1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tổng hợp câu hỏi ôn thi luật quốc tế (công pháp quốc tế)

30 1,6K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 252 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chủ thể của luật quốc tế chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tê lànhững chủ thể đặc biệt, bao gồm: quốc gia, tổ chức liên chính phủ asean, EU,WTO… và các dân tộc đang đấu tranh

Trang 1

Tổng hợp câu hỏi ôn thi luật quốc tế

1 Câu 1: Chứng minh luật quốc tế là một hệ thống pháp luật đặc biệt

- Dù theo quan điểm nào đi nữa thì nó vẫn được xem là một hệ thống pháp luậtđộc lập

2 Luật quốc tế là một hệ thống pháp luật:

- Luật quốc tế do nhiều đơn vị cấu thành, nó bao gồm rất nhiều ngành luật VD:Luật biển quốc tế, luật môi trường quốc tế, luật ngoại giao lãnh sự, luật hàngkhông quốc tế……

- Nó mang tính tương đồng thể hiện: luật quốc tế do chủ thể của luật quốc tế xâydưng nên, và nó điều chỉnh các quan hệ quốc tế

- Nó mang tính trình tự:

+ Theo chiều dọc: các quy phạm pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế…không được trái với hiến chương và luôn luôn có giá trị thấp hơn hiến chương;còn đối với các điều ước quốc tế toàn cầu thì nó có giá trị pháp lý cao hơn cácđiều ước quốc tế tầm khu vực, và điều ước quốc tế lại có giá trị pháp lý thấphơn so với điều ước quốc tế khu vực

+Theo chiều ngang: Luật quốc tế phân thành những ngành luật độc lập vì mỗingành luật thuộc luật quốc tế có phương pháp điều chỉnh và đối tượng điềuchỉnh riêng

3 Luật quốc tế là môt hệ thống pháp luật mang tính đặc biệt:

Trang 2

- Chủ thể của luật quốc tế (chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tê) lànhững chủ thể đặc biệt, bao gồm: quốc gia, tổ chức liên chính phủ (asean, EU,WTO…) và các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập (palestin) và một vài chủthể đặc biệt khác như (tòa thánh vatican, công quốc mônaco, xứ wales, cácvùng tự trị) chứ không phải là những tổ chức, cá nhân thông thường như các hệthống pháp luật khác

- Luật quốc tế được xây dựng bởi một trình tự đặc biệt bởi không có một cơquan nào có thẩm quyền xây dựng luật quốc tế mà nó được hình thành thôngqua sự thỏa thuận,ký kết các điều ước quốc tế của các chủ thể luật quốc tế nêu

ở trên

- Cơ chế bảo đảm thi hành của luật quốc tế cũng mang tính đặc biệt vì không có

cơ quan chuyên trách tiến hành cưỡng chế khi có vi phạm luật quốc tế mà thayvào đó là cơ chế tự cưỡng chế thôg qua 3 biện pháp: cưỡng chế riêng lẽ bằnglực lượng vũ trang hay cắt quan hệ ngoại giao…, cưỡng chế tập thể và thôngqua dư luận tiến bộ thế giới

4 Đánh giá tầm quan trọng của luật quốc tế trong thời đại hiện hay: Có thể nóithêm (không có cũng được)

Trang 3

quốc tế mà họ đã gây ra Nội hàm cũng như thực tiễn về chế định này như thế nào? Chúng

ta cùng đi tìm hiểu.

Đầu tiên, chúng ta phải đi tìm hiểu về trách nhiệm pháp lý quốc tế Trách nhiệm pháp lýquốc tế là gì? Trách nhiệm pháp lý quốc tế được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi dự kiến ápdụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật quốc tế hoặc thực hiện hành vi mà luật quốc tếcho phép nhưng gây thiệt hại với chủ thể khác

Xét về khía cạnh lịch sử thì Chế định này xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ XX, và từ đó theoquá trình phát triển của hệ thống luật quốc tế chế định này ngày càng càng có nhiều quyphạm tiến bộ để ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể luật quốc tế khi tham gia vào cácquan hệ quốc tế

Với bản chất của trách nhiệm pháp lý quốc tế thì chủ thể của nó đó là các chủ thể củaluật quốc tế, bao gồm: quốc gia, các tổ chức liên chính phủ, các dân tộc đang đấu tranhgiành độc lập và các chủ thể đặc biệt (vatican…) Trong đó quốc gia là chủ thể thường gặpnhất vì quốc gia được coi là chủ thể chủ yếu và chiếm đa số của luật quốc tế Và chủ thểcủa chế định này sẽ được phân thành 2 nhóm: nhóm bị áp dụng trách nhiệm pháp lý quốc tế

và nhóm được áp dụng trách nhiệm pháp lý quốc tế Trong phạm vi bài luận này chỉ đề cậpđến nhóm bị áp dụng

Vấn đề rất quan trọng tiếp theo cần xác định đó là cơ sở pháp lý quốc tế của trách nhiệmpháp lý quốc tế Chế định này được đảm bảo bằng một cơ sở pháp lý vững chắc đó là việcghi nhận nó tại hiến chương liên hợp quốc tại điều 39,41,42 Ngoài ra, việc xác định tráchnhiệm pháp lý còn căn cứ vào các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng khác, như: công ướcnăm 1973 về tội phân biệt chủng tộc và trừng trị tội đó, công ước 1948 về tội diệt chủng,công ước 1972 về trách nhiệm pháp lý quốc tế do các con tàu vũ trụ gây thiệt hại…

Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về chế định này, thì các chuyên gia xây dựng nênluật quốc tế đã dựa trên cơ sở pháp lý và tính chất trách nhiệm để phân loại tráchnhiệm pháp lý quốc tế Nếu xét trên khía cạnh tính chất trách nhiệm thì trách nhiệmpháp lý quốc tế được phân thành: trách nhiệm vật chất và trách nhiệm phi vật chất.trách nhiệm pháp lý quốc tế phi vật chất là trách nhiệm chủ thể vi phạm pháp luậtquốc tế phải có nghĩa vụ đền bù về mặt vật chất cho chủ thể bị hại Thể loại vật chất

Trang 4

có hai hình thức: Khôi phục nguyên trạng ( Restitusia ) và đền bù thiệt hại (Reparasia)Đối với trách nhiệm phi vật chất cũng là một dạng trách nhiệm pháp lý quốc tế, theo

đó chủ thể vi phạm luật quốc tế phải có nghĩa vụ đền bù thiệt hại về mặt tinh thần chochủ thể luật quốc tế khác (chủ thể bị hại), Trách nhiệm phi vật chất có thể áp dụngmột trong ba hình thức truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế: Hình thức đáp ứng đòihỏi của bên bị hại; hình thức trả đũa và hình thức trừng phạt

Nếu xét trên khía cạnh cơ sở pháp lý thì trách nhiệm pháp lý được phân thành: trách nhiệmpháp lý khách quan và trách nhiệm pháp lý chủ quan Theo đó, tính chất của 2 loại tráchnhiệm này là khác nhau

Đối với trách nhiệm pháp lý khách quan được hiểu là hậu quả pháp lý áp dụng cho chủ thểthực hiện hành vi luật quốc tế cho phép nhưng gây thiệt hại cho chủ thể khác Hiện tại, cácquy phạm về loại trách nhiệm này được ghi nhận trong các ngành luật chuyên biệt và một

số công ước cụ thể điều chỉnh trách nhiệm này Ví dụ: Luật vũ trụ quốc tế, luật nguyên tửquốc tế, công ước về trách nhiệm con người tác nghiệp các tàu hạt nhân năm 1962…Vàviệc xác định trách nhiệm pháp lý khách quan phải dựa trên 3 điều kiện được coi là cơ sở,

đó là: Có quy phạm pháp lý quy định nghĩa vụ và quyền tương ứng trong trách nhiệmkhách quan, Có sự kiện làm phát sinh hiệu lực áp dụng của các quy phạm pháp lý nêu trên,

có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện pháp lý và thiệt hại vật chất phát sinh Sau khi có đầy

đủ căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý khách quan thì việc tiếp theo đó là thực hiệntrách nhiệm trên thực tế thông qua các hình thức, như: có thể đền bù bằng tiền hoặc hiệnvật, hay Có thể áp dụng hạn hữu hình thức thực hiện trách nhiệm khác như hình thức thaythế thiệt hại bằng việc chuyển giao cho chủ thể bị hại những đối tượng tương ứng về ýnghĩa và giá trị, thay thế đối tượng bị mất đi

Đối với trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan (do vi phạm pháp luật quốc tế) thì trước tiênphải tìm hiểu thế nào là vi phạm pháp luật quốc tế Có thể hiểu vi phạm pháp luật quốc tế làhành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật quốc tế do chủ thể của luật quốc

tế thực hiện, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong quan hệ quốc

tế Có thể chia vi phạm pháp luật quốc tế thành 2 dạng: tội ác quốc tế và vi phạm thôngthường Và căn cứ để xác định vi phạm pháp luật quốc tế đó là sự thể hiện của hành vi

Trang 5

(hành động hoặc không hành động); có hậu quả xảy ra và phải có mối quan hệ nhận quảgiữa hành vi va hậu quả xảy ra Quay trở lại với trách nhiệm pháp lý chủ quan nói ở trên, taxét đến cơ sở xác định trách nhiệm và miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế Đối với cơ sở xácđịnh thì xét đến cơ sở pháp lý đó là những quy định trong các điều ước quốc tế; tập quánquốc tế; bản án, quyết định của tòa án, trọng tài…Vd: Tuyên bố về chiều rộng của các vùngbiển, chống khủng bố… và cơ sở thực tế đó là căn cứ vào 4 dấu hiệu: có hành vi trái phápluật quốc tế; có thiệt hại xảy ra; có mối liên hệ giữa hành vi trái pháp luật quốc tế và thiệthại xảy ra; và có lỗi Khi có đủ cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý của một chủ thể viphạm pháp luật quốc tế như đã phân tích thì chủ thể đó phải thực hiện trách nhiệm pháp lýquốc tế từ hành vi của mình thông qua các hình thức như: thực hiện trách nhiệm vật chấtnhư khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; hay trách nhiệm phi vật chất như công khaixin lỗi, đính chính, cắt đứt quan hệ ngoại giao… Và trong một số trường hợp nhất định quyđịnh trong hiến chương liên hợp quốc được miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế thì chủ thể viphạm sẽ không phải thực hiện trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm mà mình gây ra(được quy định từ điều 29 đến điều 34 hiến chương liên hợp quốc), vd: tự vệ hợp pháp, trảđũa tương xứng; trường hợp bất khả kháng; tình thế cấp thiết…

