VÀ ĐỀ XUẤT DỰ ÁN ỨNG DỤNG NGHIỆP VỤ NHẬP ĐIỂM Ngành: Công nghệ thông tin Chuyên ngành: Quản lý Hệ thống thông tin Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
PHẠM THỊ LAM
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ MÃ VẠCH HAI CHIỀU
VÀ ĐỀ XUẤT DỰ ÁN ỨNG DỤNG NGHIỆP VỤ NHẬP ĐIỂM
TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Hà Nội - 2015
Trang 2VÀ ĐỀ XUẤT DỰ ÁN ỨNG DỤNG NGHIỆP VỤ NHẬP ĐIỂM
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Quản lý Hệ thống thông tin
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ QUANG MINH
Hà Nội - 2015
Trang 3Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi, được xuất
phát từ yêu cầu trong công việc và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Lê
Quang Minh Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng một số thông tin, tài
liệu từ các nguồn được liệt kê trong tài liệu tham khảo
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Phạm Thị Lam
Trang 4Trang 4
LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Hệ thống thông tin - Viện Công nghệ Thông tin - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về Công nghệ thông tin làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Lê Quang Minh đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc dù, trong quá trình thực hiện luận văn có giai đoạn không được thuận lợi nhưng những gì TS đã hướng dẫn, đã chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm ứng dụng Công nghệ thông tin đã tận tình giúp đỡ trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin của luận văn
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên
Phạm Thị Lam
Trang 5Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 5
VIẾT TẮT VÀ CÁC THUẬT NGỮ 8
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÃ VẠCH VÀ ỨNG DỤNG 10
1.1 Tổng quan về mã vạch: 10
1.1.1 Giới thiệu mã vạch: 10
1.1.2 Lịch sử phát triển 10
1.2 Các dạng mã vạch phổ biến hiện nay: 11
1.2.1 Mã vạch một chiều (mã vạch tuyến tính): 11
1.2.2 Mã vạch hai chiều (mã vạch 2D): 12
1.2.3 Mã vạch cụm: 13
1.2.4 Mã vạch ba chiều (mã vạch 3D): 13
1.3 Ứng dụng của mã vạch 14
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ MÃ VẠCH HAI CHIỀU 17
2.1 Công nghệ mã vạch hai chiều PDF417: 17
2.1.1 Cấu trúc mỗi hàng PDF417 gồm có: 17
2.1.2 Cấu trúc mỗi cột của mã vạch hai chiều PDF417 19
2.1.3 Codeword: 19
2.1.4 Mã hóa 19
2.2 Ứng dụng mã vạch hai chiều PDF417 trong nghiệp vụ nhập điểm 25
2.2.1 Khả năng lưu trữ thông tin: 26
2.2.2 Khả năng sửa lỗi: 26
2.2.3 Lưu thông tin số trên giấy: 26
2.3 Quy trình nghiệp vụ nhập điểm ứng dụng công mã vạch hai chiều PDF417 27
Mã hóa dữ liệu 27
Giải mã dữ liệu 30
CHƯƠNG 3: DỰ ÁN ỨNG DỤNG NGHIỆP VỤ NHẬP ĐIỂM 31
TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 31
3.1 Thông tin chung 31
Trang 6Trang 6
3.1.1 Cơ sở pháp lý 31
3.1.2 Mục đích, yêu cầu, nhu cầu đầu tư 31
3.1.3 Tên hạng mục đầu tư ứng dụng CNTT 33
3.1.4 Đơn vị chủ quản: 33
3.1.5 Đơn vị chủ đầu tư: 33
3.1.6 Địa điểm đầu tư: 33
3.1.7 Tổng mức đầu tư: 33
3.1.8 Nguồn vốn đầu tư: 33
3.1.9 Thời gian thực hiện 33
3.1.10 Dự kiến hiệu quả đạt được 33
3.2 Sự cần thiết phải đầu tư 34
3.2.1 Hiện trạng tin học hóa tại ĐHQGHN 34
3.2.2 Sự cần thiết phải sử dụng phần mềm nhập điểm 38
3.3 Thuyết minh giải pháp kỹ thuật công nghệ đề xuất 41
3.3.1 Mô hình tổng quan hệ thống 42
3.3.2 Yêu cầu đối với nền tảng phần mềm 43
3.3.3 Yêu cầu chức năng đối với phần mềm 43
3.3.3.1 Khả năng liên kết 46
3.3.3.2 Tích hợp mở rộng 46
3.3.3.3 Yêu cầu về mỹ thuật, kỹ thuật cần đạt được của các giao diện 47
3.3.3.4 Các yêu cầu cần đáp ứng về thời gian xử lý, độ phức tạp xử lý của các chức năng phần mềm 47
3.3.3.5 Các yêu cầu về phân quyền 47
3.3.4 Các yêu cầu phi chức năng khác 47
3.3.5 Yêu cầu đối với dữ liệu 48
3.3.6 Mô hình tổ chức cơ sở dữ liệu 50
3.4 Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật và công nghệ 52
3.4.1 Giải pháp Hệ điều hành cho máy chủ 52
3.4.2 Giải pháp Hệ quản trị CSDL 53
3.5 Dự toán kinh phí 54
3.5.1 Cơ sở lập dự toán 54
3.5.2 Kinh phí dự toán phát triển ứng dụng 54
3.6 Thiết bị, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho dự án 56
3.6.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị cần dùng cho dự án 56
3.6.2 Nhân lực thực hiện dự án 57
Trang 7Trang 7
3.7 Kế hoạch thực hiện và quản trị dự án 57
3.7.1 Tổ chức thực hiện và triển khai 57
3.7.2 Lịch trình thực hiện 57
3.7.3 Quản lý tổng thể dự án 58
3.7.3.1 Các chủ thể 58
3.7.3.2 Quan hệ giữa các chủ thể 58
3.7.4 Mua sắm đấu thầu 60
3.7.5 Kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ 60
3.7.6 Hoạt động đào tạo 60
3.7.7 Quản lý tài chính 60
3.7.8 Giám sát, đánh giá, tổng kết 61
3.7.9 Tổ chức vận hành và khai thác 61
3.8 Tính bền vững của dự án 61
3.9 Hiệu quả và tác động của dự án 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 64
Trang 8Trang 8
VIẾT TẮT VÀ CÁC THUẬT NGỮ
Bộ TTTT Bộ Thông tin và Truyền thông
CMS Content Management System: Hệ quản trị nội dung, thường được dùng
để sinh trang WEB tự động hoặc trong các hệ thống học điện tử learning
e-CNTT Công nghệ Thông tin
CNTT-TT Công nghệ Thông tin - Truyền thông
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
HTML Hypertext Makup Language
HTTP Hypertext Transmission Protocol
LAN Local Area Network - mạng cục bộ, mạng của một tổ chức kết nối các
máy tính với nhau trên kênh truyền chung trong một phạm vi hẹp
LDAP Lightweight Directory Access Protocol - một chuẩn dịch vụ thư mục cho
phép các ứng dụng khác có thể lấy thông tin về người dùng Trên Windows dịch vụ tương ứng là AD (Acitve Directory)
ONLINE Trực tuyến - chỉ các quá trình tương tác giữa người và hệ thống tin học
được thực hiện đồng bộ
PORTAL Cổng giao tiếp điện tử, cổng thông tin điện tử được hiểu như một
WEBsite đầu mối tích hợp cả thông tin và dịch vụ
PROXY Ủy quyền, cơ chế thực hiện thông qua uỷ quyền cho một đối tượng khác
Các máy chủ Proxy là các máy chủ thực hiện các giao dịch giữa trong mạng và bên ngoài để đảm bảo an toàn mạng
TCP/IP Transmission Control Protocol/Internet Portocol: một số các quy ước
làm nền tảng cho công nghệ liên kết và truyền thông tin trên mạng Internet
WEB Một dạng thức thông tin trên Internet theo đó các trang tin gọi là trang
web, chúng không chỉ chứa chính thông tin văn bản mà chứa cả các liên kết tới các trang Web khác hay các dịch vụ hoặc các kịch bản tương tác của con người với hệ thống
