1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiền công và sự vận dụng chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay

13 1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 48,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiền công và sự vận dụng chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP.HCM

BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

ĐỀ TÀI 6

TIỀN CÔNG VÀ SỰ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN

LƯƠNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

VŨ QUỐC PHONG

Trang 2

I LỜI NÓI ĐẦU.

Đầu tiên, nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn thầy đã tạo điều kiện để nhóm có thể thực hiện và hoàn thành bài báo cáo “Tiền công và

sự vận dụng chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay”

Tiền công là vấn đề hết sức quan trọng đối với người lao động Là những người lao động trong tương lai, nhóm chúng em nhận thấy tiền công gắn liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nâng cao mức sống ổn định của người lao động, là cơ sở của việc phát triển kinh tế đất nước Để tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm của tiền công, qua những kiến thức kinh tế chính trị đã học, nhóm

chúng em xin chọn đề tài phân tich: “Tiền công và sự vận dụng chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay”

Bài báo cáo này được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin khác nhau nên khó tránh khỏi sai sót, nhóm mong thầy có ý kiến đóng góp

để chúng em có kinh nghiệm học tập thêm

Trang 3

II TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

1 Khái niệm

Tiền công là một số tiền nhất định mà người công nhân được nhà Tư bản trả sau khi làm việc cho nhà Tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó.

2 Bản chất của tiền công

Trong thời kỳ Tư bản:

 Lưc lượng sản xuất tập trung trong tay các nhà Tư bản

 Người dân vô sản có sức lao động nhưng không có tư liệu sản xuất

Khi đó người dân muốn sinh sống và tồn tại thì phải làm thuê cho các nhà Tư bản Người dân muốn nhận được một khoản tiền công thì phải tiêu hao sức lao động, hoàn thành một việc nào đó thì nhà

Tư bản mới trả công Hiện tượng đó làm cả nhà Tư bản và công nhân đều lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động ( gồm cả

tư liệu sản xuất), nhưng lao động thực chất không phải là hàng hóa vì:

 Nếu lao động là hàng hóa thì nó phải tồn tại trước khi đem bán nhưng ở đây lao động chỉ tồn tại sau khi việc giao dịch mua bán giữa công nhân và nhà Tư bản đã xong xuôi Nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ bán hàng do mình sản xuất ra chứ không bán lao động, lao động của họ được tiến hành trong

xí nghiệp của nhà Tư bản và thuộc về nhà Tư bản chứ không thuộc về lao động

Trang 4

 Nếu ta thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn đến mâu thuẫn sau: Nếu lao động là hàng hóa mà nhà Tư bản trả đúng giá trị của hàng hóa (trao đổi ngang giá) cho công nhân thì nhà Tư bản sẽ không thu được giá trị thặng dư và điều này đã phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong Còn nếu hàng hóa được trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà Tư bản thì phủ định quy luật giá trị

 Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cũng phải có giá trị.Nhưng lao động là thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, bản thân lao động khi không có giá trị

Nên tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động Thực

tế, cái mà công nhân bán cho nhà Tư bản chính là sức lao động

Vậy bản chất của tiền công trong chủ nghĩa Tư bản chính là

hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay là giá

cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động.

Khi nhà Tư bản thuê công nhân làm việc cho mình thì mục đích của nhà Tư bản là muốn công nhân sản xuất ra giá trị thặng dư và nhà Tư bản muốn chiếm không công lao động của công nhân.Chính

vì vậy, công nhân vẫn bị bóc lột dù được trả công đủ cho giá trị cùa sức lao động Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả

công Do đó, tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ

nghĩa Tư bản

Trang 5

3 Hai hình thức cơ bản của tiền công trong chủ nghĩa Tư bản

Tiền công có 2 hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian

và tiền công tính theo sản phẩm.

a Tiền công tính theo thời gian

Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân ( giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn

Ta cần phân biệt tính chất tiền công của một ngày, một tuần, một tháng với tiền trả công một giờ lao động Ví dụ:

Một công nhân một ngày làm việc tám giờ thì được trả 160000 vnd, vậy một giờ được 20000 vnd Nếu như nhà Tư bản bắt làm 10 giờ

và trả 180000 vnd thì một giờ công nhân được trả 18000 vnd

Để đánh giá được đúng mức tiền công ta không chỉ căn cứ vào lượng tiền mà căn cứ vào độ dài ngày lao động và cường độ lao động với hình thức tiền công theo thời gian này thì nhà Tư bản có thể kéo dài ngày lao động và nâng cao cường độ lao động để hạ thấp tiền công của công nhân

