng Axit β-indol axetic (IAA) và Naphtil axetic (α-NAA),…

Chúng tôi bố trí 07 công thức thí nghiệm cho mỗi loài, cụ thể như sau:

- CT1: hóa chất: IAA nồng độ: 50ppm; thời gian xử lý hom: 30 phút

- CT2: hóa chất: IAA nồng độ: 500ppm; thời gian xử lý hom: 3 phút

- CT3: hóa chất: IAA nồng độ: 2.000ppm; thời gian xử lý hom: 15 giây

- CT4: hóa chất: α-NAA nồng độ 50ppm; thời gian xử lý hom: 30 phút

- CT5: hóa chất: α-NAA nồng độ 500ppm; thời gian xử lý hom: 3 phút

- CT6: hóa chất: α-NAA nồng độ 2.000ppm; thời gian xử lý hom: 15 giây

- CT7: Không dùng hoá chất (dung làm công thức đối chứng)

Thể nền để giâm hom: Diện tích đất ở vườn để làm thí nghiệm phải được làm sạch cỏ dại, nhặt sỏi đá, dọn sạch, san bằng nền đất, sau đó đổ cát vàng (đã được sàng

bỏ sỏi, rác, tạp chất và đã được phơi khô nhiều nắng để diệt khuẩn và hạn chế sâu bệnh) Cát được lên luống cao khoảng 5 - 10cm,…

Theo dõi chăm sóc hom: Sau khi cắm hom, tưới đủ ẩm cho đất nền (thể nền), chụp khung nilon Hàng ngày tưới ẩm 2 - 3 lần (những ngày trời nắng to thì phun 3 lần), 2 - 3 ngày thì tưới ẩm cho nền cát một lần, nền cát luôn giữ ẩm 60 -70% Ở giai đoạn đầu, khi hom tách rời hoàn toàn khỏi cơ thể mẹ, hom bị mất nước rất nhanh nếu không tưới nước kịp thời và thường xuyên thì hom sẽ bị chết Tưới nước vừa đủ, nếu tưới nhiều sẽ dẫn đến hom dễ bị thối và chết, nếu tưới ít thì lượng nước này sẽ không cung cấp đủ cho mọi hoạt động sống của hom, dần dần hom mất nước nhiều sẽ dẫn đến chết Riêng hai loài Vù hương và Gù hương tưới 1 lần/giờ, khi hom ra rễ thì tưới nước ít hơn, v.v

b Nội nghiệp

- Lập sổ theo dõi các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giâm hom và thu thập số liệu

về số lượng hom sống, số lượng hom ra rễ, số lượng hom ra chồi, số chồi, theo Mẫu biểu 06 và 07 - Phụ lục 1

- Cách xác định các chỉ tiêu:

Trang 37

+ Những hom nhú đầu rễ ra khỏi gốc và có từ 1 rễ trở lên thì quy định đó là hom

ra rễ Còn hom không ra rễ là những hom còn tươi, vẫn sống nhưng chưa có rễ

- Thời gian thu thập: Định kỳ 10 ngày một lần

- Phương pháp xử lý số liệu về giâm hom cây thuốc

Việc xử lý các số liệu thu thập, tính toán các đặc trưng mẫu và sử dụng các tiêu

chuẩn thống kê được thực hiện theo phương pháp thống kê sinh học

Để so sánh ảnh hưởng của thời vụ, đề tài dùng chỉ tiêu sau: Tỷ lệ hom sống (%); tỷ lệ hom ra rễ (%), số chồi trên hom (cái); sức sinh trưởng của chồi (tốt, trung bình, xấu)

13.2.9.2 Nhân giống vô tính bằng củ, thân

Trang 38

38

nhiệt độ 35- 40oC, trong 6 giờ và giữ cho nhiệt độ ổn định trong quá trình ngâm Sau

đó gieo hạt vào cát sạch, hạt được xem là nảy mầm khi rễ phôi dài 1/3 - 1/2 chiều dài của hạt Từ khi hạt bắt đầu nảy mầm, định kỳ ghi chép số hạt nảy mầm cho đến thời gian kết thúc nảy mầm Khi đại đa số hạt đã nảy mầm, đề tài quan sát tiếp 3 ngày liền

mà thấy tổng số hạt nảy mầm dưới 1% tổng số hạt thì kết thúc giai đoạn nảy mầm,

b Nội nghiệp

Cách thức tiến hành gồm: Lập số theo dõi, thu thập số liệu định kỳ Số liệu được thu thập theo Mẫu biểu 09 - Phụ lục 1 Nhân tố nghiên cứu là Tỷ lệ nảy mầm được tính bằng công thức sau:

