1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp pháp lý nhằm kiểm soát các giao dịch tư lợi trong hoạt động doanh nghiệp nhà nước ở việt nam

124 657 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các thành viên, cổ đông trong doa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ LAN

NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NHẰM KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ LAN

NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NHẰM KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG DOANH

NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN AM HIỂU

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

Tác giả

Trần Thị Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, và sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Am Hiểu, tôi đã thực hiện đề tài

“Những giải pháp pháp lý nhằm kiểm soát các giao dịch tư lợi trong hoạt động doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam”

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo

đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Am Hiểu đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo để Luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan 1

Lời cảm ơn 2

Mục lục 3

Danh mục từ viết tắt 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƯ LỢI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 11

1.1 Khái niệm và phân loại Doanh nghiệp nhà nước 11

1.2 Giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 14

1.3 Những quy định pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi 22

1.4 Bài học từ kinh nghiệm của một số nước trong kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi 44

Chương 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƯ LỢI TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 49

2.1 Thực trạng kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 49

Trang 6

2.1.2 Thực trạng kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong

các doanh nghiệp nhà nước 56

2.2 Nguyên nhân những hạn chế trong kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 73

2.2.1 Nguyên nhân từ sự bất cập, hạn chế trong những quy định của pháp luật 73

2.2.2 Một số nguyên nhân chủ quan… 91

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NHẰM KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 93

3.1 Một số giải pháp pháp lý 93

3.1.1 Giải thích, bổ sung một số quy định pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các Doanh nghiệp nhà nước 94

3.1.2 Các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền của chủ sở hữu, cổ đông, thành viên, Ban kiểm soát Doanh nghiệp nhà nước 98

3.1.3 Các giải pháp khắc phục hạn chế và nâng cao quản trị công ty 109

3.2 Tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các Doanh nghiệp nhà nước 112

3.2.1 Đẩy mạnh cơ chế thực thi pháp luật 113

3.2.2 Nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật 115

KẾT LUẬN 116

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DN : Doanh nghiệp LDN : Luật doanh nghiệp

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước TNHH : Trách nhiệm hữu hạn CTCP : Công ty cổ phần

HĐQT : Hội đồng quản trị

HĐTV : Hội đồng thành viên ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông

GĐ : Giám đốc

TGĐ : Tổng giám đốc

KSV : Kiểm soát viên

BKS : Ban kiểm soát

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong thời đại kinh tế hiện nay không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước, kinh tế nhà nước có vai trò mở đường và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ có sức mạnh vật chất của Nhà nước điều tiết

và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994) Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay cho thấy khả năng, sự cạnh tranh, phát triển của các doanh nghiệp nhà nước đang là một vấn đề lớn khi mà nền kinh tế này đang được nhà nước bảo hộ rất lớn Tình trạng làm ăn thua lỗ, nợ nhiều, lâm vào tình trạng phá sản nhưng không được phá sản đang là một thách thức lớn đối với nền kinh tế của chúng ta hiện nay

Nhằm giải quyết bước đầu cho thực trạng đó Nhà nước ta đã và đang triển khai cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước Trong đó tiến hành chuyển đổi mô hình doanh nghiệp nhà nước sang mô hình của công ty TNHH 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, CTCP mà nhà nước là chủ sở hữu, thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên, nhằm tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tạo cơ hội cho các cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia Việc cổ phần hóa DNNN cũng nhằm thu hút được nguồn vốn để đầu tư, phát triển doanh nghiệp; góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước; tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp nhà nước với các thành phần kinh tế tư góp phần giúp cho doanh nghiệp nhà nước có thể tự phát triển theo quy luật của kinh tế thị trường Trong những năm qua, qua thanh tra, kiểm tra, báo cáo về hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đã đạt được những kết

Trang 9

quả nhất định, các doanh nghiệp nhà nước đã có sức cạnh tranh trên thị trường, nguồn vốn dồi dào, năng suất cao hơn

Tuy nhiên, cũng qua thanh tra, kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay có một vấn đề nổi bật và đang trở thành vấn nạn đó

là tình trạng nảy sinh các giao dịch tư lợi càng càng nhiều, với mức độ nghiêm trọng ngày càng cao Các giao dịch tư lợi này được thực hiện bởi những cá nhân, tổ chức có liên quan trong việc kí kết, thực hiện hợp đồng trong các doanh nghiệp nhà nước (thông thường là người đại diện trong kí kết hợp đồng) tiến hành các hoạt động làm sai lệch thông tin, điều chỉnh hợp đồng để vụ lợi

Các giao dịch tư lợi này làm cho doanh nghiệp nhà nước, các công ty nhà nước gặp nhiều khó khăn; gây thất thoát tài sản của công ty, doanh nghiệp; dẫn tới sự thiệt hại về lợi ích cho những người có quyền và lợi ích liên quan (ví dụ gây thiệt hại cho các chủ nợ của công ty khi công ty không còn đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ ); làm giảm niềm tin, uy tín của công ty, doanh nghiệp; thậm chí là làm ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh và nền kinh tế - xã hội của quốc gia

Vì vậy, việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các thành viên, cổ đông trong doanh nghiệp và bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng luôn được sự quan tâm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và các thành viên, cổ đông các doanh nghiệp nhà nước, các công ty nhà nước

Với mục đích đưa ra được những giải pháp pháp lý hữu hiệu nhằm kiểm soát được các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi cũng như đưa ra được những biện pháp giải quyết các giao dịch tư lợi đã nảy sinh trong các

doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam nên tác giả đã chọn đề tài “Những giải

Trang 10

pháp pháp lý nhằm kiểm soát các giao dịch tư lợi trong hoạt động doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học nghiên cứu nội dung có liên quan đến đề tài luận văn ở các mức độ khác nhau, trong đó có một số công trình tiêu biểu như:

- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Ngô Thị Bích Phương năm

2007 về “Kiểm soát các giao dịch có nguy có phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005”

- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Hải Ly năm 2013 về

“Pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”

- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Lan Phương năm

2012 “Pháp luật về kiểm soát các giao dịch giữa công ty với người có liên quan”

- Tạp chí Luật học số 1 năm 2004 của tác giả Lê Đình Vinh về

“Kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty theo Luật Doanh nghiệp”