Hình thức trả công theo thời gian rất có lợi cho nhà Tư bản khi thị trường thuận lợi, hàng hoá tiêu thụ dễ dàng, thực hiện lối làm việc

thêm giờ tức là làm việc ngoài số giờ qui định của ngày lao động dù công của công nhân có tăng lên nhưng hàng hoá sản xuất cũng được nhiều hơn, do đó giá trị thặng dư cũng sẽ nhiều hơn Còn nếu thị

trường không tốt nhà Tư bản rút ngắn ngày lao động và trả công theo giờ, do đó hạ thấp tiền công suống rất nhiều Như vậy công nhân không những bị thiệt thòi khi ngày công lao động bị kéo dài quá độ mà còn thiệt thòi cả những khi phải làm việc ít giờ hơn

Trang 6

b Tiền công tính theo sản phẩm

Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc số lượng công việc đã hoàn thành

Tiền công theo thời gian là cơ sở để tính tiền công theo sản phẩm, khi quyết định đơn giá của sản phẩm nhà Tư bản đã tính toán tiền công theo thời gian của công nhân trong một số ngày và số lượng sản phẩm mà công nhân làm ra trong một ngày Tiền công theo sản phẩm thực ra chỉ là hình thức biến tướng của tiền công theo thời gian có điều tiền công theo sản phẩm làm cho quan hệ bóc lột Tư bản chủ nghĩa ngày càng bị che dấu

Công nhân làm được nhiều sản phẩm thì càng lĩnh được nhiều tiền công chính vì vậy khiến người ta lầm tưởng là lao động được trả công đầy đủ Vớihình thức này nhà Tư bản tiết kiệm chi phí trả công cho hệ thống bộ máy đốc công, còn người công nhân vì lợi ích của mình mà cải thiện kỹ thuật, tăng cường độ lao động nâng vào tay nghề khiến năng suất lao động tăng Khi năng suất lao động tăng ở từng người thì người đó có lợi nhuận nhưng khi mọi người đều ganh đua thì năng suất lao động đó là năng suất lao động Tư bản của xã hội, thì nhà Tư bản hạ thấp đơn giá xuống khiến cho công nhân càng làm nhiều thì tiền công càng ít đi

Trang 7

4 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế

Tiền công danh nghĩa là số tiền mà công nhân được hưởng do bán sức lao động cho nhà Tư bản

Tiền công thực tế là tiền công biểu hiện bằng số lượng và chất lượng tư liệu sinh hoạt mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình

Muốn xác định tiền công thực tế của công nhân, một mặt phải tính đến mức tiền công danh nghĩa mặt khác phải tính đến mức giá cả vật phẩm tiêu dùng Trong các nước Tư bản chủ nghĩa nhất là trong các nước thuộc địa và phụ thuộc tiền công không đủ đảm bảo mức sống tối thiểu cho phần lớn công nhân vì giá sinh hoạt đắt và nạn thất

nghiệp nặng nề

Tiền công là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gằn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động Giá trị của sức lao động không phải là một số lượng cố định mà nó luôn luôn thay đổi Dưới Chủ nghĩa Tư bản năng suất lao động được nâng cao là nguyên nhân chủ yếu làm cho giá cả của sức lao động hạ thấp Nhưng cũng có nguyên nhân khiến cho giá trị tăng cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất nhu cầu về vật chất văn hoá của giai cấp công nhân ngày càng tăng, hơn thế việc thường xuyên nâng cao cường độ lao động nghĩa là tăng thực sự hao phí lao động trong một thời gian làm việc cũng làm tăng thêm nhu cầu về tư liệu sinh hoạt của công nhân, chính điều này đã khiến cho giá trị sức lao động dưới Chủ nghĩa Tư bản tăng lên

Tiền công ngày càng thấp hơn giá trị sld là một trong những

nguyên nhân làm cho tl thực tế giảm xuống Ngoài ra tl thực tế giảm xuống còn do nguyên nhân sau:

Trang 8

Thứ nhất, dưới Chủ nghĩa Tư bản giá cả tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân ngày càng đắt