Qua đây có thể thấy, việc đảm bảo sự thực thi, sự tôn trọng luật quốc tế và bảo vệ quyền lợicủa những chủ thể bị thiệt hại thì chế định trách nhiệm pháp lý là vô cùng cần thiết Thếnhưng, như thế vẫn là chưa đủ vì trách nhiệm pháp lý đặt ra để cho chủ thể vi phạm thựchiện, trong trường hợp không có sự thiện chí của bên thực hiện thì nó sẽ không được thựcthi trên thực tế Và để phần nào khắc phục điều đó, chế định cưỡng chế trong luật quốc tế rađời

“Cưỡng chế pháp lý quốc tế thực chất là việc truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế khimột hay một số chủ thể của luật quốc tế không thực hiện trách nhiệm pháp lý củamình Nghĩa là khi một chủ thể (ví dụ, một quốc gia) vi phạm luật quốc tế thì vấn đềtrách nhiệm pháp lý đặt ra với quốc gia đó (họ phải có trách nhiệm bồi thường, lêntiếng xin lỗi công khai, khôi phục nguyên trạng, v.v… đối với quốc gia bị hại) Nhưngnếu họ không hoàn thành trách nhiệm pháp lý đó thì biện pháp cưỡng chế được ápdụng Quốc gia cũng là chủ thể cơ bản và chủ yếu trong việc thi hành áp dụng biện

Trang 6

pháp cưỡng chế việc tuân thủ áp dụng pháp luật quốc tế Các biện pháp cưỡng chếpháp lý được thể hiện dưới 3 hình thức: cưỡng chế riêng lẽ như cấm vận, triệu hồi đại

sứ, cắt quan hệ ngoại giao, trả đũa…; các biện pháp cưỡng chế tập thể như các biệnpháp cưỡng chế của liên hợp quốc, các biện pháp cưỡng chế tập thể do các quốc gialiên minh thực hiện (EU đánh thuế cao, EU trừng phạt IRAN…); các biện pháp bảođảm thi hành khác như dùng dư luận tiến bộ thế giới

Trên đây là những phân tích về các vấn đề cơ bản của trách nhiệm pháp lý quốc tế vàcưỡng chế pháp lý quốc tế Có thể thấy được mối quan hệ mật thiết và biện chứnggiữa 2 chế định này Trách nhiệm pháp lý là cái xuất hiện trước, còn cưỡng chế là chếđịnh xuất hiện khi trách nhiệm pháp lý không được các chủ thể thi hành trên thưc tế

để bảo đảm thi hành trách nhiệm pháp lý Cưỡng chế cũng là một dạng trách nhiệmpháp lý

Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với chủ thểluật quốc tế có hành vi vi phạm vẫn còn nhiều hạn chế Một số quốc gia dựa vào tiềmlực kinh tế và sức mạnh quân sự đã có những vi phạm như can thiệp vào nội bộ quốcgia khác, dung quân sự để giải quyết tranh chấp … Nhưng lại không phải chịu bất cứtrách nhiệm gì Điển hình là Mỹ và bây giờ là Trung Quốc Các quốc gia này đã cónhiều hành động trái với quyết định của liên hợp quốc của công đồng quốc tế nhưngvẫn không chịu trách nhiệm gì Ví dụ: vấn đề biển đông và hành động của TQ, vấn đềIRAC và hành động của Mỹ Hay trường hợp áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp

lý và cưỡng chế những vẫn không có tác động tích cực mà điển hình là vấn đề hạtnhận trên bán đảo Triều Tiên Và để khắc phục điều này, điều cần thiết ngay bây giờ

là phải cải tổ lại hoạt động của liên hợp quốc nói chung và hội đồng bảo an nói riêngcùng với đó là các cơ chế hoạt động của tổ chức này Có thể nói đây là một hành độngtương đối hiệu quả cho việc nâng cao tính hiêu quả của 2 chế định này cũng như thúcđẩy trật tự an ninh thế giới trong thời đại đầy phức tạp ngày nay

Trang 7

3 Câu 3: Tranh chấp pháp lý quốc tế và giải quyết tranh chấp thông quan con đường tòa án công lý quốc tế:

Với xu thế hội nhập hiện nay, quan hệ giữa các quốc gia ngày càng mở rộng và phát triểntrên mọi lĩnh vực Cùng với sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế là tiềm ẩn nguy cơ nảysinh mâu thuẩn, bất đồng trong quá trình các chủ thể thiết lập các mối quan hệ hợp tác quốc

tế Điều này thể hiện rõ khi các tranh chấp quốc tế ngày càng gia tăng Chính vì thế kháiniệm tranh chấp quốc tế cũng được nhắc đến nhiều nhất hiện nay Và vấn đề giải quyếttranh chấp quốc tế luôn là vấn đề thời sự quốc tế nóng bỏng nhất trên trường quốc tế bởitầm quan trọng của nó ảnh hưởng đến an ninh và sự phát triển của thế giới Vậy tranh chấpquốc tế là gì? Có những biện pháp gì để giải quyết tranh chấp?