- Tạp chí Luật học số 9 năm 2010 có bài viết của Th.s Trần Thị Bảo Ánh về “Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo Luật Doanh nghiệp năm 2005”

Do mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, góc độ tiếp cận hoặc thời gian nghiên cứu khác nhau nên các công trình khoa học nêu trên hoặc nghiên cứu về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các doanh nghiệp, công ty

tư nhân; hoặc nghiên cứu quy định về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong luật Doanh nghiệp; hoặc nghiên cứu kiểm soát giao dịch tư lợi trong một lĩnh vực cụ thể nên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn cũng như đề xuất những

Trang 11

giải pháp để nâng cao khả năng kiểm soát các giao dịch tư lợi trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên là những tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu đề tài luận văn này

Như vậy, với cách tiếp cận riêng của mình, đề tài “Những giải pháp pháp lý nhằm kiểm soát các giao dịch tư lợi trong các doanh nghiệp nhà nước

ở Việt nam” là một đề tài mới, không trùng lặp với bất cứ đề tài khoa học nào

đã được công bố

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm hướng tới các mục tiêu sau:

- Nghiên cứu hệ thống pháp luật có liên quan về:

+ DNNN và các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các DNNN; + Các quy định pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ pháp sinh tư lợi;

- Phân tích thực trạng kiểm soát các giao dịch tư lợi trong các DNNN;

- Xác định những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó và xây dựng một số biện pháp khắc phục, hoàn thiện

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát giao dịch tư lợi trong các

DNNN hiện nay

- Phát hiện những vấn đề còn vướng mắc, bất cập trong kiểm soát các

giao dịch tư lợi trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất định hướng và giải pháp pháp lý nhằm kiểm soát các giao

dịch tư lợi trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 12

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu luật thực định về

DNNN; về các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi; các quy định về kiểm

soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp lý

về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các DNNN

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm và chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước để phân tích tính tất yếu của việc kiểm soát các giao dịch tư lợi trong các doanh nghiệp nhà nước

Bên cạnh đó phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm làm

rõ các quy định của pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh

tư lợi; quá trình kiểm soát các giao dịch tư lợi trong các doanh nghiệp nhà nước Các phương pháp so sánh cũng được sử dụng nhằm tìm ra được những điểm mới, phù hợp, có hiệu quả trong kiểm soát giao dịch tư lợi trong các doanh nghiệp nhà nước trên thế giới nhằm áp dụng tại Việt Nam Đồng thời phương pháp thống kê được sử dụng như là một công cụ phân tích số liệu để minh chứng cho các vấn đề được nghiên cứu

7 Tổng quan tài liệu

Ngoài Lời Mở Đầu và Kết Luận thì Luận văn được kết cấu 3 chương: Chương 1: Những vấn đề pháp lý liên quan đến Doanh nghiệp nhà nước và các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

Chương 2: Thực trạng kiểm soát các giao dịch tư lợi trong các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp pháp lý nhằm kiểm sóa các giao dịch tư lợi trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƯ LỢI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm và phân loại Doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Khoản 1 điều 4 Luật Doanh nghiệp

năm 2005)

Doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đang giữ vai trò chủ đạo trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng

có những đặc thù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, doanh

nghiệp nhà nước được quan niệm là “những tổ chức kinh doanh do Nhà nước

đầu tư 100% vốn điều lệ” (Điều 1 NĐ 388/HĐBT ngày 20 tháng 11 năm

1991) Doanh nghiệp nhà nước còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động công ích của Nhà nước (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995) Doanh nghiệp nhà nước theo cách hiểu này đã được tiếp cận điều chỉnh bởi pháp luật có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình doanh nghiệp khác

về vấn đề chủ sở hữu cũng như tổ chức và quản lý hoạt động của doanh nghiệp

Trang 14

Từ những thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 đã có định nghĩa mới về doanh nghiệp nhà nước Theo Luật này, doanh nghiệp nhà nước được

hiểu là “tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ

phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công

ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà

nước năm 2003) Khái niệm DNNN tiếp tục được sửa đổi, theo quy định mới

thì “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên

50% vốn điều lệ” (Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005)

Và cho đến nay, khái niệm DNNN một lần nữa được sửa đổi (được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, vừa được Quốc Hội thông qua ngày 26/11/2014, có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 Theo quy định mới, “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Có thể nói, quan điểm mới về DNNN thực chất là quay lại tư tưởng của thời kỳ đầu của đổi mới kinh tế Hay nói cách khác, khái niệm này giống với khái niệm DNNN được quy định tại Luật DNNN năm 2003

Tuy nhiên, từ các khái niệm DNNN có thể thấy DNNN có những đặc điểm sau:

- Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập Doanh nghiệp Nhà nước đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập Doanh nghiệp là cần thiết Việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm dó và chủ trương của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó

Trang 15

Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận của tài sản Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ

sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao

- Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao

Nhà nước quản lý doanh nghiệp Nhà nước thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ Bao gồm những nội dung sau: Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với quy mô của nó; Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp Nhà nước như hội đồng quản trị, Tổng giám đốc ; Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm miễn nhiệm khen thưởng kỷ luật các chức

vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị

Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao Nếu Nhà nước giao cho doanh nghiệp Nhà nước nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp Nhà nước nào được giao thực hiện hoạt động công tích thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội

Trang 16

- Doanh nghiệp Nhà nước là một pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn

về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn Nhà nước giao

1.1.2 Phân loại Doanh nghiệp nhà nước

Sau hơn 20 năm triển khai thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (từ năm 1992 đến nay) và thực hiện chuyển đổi mô hình của các doanh nghiệp nhà nước nhằm thúc đẩy DNNN phát triển bền vững, hình thành nên một khung pháp lý chung, bình đẳng, áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp thì đến nay DNNN được tồn tại dưới các hình thức pháp lý:

- Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công

ty TNHH do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;

- Công ty TNHH hai thành viên trở lên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công ty TNHH trong đó tất cả các thành viên đều là công ty của Nhà nước, do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;

- CTCP nhà nước, là CTCP mà toàn bộ cổ đông đều là cổ đông nhà nước, do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;

- CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ

Ngoài ra, trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước còn có loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và dịch vụ công ích nhà nước

1.2 Giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm và bản chất các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

Trang 17

Giao dịch là một giao kèo hay giao thiệp do nhiều đối tác hay đối tượng riêng biệt cùng tiến hành [11] Các giao dịch này được thể hiện bằng hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương Thông qua các hợp đồng công ty thu được những lợi ích về tài sản mà mình nhắm tới, đồng thời cũng phải trả cho các bên đối tác các lợi ích, tài sản nhất định; hay nói cách khác hợp đồng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên

Hợp đồng là một loại giao ước có đặc điểm chung là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch Người đại diện của công ty được giao trách nhiệm tạo lập các hợp đồng như vậy để mang lại các quyền và nghĩa vụ cho công ty Theo lẽ thường người đại diện phải hành động tất cả vì lợi ích của công ty, của các chủ sở của công ty Tuy nhiên, cũng vì là người đại diện cho công ty trong kí kết các hợp đồng mà khi người đại diện không có chung lợi ích với công ty hoặc lợi ích của họ tỷ lệ nghịch với lợi ích của công ty thì giao dịch đó dễ bị biến đổi bản chất: người đại diện không thể hiện đúng ý chí của công ty mà sẽ dùng quyền năng của mình làm méo mó đi giao dịch đích thực, biến ý chí của mình thành ý chí của công ty để tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân hoặc cho người thứ ba, gây thiệt hại cho công ty, cho các chủ sở hữu công ty

Như vậy, có thể hiểu “Giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công

ty là những giao dịch có nhiều khả năng gây thiệt hại về tài sản cho công ty

do người đại diện của công ty nhân danh lợi ích của chủ thể mà mình đại diện tiến hành các giao dịch thu lợi nhuận cho cá nhân, cho nhóm hay người thân của mình” Sự san sẻ lợi ích của công ty để thu lợi cá nhân có thể thực hiện

thông qua nhiều phương cách như gửi giá vào hợp đồng mua bán hàng hóa, vật tư cho công ty với mức giá cao hơn thị trường, hoặc bán hàng của công ty với mức giá thấp hơn thị trường Giao dịch tư lợi cũng có thể xảy ra trên tất

Trang 18

cả các lĩnh vực như dân sự, lao động, kinh tế nhưng phổ biến nhất có thể xảy ra bao gồm việc thuê mướn chuyên gia, nhân công, đầu tư, đấu thầu, cài giá, từ bỏ quyền đòi nợ, hoặc cho hoãn nợ, giãn nợ

Từ khái niệm trên cho thấy về bản chất kinh tế thì các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là vấn đề sở hữu, là sự chuyển dịch ngầm sở hữu của pháp nhân cho các cá nhân nắm quyền kinh doanh Tổng lợi ích kinh tế trong giao dịch không đổi nhưng quyền sở hữu giữa các chủ thế tham gia có sự thay đổi, chuyển hóa

Còn bản chất pháp lý của giao dịch này là hợp đồng được thể hiện dưới hình thức hợp pháp, nhưng thực chất là thể hiện ý chí, mục đích trục lợi của

cá nhân người giao kết Nghĩa là mang trong nó yếu tố bất hợp pháp dạng ẩn, nếu không được phát hiện, nó vẫn tồn tại công khai, có giá trị bắt buộc thực hiện và được pháp luật bảo vệ

1.2.2 Những giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

Luật doanh nghiệp năm 2005 đã xác định các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn và giao dịch của công ti với một số chủ thể nhất định là hai nhóm giao dịch phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các thành viên trong công ty Cụ thể:

1.2.2.1 Những giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn

Theo quy định tại LDN (2005) tại các Điều 47, Điều 64, Điều 96 thì những giao dịch có liên quan đến tài sản có giá trị lớn là các giao dịch có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty Cụ thể:

Trang 19

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên do Nhà nước làm chủ sở hữu thì HĐTV có quyền quyết định phương thức đầu tư, dự án đầu tư, thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị trên 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty;

Đối với công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu thì chủ sở hữu công ty có quyền quyết định dự án đầu tư, thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty

Đối với CTCP do Nhà nước làm chủ sở hữu thì ĐHĐCĐ có quyền quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều

lệ công ty không quy định một tỉ lệ khác

Như vậy, đối với các công ty, doanh nghiệp nhà nước thì các giao dịch

có giá trị tài sản lớn là các giao dịch có giá trị được xác định bằng một tỉ lệ cụ thể trong Điều lệ công ty hoặc các giao dịch có giá trị lớn hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất của công ty So sánh với công ty hợp danh ta thấy có sự khác biệt trong các định nghĩa về giao dịch có giá trị tài sản lớn Nếu như đối với các doanh nghiệp nhà nước giao dịch có giá trị tài sản lớn là giao dịch có giá trị tài sản lớn hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất thì đối với công ty hợp danh giao dịch có giá trị tài sản lớn là giao dịch có giá trị lớn hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ công ty Sự

Trang 20

doanh nghiệp nhà nước và không được phát hành chứng khoán đối với công

ty hợp danh Đối với doanh nghiệp nhà nước thì pháp luật cho phép được phát hành chứng khoán nhằm huy động nguồn vốn từ bên ngoài, và do đó tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước này có sự thay đổi liên tục, vốn điều

lệ có thể thay đổi nếu việc phát hành chứng khoán nhằm mục đích tăng vốn điều lệ; ngược lại đối với công ty hợp danh thì không có quyền phát hành bất

kì một loại chứng khoán nào Vậy nên có sự khác nhau trong các định nghĩa

về giao dịch có giá trị tài sản lớn giữa các doanh nghiệp nhà nước và công ty hợp danh là phù hợp

Tóm lại, để xác định giá trị lớn trong các giao dịch, trước hết sẽ do chính công ty quyết định thông qua quy định trong Điều lệ của công ty; nếu Điều lệ công ty không xác định giá trị lớn của các giao dịch thỉ sẽ áp dụng