XML Extended Makup Language, một định dạng là sự phát triển kế tiếp của
HTML cho phép tự định nghĩa các ứng xử của các thẻ
Trang 9Trang 9
MỞ ĐẦU Công nghệ thông tin được xem là một ngành mũi nhọn của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, như nước ta hiện nay Sự bùng nổ thông tin và sự phát triển mạnh của công nghệ kỹ thuật số, yêu cầu phải tin học hoá tất cả các ngành, các lĩnh vực Cùng với sự phát triển nhanh chóng về phần cứng máy tính, các phần mềm ngày càng hoàn thiện hơn và hỗ trợ hiệu quả cho con người Các phần mềm hiện nay đã mô phỏng được rất nhiều nghiệp vụ khó, hỗ trợ cho người dùng thuận tiện sử dụng, thời gian xử lý nhanh, và một số nghiệp vụ được tự động hoá cao Do vậy, đòi hỏi đối với triển khai, phát triển phần mềm không chỉ là sự chính xác, xử lý được nhiều nghiệp vụ thực tế mà còn phải đáp ứng các yêu cầu khác như về tốc độ, giao diện thân thiện, mô hình hoá được thực tế vào máy tính để người sử dụng tiện lợi, tương thích cao, bảo mật cao… Các phần mềm ra đời giúp tiết kiệm một lượng lớn thời gian, công sức của con người, tăng độ chính xác và hiệu quả trong công việc
Trong các trường đại học thì việc quản lý đào tạo đòi hỏi mất nhiều công sức và thời gian Đại học Quốc gia Hà nội đã có phần mềm quản lý đào tạo dùng chung cho tất cả các đơn vị thành viên Quản lý điểm của sinh viên là một trong số các nghiệp vụ trong phần mềm quản lý đào tạo, việc quản lý này phải cần khá nhiều người, chia thành nhiều khâu, khâu nhập điểm đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, mà độ chính xác và hiệu quả chưa đạt yêu cầu, vì còn đang nhập điểm bằng thủ công nên đòi hỏi mất rất nhiều thời gian cho khâu kiểm tra điểm giữa bảng điểm giảng viên nộp và bảng điểm in ra từ phần mềm quản lý đào tạo Nghiệp vụ nhập điểm hoàn toàn có thể tin học hoá một cách dễ dàng thông qua việc nhập điểm bằng mã vạch hai chiều mà luận văn này đề cập tới Khi đó, với sự giúp đỡ của tin học, việc quản lý người học sẽ trở nên đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả cao Đó chính là lý do mà tôi chọn
đề tài này để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ
Trang 10mã vạch có thể mang khá nhiều thông tin Thông thường, mã vạch được trình bày theo
độ rộng (của cột hay vạch), sự thay đổi trong độ rộng của vạch và khoảng trắng biểu diễn thông tin số hay chữ số dưới dạng mà máy có thể đọc được
1.1.2 Lịch sử phát triển
Năm 1948, mã vạch được Norman Joseph Woodland và Bernard Silver sinh viên Đại học tổng hợp Drexel, xuất phát từ mong ước của vị chủ tịch của một công ty buôn bán đồ ăn Ông này muốn có một hệ thống tự động kiểm tra toàn bộ quy trình Đầu tiên họ sử dụng mã Morse để in những vạch rộng hay hẹp thẳng đứng Sau đó, họ chuyển sang sử dụng dạng "điểm đen" của mã vạch với các vòng tròn đồng tâm
Năm 1952, công trình của ông về "Dụng cụ và phương pháp phân loại" được
chứng nhận bản quyền Mã vạch ra đời và được sử dụng đến ngày nay
Năm 1952, thiết bị đọc mã vạch đầu tiên được thiết kế và xây dựng bởi Woodland và Silver Nó bao gồm một đèn dây tóc 500 W và một ống chân không nhân quang tử để in theo phương pháp quang học lên trên phim Thiết bị này đã không được
áp dụng trong thực tế
Năm 1960 Silver tiếp tục phát minh ra tia laser đã làm cho các thiết bị đọc mã vạch trở nên rẻ tiền hơn, và sự phát triển của mạch bán dẫn (IC) làm cho việc giải mã các tín hiệu thu được từ mã vạch có ý nghĩa thực tiễn
Năm 1972, RCA thử nghiệm việc sử dụng đầu đọc mã vạch điểm đen nhưng khi in ra nó rất dễ nhòe
Năm 1973, Woodland đã phát triển mã vạch tuyến tính được chấp nhận như
là Mã sản phẩm chung (tiếng Anh: Universal Product Code, hay UPC)
Năm 1974, đầu đọc mã vạch đã được sử dụng tại siêu thị Marsh ở Troy, Ohio Ngày nay, mã vạch đã phát triển nhanh chóng, rộng khắp, nhiều loại mã vạch ra đời và trở thành một phương thức đơn giản, tiện lợi để lưu trữ thông tin cho các hệ thống tự động
Trang 11EAN-UCC Liên tục Nhiều Bán lẻ khắp thế giới
Codabar Rời rạc 2 Thư viện, ngân hàng máu, vé máy bay
Interleaved 2 of 5 Liên tục 2 Bán buôn, thư viện
POSTNET Liên tục Cao/Thấp Bưu điện
Telepen Liên tục 2 Thư viện v.v (Vương quốc Anh)
Trang 12Trang 12
1.2.2 Mã vạch hai chiều (mã vạch 2D):
Là một kỹ thuật mã hóa thông tin thành dạng dữ liệu mà máy có thể đọc được
Mã vạch 2D xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1988, do tập đoàn Intermec tạo ra, và được gọi là Mã 49 Đó là một loại mã vạch có hình ảnh đồ họa có chứa cả 2 loại là mã vạch một chiều và mã vạch theo chiều dọc Chính vì thế, nên mã vạch 2D có thể lưu trữ lên đến 7.089 ký tự so với mã vạch thông thường chỉ lưu trữ 20 ký tự Khi tiến hành đọc mã code, thì mã vạch 2D có phản ứng rất nhanh và truy cập dữ liệu chỉ trong vài giây
Hình 1.2: Một loại mã vạch 2D
Các loại mã vạch hai chiều phổ biến
3-DI Phát triển bởi Lynn Ltd
ArrayTag Từ ArrayTech Systems
Aztec Code Từ Welch Allyn (hiện nay là Handheld Products) Phạm vi công cộng
Code 1 Phạm vi công cộng
CP Code Từ CP Tron, Inc
DataGlyphs Từ Xerox PARC
Datamatrix Từ RVSI Acuity CiMatrix Hiện nay thuộc phạm vi công cộng
Điểm đen Mã vạch này đã được thử nghiệm ở cửa hàng Kroger ở Cincinnati Nó
sử dụng các vạch đồng tâm
HueCode Từ Robot Design Associates Sử dụng thang màu xám hoặc nhiều màu
INTACTA.CODE Từ INTACTA Technologies, Inc
MaxiCode Sử dụng bởi Dịch vụ chuyển phát hàng hóa Mỹ (United Parcel
Service)
MiniCode Từ Omniplanar, Inc
PDF417 Có nguồn gốc từ Symbol Technologies Phạm vi công cộng
QR Code Từ Nippondenso ID Systems Phạm vi công cộng
Trang 13Là trung gian giữa mã vạch 2D thực thụ và mã vạch tuyến tính, chúng được tạo
ra bằng cách đặt các mã vạch tuyến tính truyền thống trên các loại giấy hay các vật liệu có thể in mà cho phép có nhiều hàng
Các loại mã vạch cụm phổ biến:
Codeblock Mã vạch cụm 1D
Code 16K Dựa trên Code 128 1D
Code 49 Mã vạch cụm 1D từ Intermec Corp
PDF417 Mã vạch 2D phổ biến nhất Phạm vi công cộng
Micro PDF417
1.2.4 Mã vạch ba chiều (mã vạch 3D):
Là một loại mã vạch được dập nổi hay khắc chìm trên bề mặt của vật thể mang
mã Các mã được đọc bằng cách sử dụng sự khác biệt về chiều sâu của vùng, chứ không xác định bới các vạch và khoảng cách giữa các vạch Mã vạch ba chiều có thể được sử dụng nơi mà bản in thường của mã dễ bị phá huỷ bởi điều kiện của môi trường hay những điều kiện dễ bị mài mòn