Hiện nay, tuy có nhiều văn bản hướng dẫn, nhưng cộng đồng quốc tế vẫn chưa thống nhấtđịnh nghĩa tranh chấp quốc tế là gì, cấu thành của tranh chấp quốc tế ra sao Nhưng nhìnchung, tranh chấp quốc tế là những vấn đề phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế thể hiệnnhững bất đồng , xung đột về những vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế cũng như các ý kiến

và quan điểm khác nhau trong việc giải thích và áp dụng luật quốc tế

Và chính vì thế nên chủ thể của các tranh chấp quốc tế phải là các chủ thể của luật quốc tế,bao gồm: quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập

và các chủ thể đặc biệt khác (Vatican, Monaco…)

Và hiển nhiên luật được sử dụng ở đây không thể là luật quốc gia mà phải là luật quốc tế

Và các căn cứ pháp lý được sử dụng như hiến chương liên hợp quốc, quy chế tòa án quốc

tế, công ước Lahaye 1907, và các điều ước quốc tế khác…

Theo đó, tranh chấp quốc tế sẽ được phân loại như sau: Nếu căn cứ vào số lượng các bêntranh chấp, ta có tranh chấp đa phương (tranh chấp giữa 3 chủ thể luật quốc tế trở lên nhưtranh chấp về quần đảo Hoàng Sa giữa VN, trung quốc, philiphin, Malasia…) và tranh chấpsong phương (giữa 2 chủ thể luật quốc tế với nhau như tranh chấp giữa Việt Nam và TrungQuốc về biển đông…); Nếu căn cứ vào tính chất của tranh chấp, có thể phân ra thành tranhchấp về chính trị và tranh chấp về pháp lý; hay căn cứ vào tư cách chủ thể, có thể chia rathành tranh chấp giữa các quốc gia, tranh chấp giữa các tổ chức quốc tế và tranh chấp giữa

Trang 8

các quốc gia và tổ chức liên chính phủ (như tranh chấp giữa Asean và Trung Quốc); Haycăn cứ vào đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế ta có tranh chấp về ngoại giao, tranh chấp

về biên giới lãnh thổ và tranh chấp về kinh tế Song việc phân loại này chỉ mang tính chấttương đối do có nhiều tranh chấp vừa mang tính chất này, vừa mang tính chất khác VD:tranh chấp về biên giới trên bộ giữa TQ và VN vừa là tranh chấp về chính trị (hiện trạng vànguyên trạng) vừa là tranh chấp về pháp lý (hiệp định phát thanh) Ngoài ra còn có nhiềucăn cứ để phân loại khác

Và tất nhiên khi một tranh chấp phát sinh, vấn đề đặt ra là tìm ra phương án giải quyết tranhchấp Đối với 1 tranh chấp quốc tế thì theo quy định tại điều 33 hiến chương LHQ quyđịnh: khi một tranh chấp xảy ra phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình bao gồm nhữngnhóm biện pháp sau: Đàm phán trực tiếp; Thông qua bên thứ 3; thông qua cơ quan tài phán;Ngoài ra còn có các biện pháp khác là nhóm biện pháp hỗ trợ giải quyết triệt để các tranhchấp Đối với nhóm biện pháp đàm phán trực tiếp là các bên trực tiếp thỏa thuận cùng nhauthống nhất nội dung giải quyết Còn nhóm biện pháp thông qua bên thức 3 bao gồm nhiềucách thức để lựa chọn: trung gian, hòa giải, ủy ban kiểm tra và hòa giải, thông qua tổ chứcquốc tế, ví dụ như việc tranh chấp giữa Nga và Grudia được tổng thống pháp tự đứng ralàm trung gian hòa giải hay như tranh chấp giữa UCRAINA và Grudia do Nga đứng ra hòagiải Nhóm biện pháp thứ 3 là thông qua cơ quan tài phán bao gồm trọng tài quốc tế và tòa

ICJ là một cơ quan của LHQ, có cơ cấu tổ chức riêng, nguyên tắc hoạt động của cơ quannày phải dựa trên 7 nguyên tắc hoạt động của LHQ quy định tại điều 2 hiến chương Cơ sởpháp lý để tòa hoạt động là hiến chương LHQ 1945 và quy chế tòa án công lý quốc tế đượcthông qua năm 1946, cùng với đó còn bao gồm cả nội quy của tòa Về cơ cấu tổ chức, hoạt