Thứ hai, thị trường sức lao động luôn ở tình trạng cung vượt quá cầu về lao động, dẫn đến cạnh tranh giữa công nhân, tạo điều kiện cho nhà Tư bản mua sức lao động thấp hơn giá trị của nó Trong Chủ

nghĩa Tư bản hàng hoá sức lao động phải bán trong mọi điều kiện vì công nhân không có cách nào khác để sinh sống, mức công bị giảm xuống còn do hàng triệu người không có việc làm đầy đủ trong năm hay là họ không nhận được tiền công

Thứ ba, dưới Chủ nghĩa Tư bản thuế má và lạm phát ngày càng trở thành gánh nặng đè lên người công nhân Xu hướng phát triển tiền công danh nghĩa hoàn toàn có thể thống nhất với sự giảm xuống của tiền công thực tế

III SỰ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG Ở NƯỚC

TA HIỆN NAY

Đối với tất cả các quốc gia, chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng, nếu không nói là quan trọng bậc nhất trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, có liên quan chặt chẽ đến động lực phát triển và tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, khai thác và phát huy tiềm năng vô hạn từ người lao động

Tiền lương vừa là động lực, đòn bẩy kích thích, khuyến khích người lao động làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, vừa là phương tiện bảo đảm cuộc sống ngày một nâng cao của họ Tác động qua lại giữa chính sách tiền lương phù hợp với năng suất, chất lượng, hiệu quả sẽ là yếu tố để

Trang 9

tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế

Ở Việt Nam, việc cải cách chính sách tiền lương và các chính sách

có liên quan đã được thực hiện bước đệm từ năm 1992, chính thức thực hiện với các quy định tạm thời từ ngày 1.4.1993 Cải cách chính sách tiền lương và các chính sách có liên quan năm 1993 thực sự là một cuộc cách mạng với những thay đổi rất cơ bản:

 Mở đầu cho chuyển đổi chính sách tiền lương và các chính sách

có liên quan sang cơ chế thị trường;

 Cơ bản tính đúng, tính đủ tiền lương, xóa bỏ bao cấp;

 Giảm khá lớn tính bình quân, cào bằng trong chính sách và phân phối tiền lương;

 Giao nhiều quyền chủ động về tiền lương cho doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị sự nghiệp có thu, giảm bớt mức độ can thiệp

cụ thể, trực tiếp của Nhà nước đối với khu vực này

Đợt cải cách này cũng đã hình thành hai trụ cột chính của an sinh

xã hội là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; tách các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế độc lập với ngân sách nhà nước; mức ưu đãi người

có công được thay đổi cơ bản, cải thiện lớn mức sống người có công và gia đình họ

Từ năm 2003 đến năm 2011, Nhà nước tiếp tục thực hiện cải cách chính sách tiền lương Tuy nhiên, các cuộc cải cách sau này chủ yếu nâng mức lương tối thiểu do áp lực của giá cả, mở rộng quan hệ tiền lương trung bình, tối đa so với lương tối thiểu, bỏ bớt một số bậc lương

và bổ sung thêm các chế độ phụ cấp, so với chế độ tiền lương năm

1993, không có thay đổi gì lớn

Thành tựu:

Nhìn chung chính sách tiền lương qua các lần cải cách đã có những thay đổi quan trọng

 Đối với nước ta trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị

Trang 10

trong cơ chế thị trường ngày càng rõ và chính sách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh đã từng bước được cải cách theo hướng thị trường

 Việc tách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính sự nghiệp là mốc quan trọng đầu tiên.Tiếp đến là việc tách tiền lương tối thiểu chung và mở cơ chế áp dụng

lương tối thiểu cho khu vực sản xuất kinh doanh phù hợp với các loại hình doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI

 Việc xây dựng thang, bảng lương mới và việc xếp lương theo ngạch bậc đối với cán bộ công chức khoa học và hợp lý hơn Khoảng cách giữa các ngạch bậc lương đã được rút gọn, thể hiện rõ việc trả lương theo trình độ, ngành nghề được đào tạo

và khả năng cống hiến của cán bộ trong từng lĩnh vực công tác Cán bộ trong ngành kiểm tra Đảng đã được quy định mã số ngạch lương riêng và được hưởng lương phụ cấp trách nhiệm theo nghề Sự quan tâm của Đảng đã giúp cho đời sống cán bộ kiểm tra được cải thiện một bước, tạo không khí phấn khởi, thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ

Bất cập:

 Quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa chưa hợp lý,

hệ số trung bình quá thấp nên chưa cải thiện được đời sống, chưa khuyến khích được cán bộ, công chức và người lao động

có hệ số lương thấp

 Tốc độ điều chỉnh bù trượt giá, bảo đảm tiền lương thực tế chậm dần

 Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp công (dịch vụ công) còn chậm và đạt kết quả thấp, nhất là trong

y tế, giáo dục và đào tạo… gây khó khăn cho cải cách tiền

lương, thiếu nguồn tài chính để trả lương xứng đáng cho cán bộ công chức và người lao động

 Tiền lương chưa phù hợp với mức độ cống hiến, chưa phản ánh đúng năng lực, kết quả công tác của cán bộ, công chức

Trang 11

 Tiền lương hầu như không có tác động nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương từ ngân sách; không gắn bao nhiêu với cải cách hành chính

 Nhiều năm qua, mỗi năm, ngân sách nhà nước đều bố trí hàng chục ngàn tỷ đồng để thực hiện cải cách tiền lương nhưng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không được nâng cao, thậm chí giảm sút; bộ máy vẫn trì trệ, phiền hà Đây là sự lãng phí lớn của ngân sách nhà nước

Nguyên nhân của các nhược điểm, bất cập sau 20 năm thực hiện cải cách chính sách tiền lương có cả chủ quan và khách quan, nhưng

nguyên nhân chủ quan là chính, trong đó có một số nguyên nhân cơ bản:

 Tiền lương là vấn đề phức tạp, chuyển qua nhiều giai đoạn càng thêm phức tạp, khó hiểu, nhưng hiểu biết, nhận thức từ cơ quan soạn thảo đến cấp quyết định còn quá nhiều hạn chế, không đầy

đủ

 Không ít cơ quan nghiên cứu, chuyên gia, các nhà khoa học, lãnh đạo, quản lý đóng góp, xây dựng Đề án tiền lương thiếu hiểu biết sâu sắc, toàn diện; trao đổi, bàn luận không đầy đủ, tường tận, ý kiến đóng góp chủ yếu bằng cảm tính, kinh

nghiệm, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng xây dựng Đề

án

 Cấp quyết định chính sách tiền lương và chính sách có liên quan chưa tập trung đầu tư công sức, thời gian, vật chất để

nghiên cứu, lắng nghe, hiểu biết sâu sắc tiền lương, quyết định vẫn mang tính chủ quan, kinh nghiệm và nặng về chính trị

 Việc tổ chức triển khai thực hiện chưa nghiêm, chưa đầy đủ chính sách tiền lương chưa đủ tầm dài hạn, ngại đụng chạm, không dám làm cơ bản, mạnh mẽ

 Quá trình xem xét sửa đổi, bổ sung chính sách tiền lương thiếu đồng bộ, toàn diện, mạnh ngành nào ngành đó làm khiến quan

Trang 12

hệ tiền lương chung bị phá vỡ và chính sách tiền lương càng thêm bất hợp lý, chắp vá

Định hướng, đề xuất cải cách:

 Cải cách chính sách tiền lương phải tiến tới bảo đảm cho cán

bộ, công chức, viên chức và người lao động sống được bằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội

 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tiền lương theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp

 Phân định rõ vai trò của Nhà nước và của các bên trong quan hệ lao động, chính sách tiền lương, bảo đảm tiền lương của người lao động tại doanh nghiệp phản ánh đúng giá trị - giá cả sức lao động và được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động

 Ngoài thang bảng lương chung, nên trao quyền tự chủ trong việc xây dựng quy chế trả lương cụ thể đối với công chức, viên chức trên cơ sở cân đối với nguồn thu nhập quốc dân cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương cho các tỉnh, thành

có nguồn thu tự cân đối được nhu cầu cải cách tiền lương

 Xây dựng hệ thống thông tin về tiền lương và thu nhập của các loại lao động thuộc các ngành, nghề để người lao động và người

sử dụng lao động tham khảo khi ký kết hợp đồng lao động và thỏa thuận về tiền lương, tiền công

Ngày đăng: 29/08/2015, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w