Để góp phần xây dựng, cải tạo và phát triển kinh tế, xã hội, tạo ra môi trường ổn định, lành mạnh cho nền kinh tế quốc dân chống lại mọi hành vi nguy hiểm xâm hại đến trật tự kinh tế của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HOÀNG YẾN
TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HOÀNG YẾN
TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Hoàng Yến
Trang 4Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ
CÓ GIÁ GIẢ KHÁC TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
10
1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
trong luật hình sự Việt Nam
1.1.3 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 13
1.2.1 Khái niệm séc, các giấy tờ có giá khác 16 1.2.2 Khái niệm séc giả, giấy tờ có giá giả khác 20 1.3 Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ
có giá giả khác với một số tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
22
1.3.1 Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy
tờ có giá giả khác (Điều 181) với tội làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180)
22
1.3.2 Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các
giấy tờ có giá giả khác (Điều 181) với tội in, phát hành, mua
bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
(Điều 164a)
33
Trang 51.4 Quy định của pháp luật hình sự về tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
37
1.4.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác
37
1.4.2 Chế tài hình sự đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
40
Chương 2: THỰC TIỄN ĐẤU TRANH VỚI TỘI LÀM, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ
CÓ GIÁ GIẢ KHÁC TẠI TỈNH PHÚ THỌ VÀ NHỮNG
48
2.1 Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ
48
2.1.1 Kết quả và những tồn tại trong điều tra, truy tố, xét xử đối với
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
48
2.1.2 Một số nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác điều tra,
truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
65
2.2 Những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả đấu tranh đối với
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác
72
2.2.1 Những quan điểm cơ bản trong cải cách tư pháp liên quan đến
đấu tranh phòng chống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
72
2.2.2 Hoàn thiện pháp luật hình sự với tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
73
2.2.3 Các giải pháp khác đấu tranh với tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
78
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
1.1 So sánh tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181) và tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
trái giả (Điều 180)
23
1.2 So sánh tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
các giấy tờ có giá giả khác và tội in, phát hành, mua bán
trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước
34
2.1 Thống kê số vụ án, bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét
xử về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các
giấy tờ có giá giả khác giai đoạn 2009- 2014 trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ
49
2.2 Thống kê về thành phần, nhân thân người phạm tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả
khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2009- 2014
51
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, đồng thời pháp luật hình sự còn góp phần chống lại mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi người ý thức tôn trọng pháp luật
Kinh tế - xã hội phát triển, một mặt làm thay đổi bộ mặt của đất nước, đời sống của người dân ngày một nâng cao, tuy nhiên mặt trái của của sự phát triển bao giờ cũng là những hiện tượng tiêu cực xã hội, tình hình tội phạm và
vi phạm pháp luật gia tăng Tội phạm trong xã hội hiện đại là một hiện tượng
xã hội - pháp lý phức tạp với những biểu hiện khác nhau, vì thế công tác đấu tranh phòng chống tội phạm cũng gian khổ và khó khăn hơn Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng đã và đang diễn biến hết sức phức tạp ở nước ta trong những năm gần đây Báo cáo tổng kết hàng năm của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đều nhận định số lượng các
vụ án cũng như bị can, bị cáo về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế không tăng đột biến nhưng phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn Tội phạm xảy ra nghiêm trọng, phổ biến trên tất cả các lĩnh vực, ngành nhất là những lĩnh vực và các ngành kinh tế trọng điểm Thực tế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự quản lý kinh tế của đất nước, là rào cản tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những năm qua, pháp luật hình sự đã liên tục được nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước trong
Trang 8từng thời kỳ Chính sách hình sự là quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp pháp luật hình sự là cốt lõi nhằm đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế nói chung, tình hình tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng đang tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp
do những sự thay đổi khách quan của kinh tế - xã hội Thực tiễn cho thấy trong quá trình phát triển kinh tế, lợi dụng chính sách khuyến khích sự năng động sáng tạo của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế đã xuất hiện một
số hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính nguy hiểm rất lớn cho xã hội, có nơi, có lúc tội phạm diễn biến nghiêm trọng
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là kể
từ sau sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã
mở ra cho chúng ta những thời cơ, thuận lợi để phát triển Tuy nhiên, thách thức, khó khăn và những hệ quả tiêu cực kéo theo là không nhỏ Dự báo tình hình tội phạm nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng trong thời gian tới còn phức tạp, phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi và gây khó khăn hơn trong điều tra,
xử lý tội phạm Giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa Chiến lược cải cách đến năm 2020 đã đề ra một trong những phương hướng quan trọng, đó là hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với công tác xây dựng pháp luật hình sự là phải xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, đảm bảo tính khả thi với việc quy định tội phạm và hình phạt để đủ sức trừng trị và răn
đe đối với tội phạm Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng hệ thống lý luận, pháp lý
Trang 9làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác cũng được đặt ra
Để góp phần xây dựng, cải tạo và phát triển kinh tế, xã hội, tạo ra môi trường ổn định, lành mạnh cho nền kinh tế quốc dân chống lại mọi hành vi nguy hiểm xâm hại đến trật tự kinh tế của đất nước, luật hình sự Việt Nam
quy định chương "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế", trong đó "tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác"
được quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009
Trong thực tiễn, đã có không ít Thẩm phán còn gặp nhiều vướng mắc, lúng túng khi xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy
tờ có giá giả khác và không ít trường hợp còn chưa thống nhất các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về tình hình của loại tội phạm này Cùng một hành vi phạm tội nhưng Tòa án ở các cấp khác nhau, các địa phương khác nhau lại xét xử bị cáo với những tội danh khác nhau Việc đó đã trực tiếp gây bất lợi cho quyền lợi của bị can, bị cáo Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và thực tiễn áp dụng
để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do
luận chứng cho sự cần thiết để tác giả lựa chọn đề tài "Tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)" làm luận
văn thạc sĩ luật học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chính sách hình sự, trong đó có các vấn đề về tội phạm xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong nước đề
Trang 10cập Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng luôn mang tính thời sự xuất phát từ tính "động" của nền kinh tế Vì vậy, những công trình nghiên cứu về chính sách hình sự, về tội phạm kinh tế khá nhiều,
có thể ở góc độ luật hình sự hoặc góc độ tội phạm học Tác giả sắp xếp từng công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo,
tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp những tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Sách
chuyên khảo: "Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam",
của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do TS Đào Trí Úc chủ biên,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995; Sách chuyên khảo: "Tội phạm kinh
tế thời mở cửa", do PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS Nguyễn Hòa Bình
làm chủ biên, Nxb Công an nhân dân, năm 2003; Sách chuyên khảo sau đại
học: "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự", của PGS.TSKH Lê
Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005; Sách chuyên khảo:
"Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam", do TS Phạm Văn Lợi
chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2007…
Ngoài ra, các tài liệu liên quan đến luận văn còn là hệ thống giáo
trình, bình luận khoa học Bộ luật hình sự, các số chuyên đề như: Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam, của Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, của Trung tâm đào tạo từ xa Đại học Huế, năm
2003; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội; Sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999", của
Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, năm 2008, do tập thể tác giả biên soạn; Sách "Bình luận khoa học Bộ
luật hình sự", do PGS.TS Trần Minh Hưởng, Học viện Cảnh sát nhân dân
Trang 11biên soạn, Nxb Hồng Đức, năm 2014; Sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình
sự" của ThS Đinh Văn Quế, Tòa án nhân dân tối cao, phần các tội phạm, tập
VI, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bình luận chuyên sâu… Tất cả các công trình trên đều có những chương, phần nghiên cứu lý luận về chính sách hình sự, nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm cũng như các dấu hiệu pháp
lý, các yếu tố cấu thành cụ thể của tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ
có giá giả khác nói riêng
Thứ hai, là các công trình nghiên cứu thể hiện qua các luận án tiến sĩ
Một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài như: Luận án tiến sĩ của Bùi
Minh Thanh: "Vi phạm pháp luật và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay" (năm 2003); Luận án tiến sĩ
của Mai Thế Bày: "Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế" (năm 2006); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nam: "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Luật hình sự Việt Nam" (năm 2007)… Những công trình này nghiên cứu các chính sách
hình sự nói chung hoặc nghiên cứu các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế dưới góc độ tội phạm học
Thứ ba, các công trình nghiên cứu thể hiện trên các bài viết, trên các
tạp chí chuyên ngành, hội nghị, hội thảo, các số chuyên đề Đây là nguồn tài liệu phong phú nhất Những công trình nghiên cứu này chủ yếu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành pháp luật có uy tín như Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Dân chủ pháp luật… Nhìn chung, đây là những công trình nghiên cứu tội phạm cụ thể hoặc nghiên cứu về trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với tội phạm nói chung trong đó có tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có
giá giả khác
Trang 12Như vậy, hiện nay các công trình khoa học nghiên cứu về chính sách hình sự nói chung, về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ
có giá giả khác khá nhiều Tuy nhiên, quá trình thu thập, sưu tầm và nghiên cứu tài liệu tác giả nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác dưới khía cạnh lập pháp hình sự và thực tiễn trong công tác xét xử tại địa phương,
từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực tiễn xét xử
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung
gì vướng mắc khi áp dụng luật, khi xét xử?
- Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác như thế nào?
- Giải pháp nào để tăng cường hiệu quả công tác xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác?
4 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ
Trang 13thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác mà trong đó giải quyết nhiều vấn
đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong luật hình sự Việt Nam Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong mối tương quan so sánh với một số chế định tội danh khác;
- Nghiên cứu, đánh giá, làm sáng tỏ bức tranh về tình hình xét xử tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó khái quát trên phạm vi cả nước; nêu được những tồn tại, hạn chế của thực tiễn xét xử cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó;
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự, đặc biệt là vụ án hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác được khách quan, đúng pháp luật
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn được triển khai nghiên cứu trên đối tượng là hành vi phạm tội và người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ
có giá giả khác
Trang 14- Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh chế định tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong luật hình sự Việt Nam mà cụ thể là trong Bộ luật hình sự năm
1999, kết hợp với việc nghiên cứu, đánh giá tình hình thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân địa phương và những nguyên nhân, tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả trong thực tiễn xét xử loại tội phạm này
- Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm xét xử một
số nước trong khi nghiên cứu chế định tội phạm này
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong năm năm (từ năm 2009 đến năm 2014)
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn:
Là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về xây dựng Nhà nước và pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm; Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh chống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác cũng như những thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như lịch sử pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học pháp lý chuyên ngành
Các phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lịch sử so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, quy nạp và diễn dịch…