Trang 9

động chức năng của Tòa được tiến hành bởi các thẩm phán được bầu theo quy chế Cơ quan

có thẩm quyền đề cử và bầu cử thành viên của tòa án công lý quốc tế là Đại hội đồng và hộiđồng bảo an Số lượng thẩm phán của Tòa được ấn định là 15 thành viên, với nhiệm kỳchung là 9 năm, trong đó phân thành tỉ lệ 1/3 số thành viên có nhiệm kỳ 3 năm và 6 năm.Tiêu chuẩn được bầu làm thẩm phán phải căn cứ vào năng lực cá nhân , quốc tịch, tươngquan vị trí địa lý và hệ thống pháp luật trên thế giới Bên cạnh các thẩm phán của tòa, trongmột số trường hợp nhất định như khi một trong các bên tranh chấp có thẩm phán mangquốc tịch nước mình…thì khi mở phiên tòa các bên các bên có thể lựa chọn thẩm phánadhoc Ngoài ra còn có chế định phụ thẩm và thư ký tòa theo quy định của quy chế tòa ánICJ Về thẩm quyền thì ICJ có 2 thẩm quyền là thẩm quyền đưa ra kết luận tư vấn và thẩmquyền giải quyết tranh chấp Xin đi sâu vào thẩm quyền giải quyết tranh chấp Theo điều 36quy chế tòa án công lý quốc tế quy định tòa án có thẩm quyền giải quyết tất cả các vụ việc

mà các bên đưa ra và tất cả các vấn đề nêu riêng trong hiến chương LHQ hoặc trong cáchiệp ước, công ước quốc tế hiện hành Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các chủthể là các quốc gia, không phân biệt quốc gia đó có phải là thành viên của LHQ hay không.Trong mọi trường hợp xảy ra tranh chấp, thẩm quyền của tòa được xác định trên cơ sở ý chícủa các chủ thể đang tranh chấp và khi thẩm quyền của tòa án được xác lập thì thẩm quyềnnày là độc lập, dựa trên ý chí tự nguyện từ các bên hữu quan, mà không có bất cứ sức épchính trị hay kinh tế nào Việc xác định thẩm quyền của tòa được biểu hiện bằng các cáchsau: các bên thỏa thuận đưa từng vụ việc cụ thể ra tòa (special agreement); hay quy địnhtrong điều ước quốc tế mà các bên tham gia (jurisdictional clause); hoặc việc tuyên bố đơnphương chấp nhận thẩm quyền của tòa theo điều 36 quy chế tòa án quốc tế (optionalclause) Xét về trình tự, thủ tục tố tụng thì thành phần một phiên xét xử có thể có toàn bộthẩm phán hoặc có thể có ít hơn Trong một số trường hợp đặc biệt tòa có thể thành lập cáctòa đặc thù như tòa rút gọn trình tự tố tụng (bao gồm 5 thẩm phán), tòa đặc biệt…Trình tựxét xử có 2 giai đoạn đó là xem xét về hình thức tức là xem xét thẩm quyền của tòa án, vàxét xử về nội dung vụ việc theo 2 thủ tục là thủ tục nói và thủ tục viết Theo đó, đối với thủtục viêt thì các bên hoàn thành và trao đổi bản bị vong lục và phản bị vong lục tiếp theo đó

là thủ tục nói: mở phiên tòa công khai, nghe phát biểu ý kiến và tranh tụng giữa các bên,

Trang 10

hỏi nhẩn chứng Sau khi hoàn thành xong 2 giai đoạn tòa án sẽ đưa ra phán quyết cuốicùng, hoặc không đưa ra phán quyết cuối cùng nếu trong quá trình xét xử 2 bên có thể tựmình giải quyết Và trên lý thuyết, thì phán quyết của tòa án công lý quốc tế có giá trịchung thẩm – có giá trị pháp lý cao nhất và không được kháng cáo, kháng nghị.

Có thể nói, trong thời điểm hiện tại khi mà cán cân quyền lực chính trị và kinh tế đang có

sự thay đổi, các quốc gia luôn muốn tranh thủ tất cả quyền lợi về mình và luôn nuôi dưỡnggiấc mơ làm bá chủ thì vấn đề xung đột quyền lợi, quan điểm hay ý chí là vấn đề ngày càngtrở nên phổ biến Bản thân khái niệm về tranh chấp quốc tế đã là những mâu thuẫn vềquyền và lợi ích giữa các chủ thể nên để đảm bảo dung hòa sự xung đột, một trong nhữngnguyên tắc giải quyết tranh chấp là dùng biện pháp hòa bình nhằm dàn xếp những mâuthuẫn mà không dùng vũ trang Với những ưu điểm về trình tự thủ tục rõ ràng, tỉ lệ thànhcông cao, có tính khả thi thì tòa án công lý quốc tế là lựa chọn tối ưu cho vấn đề này Tuynhiên thực tế cho thấy đã có rất nhiều lo ngại và bàn cãi về giá trị pháp lý cũng như tínhcông bằng trong phán quyết của ICJ