Hình 1.3: Mã vạch 3D
Trang 14Trang 14
1.3 Ứng dụng của mã vạch
Mã vạch được sử dụng ở những nơi mà các đồ vật cần phải đánh số với các thông tin liên quan để các máy tính có thể xử lý Thay vì việc phải đánh một chuỗi dữ liệu vào phần nhập liệu của máy tính thì người thao tác chỉ cần quét mã vạch cho thiết
bị đọc mã vạch Chúng cũng làm việc tốt trong điều kiện tự động hóa hoàn toàn, chẳng hạn như trong luân chuyển hành lý ở các sân bay
Các dữ liệu chứa trong mã vạch thay đổi tùy theo ứng dụng Trong trường hợp đơn giản nhất là một chuỗi số định danh được sử dụng như là chỉ mục trong cơ sở dữ liệu trong đó toàn bộ các thông tin khác được lưu trữ Các mã EAN-13 và UPC tìm thấy phổ biến trên hàng bán lẻ làm việc theo phương thức này
Mã vạch còn chứa toàn bộ thông tin về sản phẩm, mà không cần cơ sở dữ liệu ngoài Điều này dẫn tới việc phát triển mã vạch tượng trưng mà có khả năng biểu diễn nhiều hơn là chỉ các số thập phân, có thể là bổ sung thêm các ký tự hoa và thường của bảng chữ cái cho đến toàn bộ bảng mã ký tự ASCII và nhiều hơn thế Việc lưu trữ nhiều thông tin hơn đã dẫn đến việc phát triển của các ma trận mã (một dạng của mã vạch 2D), trong đó không chứa các vạch mà là một lưới các ô vuông
Ngày này, mã vạch hai chiều được ưa chuộng nhiều và ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là đối với những người sở hữu smartphone Đơn giản và hiệu quả, người sử dụng chỉ cần nhận dạng mã vạch hai chiều thông qua camera được trang bị với một đầu đọc
mã vạch gắn trên điện thoại Qua đó, đầu đọc sẽ trả về kết quả là những đoạn URL đã được phân tích, và lập tức truy cập vào các trình duyệt có liên quan trên một website
Do vậy, mã vạch hai chiều rất có ích cho lĩnh vực tiếp thị qua di động Một số
hệ thống mã vạch hai chiều khác thì lại trực tiếp cung cấp thông tin cho khách hàng nhận được mà không cần phải truy cập website
Mã vạch hai chiều ngày càng được ưa chuộng vì người ta nhận ra những đặc tính độc đáo của nó không có mặt trong các mã vạch tuyến tính truyền thống và được nhằm vào ba ứng dụng chính:
1 Đối với các món hàng nhỏ: Nếu in mã vạch tuyến tính thông dụng trên các món hàng nhỏ thì thường gặp trở ngại về kích thước của mã vạch vẫn còn quá lớn so với các món hàng cực nhỏ Với mã vạch hai chiều người ta có thể in mã vạch ngay trên món hàng có kích thước rất nhỏ
2 Nội dung thông tin: Công nghệ hai chiều cho phép mã hóa một lượng lớn thông tin trong một diện tích nhỏ hẹp Cả lượng thông tin lưu trong cùng một ký hiệu
mã vạch 2D có thể coi như là 1 file dữ liệu nhỏ gọn Do đó khi sử dụng loại mã 2D, có thể không cần đến cơ sở dữ liệu bên trong máy vi tính
3 Quét tầm xa: Khi sử dụng các ký hiệu 2D, máy in không đòi hỏi in ở độ phân giải cao mà có thể in ở độ phân giải thấp vì trong ký hiệu 2D, các mảng điểm hoặc các
Trang 15Trang 15
vạch rất lớn Điều này dẫn đến việc cho phép quét mã vạch 2D ở một khoảng cách xa khoảng 15m
Một số ứng dụng mã vạch hai chiều điển hình gồm:
- Hãng đồ thể thao nổi tiếng Nike đã sử dụng mã vạch hai chiều in trên các áp phích dọc theo các tuyến đường của một cuộc đua thể thao mạo hiểm Các vận động viên sẽ sử dụng smartphone của mình thông qua các mã vạch để truy cập vào hình ảnh, video và những dữ liệu được hỗ trợ;
- Mã vạch hai chiều được in lên nhiều sản phẩm trong các cửa hàng để người mua dễ dàng đánh giá sản phẩm;
- Một số người gửi những mã vạch hai chiều lên trang blog của mình;
- Tổng cục Thuế đã triển khai phần mềm “Hỗ trợ kê khai thuế” áp dụng công nghệ mã vạch hai chiều cho các doanh nghiệp đang hoạt động theo địa bàn các tỉnh Đây là phần mềm ứng dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xử lý tính toán lập các tờ khai thuế Phần mềm có hệ thống kiểm tra việc kê khai, với việc sử dụng phần mềm hỗ trợ, việc kê khai thuế của doanh nghiệp sẽ được bảo đảm nhanh chóng, chính xác, tránh được những sai sót thường gặp Sau khi kê khai xong toàn bộ số liệu sẽ được phần mềm mã hóa và lưu dưới dạng mã vạch hai chiều Trước khi in, hệ thống
sẽ kiểm tra xem tất cả các mục bắt buộc phải nhập thông tin đã được nhập chưa? Đồng thời đối chiếu kiểm tra giữa các chỉ tiêu có đúng với quy định kê khai hay không? Nếu
có lỗi thì vẫn được ghi nhưng không thể in hoặc kết xuất tờ khai được, nếu kê khai sai
hệ thống sẽ thông báo lỗi kê khai, hiển thị nội dung lỗi và hướng dẫn cách sửa
Cơ quan thuế nhận tờ khai của doanh nghiệp sẽ dùng máy đọc mã vạch để quét và lưu
số liệu trên tờ khai thuế vào máy tính Như vậy, việc nhập liệu bằng mã vạch hai chiều
đã khắc phục hoàn toàn việc sai lệch về số liệu giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp; giúp cho cơ quan thuế kiểm tra nhanh chóng xác nhận số liệu cho doanh nghiệp khi hoàn thuế, hoặc khi cần tra cứu thông tin, số liệu khác tại cơ quan thuế
- Từ ngày 01/01/2014, Bảo hiểm xã hội Việt nam đã ban hành mẫu thẻ Bảo hiểm y tế mới, có mã vạch hai chiều chứa các thông tin trên thẻ và chuỗi ký tự kiểm tra In thẻ có mã vạch hai chiều giúp quản lý được dữ liệu phát hành thẻ chính xác, dễ dàng phát hiện thẻ giả, tránh được những sai sót về trùng dữ liệu thẻ, sai mã thẻ, sai
mã đối tượng hưởng quyền lợi, giúp tiết kiệm được chi phí hành chính đối với cơ quan bảo hiểm xã hội và cả đối với các cơ sở khám chữa bệnh
Hình 1.4: Mã vạch hai chiều ở mặt trước thẻ bảo hiểm y tế
Trang 16Trang 16
Với khá nhiều cách sử dụng, mã vạch hai chiều có thể được sử dụng rộng rãi trong tương lai như:
- Đi xe buýt: người dùng quét mã của bến xe bus sẽ biết thông tin về các chuyến
xe sắp tới - Tại bảo tàng: người dùng chỉ cần quét mã đặt cạnh vật trưng bày để biết được thông tin chi tiết về đồ vật đó
- Khi mua hàng: người dùng nếu thấy thích mặt hàng đang quảng cáo khi đi tàu điện ngầm, xe bus … có thể đặt mua ngay lập tức thông qua mã vạch và Mobile Internet Đồng thời người mua hàng có thể quét mã vạch để biết được hàm lượng dinh dưỡng của đồ ăn cần mua Hoặc để biết công thức và cách chế biến món ăn mình mua
- Tại các hội thảo: người tham gia hội thảo có thể sử dụng mã vạch thay cho Business Card của mình
- Với các tờ báo/tạp chí giấy: người đọc có thể quét mã vạch được in trong tờ báo/tạp chí giấy để truy cập phiên bản online của tờ báo/tạp chí này
- Sử dụng tại quán bar/club : để xác định xem ca sỹ, ban nhạc, bản nhạc đang chơi là ai/bản nhạc gì?