Trang 157 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn đấu tranh với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác tại tỉnh Phú Thọ và những kiến nghị,
đề xuất
Trang 16Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1 Thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập (ngày
02 tháng 09 năm 1945) nước ta lúc bấy giờ chưa có Bộ luật hình sự Tuy nhiên, Nhà nước cũng quan tâm đến việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, nhằm ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo
vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhân dân Do hoàn cảnh lịch sử, nên nhiệm vụ trọng tâm lúc bấy giờ là tập trung vào việc củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ vừa mới được thành lập, nên việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm tuy được Nhà nước quan tâm, nhưng chủ yếu ở các loại tội phạm xâm hại về an ninh chính trị và các loại tội đặc biệt nghiêm trọng khác như: giết người, cướp của, hiếp dâm…
Văn bản quy định nhiều nhóm tội nhất trong đó có tội về kinh tế là Sắc luật số 03 năm 1976 trong đó có các nhóm tội: các tội phản cách mạng; các tội xâm phạm tài sản công cộng; các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm, sức khỏe, tài sản riêng của công dân; các tội kinh tế; các tội chức vụ, hối lộ; các tội xâm phạm trật tự an toàn công cộng Các văn bản pháp luật quy định trong lĩnh vực tội phạm kinh tế tiêu biểu phải kể đến là Pháp lệnh số 07/LCT/HĐNN7 của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 10/7/1982 trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép Ngay ở lời nói đầu, Pháp lệnh đã nêu rõ: "Để ngăn chặn các hành động vi phạm chính sách
Trang 17quản lý thị trường, góp phần đẩy mạnh sản xuất, ổn định vật giá và bảo đảm đời sống nhân dân; Pháp lệnh này quy định việc trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép" [22] Điều 1 quy định:
Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép đều phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh Nghiêm cấm việc bao che người phạm tội Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
và mọi công dân, khi thấy có hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép đều có quyền và nghĩa vụ phát hiện với các cơ quan hoặc nhân viên Nhà nước có thẩm quyền để được ngăn chặn và xử lý kịp thời [22]
Tuy có các quy định về tội kinh tế nhưng ở giai đoạn này không có một quy định pháp luật nào quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác Điều này xuất phát từ thực trạng nền kinh tế của nước ta lúc đó là nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp Nhà nước lên kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế dẫn đến tình trạng kinh tế khủng hoảng và xảy ra siêu lạm phát kéo dài từ năm 1985 đến hết năm 1988 Cả nước dốc sức cho công cuộc khắc phục hậu quả của nền kinh tế khủng hoảng nên các quy phạm pháp luật về kinh tế lúc này về cơ bản không có những thay đổi so với giai đoạn trước
1.1.2 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, Bộ luật này không có quy định riêng về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác mà quy định chung tội này với tội làm tiền giả tại Điều 98: "1 Người nào làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền tệ thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm; 2 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình" [32] Tội
Trang 18làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền
tệ gây nên những hậu quả nghiêm trọng vì vậy được xếp vào Chương I, mục B, các tội xâm phạm an ninh quốc gia và khung hình phạt cao nhất của tội này là
tử hình "2 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình" [32]
Trong hơn mười năm có hiệu lực, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28/12/1989, ngày 12/08/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/05/1997 Trong mỗi lần sửa đổi, bổ sung thì Bộ luật hình sự đều có những thay đổi liên quan trực tiếp đến tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ được quy định ở Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 Trong lần sửa đổi thứ nhất vào ngày 28/12/1989, do đất nước mới chuyển hướng nền kinh tế theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên hướng sửa đổi chủ yếu tập trung vào các tội có tính chất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng có ảnh hưởng lớn đến vận mệnh quốc gia như tội đầu cơ, tội trốn thuế, tội buôn lậu, tội phạm về chức vụ… Trong ba lần sửa đổi, bổ sung tiếp theo vào năm 1991, năm 1992 và năm 1997, Bộ luật hình sự tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về phần chung và phần các tội phạm của
Bộ luật hình sự năm 1985 Đối với quy định về tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ thì cả bốn lần sửa đổi, bổ sung đều không
có sự thay đổi về điều luật mà chỉ có sự thay đổi về hình phạt bổ sung đối với loại tội này Cụ thể lần sửa đổi, bổ sung năm 1991 quy định: "Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ
ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng)" [34]; lần sửa đổi, bổ sung năm 1992 quy định: "Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng)" [36]; lần sửa đổi, bổ sung năm 1997 quy định:
Trang 192 Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A hoặc một trong các tội quy định tại Điều 87, Điều 88, các Điều từ Điều 94 đến Điều 99, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm 3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng; phạm tội quy định tại Điều 97, thì bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp 4- Người nào phạm một trong các tội thuộc Mục A, thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, các điều từ Điều 94 đến Điều 98, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [37] Như vậy, qua các lần sửa đổi, bổ sung thì người có hành vi phạm tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ ngoài việc phải chấp hành các hình phạt chính được quy định tại Điều 98 thì họ còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng hoặc
có thể tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản Những quy định mới này làm cho Bộ luật hình sự ngày càng hoàn thiện hơn và thể hiện rõ được mục đích của việc áp dụng chế tài pháp luật về kinh tế là nhằm thu hồi lại tiền hoặc tài sản mà người phạm tội đã gây ra cho Nhà nước
1.1.3 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay Sau hơn mười năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1985, mặc dù đã tiến hành sửa đổi, bổ sung bốn lần, nhưng trong tình hình mới, Bộ luật hình sự cũ không còn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm khi mà nước ta đã chuyển qua nền kinh tế nhiều thành phần Chính vì vậy, ngày 21/12/1999, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, tại
kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự mới: Bộ luật hình sự năm 1999 Có thể nói Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực từ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế…đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo
Trang 20cơ sở pháp lý cho đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng
So với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Bộ luật hình sự năm 1999 có rất nhiều quy định mới về tội phạm và hình phạt Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế liên quan đến an ninh quốc gia trước đây đã được quy định tại Chương I (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) thì nay quy định tại Chương XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) Việc thay đổi tên chương không đơn thuần chỉ là sự thay đổi về tên gọi, mà nó có ý nghĩa quan trọng về nội dung
và bản chất của các tội phạm trong chương này Tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, trước đây được quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985, thì nay được tách thành hai tội khác nhau, quy định tại Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả) và Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác)
Trong quy định của khoản 2, Điều 98, Bộ luật hình sự năm 1985 thì vì tội làm séc giả được quy định chung với tội làm tiền giả nên hình phạt cao nhất của tội chung này là tử hình Nhưng sau khi được tách thành hai loại tội
và được quy định chuyên biệt ở Điều 180 và Điều 181, Bộ luật hình sự năm
1999 thì bị cáo phạm tội làm séc giả không còn phải chịu khung hình phạt cao nhất là tử hình nữa Quy định này của Bộ luật hình sự năm 1999 là hoàn toàn đúng đắn vì "xét về tính chất trong mối tương quan với các tội phạm khác trong Bộ luật hình sự thì đây là những tội phạm mà tính nguy hiểm cho xã hội của chúng không thể so sánh được với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội giết người hoặc một số tội phạm khác Hơn nữa, suy cho cùng thì người phạm tội khi thực hiện những tội phạm này thường vì động cơ tư lợi vì mục đích xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chế độ sở hữu…(những quan hệ xã hội bị gây thiệt hại có hậu quả có thể khắc phục được) do đó không cần quy định hình phạt tử hình với tội này [8, tr 76-23]
Trang 21Sở dĩ Nhà nước phải sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1985 và ban hành quy định mới về tội phạm này do kỹ thuật lập pháp thể hiện tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 bộc lộ những hạn chế cần phải khắc phục:
Thứ nhất, khách thể của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả,
tội phá hủy tiền tệ là chế độ quản lý nhà nước về sản xuất, lưu thông tiền tệ Chế độ quản lý nhà nước về việc phát hành, tàng trữ, lưu thông, thu hồi và thay thế tiền tệ là bộ phận của chế độ quản lý nhà nước về kinh tế Như vậy, khách thể loại của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ là trật tự quản lý kinh tế chứ không phải là an ninh quốc gia Do vậy, việc quy định Điều 98 về tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ tại chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia là không phù hợp
Thứ hai, đối tượng của tội phạm được quy định ở tên tội danh chỉ là
tiền gồm: tiền giả và tiền thật, nhưng đối tượng của tội phạm được liệt kê ở nội dung của điều luật lại bao gồm cả séc giả, phiếu công trái giả Như vậy, ở đây thiếu đi sự thống nhất giữa tên tội danh và nội dung của điều luật
Thứ ba, hành vi phá hủy tiền tệ là hành vi tự gây thiệt hại cho người
có hành vi phá hủy Do vậy, việc Bộ luật hình sự năm 1985 quy định hành vi
tự gây thiệt hại cho bản thân mà không gây thiệt hại cho xã hội là tội phạm là không cần thiết Bởi vì nếu phá hủy tiền tệ của người khác thì đã bị xử lý theo quy định tại Điều 138 hoặc Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1985 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân Nếu chiếm đoạt trái phép tiền của người khác rồi mới có hành vi phá hủy tiền tệ thì bị xử lý về tội chiếm đoạt tương ứng (tham ô, trộm cắp, cướp, công nhiên chiếm đoạt…) Tiền cũng là một loại tài sản trong giao lưu dân sự Vì vậy, trong phạm vi quyền của chủ sở hữu đối với một số tiền nhất định thuộc quyền sở hữu của mình thì hành vi phá hủy tiền tệ cũng chỉ phản ánh tính chất quyền định đoạt của chủ sở hữu với tài sản của mình mà thôi Cho nên, nếu phá hủy tiền của mình (thuộc quyền sở hữu của mình) thì không thể là tội phạm
Trang 22Thứ tư, cùng một đối tượng là tiền giả nhưng Bộ luật hình sự năm
1985 lại quy định hai tội là: tội làm tiền giả và tội tàng trữ, lưu hành tiền giả
Do vậy, một người thực hiện tội phạm có ba hành vi làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả thì khi xét xử tòa án phải xử họ hai tội và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự Trong khi đó tại các điều 95, 96, 96a Bộ luật hình sự năm 1985 thì lại chỉ quy định là một tội với nhiều hành vi là chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép, chiếm đoạt một đối tượng Điều này không đảm bảo sự công bằng trong chính sách hình sự xét trên phương diện hoạt động lập pháp Hơn nữa, khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 là từ năm năm đến mười lăm năm Điều này có nghĩa là nếu một người thực hiện hai trong số ba hành vi nêu trên nếu không được áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định thì tối thiểu cũng bị phạt tới mười năm tù (tổng hợp hai tội phạm mỗi tội năm năm tù) Trong khi thực tiễn xét xử các tội phạm quy định tại Điều 95, 96 Bộ luật hình sự năm 1985 cho thấy nếu chỉ thực hiện hai trong số năm hành vi đối với một đơn vị đối tượng thì cũng chỉ
bị xử phạt tối đa là ba năm tù
Để khắc phục những hạn chế trên thì Điều 98 Bộ luật hình sự năm
1985 được chuyển thành các Điều 180 và 181 Bộ luật hình sự năm 1999 và đặt ở chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Đồng thời Bộ luật hình
sự năm 1999 không quy định tội phá hủy tiền tệ là tội phạm Khi Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời năm 2009 thì Điều
180 và Điều 181 được giữ nguyên không có sự sửa đổi bổ sung nào
1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1.2.1 Khái niệm séc, các giấy tờ có giá khác
Séc (Cheque) là phương tiện thanh toán quen thuộc và phổ biến ở phần
lớn các quốc gia trên thế giới Theo Công ước Geneve 1930, séc được định nghĩa
là "mệnh lệnh trả tiền vô điệu kiện do một chủ tài khoản mở tại ngân hàng ra
Trang 23lệnh cho ngân hàng (nơi mở tài khoản) trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình mở ở ngân hàng này trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên tờ séc" Theo Từ điển Tiếng Việt thì "séc" là lệnh viết của chủ tài khoản để ngân hàng trích tài khoản chi trả cho người nào đó [30, tr 1059]
Theo Luật các Công cụ chuyển nhượng Việt Nam năm 2005 thì
"Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản cung ứng của mình để thanh toán cho người thụ hưởng" [43]
Như vậy, một cách khách quan, séc là một lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản mở tại ngân hàng yêu cầu ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người hưởng lợi séc hoặc cho người cầm séc Séc được sử dụng thay thế tiền làm chức năng thanh toán và lưu thông
Séc bắt đầu được sử dụng phổ biến trên thế giới từ thế kỷ 18, khi mà
hệ thống ngân hàng phát triển mạnh dưới dạng tờ lệnh chi tiền Năm 1912, cùng với hối phiếu, séc cũng được đem ra thảo luận tại Hội nghị quốc tế ở Haag, nhưng do chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra làm gián đoạn sự phê chuẩn Luật séc quốc tế Mãi tới năm 1931 Hội nghị quốc tế về séc tại Geneve
đã được ba mươi nước thông qua luật thống nhất về séc quốc tế (Uniform Law on Cheque - ULC 1931)