Xét từ khi thành lập năm 1946 đến nay, đã có 72 vụ tranh chấp được đưa ra tòa án ICJ, 22trường hợp hỏi ý kiến của các tổ chức quốc tế Hầu hết các trường hợp được tòa giải quyếttheo đề nghị của các bên liên quan, 11 trường hợp vẫn chưa được giải quyết Có nhữngphán quyết của tòa về các vụ tranh chấp đã được các bên thi hành triệt để trên thực tế, điểnhình như vụ tranh chấp giữa Malaysia và Singapore đối với 2 quần đảo pedra Branca, SouthLegde và Middle Rock Phán quyến của tòa được được cả 2 bên chấp nhận, phó thủ tướngSingapore S.Jayakumar nói rằng ông hài lòng với phán quyết này, còn phái Malaysia thì coiđây là một phán quyết mà 2 bên cùng thắng Song còn rất nhiều trường hợp các phán quyếtkhông được thi hành trên thực tế mặc dù trên lý thuyết phán quyết của ICJ là có giá trịchung thẩm nhưng trên thực tế đã chứng minh nó chỉ có tính tham khảo Ví dụ điển hìnhnhư năm 2004 tòa đưa ra một phán quyết đầy tranh cãi bằng việc lên án hàng rào an ninhcủa Isreal, kết tội hành động của nước này là vi phạm pháp luật quốc tế và phải bỏ hàng ràonày ngay lập tức, cũng như bồi hoàn chi phí thiệt hại cho người Palestine Israel phản đốiquyết liệt quyết định trên và lờ đi, vẫn tiếp tục xây dựng và củng cố hàng rào an ninh Tuynhiên trường hợp Israel không phải là nước đầu tiên phớt lờ đi quyết định của tòa mà

Trang 11

Argentina vào năm 1977 và Mỹ vào năm 1984 cũng có những quyết định tương tự Có ýkiến cho rằng một trong những nguyên nhân khiến phán quyết ấy không mang tính côngbằng, mà bị chi phối bởi các quốc gia có ảnh hưởng chính trị lớn trên thế giới Và cũng cóthể kết luận rằng, vấn đề giải quyết tranh chấp qua ICJ cũng như tât cả con đường giảiquyết khác cũng đều phải cần đến sự tận tâm và thiện chí của các bên Đây là yếu tố tiênquyết hành đầu nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp

4 Câu 4: Bảo lưu điều ước quốc tế và ý nghĩa của bảo lưu:

Toàn cầu hóa làm cho các mối quan hệ quốc tế phát triển và vì vậy làm cho hệ thống pháp luật quốc tế phát triển Cùng với xu thế đó, số lượng chủ thể tham gia ký kết điều ước quốc tế ngày một nhiều hon, tuy nhiên do điều kiện hoàn cảnh các nước khác nhau nên trong quá trình ký kết điều ước quốc tế không phải nước nào cũng có thể sẵn sàng và có đủ điều kiện thực hiện tốt các nội dung cam kết trong điều ước quốc tế đã ký kết Đó cũng là lý

do nảy sinh vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế Vậy, bảo lưu điều ước quốc tế là gì? Để làm

rõ hơn, xin được đi phân tích, bình luận về chế định này.

Chế định bảo lưu trong luật quốc tế đã được phổ biến từ thế kỷ XIX và nó được đem rabàn bạc, thảo luận tại các hội nghị quốc tế sau đó Chế định này lần đầu tiên được luật hóatrong công ước viên 1969 từ điều 19 đến điều 23

Theo điều 2 công ước viên 1969 về luật điều ước quốc tế thì: bảo lưu điều ước quốc tế

là hành động đơn phương bất kể cách viết và gọi tên như thế nào của một quốc gia đưa rakhi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước đó, nhằm qua đó loại trừ hoặc thay đổihiệu lực của một hoặc một số quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốcgia đó Nó có các đặc điểm sau: thứ nhất, bảo lưu là hành động đơn phương hoàn toàn phụthuộc vào ý chí của chính chủ thể khi tham gia vào điều ước quốc tế Thứ 2, thời điểm đưa

ra bảo lưu là khi ký kết, phê chuẩn, phê duyệt, hoặc gia nhập điều ước quốc tế Thứ 3, mụcđích của việt bảo lưu là loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định trongđiều ước quốc tế trong việc thực hiện chúng đối với quốc gia xin bảo lưu

Trang 12

Theo đó, chủ thể có quyền đưa ra vấn đề bảo lưu là các chủ thể của luật quốc tế với tư cách

là thành viên ký kết hoặc thành viên gia nhập điều ước quốc tế Thế nhưng, không phải bất

kỳ điều khoản nào cũng được bảo lưu Điều khoản được bảo lưu phải là điều khoản khôngthuộc điều khoản cấm bảo lưu (ví dụ: trong 1 điều ước quốc tế có quy định 1 số điều khoảnkhông được bảo lưu); phải không được trái với đối tượng, tôn chỉ và mục đích của điều ướcquốc tế ( ví dụ:điều ước về cạnh tranh lành mạnh…); Và chỉ áp dụng đối với một số đốitượng cụ thể Xét về đối tượng của bảo lưu thì chỉ có bảo lưu đối với điều ước đa phương,không đặt ra vấn đề bảo lưu đối với điều ước song phương vì trên thực tế nếu muốn thayđổi thì được xem như là một đề nghị mới và các bên tiến hành đàm phán lại điều ước đó.Đối với điều ước song phương thì có các trườn hợp sau: có loại không cho bảo lưu khitrong điều ước có ghi rõ đây là điều ước không được bảo lưu, có loại cho phép bảo lưu thìrơi vào một trong 2 dạng sau: thứ nhất, trong mỗi điều ước quốc tế có một điều khoản riêngquy định về bảo lưu, khi đó vấn đề bảo lưu tuân theo các quy định của chính điều ước đó;thứ 2, nếu trong điều ước không có điều khoản quy định về bảo lưu thì được hiểu là điềuước được bảo lưu và việc bảo lưu tuân theo các quy định tại công ước viên 1969