So sánh giữa các loại mã vạch:
STT Loại mã vạch Độ chính xác thấp nhất Độ chính xác cao nhất
1 Data Matrix 1 lỗi trên 10,5 triệu 1 lỗi trên 612,9 triệu
2 PDF 417 1 lỗi trên 10,5 triệu 1 lỗi trên 612,4 triệu
3 Code 129 1 lỗi trên 2,8 triệu 1 lỗi trên 37 triệu
4 Code 39 1 lỗi trên 1,7 triệu 1 lỗi trên 4,5 triệu
5 UPC 1 lỗi trên 349.000 1 lỗi trên 800.000
Mã vạch hai chiều PDF417 với các ứng dụng phổ biến, được dùng nhiều trong phạm vi công cộng, hỗ trợ việc nén văn bản, nén số, và nén byte theo cơ chế tương quan ánh xạ giữa những giá trị codeword và dữ liệu được giải mã Ngoài ra, PDF417
có thể hỗ trợ lên tới 340 kí tự trên một inch vuông, với khả năng lưu trữ dữ liệu cực đại là 1850 kí tự dạng văn bản Một thời gian ngắn sau khi phát triển, thì PDF417 là biểu tượng của mã vạch 2D PDF417 được thiết lập vững chắc là sự lựa chọn hàng đầu cho các ứng dụng mã vạch 2D Đó chính là lý do lựa chọn PDF417 để nghiên cứu ở chương 2 và được ứng dụng vào nghiệp vụ nhập điểm bằng mã vạch hai chiều PDF417 để đề xuất dự án trong chương 3
Trang 17Trang 17
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ MÃ VẠCH HAI CHIỀU
2.1 Công nghệ mã vạch hai chiều PDF417:
Mã vạch hai chiều PDF417 là viết tắt của Portable Data File và 417 đại diện cho 17 module của 4 vạch tối và 4 vạch sáng trong mỗi codeword (ký tự mã hóa) Đây
là loại mã vạch hai chiều, gồm các mã vạch tuyến tính (mã vạch một chiều) xếp lên nhau có khả năng ứng dụng cao trong chuyển tin, thẻ nhận dạng và quản lý thông tin
Mã vạch hai chiều PDF417 là sự phát triển mới nhất trong xu hướng để đóng gói khối lượng dữ liệu lớn trong không gian nhỏ nhất PDF417 được thiết lập vững chắc là sự lựa chọn hàng đầu cho các ứng dụng mã vạch 2D, cho phép máy đọc được dữ liệu có sẵn trên mã vạch mà không cần thiết phải kết nối đến cơ sở dữ liệu như các loại mã vạch thông thường Loại mã vạch này có khả năng sửa lỗi và tùy chọn khả năng sửa lỗi tùy theo mức sửa lỗi và loại dữ liệu được mã hóa Mã PDF417 được phát minh bởi tiến sĩ Ynjin P.Wang tại Symbol Technology năm 1991, và được công nhận theo chuẩn ISO 15438
Với các loại mã vạch một chiều, chúng đóng vai trò là khóa để truy nhập cơ sở
dữ liệu Nhưng với mã vạch hai chiều PDF417 có thể truy nhập trực tiếp dữ liệu mà không cần có các dữ liệu trước đó cũng như đảm bảo an toàn cho dữ liệu thông qua quá trình mã hóa dữ liệu vào các biểu tượng của mã vạch
2.1.1 Cấu trúc mỗi hàng PDF417 gồm có:
- Vùng lặng (quiet zone)
- Dấu hiệu bắt đầu thể hiện bằng một số vạch (Start Pattern)
- Codeword chỉ báo biên trái của dòng (Left row Indicator Codeword)
- Vùng dữ liệu (các codeword)
- Codeword chỉ báo biên phải của dòng (Right row Indicator Codeword)
Trang 18Dấu hiệu bắt đầu và kết thúc một dòng mã: Tất cả các mã vạch hai chiều PDF417 các ký tự bắt đầu và kết thúc luôn giống nhau (phần kết thúc có độ rộng là 18 module) theo định dạng sau:
B S B S B S B S B Bắt đầu
8 1 1 1 1 1 1 3 Kết thúc
7 1 1 3 1 1 1 2 1
B – vạch tối S – vạch sáng
Hình 2.3: Phần bắt đầu và kết thúc
Trang 19có tối đa là 34 cột
2.1.3 Codeword:
Hình 2.5: Cấu trúc codeword PDF417
Codeword là phần giao nhau giữa hàng và cột, mỗi codeword biểu diễn các con
số, ký tự hoặc các ký hiệu Thông thường mỗi codeword gồm có 4 vạch tối, 4 vạch sáng và tổng độ dài mỗi codeword có 17 module
2.1.4 Mã hóa
Quá trình mã hóa thực hiện mã vạch hai chiều PDF417 trong hai giai đoạn đó là
mã hóa cấp cao và mã hóa cấp thấp
Mã hóa cấp cao (High level encoding): các dữ liệu được chuyển đổi thành các codeword
Dữ liệu được mã hóa vào các codeword theo một trong ba phương thức mã hóa (mặc định là chế độ nén text)
Trang 20Trang 20
“TEXT” ASCII 9, 10,13 và từ 32 đến 127 2 ký tự/ codeword
6 chúng ta sử dụng codeword 924 nếu khác chúng ta sử dụng mã 901 để chuyển
Để mã hóa ta làm các bước sau:
- Tạo một nhóm gồm 6 ký tự, từ X5 đến X0 Ta tính các CWi (với i từ 0 đến 4):
Ví dụ 1: Mã hóa chuỗi: diemso
Thứ tự giá trị các ký tự trong chuỗi theo bảng ASCII là: 100, 105, 101, 109,
115, 111
S = 100 x 2565 + 105 x 2564 + 101 x 2563 + 109 x 2562 + 115 x 256 + 111 = 110 403 836 015 471
Trang 21Ví dụ 2: Mã hóa chuỗi: diemsochan
Thứ tự giá trị các ký tự trong chuỗi theo bảng ASCII là: 100, 105, 101, 109,
115, 111, 99, 104, 97 và 110 thực hiện tương tự như trên, ta thu được chuỗi: 168, 245,
532, 106, 71, 2, 258, 894, 373 Do chuỗi sử dụng không phải là bội của 6 nên ta dùng codeword 901, kết quả chuỗi mã hóa là:
Text Compaction Sub-Modes
Value Char ASCII Char ASCII Char ASCII Char ASCII
Trang 22Trang 22
Text Compaction Sub-Modes
Value Char ASCII Char ASCII Char ASCII Char ASCII
Trang 23Trang 23
Text Compaction Sub-Modes
Value Char ASCII Char ASCII Char ASCII Char ASCII
Trong đó, 6 ký tự trong bảng, chúng cho phép thay đổi các chế độ con:
UPP : Chuyển sang chế độ “Uppercase”
LOW : Chuyển sang chế độ "Lowercase"
MIX : Chuyển sang chế độ "Mixed"
PUN : Chuyển sang chế độ "Punctuation"
T_UPP : Chuyển sang chế độ "Uppercase" chỉ duy nhất với ký tự tiếp
T_PUN : Chuyển sang chế độ "Punctuation" chỉ duy nhất với ký tự tiếp
Chế đột nén “Text” mỗi codeword mã hóa 2 ký tự, và giá trị codeword được tính như sau:
D: 3, LOW: 27, i: 8, e: 4, m: 12, SPACE: 26, T_PUN: 29, !: 10
Có tất cả 8 ký tự vì thế ta không cần thêm T_PUN vào ký tự cuối cùng
Để thực hiện chuyển đổi:
Chia mỗi nhóm 44 chữ số (nhóm cuối cùng có ít hơn hoặc bằng 44 chữ số);
Thêm chữ số 1 vào đầu;
Thực hiện thay đổi cơ bản như chế độ “Byte”;
Trang 24Kết quả thu được: 124, 745
Codeword trái và phải
Hình 2.6: Minh họa mã vạch
Li và Ri là các vùng codeword trái và phải, đây là các chỉ số dòng Chúng được