Ở Việt Nam, do tình hình kinh tế chưa mấy phát triển nên tình trạng
sử dụng séc chưa phổ biến như tiền Tại các ngân hàng thương mại, hình thức thanh toán bằng séc chiếm tỉ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau, còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá nhân, giữa cá nhân với cá nhân rất hiếm khi xảy ra
Nguyên nhân của thực trạng này trước tiên là do Việt Nam có nền kinh tế chưa phát triển Bên cạnh đó, chính sách pháp luật về séc chưa hoàn chỉnh cũng ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ giao dịch bằng séc trong quá trình thanh
Trang 24toán Cụ thể, hiện nay ở nước ta chưa có quy định về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà chỉ "động viên" dùng séc Trong thanh toán nếu người mua và người bán có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi người bán đến ngân hàng để nộp séc ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản của người bán và ghi nợ trên tài khoản của người mua Còn nếu người mua và người bán không cùng
hệ thống ngân hàng thì buộc các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước Việc kiểm tra séc ở ngân hàng nhà nước chủ yếu vẫn là hoạt động thủ công cho nên nếu ngân hàng phát hành vài chục nghìn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ đương nhiên gặp nhiều khó khăn Về phía người bán rất lo ngại tài khoản của người mua không có tiền hoặc bị séc giả nên có tâm lý ngại giao dịch bằng séc
Như vậy, có thể hiểu séc là văn bản thể hiện mệnh lệnh trả tiền vô
điệu kiện do một chủ tài khoản mở tại ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng (nơi
mở tài khoản) trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình mở ở ngân hàng này trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên tờ séc
Giấy tờ có giá là loại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay
đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng khác
Theo Từ điển Tiếng Việt thì "giấy tờ" là giấy mang một nội dung và có giá trị nhất định [30, tr 499]; "giá" là biểu hiện giá trị bằng tiền [30, tr 482] Như vậy, theo cách luận giải về nghĩa của thuật ngữ "giấy tờ" và "giá" của Từ điển Tiếng Việt thì giấy tờ có giá được hiểu là loại giấy tờ mang một nội dung
và có giá trị bằng một khoản tiền nhất định
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác (Điều 1, Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005); trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu (điểm c, khoản 1, Điều 4, Pháp lệnh ngoại hối năm 2005); tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ (điểm 16, Điều 3, Luật quản lý nợ công
Trang 25năm 2009); các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán, hợp đồng góp vốn đầu tư, các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định tại điểm 3, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán 2010; trái phiếu doanh nghiệp (Điều 2, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp)
Cần phân biệt giấy tờ có giá với tiền - một loại tài sản khác theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005
Tiền là một loại tài sản riêng biệt, nó thực hiện ba chức năng chính là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản, là công cụ đánh giá các loại tài sản khác Còn giấy tờ có giá gồm nhiều loại, mỗi loại có một chức năng khác nhau Có loại là công cụ thanh toán nhưng không bao giờ là công
cụ thanh toán đa năng, có loại là công cụ đầu tư nhưng nó không bao giờ là công cụ tích lũy theo nghĩa rộng, vì giá trị của nó không phải là vô thời hạn và
nó cũng không phải là công cụ để định giá các loại tài sản khác như tiền
Nếu như giấy tờ có giá được phát hành bởi một số chủ thể có thể là Nhà nước, có thể là một số chủ thể khác do pháp luật quy định, thì việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện cụ thể của chủ quyền quốc gia và chỉ do Ngân hàng nhà nước phát hành Việc phát hành giấy tờ có giá là biểu hiện của quan hệ tín dụng thương mại Tiền được sử dụng để đầu tư kinh doanh hoặc để tiêu dùng, còn giấy tờ có giá không bao giờ được sử dụng trong hành vi tiêu dùng trong giao lưu dân sự thông thường
Trong thực tế xét xử, nhiều trường hợp, người dân nhầm lẫn các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng với giấy tờ có giá Họ có yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến các loại giấy tờ này Tuy nhiên, ta phải xác định rõ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng
ký xe máy, mô tô, ô tô… không phải là giấy tờ có giá quy định tại Điều 163
Trang 26Bộ luật dân sự năm 2005 Bởi vì, về khả năng chuyển đổi thành tiền tệ hoặc
sử dụng như tiền tệ, thì rõ ràng nó lệ thuộc vào bản thân tài sản được ghi trên
nó Vì vậy, ở khía cạnh này, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản không thể
là tài sản, cho nên cũng không thể là giấy tờ có giá Nếu có yêu cầu Tòa án buộc người chiếm giữ trả lại các giấy tờ này thì Tòa án căn cứ quy định của Văn bản số 141/TANDTC- KHXX không thụ lý giải quyết vụ việc
Như vậy có thể hiểu, giấy tờ có giá là những văn bản chứa đựng một
nội dung và có giá trị bằng một khoản tiền nhất định
1.2.2 Khái niệm séc giả, giấy tờ có giá giả khác
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, thủ đoạn của tội phạm ngày càng tinh vi hơn Các đối tượng phạm tội đã lợi dụng triệt để kẽ hở của pháp luật và những hạn chế trong công tác quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Nhà nước để thực hiện hành vi phạm tội vô cùng tinh vi, xảo quyệt, gây hậu quả lớn hoặc rất lớn làm ảnh hưởng đến uy tín, hiệu quả hoạt động quản lý của Nhà nước, nhưng những hành vi phạm tội đó lại không dễ bị phát hiện và xử lý Nếu có phát hiện thì việc xử lý
vụ án cũng gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp Có nhiều nguyên nhân dẫn tới
sự khó khăn nói trên nhưng có thể kế tới một vài nguyên nhân cơ bản như: quy mô, tính chất của vụ án thường không lớn, ý thức chống đối pháp luật của người phạm tội và mối quan hệ của họ đan xen, phức tạp thậm chí mật thiết gây khó khăn cho công tác điều tra, xét xử hoặc việc áp dụng pháp luật giữa các ngành tố tụng có nhiều vụ cũng không được thống nhất Do vậy, để công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác nói riêng đạt được hiệu quả thì trước hết cần phải hiểu rõ thế nào là séc, giấy tờ có giá và những thủ đoạn mà tội phạm có thể thực hiện trên thực
tế để làm giả séc, các loại giấy tờ có giá giả khác
Trang 27Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2008 thì "giả" tức là không phải thật mà là được làm ra với vẻ bề ngoài giống như thật, thường là dùng để đánh lừa [30, tr 481]
Đối với ngành ngân hàng và tài chính thì các phương thức và thủ đoạn liên quan đến hành vi làm giả séc được hiểu theo thuật ngữ "gian lận séc" Có nhiều khái niệm tổng quát cũng như chuyên ngành về gian lận Theo hướng dẫn tìm hiểu gian lận của SPASAI (Hiệp hội các cơ quan kiểm toán tối cao Nam Thái Bình Dương): gian lận là một thuật ngữ chung, bao gồm tất cả các cách mà trí thông minh con người có thể nghĩ ra, được một cá nhân sử dụng để giành lợi thế hơn người bằng việc trình bày không đúng sự thật Không có một quy định rõ ràng nào cho việc xác định gian lận vì gian lận bao gồm tất cả các
cách bất ngờ, giả dối, xảo quyệt và không công bằng nhằm lừa người khác