Ứng với mỗi dạng quy định nêu trên có trình tự bảo lưu khác nhau Đối với dạng có quyđịnh rõ về điều khoản bảo lưu thì phải tuân theo quy định để thực hiện Còn đối với dạngkhông có quy định thì bên tuyên bố bảo lưu phải gửi văn bản tuyên bố bảo lưu cho tất cảcác thành viên còn lại, trong vòng 12 tháng kể từ ngày các thành viên nhận được văn bảntuyên bố bảo lưu thì các bên phải gửi văn bản trả lời Nếu im lặng được hiểu là đồng ý Về

tỉ lệ thông qua để một bảo lưu được chấp nhận thông thường phải là 100% các thành viêncòn lại đồng ý (đối với trường hợp không có quy định cụ thể) Điều này còn thể hiện, khitham gia vào điều ước quốc tế bên cạnh quyền bảo lưu các chủ thể của luật quốc tế còn cóquyền phản đối bảo lưu

Vậy hậu quả pháp lý của bảo lưu và phản đối bảo lưu là như thế nào? Theo quy định tạikhoản 1,2,3 điều 21 công ước viên 1969 thì bảo lưu dẫn đến hậu quả pháp lý là điều ướcchỉ có hiệu lực đối với quốc gia bảo lưu những phần họ không bảo lưu và quốc gia bảo lưuchỉ quan hệ pháp lý với các quốc gia còn lại trong phạm vi điều khoản mà quốc gia đókhông bảo lưu, thậm chí có thể bị từ chối quan hệ điều ước khi điều ước đó có hiệu lực

Trang 13

Trong trườn hợp một chủ thể phản đối bảo lưu mà không chống lại hiệu lực của điều ướcgiữa quốc gia đó và quốc gia đề ra bảo lưu thì những quy định có bảo lưu sẽ không áp dụnggiữa 2 quốc gia trong chừng mực mà bảo lưu đó đề ra.

Vấn đề rất quan trọng phải đề cập đến là ý nghĩa của bảo lưu: có thể nói bảo lưu điều ướcquốc tế là cơ sở để tạo điều kiện cho các quốc gia tham gia vào điều ước quốc tế đaphương, làm cho số lượng thành viên tăng lên và tầm ảnh hưởng của điều ước quốc tế ngàycàng mở rộng Đứng về phía quốc gia bảo lưu thì bảo lưu có ý nghĩa hỗ trợ cho họ từngbước có thể hòa nhập với các thành viên khác Đây là động lực để các quốc gia xin bảo lưu

nỗ lực phát triển

Xét về gốc độ thực tiễn, thì việc ký kết điều ước quốc tế ngày càng trở nên phổ biến Đặcbiệt trong tình hình hiện nay khi mà các vấn đề quốc tế đang ngày càng trở nên phức tạp,đòi hỏi sự hợp sức từ nhiều nước để giải quyết nó Và chính vì thế mà việc ký kết các điềuước song phương và đa phương ngày càng trở nên nhiều hơn Cũng theo đó mà vấn đề bảolưu cũng được đặt ra ngày càng nhiều hơn Và Việt Nam chúng ta, cũng không nằm ngoài

xu thế chung đó Cho tới nay, nước ta đã ký được hơn 1000 điều ước quốc tế song phương

và là thành viên của gần 200 điều ước quốc tế đa phương Ngày 10/10/2001 Việt Nam đãtrở thành thành viên chính thức của công ước viên năm 1969 về điều ước quốc tế Và kể từ

đó, vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế được quy định trong công ước viên đã được việt nam

áp dụng và chuyển hóa thành luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế Và vấn đềbảo lưu cũng được nội luật hóa theo hướng quy định cụ thể các vấn đề trong nước như bảolưu của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt Nam…

Về thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam được thể hiện rõ nhất thông qua viêcbảo lưu một số điều khoản trong cam kết gia nhập WTO Cụ thể như : các cam kết đaphương về kinh tế phu thị trường, trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinhdoanh hay về thuế tiêu thụ đặc biệt…; Các cam kết chung và cụ thể về thuế xuất nhập khẩu;Hay các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ Các bảo lưu này đạt được trong quá trìnhđàm phán ký kết và đều xuất phát từ tình hình và hoàn cảnh thực tế tại Việt Nam Bên cạnh

đó còn có một số điều ước khác mà Việt Nam có bảo lưu như: Bảo lưu về thông báo sơmtai nạn hạt nhân và công ước về trợ giúp trong trường hợp có tia nạn hạt nhân hay sự cố

Trang 14

phóng xạ khẩn cấp; hay bảo lưu một số điều khoản của công ước Bern về bảo hộ tác phẩmvăn học nghệ thuật; Và bảo lưu một số điều khoản của công ước về bảo vệ và phát huy sự