Cách 2: Cây thuốc được giâm theo một giai đoạn, đó là hom cây thuốc sau khi thu được, tiến hành xử lý chất điều hòa sinh trưởng (IAA nồng độ 50ppm + α-NAA nồng độ 50ppm, trong thời gian 3 phút) được giâm trực tiếp vào bầu đất có thành phần như ở cách 1 Đây được coi là công thức đối chứng

b Nội nghiệp

Cách thức tiến hành gồm: Lập số theo dõi, thu thập số liệu định kỳ Số liệu được thu thập theo Mẫu biểu 10 - Phụ lục 1 Nhân tố nghiên cứu là Tỷ lệ sống của cây con được tính bằng công thức sau:

Tỷ lệ sống của cây con = *100%

13.2.9.5 Nghiên cứu xây dựng mô hình

a Nguyên tắc xây dựng mô hình

Các loài cây được lựa chọn trên cơ sở các tiêu chí rõ ràng và trong quá trình lựa chọn có sự tham gia của người dân, các thầy lang và các nhà quản lý

Trang 39

39

Các mô hình được xây dựng dựa trên các nguyên tắc: Nguyên tắc thích ứng, chọn

loại cây trồng trong các mô hình phải đảm bảo “Đất nào cây nấy” và phù hợp với khí

hậu, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; nguyên tắc cung cầu của thị trường, nghiên cứu về tỷ lệ, lượng sản xuất và sản phẩm phải theo hướng thị trường, phải theo nhu cầu của thị trường, luôn điều chỉnh cân bằng cung cầu; nguyên tắc bổ sung và giảm thiểu tác hại, giảm sự rủi ro; nguyên tắc kết hợp lợi ích trước mắt và lâu dài

b Kỹ thuật trồng cây trong các mô hình

Trồng trong khoảng tháng ba đến tháng năm trong năm, vào những ngày râm mát hoặc có mưa; Trồng dưới tán rừng hoặc nơi có cây che bóng, trên đất còn tốt; Trước khi trồng, phát dọn theo rạch hoặc quanh hố với đường kính 1m, chú ý chừa cây

để làm giá đỡ cho các loài cây leo; Hố đào kích cỡ 40x40x40cm hoặc 50x50x50cm, bón lót 0,5kg phân chuồng hoai mục và 0,1kg supe lân cho mỗi hố; Mật độ trồng: 5.000 cây/ha, cự ly 2x2m hoặc 1.500 cây/ha, cự ly 4x4m; Cách trồng: Mỗi hố đặt cây, lấp đất đầy, giậm chặt rồi tiếp tục lấp cao hơn miệng hố 4-5cm; Chăm sóc: 2-3 lần/năm, phát cây cỏ xâm lấn và vun xới quanh gốc đường kính 0,5m, kết hợp bón phân NPK

13.2.9.6 Nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của cây thuốc

a Ngoại nghiệp

Đối với mỗi loài cây thuốc, sau khi đã đạt những tiêu chuẩn nhất định về cây giống, được đề tài tiến hành trồng tại các mô hình theo các kỹ thuật lâm sinh phù hợp,…

Sự sinh trưởng và phát triển của cây thuốc được theo dõi theo định kỳ và đánh giá dựa trên các chỉ tiêu sau: Tỷ lệ cây sống, chiều cao (dài) của chồi chính, số chồi/cây, số chồi cấp 2/cây, tỷ lệ cây có hoa, quả

Trang 40

40

13.2.10 Phương pháp phân tích chính sách

Theo hướng dẫn của giáo trình Lâm nghiệp xã hội đại cương, Các tài liệu được sử dụng là: Luật, Nghị định, Thông tư còn hiệu lực, các báo cáo của các cơ quan hữu quan của các tỉnh, huyện, xã trong vùng đệm

14 Tiến độ thực hiện đề tài

TT Các nội dung, công việc

chủ yếu cần được thực hiện

(các mốc đánh giá chủ yếu)

Sản phẩm phải đạt

Thời gian (bắt

đầu, kết

thúc)