"mức" do LDN quy định Quy định trên của LDN đã thể hiện quan điểm của Nhà nước là tôn trọng quyền của các nhà đầu tư - các thành viên, cổ đông công ti đối với việc định đoạt tài sản trong doanh nghiệp Luật xác định các giao dịch có giá trị tài sản lớn là một trong những giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi vì: các giao dịch có giá trị tài sản lớn dễ làm cho người quản lý nảy sinh ý đồ tư lợi, chiếm đoạt một phần giá trị tài sản, gây ảnh hưởng tới công

ty, lợi ích của các thành viên, cổ đông công ty

1.2.2.2 Những giao dịch giữa công ty với người có liên quan

Giao dịch giữa công ty với người có liên quan là giao dịch giữa công ty với các tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với công ty (Khoản 17 Điều 4 LDN) Cũng theo quy định tại khoản 17 Điều 4 LDN thì người có liên quan bao gồm:

Trang 21

“a) Công ty mẹ, người quản lý công ty mẹ và người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý đó đối với công ty con;

b) Công ty con đối với công ty mẹ;

c) Người hoặc nhóm người có khả năng chi phối việc ra quyết định, hoạt động của doanh nghiệp đó thông qua các cơ quan quản lý doanh nghiệp;

d) Người quản lý doanh nghiệp;

đ) Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người quản lý doanh nghiệp hoặc của thành viên, cổ đông sở hữu phần vốn góp hay cổ phần chi phối;

e) Cá nhân được uỷ quyền đại diện cho những người quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này;

g) Doanh nghiệp trong đó những người quy định tại các điểm a, b, c, d,

đ, e và h khoản này có sở hữu đến mức chi phối việc ra quyết định của các cơ quan quản lý ở doanh nghiệp đó;

h) Nhóm người thoả thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ phần hoặc lợi ích ở công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty”

Để xác định được rõ những đối tượng là người có liên quan trong các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi thì LDN đã có những quy định cụ thể tại các Điều 59, Điều 75, Điều 120 Theo đó, đối tượng là “người có liên quan” trong các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi bao gồm:

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên Nhà nước là chủ sở hữu thì người có liên quan gồm: thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên; GĐ/TGĐ; người đại diện theo pháp luật của công ty; người quản

Trang 22

lý công ty mẹ; người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ và những người có liên quan của những người nêu trên (khoản 1 Điều 59 LDN)

Đối với công ty TNHH một thành viên là tổ chức gồm: chủ sở hữu công ty; người đại diện theo ủy quyền, GĐ/TGĐ và KSV; người quản lý chủ

sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lý đó; và những người có liên quan của những người nêu trên (khoản 1 Điều 75 LDN)

Đối với công ty cổ phần gồm: cổ đông, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty; thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ; Doanh nghiệp mà thành viên HĐQT, thành viên BKS, GĐ/TGĐ và người quản lý khác của công ty có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; Những người có liên quan của những người nêu trên; Doanh nghiệp mà những người có liên quan của thành viên HĐQT, thành viên BKS, GĐ/TGĐ

và người quản lý khác của công ty cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 35% vốn điều lệ;

Từ những quy định trên, chúng ta thấy rằng còn một bộ phận “người có liên quan của những người nêu trên” tức là người có liên quan của những người quản lý thì LDN chưa có quy định rõ, tạo ra khó khăn trong áp dụng pháp luật Tuy nhiên, qua nghiên cứu các điều luật có thể xác định được

“người có liên quan đến những người nêu trên” bao gồm: Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị em ruột của họ; cá nhân được ủy quyền làm đại diện cho họ;

Để trục lợi từ các giao dịch với công ty, những người này phải là người đảm nhận việc quản lý, điều hành công ty hoặc có phần vốn góp, cổ phần lớn trong công ty, hoặc có khả năng chi phối đến việc ra quyết định của công ty; còn các thành viên, cổ đông nhỏ không tham gia quản lý nên không có khả

Trang 23

năng thực hiện các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi, mà cụ thể là giao dịch giữa công ty với người có liên quan Các giao dịch này có nguy cơ phát sinh tư lợi là những người quản lý, người có liên quan khác có thể trực tiếp hay gián tiếp dùng ảnh hưởng, địa vị của mình chi phối các giao dịch của công ty nhằm thu vén lợi ích cho bản thân hoặc người có liên quan của họ

Thực tế cho thấy rất nhiều nhóm giao dịch giữa công ty với người có liên quan có nguy cơ bị trục lợi Có thể kể đến như các giao dịch giữa công ty với người quản lý, điều hành công ty; giao dịch giữa công ty với bố, mẹ, anh, chị, em ruột của người quản lý, điều hành công ty; giao dịch giữa công ty con với công ty mẹ; giao dịch giữa công ty với các cổ đông lớn; giao dịch giữa công ty với các công ty khác mà ở đó, người quản lý là cổ đông đa số hay người có liên quan của họ là cổ đông đa số; Các giao dịch này chỉ được coi là bất hợp pháp khi có yếu tố tư lợi Bản thân các giao dịch này nếu được tiến hành một cách trung thực, lợi ích của công ty và những người liên quan vẫn được bảo đảm, không bị chia sẻ hay trục lợi thì vẫn được pháp luật thừa nhận tính hợp pháp và bảo vệ

Cũng cần phân biệt các giao dịch giữa công ty với người có liên quan với hành vi buôn bán nội gián Buôn bán nội gián về bản chất cũng là một giao dịch tư lợi, cũng do những người quản lý, điều hành công ty thực hiện Nhưng buôn bán nội gián là hành vi mua bán chứng khoán ngầm để thu vén lợi nhuận bằng việc sử dụng những thông tin bí mật nội bộ mà chỉ những người quản lý, điều hành công ty mới có, các nhà đầu tư khác không thể biết được Còn giao dịch giữa công ty với người có liên quan có thể do những người quản lý công ty thực hiện hoặc cũng có thể do những người có liên quan khác theo quy định tại Khoản 17 Điều 4 LDN 2005 quy định thực hiện

và các giao dịch đó không chỉ là hành vi mua bán chứng khoán mà có thể diễn

Trang 24

ra trên tất cả các lĩnh vực như kinh doanh, thương mại, dân sự, lao động Như vậy, đối tượng của của giao dịch giữa công ty với người có liên quan rông hơn đối tượng của buôn bán nội gián Song nhìn chung, hành vi buôn bán nội gián gây ra nhiều hệ lụy hơn, với phạm vi các tổ chức, cá nhân chịu ảnh hưởng lớn hơn do giao dịch rộng rãi trên thị trường chứng khoán Vì lẽ này, Nhà nước cũng đặt ra sự kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các hành vi buôn bán nội gián Nhiều quốc gia trên thế giới còn coi đây là một tội phạm và được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hình sự [9, tr7+8]