mã hóa từ thông tin một số codeword chính: số lượng hàng(F), số hàng(r), số cột(c) và bậc sửa sai(E) Thông tin được lập lại trên các hàng Giá trị của các vùng codeword trái và phải tính theo công thức:
(F/ 3)*30 + X
X được xác định theo công thức:
Trang 25Các phép toán: -/phép trừ, */phép nhân, MOD/phép lấy dư
Với K là giá trị tương ứng của bảng 1, bảng 2 và bảng 3:
2.2 Ứng dụng mã vạch hai chiều PDF417 trong nghiệp vụ nhập điểm
Bài toán đặt ra là giải quyết vấn đề nhập điểm hiện nay cho cán bộ nhập điểm thi tại các trường đại học cần có phương pháp hiệu quả hơn để thay thế phương pháp truyền thống Mã PDF417 có khả năng lưu trữ lượng thông tin rất lớn, đủ để mã hóa
dữ liệu điểm của sinh viên trên một tờ A4 Đồng thời, thời gian đọc mã vạch của các thiết bị đọc mã vạch là nhanh hơn rất nhiều so với việc nhập điểm bằng thủ công hiện nay Với cách dùng phiếu điểm bằng đánh dấu, ta phải quét bằng máy quét sau đó chạy phần mềm nhận dạng Công việc đó cũng đã chính xác cao, nhanh và mất hai phút cho một phiếu điểm Trong khi đó việc đọc dùng máy đọc mã vạch chỉ mất không đến 1 giây Điều này không những tiện lợi cho giảng viên phụ trách lớp môn học mà còn hỗ trợ tối đa cho nhân viên phòng đào tạo trong quá trình nhập điểm
Trang 26Trang 26
Khả năng ứng dụng mã vạch hai chiều PDF417 trong việc mã hoá, nhận dạng trong phân hệ quản lý điểm thể hiện cụ thể là:
2.2.1 Khả năng lưu trữ thông tin:
Một mã vạch hai chiều PDF417 có thể lưu trữ rất nhiều thông tin và dữ liệu chứa trong biểu tượng cũng rất đa dạng Quá trình mã hóa dữ liệu trong biểu tượng PDF417 thực hiện được với mọi ký tự trong bộ mã ASCII (America Standard Code for Information Interchange - một bộ ký tự dùng cho máy tính bao gồm 96 chữ thường và hoa cộng với 32 ký tự điều khiển không in ra) và các ký tự mở rộng, ký tự điều khiển Nội dung lưu trữ trong biểu tượng cũng không bị giới hạn như các loại mã vạch khác PDF417 có thể mã hóa hầu hết các loại dữ liệu như: văn bản, dữ liệu nhị phân, dấu vân tay, chữ ký, các số … Với khả năng đó, mỗi mã vạch nhỏ cỡ một con tem có thể lưu trữ toàn bộ nội dung một bảng điểm khổ giấy A4 bao gồm mã môn học, mã kỳ thi, mã sinh viên, điểm thành phần, điểm cuối kỳ và tổng điểm của sinh viên
2.2.2 Khả năng sửa lỗi:
Điểm nổi bật của PDF417 là khả năng sửa lỗi, một yêu cầu không thể thiếu do thực tế đặt ra đối với mọi phương thức mã hóa và truyền tin, khi mà thông tin luôn có nguy cơ bị tổn thất hoặc làm sai lệch do các nguyên nhân khách quan, chủ quan Hiện tại, có 9 mức độ sửa lỗi khác nhau và có thể sửa được số lượng thông tin bị lỗi ở những mức độ khác nhau do những biến đổi vật lý, hóa học gây ra nhờ những phép tính thích hợp được thực hiện trong quá trình mã hóa Tối đa, mỗi biểu tượng có thể bị hỏng một nửa mà vẫn có thể khôi phục thông tin chứa trong nó
Hình 2.7: Các mức độ sửa lỗi
2.2.3 Lưu thông tin số trên giấy:
Việc chuyển dữ liệu thành mã vạch hai chiều gồm hai bước mã hóa:
Trang 272.3 Quy trình nghiệp vụ nhập điểm ứng dụng công mã vạch hai chiều PDF417
Quy trình nghiệp vụ nhập điểm ứng dụng công nghệ mã vạch hai chiều PDF417 gồm hai công đoạn là mã hóa dữ liệu và giải mã dữ liệu
- Mã hóa dữ liệu: Giảng viên lập bảng điểm, phần mềm giúp mã hóa toàn bộ dữ liệu trên bảng điểm bằng mã vạch hai chiều
- Giải mã dữ liệu: Chuyên viên phụ trách nhập điểm dùng đầu đọc mã vạch để giải
mã lưu dữ liệu vào hệ thống phần mềm quản lý đào tạo
Trang 28Trang 28
Hình 2.8: Biểu đồ tuần tự hệ thống
Giảng viên được cung cấp một tài khoản để đăng nhập vào hệ thống
Hình 2.9: Giao diện đăng nhập hệ thống
Trang 29Trang 29
Giao diện chính của phần mềm sau khi giảng viên đăng nhập thành công:
Hình 2.10: Giao diện sau đăng nhập thành công
Giảng viên lựa chọn năm học, lựa chọn giảng viên, lựa chọn lớp môn học, nhập trọng số điểm thành phần, chọn nhập điểm từ file (nếu đã có file điểm.xls) sau đó chọn
“Xuất bảng điểm mã vạch” để nhập trực tiếp hoặc xuất file excel để nhập vào máy tính
cá nhân
Bảng điểm đã mã hóa toàn bộ dữ liệu có dạng:
Hình 2.11: Bảng điểm sau khi được mã hóa
Giảng viên in bảng điểm sau khi nhập xong điểm và nộp cho phòng đào tạo, kết thúc quy trình mã hóa dữ liệu điểm
Trang 30Là người sử dụng thiết bị đọc mã vạch hai chiều để chuyển toàn bộ
dữ liệu điểm của sinh viên vào hệ thống phần mềm quản lý đào tạo Kết thúc quá trình nhập điểm
Trang 31Trang 31
CHƯƠNG 3: DỰ ÁN ỨNG DỤNG NGHIỆP VỤ NHẬP ĐIỂM
TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 3.1 Thông tin chung
Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá;
Quyết định của Thủ tướng chính phủ 81/2001/QĐ ngày 24 tháng 5 năm 2001về việc phê duyệt chương trình hành động triển khai chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị;
Luật Công nghệ Thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 6 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Công nghệ Thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
3.1.2 Mục đích, yêu cầu, nhu cầu đầu tư
Ở các đơn vị đào tạo tại ĐHQGHN hiện nay, qua khảo sát thực trạng về cách lập bảng điểm và nhập bảng điểm ta thấy:
- Bảng điểm của một lớp môn học được lập gồm một số tờ ghi: số thứ tự, mã sinh viên, họ tên sinh viên, ngày sinh, lớp, điểm thành phần, điểm cuối kỳ, tổng điểm
Trang 32- Quá trình nhập điểm hiện nay trong các trường Đại học cũng đã có sự hỗ trợ của ứng dụng trực tuyến Sau khi lập bảng điểm giảng viên gửi cho phòng đào tạo thông qua các ứng dụng trực tuyến như gửi file điểm qua email Sử dụng các ứng dụng trực tuyến hiện nay đã giảm áp lực nhập điểm thủ công cho nhân viên phòng đào tạo