Theo Văn phòng kiểm toán quốc gia ở Anh, gian lận có liên quan đến việc sử dụng thủ đoạn lừa gạt để giành được các lợi ích tài chính không công bằng và bất hợp pháp
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240), gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính
Như vậy, cho dù định nghĩa theo cách nào thì về bản chất, gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu giếm, xuyên tạc sự thật vì mục đích tư lợi Gian lận séc đề cập đến một loại hành vi phạm tội có liên quan đến việc sử dụng trái pháp luật để có được tiền một cách bất hợp pháp hoặc sở hữu hợp pháp của chủ tài khoản Hầu hết các phương pháp liên quan đến việc lợi dụng sự "thả nổi" (thời gian giữa các đàm phán về séc và thanh toán bù trừ tại ngân hàng của người viết séc) để rút ra số tiền này Các hình thức cụ thể của gian lận séc bao gồm: ghi séc khống (khi tiền được ký quỹ trước khi kết thúc giai đoạn thả nổi để trang trải gian lận) và ghi séc trắng (khi việc thả nổi cung cấp cơ hội để
Trang 28viết các séc lừa đảo nhưng tài khoản không bao giờ được bổ sung) Tại ngân hàng, có rất nhiều hình thức gian lận séc: ghi séc quá số dư, biển thủ, ghi séc xấu, bỏ rơi, giả mạo và một số trường hợp không bình thường khác (làm biến mất mực, tẩy séc…)
Như vậy, séc giả, giấy tờ có giá giả khác là những văn bản chứa đựng
nội dung không có thật để lừa dối cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thanh toán trả tiền hoặc gian dối trong thực hiện các giao dịch khác
Trong pháp luật hình sự Việt Nam tội phạm liên quan đến hành vi làm giả và lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả được quy định chung với tội làm tiền giả tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ) Lần pháp điển hóa lớn thứ hai, Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 98 được tách thành hai tội riêng biệt quy định tại Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả) và Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác) Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác là hành vi làm ra, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác Mặt khách quan của tội này bao gồm nhóm các hành vi: làm giả séc, giấy tờ có giá khác; tàng trữ séc giả, giấy tờ có giá giả khác; vận chuyển séc giả, giấy tờ có giá giả khác; lưu hành séc giả, giấy tờ
có giá giả khác
1.3 PHÂN BIỆT TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.3.1 Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác (Điều 181) với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180)
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
Trang 29trái giả là hai tội phạm được tách từ tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 Trước đây tội phạm này được coi là tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia Nay, Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật hình sự năm
2009 quy định tội phạm này tại chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế Tuy là được tách ra cùng một tội, nhưng giữa hai tội này có nhiều sự khác biệt cơ bản Sau đây là bảng so sánh hai tội phạm này với nhau:
Bảng 1.1: So sánh tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181) và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180)
TT Tiêu chí so sánh
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
(Điều 180)
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
3 Mức độ nguy hiểm cho
Nguồn: Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác là hai tội độc lập quy định tại Điều 180 và Điều 181 Bộ luật hình sự năm
1999 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 Trước đây, hai tội phạm này được quy định chung trong một điều luật Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 "tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ" Về tên gọi, Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ thể hiện các hành vi phạm tội làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, nhưng về nội dung của điều luật thì khoản 1 lại nêu rõ: "Người nào làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền tệ thì bị phạt tù từ năm năm đến
Trang 30mười năm" Đối tượng của tội phạm được quy định ở tên tội danh chỉ là tiền gồm: tiền giả và tiền thật, nhưng đối tượng của tội phạm được liệt kê ở nội dung của điều luật lại bao gồm cả séc giả, phiếu công trái giả Như vậy, ở đây thiếu
sự thống nhất giữa tên tội danh và nội dung của điều luật Hơn nữa tính chất của hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả nguy hiểm cho xã hội cao hơn hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả nên việc Bộ luật hình sự năm 1999 tách Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 thành hai tội khác nhau với khung hình phạt khác nhau ở Điều 180 và 181 là có cơ sở pháp lý
Về phương diện lý luận, sự khác biệt lớn nhất của hai tội phạm này là
ở đối tượng tác động của tội phạm và chế tài hình sự đối với các hành vi phạm tội được nêu trong nội dung của điều luật
Về đối tượng tác động của tội phạm, đối tượng tác động của tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
Hiện nay chưa có khái niệm nào mang tính pháp lý về "tiền" mà chỉ có các khái niệm về "tiền tệ" Tiền được hiểu là một bộ phận của tiền tệ Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác
Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Theo các nhà kinh tế học hiện đại tiền là bất
cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch
vụ hoặc để trả nợ Theo khoản 1, Điều 9 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam
năm 2003 tiền tệ là phương tiện thanh toán bao gồm tiền giấy, tiền kim loại
và các giấy tờ có giá khác như tiền
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì tiền là một loại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự, nó thực hiện các chức năng thanh toán thông dụng nhất và tiền chỉ do Ngân hàng Nhà nước phát hành Hiện nay, tiền được lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam là tiền giấy, đơn vị tính là
Trang 31Việt Nam đồng, được cấu tạo dưới dạng hợp chất polyme không thấm nước
và khó bị nhàu nát như tiền giấy trước đây
Tiền, ngân phiếu, công trái có thể là của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành Theo hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật hình
sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP thì "tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả, ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam" [51]
Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo quy định của Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 là các loại tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả gồm tiền Việt Nam đồng và ngoại tệ; ngân phiếu, công trái do Việt Nam hoặc nước ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán ở Việt Nam Tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả về cơ bản có những đặc điểm giống như tiền thật, công trái thật, ngân phiếu thật Tội phạm này tác động đến đối tượng của chúng bằng các hành vi cụ thể được nêu rõ trong Điều 180 là: làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả Làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là thực hiện mọi công việc cần thiết để phát hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả Người phạm tội có thể tham gia vào cả quá trình làm