1.3 Những quy định pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

Giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là những giao dịch chứa trong đó những khả năng, những nguy cơ có thể xâm phạm lợi ích của công ty, lợi ích của những thành viên công ty, chủ nợ của công ty Vì vậy, kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là một yêu cầu thiết yếu Theo Từ điển Tiếng Việt thì kiểm soát tức là hoạt động xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì

trái với quy định Vậy, “kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là

việc thông qua các quy định của pháp luật để nhà nước và các công ty thực hiện việc xem xét, ngăn chặn những giao dịch do một hoặc nhóm người dùng địa vị của mình để tiến hành các giao dịch này nhằm thu lợi nhuận cho bản thân họ”

Việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các DNNN ở Việt Nam đã được quy định trong các văn bản như: Luật DNNN năm 1995, 2003; Luật DN 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Nếu như Luật DNNN năm 1995 quy định về cơ chế quản lý là GĐ/TGĐ DNNN do Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, theo đề nghị của HĐQT, là

Trang 25

đại diện theo pháp luật của DN, có quyền điều hành cao nhất trong DN Tuy nhiên, cơ chế này đã trao quá nhiều quyền hạn cho GĐ/TGĐ, làm giảm vai trò của HĐQT, tạo cho GĐ/TGĐ dễ dàng thực hiện các giao dịch tư lợi nhưng Luật DNNN năm 2003 và Luật DN 2005 đã có những sửa đổi phù hợp hơn, theo đó chức danh GĐ/TGĐ trong DNNN có thể được thuê, hoặc bổ nhiệm bởi chủ sở hữu

Đối với việc tránh xung đột lợi ích thì Luật DNNN năm 2003 đã quy định: Giám đốc chỉ được giữ các chức danh quản lý công ty TNHH, CTCP, công ty có vốn đầu tư nước ngoài khi được công ty, tổ chức Nhà nước có thẩm quyền giới thiệu ứng cử vào các chức danh quản lý hoặc cử làm đại diện của công ty đối với phần vốn góp vào các doanh nghiệp đó Vợ hoặc chồng,

bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của Giám đốc công ty không được giữ chức danh kế toán trưởng, thủ quỹ tại cùng công ty Hợp đồng kinh tế, lao động, dân sự của công ty ký kết với Giám đốc công ty, với vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của Giám đốc phải được thông báo cho người bổ nhiệm, người ký hợp đồng thuê Giám đốc biết; trường hợp người bổ nhiệm, người kí hợp đồng thuê GĐ phát hiện hợp đồng có mục đích tư lợi mà HĐ chưa được kí kết thì có quyền yêu cầu GĐ không được kí kết HĐ đó; nếu HĐ

đã được kí kết thì bị coi là vô hiệu, GĐ phải bồi thường thiệt hại cho công ty

và xử lý theo quy định của pháp luật (khoản 9 Điều 27)

Tuy nhiên, hiện nay hai Luật DNNN năm 1995 và Luật DNNN năm

2003 đã hết hiệu lực pháp luật, theo quy định tất cả các DNNN thuộc các thành phần sở hữu khác nhau đều hoạt động theo LDN 2005 Và cũng nhằm cải cách các DNNN, Nhà nước ta đã quy định chuyển đổi hình thức hoạt động của các DNNN thành công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và CTCP Các quy định về kiểm soát các giao dịch có nguy

Trang 26

cơ phát sinh tư lợi tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện các quy định của Luật DNNN năm 1995 và Luật DNNN 2003

1.3.1 Sự cần thiết phải kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh

tư lợi

Các giao dịch tư lợi cần phải có sự kiểm soát từ phía công ti và Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật và điều lệ công ty vì những lí do sau:

Nguy cơ xâm phạm đến lợi ích của công ty: Các chủ thể nhân danh

công ty kí kết giao dịch, vì vậy công ty sẽ là đối tượng trực tiếp thụ hưởng hoặc bị xâm phạm lợi ích Vì lợi ích cá nhân, những người có thẩm quyền giao kết hợp đồng có thể thực hiện các giao dịch tư lợi Hậu quả của những giao dịch này là đem lại lợi ích cho chủ thể thực hiện giao kết hợp đồng, nhưng gây ra những thiệt hại cho công ty Cụ thể:

+ Nó gây thiệt hại về tài sản của công ty và do đó làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu nguồn vốn dùng để tái đầu tư của công ty, ngăn cản sự phát triển của công ty Thông qua những giao dịch tư lợi mà những người tham gia giao dịch đã chia nhau hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng Nhiều hợp đồng mua bán của công ty với múc giá hợp đồng chênh lệch với giá thực gấp hàng chục lần Nó làm cho nhiều công ty càng kinh doanh càng thua lỗ, càng hoạt động càng bị thiệt hại

+ Khi một công ty xảy ra các giao dịch tư lợi thì uy tín của công ty đó

sẽ bị giảm sút, các thành viên đã đầu tư vào công ty mất lòng tin vào công ty

và tìm cách rút lui khỏi công ty; các nhà đầu tư bên ngoài e ngại, không dám

bỏ vốn đầu tư vào công ty Đặc biệt đối với các CTCP có thể dẫn đến sự sụt giảm giá cổ phiếu của công ty đó trên thị trường chứng khoán, gây ra tình

Trang 27

trạng lộn xộn trên thị trường chứng khoán khi các nhà đầu tư bán tống bán tháo cổ phiếu của công ty đó và dẫn đến sự tổn thất một khoản vốn đầu tư không nhỏ của các nhà đầu tư

Nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của thành viên, cổ đông và chủ nợ của công ty: Những thành viên, cổ đông của công ty khi góp vốn để thành lập

công ty đều với mục đích là thông qua hoạt động kinh doanh của công ty họ

sẽ sử dụng một cách có hiệu quả nhất số vốn của mình Họ sở hữu công ty tương đương với phần vốn góp của mình trong công ty và được phân chia lợi nhuận cũng như chịu nghĩa vụ về tài sản tương ứng với phần vốn góp đó Vì vậy, nếu xảy ra giao dịch tư lợi, tài sản của công ty sẽ bị chiếm đoạt, lợi ích bị chia sẻ Như vậy, về hình thức thì công ty bị xâm phạm quyền sở hữu nhưng thực chất những thành viên, cổ đông trong công ty mới là người bị xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp của mình

Bên cạnh những thành viên, cổ đông của công ty bị xâm hại lợi ích vì các giao dịch tư lợi thì chủ nợ của công ty cũng là người bị thiệt hại Các hợp đồng, giao dịch tư lợi được kí kết, xâm phạm nghiêm trọng lợi ích, tài sản của công ty; làm cho công ty không thể tự khắc phục được và lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ của công ty sẽ bị xâm hại quyền lợi nếu công ty không còn đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ này cho chủ nợ

Làm méo mó, lệch lạc, không phản ánh đúng thực trạng kinh doanh và kết quả lợi nhuận của doanh nghiệp Các giao dịch tư lợi được thực hiện có

nghĩa tài sản của công ty bị thất thoát, các báo cáo tài chính của công ty sẽ không phản ánh đúng thực trạng kinh doanh và kết quả lợi nhuận của doanh nghiệp Điều đó kéo theo các lợi ích bị xâm phạm như lợi ích của cổ đông,

Trang 28

thu thuế; lợi ích của các chủ nợ doanh nghiệp Vì vậy, kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là cần thiết nhằm bảo vệ các lợi ích trên, phản ánh đúng kết quả kinh doanh và lợi nhuận của donh nghiệp

Có thể bị lợi dụng cho chính công ty đó hoặc công ty, cá nhân liên quan để trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ đóng góp với ngân sách hoặc nghĩa vụ với các chủ nợ khác Hiện nay, trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ đóng góp vào

ngân sách nhà nước thường diễn ra dưới nhiều hình thức, và ở nhiều loại thuế khác nhau Thực tế cho thấy các giao dịch có giá trị tài sản lớn và các giao dịch với người thân quen là một trong những “công cụ” để người quản lý, điều hành công ty “lách luật” nhằm trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách nhà nước Đối với các giao dịch có giá trị tài sản lớn cũng có nghĩa là tiền thuế nộp vào ngân sách nhà nước cao hơn so với giao dịch có giá trị thấp, vì vậy nhằm trốn thuế những người quản lý công ty thường bắt tay với đối tác nhằm thay đổi giá trị của giao dịch xuống thấp hơn giá trị thực tế

để trốn toàn bộ thuế hoặc giảm số tiền thuế phải nộp Ví dụ: các doanh nghiệp trong nước thường bắt tay với các đối tác nước ngoài nhằm hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu

Bên cạnh đó, cũng nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế thì những người quản lý doanh nghiệp còn tiến hành kí kết các hợp đồng với người thân quen, chủ yếu là các hợp đồng lao động Việc kí khống các hợp đồng lao động với người thân quen sẽ giúp cho người quản lý công ty giảm được thuế thu nhập doanh nghiệp, vì theo các hợp đồng lao động này, công ty

sẽ phải chi trả các khoản lợi ích cho người lao động và điều đó có nghĩa thu nhập của công ty giảm – công ty được giảm thuế hoặc không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ: hành vi kí kết hợp đồng lao động với người

Trang 29

thân quen nhằm trốn thuế của công ty TNHH Giải pháp Việt Nam do Lê Quốc Quân làm giám đốc

Vì vậy, nhằm hạn chế được các hành vi trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh

tư lợi là cần thiết Đem lại sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước giữa các doanh nghiệp

Ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh và nền kinh tế - xã hội: Giao

dịch tư lợi còn dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và nền kinh tế-xã hội của quốc gia Thực tiễn gần đây đã xuất hiện hàng loạt các vụ việc làm thất thoát tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các nhà đầu tư và người dân khi những người quản lí, điều hành doanh nghiệp lạm dụng quyền lực nhằm tư lợi cho riêng

mình

Vì vậy việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các thành viên, cổ đông trong doanh nghiệp và bảo vệ môi tường kinh doanh lành mạnh, công bằng luôn được sự quan tâm của Nhà nước, của doanh nghiệp và các thành viên, cổ đông trong công ty

1.3.2 Nội dung các quy định nhằm kiểm soát các giao dịch có nguy

cơ phát sinh tư lợi trong Doanh nghiệp nhà nước

1.3.2.1 Các quy định về chấp thuận các giao dịch có nguy cơ phát sinh

tư lợi

Các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi bao gồm các giao dịch có giá trị tài sản lớn và các giao dịch giữa công ty với người có liên quan Bởi khả

Trang 30

ích của công ty, của cổ đông, các thành viên, và các chủ nợ của công ty Vì vậy, LDN 2005 đã có những quy định về việc chấp thuận hay không chấp thuận đối với những giao dịch này Cụ thể:

Đối với các giao dịch có giá trị tài sản lớn: Các giao dịch có giá trị tài

sản lớn (có giá trị trên 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty) phải có được sự chấp thuận của HĐTV đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên (Điều 47); sự chấp thuận của chủ sở hữu công ty đối với công ty TNHH một thành viên (Điều 64); sự chấp thuận của ĐHĐCĐ đối với CTCP (Điều 96) Để đưa ra các quyết định này phải dựa trên các cuộc họp, các quyết của HĐTV, ĐHĐCĐ chỉ được thông qua trong các trường hợp:

- Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, quyết định của HĐTV được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp:

Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên

dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định hoặc Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ

lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công

ty, tổ chức lại, giải thể công ty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định” (Khoản 2 Điều 52 LDN)

- Đối với công ty TNHH một thành viên thì Quyết định của HĐTV được thông qua khi có hơn một nửa số thành viên dự họp chấp thuận Cuộc

Trang 31

họp của HĐTV được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba số thành viên dự họp (khoản 6 Điều 68 LDN)