phụ trách điểm, hiệu quả công việc tốt hơn, nhưng trong đó vẫn còn một số vấn đề:
a Nhân viên phòng đào tạo luôn phải theo sát hệ thống, kiểm tra lớp môn học nào
đã được gửi bảng điểm, và đưa yêu cầu nộp bảng điểm đến giảng viên khi đến hạn phải nộp Do quá trình nhập điểm của giảng viên tại nhà không có cơ chế kiểm tra lỗi nên có thể sảy ra sai sót Nhập điểm qua ứng dụng trực tuyến gửi email không có chữ ký của giảng viên Vì vậy nhân viên phòng đào phải in bảng điểm và yêu cầu giảng viên đến ký
b Giảng viên ngoài việc nộp bảng điểm cho phòng đào tạo qua các ứng dụng trực tuyến thì cần phải lên phòng đào tạo ký xác nhận đã nộp bảng điểm
c Dễ xảy ra nhầm lẫn điểm môn học này với môn học khác khi import điểm Với số lượng lớn sinh viên, kèm theo là số lượng lớn các môn học trong chương trình đào tạo tại các trường đại học, tiêu tốn nhiều thời gian và công sức cho việc nhập điểm đòi hỏi trong toàn ĐHQGHN cần một phần mềm chuyên biệt hỗ trợ nhập điểm,
đây chính là lý do cần “Ứng dụng nghiệp vụ nhập điểm trong ĐHQGHN”
Mục tiêu chung của dự án nhập điểm bằng mã vạch hai chiều tại ĐHQGHN là:
- Phục vụ hiệu quả cho hoạt động đào tạo của ĐHQGHN;
- Thúc đẩy phát triển, ứng dụng các dịch vụ CNTT, từng bước xây dựng đại học
số hóa
Mục tiêu cụ thể của dự án là xây dựng và đưa ứng dụng phần mềm nhập điểm bằng mã vạch hai chiều vào sử dụng tại các đơn vị trong toàn ĐHQGHN Tích hợp với phần mềm quản lý người học, cổng thông tin đào tạo…
- Tăng công suất nhập điểm vì huy động mọi giáo viên đều có thể tham gia nhập điểm
Trang 33Trang 33
- Giảm tải cho phòng đào tạo không phải khai báo các trọng số điểm thành phần, không phải nhập điểm cho từng sinh viên để giảng viên có quyền cao trong quá trình tổ chức giảng dạy và đánh giá
- Tránh được trường hợp import một bảng điểm excel nhầm lẫn giữa môn này với môn kia, vì mã vạch đã có thông tin về mã môn, mã kỳ thi nên không gây nhầm lẫn
- Các đơn vị thành viên trong ĐHQGHN nhanh chóng triển khai xử lý học vụ sau mỗi học kỳ
- Phân quyền cụ thể cho người sử dụng
- Có thể kết xuất dữ liệu ra các định dạng báo cáo: Excel, Word
3.1.3 Tên hạng mục đầu tư ứng dụng CNTT
Xây dựng phần mềm nhập điểm bằng công nghệ mã vạch hai chiều
3.1.4 Đơn vị chủ quản:
Đại học Quốc gia Hà Nội
3.1.5 Đơn vị chủ đầu tư:
Viện Công nghệ Thông tin - Đại học Quốc gia Hà Nội
3.1.6 Địa điểm đầu tư:
Đại học quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội
3.1.7 Tổng mức đầu tư: 896.527.750 đồng
3.1.8 Nguồn vốn đầu tư:
Ngân sách sự nghiệp giáo dục
3.1.9 Thời gian thực hiện
Dự kiến thời gian thực hiện trong vòng 12 tháng, bắt đầu tháng 01/2015 khi dự
án được phê duyệt
3.1.10 Dự kiến hiệu quả đạt được
Vì quản lý điểm thi của sinh viên có những đặc điểm đặc trưng nên việc lưu trữ
và cập nhật điểm bằng phương pháp thủ công như hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, khó tránh khỏi những sai sót đáng tiếc, tốn nhiều thời gian và công sức của chuyên viên Phần mềm thực hiện việc nhập điểm sẽ giải quyết được những tồn tại trên Phần mềm sử dụng Hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server là một công cụ lưu trữ và xử lý dữ liệu mạnh, phù hợp với việc lưu trữ và xử lý thông tin quản lý điểm thi Ưu điểm của
Trang 34Trang 34
phần mềm là khả năng cập nhật và tổng hợp dữ liệu rất nhanh chóng và dựa vào công nghệ mã vạch hai chiều
Hiệu quả của phần mềm đem lại với các mục tiêu sau:
- Tăng độ tin cậy vì không qua khâu trung gian
- Phần mềm vận hành an toàn, ổn định có khả năng xử lý cao do được xây dựng trên nền tảng công nghệ mạnh và hiện đại, cung cấp khả năng cập nhật điểm một cách nhanh chóng và thuận tiện cho người sử dụng
- Phần mềm được tổ chức với Hệ quản trị nội dung khoa học, hiệu quả, Cơ sở
dữ liệu tập trung trên Server
- Đảm bảo tính bảo mật, tính xác thực
- Giao diện đẹp, dễ thao tác và theo dõi
3.2 Sự cần thiết phải đầu tư
3.2.1 Hiện trạng tin học hóa tại ĐHQGHN
Trạng thái tin học hoá thường được nhìn trên những mặt cắt sau:
- Chính sách, tổ chức và nhân lực
- Các ứng dụng (phần mềm)
- Tổ chức thông tin (các cơ sở dữ liệu)
- Thiết bị, hạ tầng mạng và truyền thông
a Chính sách, tổ chức và nhân lực
Từ năm 1997, để triển khai một dự án ODA về phát triển nhân lực CNTT với Nhật Bản, Đại học Quốc gia Hà nội đã thành lập Viện đào tạo Công nghệ Thông tin, đơn vị sau này trở thành Viện Công nghệ Thông tin Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin trực thuộc Viện CNTT được giao trực tiếp quản trị hạ tầng mạng và duy trì một số dịch vụ dùng chung cho ĐHQGHN như email và hệ thống quản lý văn bản
ĐHQGHN cũng đã đầu tư nhiều cho Khoa Công nghệ trước đây và Trường Đại học Công nghệ (ĐHCN) ngày nay qua các dự án tăng cường năng lực và các dự án trọng điểm sử dụng vốn vay của WorldBank Hạ tầng CNTT của trường ĐHCN đã góp phần hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động CNTT của ĐHQGHN Đội ngũ cán bộ CNTT của Trường đã tham gia xây dựng và vận hành nhiều hệ thống thông tin trên mạng của ĐHQGHN Hai đơn vị Viện CNTT và Trường ĐHCN đã trở thành những đơn vị chủ yếu đóng góp vào tiến trình số hoá của ĐHQGHN
Cùng với việc triển khai mạng vật lý của ĐHQGHN, ĐHQGHN đã thành lập ban quản lý mạng VNUnet Tháng 12 năm 2002, ĐHQGHN lại ban hành Quy chế tổ
Trang 352012, tầm nhìn chiến lược đến năm 2020”
ĐHQGHN cũng đã có những chủ trương rất cụ thể ứng dụng CNTT, trong đó
có việc triển khai hệ thống thông tin văn bản và hồ sơ công việc, hệ thống quản lý đào tạo thống nhất, xây dựng cổng thông tin điện tử và việc triển khai các dịch vụ hành chính công trên mạng