Người, cơ quan thực hiện

Năm 2009

1 Điều tra phân bố, đặc điểm sinh thái,

thu thập mẫu các loài cây thuốc quý

hiếm và nguy cấp

Kết quả điều tra về thành phần loài, phân bố, đặc điểm sinh thái của các loài cây thuốc quý hiếm

và nguy cấp

Báo cáo tổng hợp

Tháng 4 - 5/2009

4 cán bộ của VQG: Tuân, Lâm, Thụy, Chi + 01 thầy lang địa phương – Ông Trung

2 Thuê sấy mẫu

100 kg mẫu tiêu bản khô

Tháng 6/2009

Tuân, Lâm + cán bộ của Viện Sinh thái

và Tài nguyên Sinh Vật

3

Thuê chuyên gia giám định tên khoa

học và tư vấn lập Danh lục các loài

cây thuốc quý hiếm và nguy cấp

Các loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp được định tên khoa học

Danh lục cây thuốc của VQG Tam Đảo

Tháng 7 - 8/2009

Tuân, Lâm + cán bộ của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

4 Phân tích các mẫu đất đại diện tại các

nơi có các loài cây thuốc phân bố

Kết quả phân tích các mẫu đất

Báo cáo về đặc điểm phân bố và sinh thái của các loài cây thuốc

Tháng 9/2009

Tuân, Lâm + các cán bộ của Viện Nông hóa và Thổ nhưỡng

5

Điều tra nghiên cứu và đánh giá về

giá trị của tài nguyên cây thuốc mang

lại cho nhân dân vùng đệm

Kết quả điều tra về giá trị sử dụng của các loài cây thuốc,

Tháng 10 –

11/2009

Tuân, Lâm

Ngày đăng: 30/08/2015, 10:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Số lượng họ, chi, loài cây thuốc ở hai lớp trong ngành Ngọc lan - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 4 Số lượng họ, chi, loài cây thuốc ở hai lớp trong ngành Ngọc lan (Trang 46)
Bảng 7: So sánh cây thuốc ở VQG Tam Đảo với Việt Nam - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 7 So sánh cây thuốc ở VQG Tam Đảo với Việt Nam (Trang 47)
Bảng 10: Danh mục bệnh/chứng được người Sán Dìu ở vùng đệm - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 10 Danh mục bệnh/chứng được người Sán Dìu ở vùng đệm (Trang 51)
Bảng 13: Thống kê nhận thức của người dân về khai thác cây thuốc - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 13 Thống kê nhận thức của người dân về khai thác cây thuốc (Trang 60)
Bảng 17 : Một số thông tin cơ bản về các hộ được điều tra - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 17 Một số thông tin cơ bản về các hộ được điều tra (Trang 65)
Bảng 18: Ảnh hưởng của việc thành lập VQG đối với hoạt động thu hái cây - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 18 Ảnh hưởng của việc thành lập VQG đối với hoạt động thu hái cây (Trang 65)
Bảng 19: Tỷ lệ các hộ khai thác tài nguyên cây thuốc và vai trò của cây - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 19 Tỷ lệ các hộ khai thác tài nguyên cây thuốc và vai trò của cây (Trang 66)
Bảng 21: Các kênh thông tin tuyên truyên bảo vệ cây thuốc - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 21 Các kênh thông tin tuyên truyên bảo vệ cây thuốc (Trang 68)
Bảng 22: Tỷ lệ ra rễ của Bổ béo đen và Sâm cau - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 22 Tỷ lệ ra rễ của Bổ béo đen và Sâm cau (Trang 70)
Bảng 28: Tỷ lệ sống của Hoàng tinh hoa trắng,  Hoài sơn và Bình vôi trong túi bầu  Thời gian (ngày) - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 28 Tỷ lệ sống của Hoàng tinh hoa trắng, Hoài sơn và Bình vôi trong túi bầu Thời gian (ngày) (Trang 76)
Bảng 29: Kết quả phân tích hóa lý đất của Vườn thực vật - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 29 Kết quả phân tích hóa lý đất của Vườn thực vật (Trang 77)
Bảng 30: Sự sinh trưởng và phát triển của Bổ béo đen và Sâm cau - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 30 Sự sinh trưởng và phát triển của Bổ béo đen và Sâm cau (Trang 79)
Bảng 31: Sự sinh trưởng và phát triển của Ba kích tại Vườn thực vật - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 31 Sự sinh trưởng và phát triển của Ba kích tại Vườn thực vật (Trang 80)
Bảng 32: Sự sinh trưởng và phát triển của Thiên niên kiện - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 32 Sự sinh trưởng và phát triển của Thiên niên kiện (Trang 81)
Bảng 33: Hiện trạng qui hoạch sử dụng đất trong vùng đệm - Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp tại vườn quoccs gia tam đảo
Bảng 33 Hiện trạng qui hoạch sử dụng đất trong vùng đệm (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w