- Đối với CTCP thì tại khoản 3 Điều 104 quy định quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi: được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định Còn đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số

cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định

Như vậy, tất cả các giao dịch có giá trị tài sản lớn phải có sự đồng ý của chủ sở hữu công ty, hoặc sự đồng ý của đa số chủ sở hữu công ty trực tiếp quyết định Quy định như vậy xuất phát từ lý do: nếu để cá nhân người đại diện cho công ty toàn quyền quyết định thì nguy cơ xảy ra ý đồ tư lợi là rất lớn, và do đó độ rủi ro cho công ty, cho các chủ sở hữu công ty, cho chủ nợ sẽ rất cao Việc gắn quyền sở hữu với quyền định đoạt sẽ đảm bảo được tính công bằng cho các giao dịch có liên quan đến các tài sản có giá trị lớn của công ty

- Đối với các giao dịch giữa công ty với người có liên quan:

Các giao dịch giữa công ty với người có liên quan có khả năng tư lợi rất lớn vì vừa có lợi ích bên này vừa liên quan với bên kia Nhằm kiểm soát chặt chẽ các giao dịch của công ty đối với những người có liên quan, đảm bảo lợi

Trang 32

ích công ty và sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng pháp luật quy định cụ thể

về các điều kiện, chủ thể chấp thuận thông qua các hợp đồng này Cụ thể:

- Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên: tại Điều 59 quy định các giao dịch, hợp đồng giữa công ty với thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, GĐ/TGĐ; người đại diện theo pháp luật của công ty; người quản lý công ty mẹ; người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công

ty mẹ phải được HĐTV chấp thuận

Với những hợp đồng, giao dịch nêu trên thì người đại diện theo pháp luật của công ty phải gửi đến các thành viên HĐTV, đồng thời niêm yết tại trụ

sở chính và chi nhánh của công ty dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành Trường hợp Điều lệ không quy định thì HĐTV phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn mười năm ngày, kể từ ngày niêm yết; trong trường hợp này, hợp đồng, giao dịch được chấp thuận nếu có sự đồng ý của số thành viên đại diện ít nhất 75% tổng số vốn có quyền biểu quyết Thành viên có liên quan trong các hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết

- Đối với công ty TNHH một thành viên là tổ chức thì Hợp đồng, giao

dịch giữa công ty với các đối tượng là: chủ sở hữu công ty; Người đại diện

theo uỷ quyền, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; Người quản

lý chủ sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lý đó; và những người có liên quan của những người nêu trên phải được HĐTV hoặc chủ tịch công ty, GĐ/TGĐ và KSV xem xét quyết định theo nguyên tắc

đa số, mỗi người có một phiếu biểu quyết

Đối với những hợp đồng, giao dịch giữa công ty với người nêu trên thì người đại diện theo pháp luật của công ty phải gửi cho HĐTV hoặc Chủ tịch

Trang 33

công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; đồng thời, niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung giao dịch đó

Để xem xét và ra quyết định thông qua các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi, mà trong trường hợp này là giao dịch giữa công ty với người thân quen trong công ty TNHH một thành viên, pháp luật đã đưa ra các điều kiện chấp thuận hợp đồng đó, bao gồm:

Các bên ký kết hợp đồng hoặc thực hiện giao dịch là những chủ thể pháp lý độc lập, có quyền, nghĩa vụ, tài sản và lợi ích riêng biệt;

Giá sử dụng trong hợp đồng hoặc giao dịch là giá thị trường tại thời điểm hợp đồng được ký kết hoặc giao dịch được thực hiện;

Chủ sở hữu công ty tuân thủ đúng nghĩa vụ quy định tại khoản 4 Điều

65 của Luật này” (khoản 2 Điều 75 LDN)

Pháp luật quy định cụ thể những điều kiện thông qua hợp đồng có nguy

cơ phát sinh tư lợi như trên đã tạo ra cách áp dụng thống nhất và có hiệu quả trong kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi, tránh bỏ sót các giao dịch có lợi cho công ty

- Đối với CTCP, Điều 120 quy định các hợp đồng, giao dịch giữa công

ty với các đối tượng sau đây phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận: Cổ đông, người đại diện uỷ quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty; Thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ; Doanh nghiệp mà thành viên HĐQT, thành viên BKS, GĐ/TGĐ và người quản lý khác của công ty có

sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; Doanh nghiệp mà những người có liên quan tới thành viên HĐQT, thành viên BKS, GĐ/TGĐ và người quản lý khác

Trang 34

của công ty cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 35% vốn Điều lệ

Pháp luật quy định phải kiểm soát các giao dịch giữa công ty với

“những người liên quan”, đặc biệt là đối với những người quản lí, người có liên quan của người quản lí doanh nghiệp là vì: Giao dịch tư lợi giữa công ty với người có liên quan có thể xảy ra trên tất cả các lĩnh vực từ dân sự đến lao

động, thương mại Ví dụ: Giám đốc có thể tuyển dụng, kí kết hợp đồng lao

động với người thân của mình để cho người thân của mình các ưu đãi hơn những người lao động khác trong điều kiện công việc và trình độ tương đương Hoặc cũng có thể những người quản lí sẽ “gửi giá” vào các hợp đồng với các đối tác nhằm trục lợi cho riêng mình, người bị mất mát lợi ích từ các hợp đồng này chính là công ty, các thành viên, cổ đông, chủ nợ của công ty Kinh nghiệm thực tế ở Trung Quốc cho thấy trong hoàn cảnh tương tự như đã nêu trên, không ít người quản lí công ty đã lạm dụng quyền lực qua việc thực hiện các giao dịch với các bên có liên quan để tham ô, biến thủ tài sản của công ty thành tài sản của riêng họ và của gia đình họ Có thể nói đó là hình thức tham nhũng tương đối phổ biến trong khu vực doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân Vì vậy, Luật doanh nghiệp năm 2005 của nước ta đã quy định những giao dịch giữa công ty với những giao dịch cần phải được kiểm soát trong nội bộ công ty trước khi thực hiện các giao dịch đó trong thực tiễn

1.3.2.2 Các quy định về điều kiện và tiêu chuẩn của người tham gia quản lý, điều hành Doanh nghiệp nhà nước

Người được ủy quyền tham gia quản lý doanh nghiệp là những người điều phối hoạt động của doanh nghiệp, cũng chính là người trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền trong việc thiết lập các giao dịch của doanh nghiệp với các