Đối với các đơn vị thành viên, ở hầu hết các đơn vị thành viên mức độ tin học hoá đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đồng đều
Hầu hết các đơn vị thành viên chưa có chiến luợc phát triển CNTT của riêng mình Tuy nhiên có rất ít đơn vị thành viên có bộ phận CNTT chuyên trách Trường Đại học khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN) trước đây đã từng có Trung tâm tin học độc lập, nhưng do hoạt động của Trung tâm tin học này kém hiệu quả nên Trung tâm này
đã được sát nhập vào Phòng tổ chức Ở trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn (ĐHKHXHNV), Trung tâm Tin học của trường chủ yếu là nơi đảm bảo thực hành cho sinh viên, chỉ có Trường Đại học Công nghệ là có các đơn vị chuyên trách hoạt động
có hiệu quả
Nhiều đơn vị đã có các chuyên gia quản trị mạng, máy chủ cũng như các dịch
vụ dùng chung
Về nhân lực công nghệ thông tin, có Trường Đại học Công nghệ và Viện CNTT
là có lực lượng chuyên trách, có thể tham gia vào các khâu phân tích, thiết kế, lập trình, quản trị các hệ thống thông tin Ở một số đơn vị thành viên khác, chuyên viên quản trị hệ thống thường là kiêm nhiệm và chỉ có thể phát triển các ứng dụng đơn giản
Hầu hết các chuyên viên của ĐHQGHN có thể sử dụng máy tính và mạng máy tính trong công việc hàng ngày Đây là một thuận lợi cho tiến trình số hoá đại học
b Về ứng dụng và tổ chức các cơ sở dữ liệu
ĐHQGHN đã triển khai nhiều hệ thống tin học phục vụ hoạt động quảng bá hình ảnh, các hoạt động chuyên môn và các hoạt động quản lý Sau đây là đánh giá một số hệ thống tiêu biểu đã có
- Website của ĐHQGHN
Website của ĐHQGHN là bộ mặt của ĐHQGHN trên Internet Ngay từ khi khai trương mạng VNUnet, ĐHQGHN đã xây dựng website Từ đó đến nay, ĐHQGHN đã nhiều lần nâng cấp website Cùng đi với website là các phần mềm quản trị nội dung
Trang 36Trang 36
CMS (Content Management System) và cơ sở dữ liệu tin tức, sự kiện và tổ chức của ĐHQGHN Website của ĐHQGHN đã được duy trì thường xuyên, đáp ứng được việc công bố thông tin của ĐHQGHN ra công chúng Đây là một CSDL rất quý giá, lưu trữ các thông tin về hoạt động và phát triển của ĐHQGHN, cần được duy trì lâu dài và an toàn
- Hệ thống quản lý đào tạo thống nhất của ĐHQGHN
Cuối những năm 90, nhiều trường đại học thành viên (ĐHKHTN, ĐHKHXHNV, ĐHNN ) đã tự đầu tư cho các phần mềm quản lý đào tạo Với tính đặc thù về mặt tổ chức, ĐHQGHN đã quyết định đầu tư nâng cấp phần mềm UNISOFT đã dùng cho ĐHKHTN, Đại học Công nghệ thành phần mềm dùng chung cho ĐHQGHN Phần mềm đã có những đóng góp nhất định để quản lý sinh viên và kết quả học tập, tu dưỡng của sinh viên
Gần đây với chủ trương triển khai đào tạo theo tín chỉ, ĐHQGHN đã xây dựng phần mềm dùng chung triển khai ở mỗi cơ sở đào tạo Trong những năm học trước, đã phải mở cổng thông tin đào tạo riêng cho mỗi trường
Theo chủ trương của ĐHQGHN, với việc tổ chức đào tạo liên thông mạnh có những đặc thù mới Khả năng đào tạo liên thông mạnh là một ưu thế của mô hình ĐHQGHN và phải là bản sắc đặc thù của ĐHQGHN Tuy nhiên mô hình tổ chức đào tạo khá phức tạp (phức tạp nhất ở VN) với việc:
- Sinh viên có thể đăng ký học bất cứ môn gì, ở bất cứ nơi nào trong ĐHQGHN
- Một môn học có thể nhiều nơi quản lý
- Có đào tạo ngành kép, nhiều ngành của nhiều cơ sở đào tạo khác nhau cùng quản lý
- Có nhiều chương trình đào tạo khác nhau như chính quy, vừa làm vừa học, chất lượng quốc tế, chất lượng cao, tài năng
- Tổ chức đào tạo một ngành ở nhiều cơ sở đào tạo khác nhau vào nhiều giai đoạn khác nhau
Những yêu tố trên đòi hỏi phải xây dựng một cơ sở dữ liệu tập trung trên một phần mềm duy nhất ở quy mô ĐHQGHN Phiên bản mới 2.0 chạy trên toàn bộ ĐHQGHN đã được triển khai và đi theo nó là cổng thông tin đào tạo được tích hợp như một thành phần của cổng thông tin chung
- Hệ thống Quản lý văn bản
Cùng với hệ thống quản lý đào tạo và website, đây là một trong ba hệ thống thông tin quan trọng nhất hiện có của ĐHQGHN
Trang 37Trang 37
Hệ thống quản lý văn bản và điều hành ban đầu được triển khai ở văn phòng ĐHQGHN và trường Đại học Công nghệ là phần mềm NetOffice Sau này trong khuôn khổ của đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước, phần mềm Quản lý văn bản và hồ sơ công việc dùng chung của đề án 112 đã được triển khai thống nhất ở một
số đơn vị trong ĐHQGHN Phần mềm này phục vụ cho việc phân phối văn bản (phân văn bản và tra cứu) Nó đã giúp cho việc công bố, lưu trữ, tra cứu văn bản một cách thuận lợi
- Thư viện điện tử
ĐHQGHN đã đầu tư nhiều cho Trung tâm Thông tin Thư viện để xây dựng hệ thống thư viện điện tử Hệ thống này đang đáp ứng tốt yêu cầu quản lý các dịch vụ thư viện, ghi nhận cho mượn tài liệu, kết nối với các hệ thống thư viện quốc tế và số hoá các học liệu để cung cấp nội dung số
- Đào tạo điện tử (e-learning)
Tại ĐHQGHN đã có nhiều đơn vị sớm triển khai các hệ thống đào tạo điện tử như Trường Đại học Công nghệ (ĐHCN), Viện CNTT và Trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn
Trong khuôn khổ của dự án C1.2, ĐHQGHN đã xây dựng phần mềm tổ chức bài giảng điện tử (VNUCE) dùng chung cho toàn ĐHQGHN Phần mềm này được phát triển trên nền tảng mã nguồn mở, tích hợp được những ứng dụng thuận tiện, dễ dùng nhất và bổ sung thêm nhiều công cụ hữu ích Tới nay đã có vài chục bài giảng điện tử được nghiệm thu ở mức ĐHQGHN đã sử dụng phần mềm này để đóng gói Tính chuyên nghiệp của các bài giảng đang được cải thiện