đa dạng của các biểu đạt văn hóa

Xét từ yếu tố lý luận, tôi nhận thấy rằng, một số vấn đề về pháp lý của chế định bảo lưu vẫncòn chưa hợp lý như vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế khi điều ước đã có hiệu lực chưađược đặt ra Nhưng đây lại là vấn đề vô cùng quan trọng vì đã chứng minh được sự cầnthiết của chế định này khi các quốc gia không thể thực hiện được các điều khoản cam kết

do hoàn cảnh phát sinh không thuận lợi khi điều ước đã có hiệu lực Hay vấn đề tỉ lệ thôngqua bảo lưu thường là 100%, nhưng theo tôi con số này là quá cao và khó có thể đạt được

và rất dễ lợi dung cho những hành vi thiếu thiện chí của 1 chủ thể nào đó Phải chăng chỉnên quy định con số 75% sẽ trở nên hợp lý hơn

Xét từ thực tiễn, thì quả thật chế định bảo lưu đã thật sự phát huy được yếu tố tích cực và ýnghĩa của nó thể hiện qua thực tế vấn đề ký kết các điều ước song phương và vấn đề bảolưu cũng đặt ra nhiều hơn Song, xuất phát từ thực tế tại Việt Nam thì thấy được rằng tìnhtrạng yếu kém về nhiều mặt của đất nước dẫn đến vấn đề bảo lưu đang đặt ra ngày càngnhiều hơn và thường xuyên hơn, thấy rõ nhất là ở các cam kết gia nhập WTO Do đó,chúng ta phải thực hiện cải cách và phát triển đất nước một cách toàn diện để giảm bớt sốlượng những bảo lưu

5 Câu 5:Phân tích nguyên tắc đất thống trị biển:

Từ rất sớm con người đã có các hoạt động trên biển Nhưng trước thế kỷ XV, vấn đề vềbiển chưa được các quốc gia trên thế giới quan tâm nhiều Chính vì thế luật quốc tế chỉ tồntại ở dạng tập quán Đến thế kỷ XV, XVI cùng với sự phát triển của kỹ thuật đóng tàu thìviệc chinh phục biển cả cũng nâng lên tầm cao mới kéo theo sự xuất hiện của hành loạt họcthuyết ra đời như biển vô chủ, tự do biển cả, đất thống trị biển Đến sau thế chiến thứ 2, quátrình pháp điển hóa Luật biển phát triển mạnh mẽ thông qua 3 hội nghị lớn của LHQ vàocác năm 1958, 1960, 1973-1982 thì luật biển quốc tế dần dần hoàn thiện Công ước 1982của LHQ về luật biển được xem như là một bản hiến pháp về Biển của cộng đồng quốc tế

Trang 15

Thông qua đó đã thể hiện rất rõ các nguyên tắc quan trọng của Luật biển Trong đó nguyêntắc đất thống trị biển

Đất thống trị biển là sự thể hiện cụ thể của học thuyết Resnullius cho phép các quốc gia venbiển mở rộng chủ quyền quốc gia hướng ra biển Theo đó quốc gia ven biển được hưởngvùng biển lân cận, được chủ quyền và quyền chủ quyền ở các vùng biển lân cận Theo điều

2 công ước luật biển năm 1982 quy định lãnh thổ là điều kiện tiên quyết để mở rộng chủquyền quốc gia ra vùng nước lãnh hải và các vùng khác như vùng nước quần đảo Và việc

có chủ quyền ở vùng biển bên trong là điều kiện tiên quyết để có quyền chủ quyền ở cácvùng ngoài

Cụ thể, theo quy định của Luật biển quốc tế thì vùng biển thuộc chủ quyền của quốc giagồm nội thủy và lãnh hải Và vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia bao gồm vùngtiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa

Đối với vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia thì bao gồm nội thủy và lãnh hải Nội thủy làvùng biển nằm phía ngoài bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở Tại đây, quốc gia có chủquyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối Điều này có nghĩa là quốc gia có chủ quyền đối vớimọi thực thể gắn với vùng nội thủy (hoàn toàn), có đầy đủ các quyền lập pháp, hành pháp,

tư pháp (đầy đủ), và không chia sẽ với bất kỳ ai (tuyệt đối) Còn tại vùng lãnh hải – lãnh hải

là vùng biển nằm phía ngoài nội thủy và cách đường cơ sở không qua 12 hải lý Tại đây,quốc gia có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ nhưng hạn chế

Việc xác lập chủ quyền ở vùng nội thủy và lãnh hải là cơ sỏ để phát sinh quyền chủ quyền

ở những vùng lân cận như tiếp giáp lãnh hải, đăc quyền kinh tế hay thềm lục địa Quyềnchủ quyền là quyền phái sinh, có được do có chủ quyền quốc gia ở bên trong trong lãnhthổ Cụ thể:

Đối với vùng tiếp giáp lãnh hải – vùng biển nằm phái ngoài lãnh hải cách đườg cơ sởkhông qua 24 hải lý - quốc gia có quyền chủ quyền được thể hiện thông qua việc có quyềnngăn chặn tàu thuyền từ ngoài vào lãnh thổ để kiểm tra vệ sinh dịch tể, nộp thuế, làm thủtục hải quan trước khi vào biên giới, kiểm tra vấn đề nhập cư; và quyền bắt giữ tàu đang ởtrong lãnh thổ vi phạm chạy ra ngoài

Ngày đăng: 30/08/2015, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w