ra tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả hoặc chỉ tham gia vào một công đoạn của quá trình làm ra tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả nêu trên như: vẽ theo mẫu, làm bản in, hoặc thực hiện việc in ấn…Tàng trữ tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là cất giữ các đối tượng nêu trên ở bất cứ chỗ nào như nơi ở, nơi làm việc, mang theo người, trong hành lý của người phạm tội Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa đối với việc định tội Vận chuyển tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là việc đưa các đối tượng trên từ nơi này sang nơi khác bằng đường bộ, đường thủy nội địa, đường hàng không, đường
Trang 32biển, đường sắt, bằng cách vận chuyển trực tiếp hoặc gửi Lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là hành vi sử dụng tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo nghĩa lưu thông tiền tệ, ngân phiếu, công trái Đó là các hành vi như đổi chác, cho vay, mua bán, tặng
Đối tượng tác động của tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác theo quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự
là séc giả, giấy tờ có giá giả Hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn chính thức thế nào là séc giả, giấy tờ có giá giả nhưng về cơ bản có thể dựa vào khái niệm séc và giấy tờ có giá đã được phân tích ở Mục 2 của Chương I để làm rõ
về vấn đề này Người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác có thể thực hiện một trong các hành vi sau: làm séc giả, các giấy tờ có giá giả khác; tàng trữ séc giả, các giấy tờ có giá giả khác; vận chuyển séc giả, các giấy tờ có giá giả khác; lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
Về chế tài hình sự, đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả, ngân phiếu giả, công trái giả, Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định ba khung hình phạt đối với người phạm tội:
1 Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm
2 Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm
3 Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân [44]
Theo quy định của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số điều của Bộ luật hình
sự năm 1999 thì:
3.1 Đối với tội làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (sau đây gọi chung là tiền giả):
Trang 33a Nếu tiền giả có trị giá tương ứng dưới ba triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự;
b Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ ba triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 180 Bộ luật hình sự;
c Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự theo khoản 3 Điều 180 Bộ luật hình sự Tuy nhiên cần phân biệt:
- Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ năm mươi triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng tiền Việt Nam là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng;
- Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm triệu đồng tiền Việt Nam trở lên là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
3.2 Đối với tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (sau đây gọi chung là tiền giả):
a Nếu tiền giả có trị giá tương ứng dưới mười triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự;
Người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả bị xét xử ở khung cơ bản tại khoản
1, Điều 180 Bộ luật hình sự thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm Nếu người phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị xét xử theo khoản 2, Điều 180, bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm Hiện nay chưa có hướng dẫn chính thức thế nào là làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thuộc trường hợp nghiêm trọng, nhưng qua thực tiễn xét xử có thể coi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
Trang 34trái giả thuộc trường hợp nghiêm trọng nếu làm, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả từ 10 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng; tàng trữ, vận chuyển tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả từ
30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng Ngoài ra, nếu làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả dưới mức trên, nhưng gây ra hậu quả nghiêm trọng khác thì cũng coi là thuộc trường hợp nghiêm trọng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật
b Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ mười triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 180 Bộ luật hình sự;
c Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm triệu đồng tiền Việt Nam trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự theo khoản 3 Điều 180 Bộ luật hình sự Tuy nhiên cần phân biệt:
- Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng;
- Nếu tiền giả có trị giá tương ứng từ một trăm năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam trở lên là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
3.3 Đối với người nhiều lần làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thì cần phải lấy tổng số lượng tiền giả của tất cả các lần phạm tội cộng lại
để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ; nếu trong các lần phạm tội đó có trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì không xem xét trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đó (không cộng số lượng tiền giả của lần phạm tội đó); nếu có hai lần phạm tội làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả,
Trang 35ngân phiếu giả, công trái giả trở lên thì ngoài việc cộng số lượng tiền giả của các lần phạm tội để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ, còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự [51]
Kinh tế - xã hội đất nước ngày càng phát triển, hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về yếu tố định lượng nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng không còn phù hợp với tình hình tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong tình hình mới nữa
Hiện nay chưa có hướng dẫn chính thức thế nào là làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thuộc trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên, theo quan điểm của ThS Đinh Văn Quế tại sách chuyên khảo Bình luận khoa học Bộ
luật hình sự, tập VI, Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, dựa vào kinh
nghiệm thực tế xét xử tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả của Tòa án nhân dân tối cao thì có thể coi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thuộc trường hợp nghiêm trọng nếu:
- Làm hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả từ 10 triệu đồng đồng đến dưới 30 triệu đồng
- Tàng trữ, vận chuyển tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng
Ngoài ra nếu làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả dưới mức trên nhưng gây hậu quả nghiêm trọng khác thì cũng coi thuộc trường hợp nghiêm trọng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật
Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm
Trang 36Đối với khoản 3, Điều 180 thì có thể coi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu:
- Làm hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng Trên 50 triệu đồng là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