ĐHQGHN đã trang bị một hệ thống thiết bị mạnh và mua một LMS (Learning Management System) thuộc loại tốt nhất (Blackboard) cài đặt tại Trường ĐHCN Hệ thống này đã được sử dụng khoảng hơn một năm nay nhưng hiệu quả chưa tương xứng với đầu tư và năng lực vì chưa có sự vào cuộc đông đảo của các thầy/cô, đặc biệt là các thầy/cô ở ngoài trường ĐHCN
- Các hệ thống khác
ĐHQGHN cũng đã xây dựng một số phần mềm dùng chung khác như quản lý công sản - tài sản, quản lý thiết bị KHCN, quản lý nhân sự và kế toán Các hệ thống này chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn
c Cơ sở hạ tầng mạng và thiết bị
Mạng VNUnet bao phủ một phạm vi địa lý với đường kính gần 10 km, với trên
3000 máy tính, gần 100 máy chủ dịch vụ, thiết bị mạng đủ đáp ứng nhu cầu vận hành
cơ bản hiện nay Ngoài đường thuê bao kết nối Internet qua Viettel, mạng VNUnet còn
có một số tuyến kết nối với bên ngoài như: đường kết nối với mạng VinaREN bằng cáp quang (với tốc độ hiện nay là 155Mbps), kết nối qua leasedline với NETnam của
Trang 38ĐHQGHN là một trong những đơn vị đầu tiên tham gia VinaREN VNUnet đã kết nối với mạng VinaREN bằng cáp quang, hiện đang ở khả năng khai thác liên thông với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu ở nước ngoài với băng thông 155Mbps Hiện nay, nhiều tài liệu điện tử của các cơ sở đào tạo và nghiên cứu trên thế giới có tham gia TEIN2 đã được cung cấp lên mạng này và cán bộ sinh viên ĐHQGHN đã có thể khai thác thường xuyên Đặc biệt, một số đơn vị như Trường ĐHCN, Trường ĐHKHTN đã
tổ chức thành công một số hội thảo từ xa qua mạng (video conferencing) với các đại học khác ở nước ngoài thông qua đường truyền VinaREN/TEIN2 Trong thời gian tới cần chuẩn bị đủ điều kiện kỹ thuật để nhiều đơn vị khác trong ĐHQGHN có thể sử dụng các dịch vụ của VinaREN
3.2.2 Sự cần thiết phải sử dụng phần mềm nhập điểm
Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay đã triển khai thành công phần mềm quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ dùng chung trong toàn ĐHQGHN Với hệ thống này có một số công việc có khối lượng lớn liên quan đến đào tạo là sinh viên đăng ký môn học, phòng đào tạo nhập điểm môn học và xử lý học vụ
Với quy mô 30.500 sinh viên chính quy, số lượng đầu điểm chính thức phải nhập lên tới 610.000 mỗi năm Ngoài ra, còn có học kỳ phụ, lớp môn học trả nợ riêng
Vì thế việc đầu tư cho công nghệ nhập điểm tự động là một việc có ý nghĩa lớn
Chúng ta hãy đánh giá một vài giải pháp nhập điểm đã thực hiện trong phần mềm quản lý đào tạo hiện nay:
a Nhập liệu thủ công trực tiếp
Với việc nhập điểm thủ công trực tiếp, giáo viên được phát các bảng điểm để điền điểm, sau đó ký xác nhận và gửi lên Phòng đào tạo Phòng đào tạo mở form nhập liệu dưới dạng bảng để gõ điểm trực tiếp Sau khi nhập điểm phải có một người soát lại để đảm bảo không nhầm Việc này rất mất công Đôi khi người ta phải áp dụng cách cho hai người nhập hai lần để so sánh Mặc dù có một vài giải pháp nhập điểm, nhưng việc nhập điểm trực tiếp như vậy vẫn phải duy trì vì có nhiều trường hợp không thể làm theo bất kỳ cách nào, ví dụ khi cần sửa một vài điểm
Trang 39Trang 39
Trong trường hợp phải làm phách thì quy trình còn phức tạp hơn Phòng đào tạo sau khi rọc phách phải tạo một bảng phách gửi cho giáo viên Giáo viên chấm bài xong ghi điểm vào bảng phách, ký và nộp cho Phòng Đào tạo Phòng Đào tạo ghép phách, lên bảng điểm và mời giáo viên lên ký vào bảng điểm mới được coi là kết thúc việc nhập điểm Tóm lại nhập liệu thủ công rất phức tạp và tốn kém
b Nhập điểm trực tuyến
Một giải pháp khác đã được áp dụng trong phần mềm quản lý điểm hiện nay là nhập trực tuyến cho phép giáo viên nhập điểm qua mạng Giáo viên đăng nhập vào hệ thống để hiển thị form bảng điểm, sau đó nhập điểm qua mạng Phương pháp này giảm tải cho phòng đào tạo, đồng thời số liệu chắc chắn chính xác hơn do chính giáo viên tự nhập không qua một khâu trung gian nào Tuy nhiên với cách này vẫn cứ phải yêu cầu giáo viên tham gia thêm một pha nữa để ký bảng điểm Sau khi các điểm thành phần được nhập đủ, phòng đào tạo tính điểm tổng hợp để in bảng điểm Cuối cùng Phòng đào tạo mời giáo viên lên ký vào bảng điểm Nếu không có việc ký bảng điểm thì nhập điểm trực tuyến là cách tốt nhất
Ngoài ra nhập điểm online đòi hỏi phải kết nối vào mạng của nhà trường trong thời gian nhập điểm
c Nhập điểm theo lô từ file
Nhiều trường trước đây yêu cầu các khoa tự lo nhập điểm nhưng không phải ghi trên giấy mà đưa vào file Thông thường các giáo viên được yêu cầu nhập vào bảng tính trên Excel sau đó import vào hệ thống Phần mềm quản lý đào tạo hiện nay cũng có khả năng này
Cán cán bộ phòng đào tạo sử dụng một tool để nhập (import) dữ liệu vào database Cách này cũng nhanh, tiện lợi tương tự như nhập điểm trực tuyến Thậm chí giảng viên có thể tự in bảng điểm để ký khi lên nộp cùng với nộp file Tuy nhiên có một hiểm hoạ là nếu do nhầm lẫn hoặc làm sai lạc mã sinh viên thì sai sót rất khó phát hiện Khi nhập từng điểm hoặc trực tuyến thì người nhập thấy rõ các thông tin từng đối tượng Nhưng khi import hàng trăm đối tượng thì sẽ không kiểm soát được từng người Mặc dù danh sách thí sinh được chính phần mềm tạo ra với mã số sinh viên chính xác
và đã có khuyến cáo cán bộ không được sửa mã số nhưng đã từng có những sự cố sai lạc mã số thí sinh
Ưu điểm của nhập điểm theo lô kiểu này là giáo viên không phải kết nối với mạng vẫn có thể lên điểm được
d Nhập điểm bằng nhận dạng ảnh phiếu điểm
Một trong các giải pháp nhập điểm khác được áp dụng là dùng các phiếu ghi điểm được viết theo những định dạng đặc biệt Thay vì ghi điểm là một số, người ta lập các cột có sẵn những ô hình tròn đại diện cho các mức điểm Điểm thí sinh được