- Tàng trữ, vận chuyển tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng Trên 100 triệu đồng là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
Ngoài ra, nếu làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả dưới mức trên nhưng gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác thì cũng được coi là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 của điều luật
Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân
Về hình phạt bổ sung đối với tội này được nhà làm luật quy định tại khoản 4 của điều luật Theo đó thì ngoài hình phạt chính, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Chế tài hình sự đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác thì Điều 181 Bộ luật hình sự cũng quy định ba khung hình phạt chính và một hình phạt bổ sung áp dụng với người phạm tội này trong từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên, ở mỗi khoản lại thể hiện khung hình phạt nhẹ hơn so với các nhóm hành vi tương tự của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả Cụ thể như sau:
Đối với trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 của điều luật, là cấu thành cơ bản của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ
Trang 37có giá giả khác, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm Như vậy, so với khoản 1, Điều 180 thì khoản 1, Điều 181 là điều luật nhẹ hơn
Đối với trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 của điều luật vì hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác thuộc trường hợp nghiêm trọng nên
có thể viện dẫn quan điểm của Ths Đinh Văn Quế trong sách chuyên khảo
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, phần các tội phạm, tập VI, Các tội phạm
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như sau:
- Làm hoặc lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác có giá trị từ
10 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng;
- Tàng trữ, vận chuyển séc giả, các giấy tờ có giá giả khác có giá trị từ
30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng
Ngoài ra, nếu làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác dưới mức trên, nhưng gây hậu quả nghiêm trọng khác thì cũng được coi là thuộc trường hợp nghiêm trọng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật
Phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm
Khoản 3 của điều luật quy định hai trường hợp phạm tội, đó là phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể, có thể căn cứ vào thực tiễn xét xử để coi hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu:
- Làm hoặc lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng Trên 50 triệu đồng là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng;
- Tàng trữ, vận chuyển séc giả, các giấy tờ có giá giả khác từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng Trên 100 triệu đồng là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
Trang 38Ngoài ra, nếu làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ
có giá giả khác dưới mức trên, nhưng gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác thì cũng coi là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 của điều luật
Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm So với khoản 3, Điều 180 thì khoản 3, Điều 181 là điều luật nhẹ hơn vì cũng ở khoản này nếu phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy
tờ có giá giả khác thì chỉ bị phạt tù mức cao nhất là hai mươi năm nhưng nếu phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thì có thể bị phạt tù chung thân
Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác được quy định tại khoản 4 của điều luật Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Như vậy, căn cứ quy định về chế tài hình sự tại hai điều luật như đã phân tích ở trên có thể khẳng định tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả có mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn hơn nhiều
so với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
1.3.2 Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181) với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a)
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hai tội phạm được quy định chung trong chương XVI, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Cả hai tội phạm này đều có cấu thành vật chất, nghĩa là các tội phạm này được coi là hoàn thành kể từ khi thực hiện
Trang 39hành vi nào đó được quy định trong từng điều luật, với số lượng, giá trị cụ thể được quy định ngay trong điều luật, với số lượng lớn, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi được quy định trong điều luật mà còn vi phạm… Cả hai tội phạm đều có chung khách thể loại là trật tự quản lý kinh tế của đất nước Mặt khách quan của hai tội phạm đều được thực hiện bằng những hành vi nguy hiểm, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước Cả hai loại tội phạm này đều được thể hiện bằng những hành động cụ thể, với nhiều thủ đoạn khác nhau
Cụ thể, tại Điều 181 Bộ luật hình sự, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác được thể hiện thông qua bốn nhóm hành vi cụ thể là làm, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả Mỗi nhóm hành vi lại có thể tách thành hai hành vi đơn lẻ của tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển séc giả hoặc làm, tàng trữ, vận chuyển giấy tờ có giá giả Tại Điều 164a Bộ luật hình sự, tội phạm được thể hiện thông qua hành vi
cụ thể là in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Về mặt chủ quan của tội phạm thì cả hai tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước đều được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý Động cơ và mục đích mang tính vụ lợi và không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Về chủ thể tội phạm, cả hai tội phạm đều được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 trở lên theo quy định tại Điều 12 và Điều 13 Bộ luật hình sự
Ngoài những điểm chung nêu trên thì tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước còn có những điểm khác biệt cơ bản Sau đây là bảng so sánh sự khác nhau giữa hai loại tội phạm này
Trang 40Bảng 1.2 So sánh tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước
TT Tiêu chí so sánh
Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
(Điều 164a)
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
Séc giả, giấy tờ có giá giả
2 Hình phạt Thấp nhất là cải tạo không giam
giữ đến ba năm, cao nhất là năm năm tù
Nguồn: Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Sự khác biệt lớn nhất giữa tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước là đối tượng tác động của tội phạm và chế tài hình sự đối với hai loại tội phạm này
Về đối tượng tác động của tội phạm, tội phạm làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác tác động đến séc giả và giấy tờ có giá giả; còn tội phạm in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước tác động đến hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
Như đã phân tích ở Mục 1.2.1 thì giấy tờ có giá bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác; trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu; tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ; các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán, hợp đồng góp vốn đầu tư, các loại chứng khoán khác