Trang 35

chủ thể khác Vì yếu tố tư lợi trong các giao dịch có nguy cơ phát sinh từ ý chí chủ quan của người đại diện công ty khi tham gia vào kí kết giao dịch, bằng thẩm quyền của mình họ áp đặt ý chí cá nhân vào ý chí của pháp nhân, làm sai lệch ý chí của pháp nhân

Từ nguy cơ này, LDN đã đưa ra những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn trở thành người đại diện theo ủy quyền; GĐ hoặc TGĐ; người kiểm soát tính hợp pháp, trung thực trong các hoạt động của doanh nghiệp nhằm kiểm soát, hạn chế các giao dịch tư lợi Cụ thể:

Đối với người đại diện theo ủy quyền (thành viên của Hội đồng thành viên): Trong các công ty con của công ty cổ phần vốn góp hay cổ phần sở hữu nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ thì vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ,

mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người quản lý và của người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ không được cử làm người đại diện theo ủy quyền tại công ty con (điểm d Khoản 2 Điều 48 LDN 2005) Pháp luật quy định như vậy nhằm hạn chế sự câu kết, thâu tóm quyền lực về tay một nhóm người Tránh tình trạng biến công ty thành công ty gia đình

Đối với Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc được Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty bổ nhiệm hoặc thuê để quản lý, điều hành công ty thì

“không phải là người có liên quan của thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, người có thẩm quyền trực tiếp bổ nhiệm người đại diện theo

ủy quyền hoặc Chủ tịch công ty”(điểm b Khoản 3 Điều 70 LDN 2005)

Một trong những nguyên nhân làm phát sinh tư lợi là sự tách rời quyền

sở hữu và quyền quản lý, hoặc quyền sở hữu của người quản lý quá nhỏ so với thẩm quyền mà họ có được thì cũng là nguyên nhân dẫn đến các giao dịch

tư lợi Vì vậy, Luật Doanh nghiệp quy định điều kiện làm GĐ/TGĐ công ty

Trang 36

TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần có phần vốn góp tối thiểu 10% vốn điều lệ của công ty (điểm b khoản 1 Điều 57 LDN) Nhà làm luật cho rằng người quản lý đã có lợi ích thiết thân trong doanh nghiệp, vì vậy, các giao dịch tư lợi ảnh hưởng tới lợi ích công ty cũng được hạn chế

Đối với Kiểm soát viên thì “Không phải là người có liên quan của

thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người có thẩm quyền trực tiếp bổ nhiệm Kiểm soát viên” (điểm c Khoản

4 Điều 71 LDN 2005) Tương tự, đối với thành viên BKS của công ty cổ phần

phải đáp ứng điều kiện: “Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ

nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ và người quản lý khác” (điểm b khoản 1 Điều 122) Quy định này góp phần đảm

bảo sự khách quan trong kiểm soát các hoạt động của công ty; giúp cho BKS thực hiện được đúng và đầy đủ vai trò kiểm soát của mình

1.3.2.3 Quy định về quyền của thành viên hoặc cổ đông trong vấn đề kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

Thành viên hoặc cổ đông trong công ty là những chủ sở hữu của công

ty, họ có quyền và lợi ích gắn bó với công ty mà nếu xảy ra các giao dịch tư lợi thì quyền lợi của họ trực tiếp bị xâm hại Do đó, Luật Doanh nghiệp quy định cho họ có những quyền nhất định trong việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong chính công ty mà họ là chủ sở hữu (hoặc đồng chủ sở hữu)

Thứ nhất, đối với thành viên của công ty TNHH có các quyền sau:

Tham dự họp HĐTV, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐTV (điểm a khoản 1 Điều 41 LDN 2005) Như vậy, thành viên có quyền trực tiếp nêu ý kiến của mình trong trường hợp HĐTV quyết

Trang 37

định hoặc xin ý kiến chấp thuận đối với các hợp đồng, giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

Kiểm tra, xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hàng năm, sổ biên bản họp HĐTV, các giấy tờ, tài liệu khác của công ty (điểm c khoản 1 Điều 41 LDN 2005) Bằng các quyền này các thành viên có thể tự theo dõi hoạt động kinh doanh của công ty, cũng như kiểm tra, xem xét việc thực hiện các giao dịch của công ty Nếu phát hiện có giao dịch tư lợi thì thành viên có quyền: Khiếu nại hoặc khởi kiện GĐ/TGĐ khi không thực hiện đúng nghĩa vụ, gây hại đến lợi ích của thành viên hoặc của công ty và yêu cầu triệu tập cuộc họp HĐTV

để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền (đối với thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu trên 25% vốn điều lệ hoặc một tỉ lệ khác nhỏ hơn do Điều

lệ công ty quy định)

Thứ hai, đối với cổ đông phổ thông công ty cổ phần có các quyền sau:

Tham dự và phát biểu trong các ĐHCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền;

Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ;

Cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp ĐHĐCĐ hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến ĐHĐCĐ nếu xét thấy trình tự, thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ, hoặc trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty;

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ

Trang 38

định tại Điều lệ công ty có các quyền sau: Đề cử người vào HĐQT và BKS (nếu có); Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm và hàng năm và các báo cáo khác của BKS; Yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ trong trường hợp HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; Yêu cầu BKS kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết

Đây là những quyền thiết yếu giúp cho thành viên, cổ đông trong công

ty TNHH và CTCP có thể theo dõi được tình hình hoạt động của công ty Nếu xét thấy trong quá trình quản lý, điều hành công ty bởi các thành viên khác không được tiến hành một cách trung thực, không vì lợi ích của công ty thì thành viên, cổ đông có quyền sử dụng những biện pháp thích ứng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của công ty

1.3.2.4 Quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên hoặc cổ đông và người quản lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế các giao dịch tư lợi trong doanh nghiệp nhà nước

Nhằm ngăn ngừa, hạn chế các giao dịch tư lợi trong các DNNN, LDN

2005 đã xây dựng nhóm những quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên hoặc cổ đông và người quản lý doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất, chế độ chịu trách nhiệm của những người thực hiện giao dịch tư lợi Các cá nhân khi nhân danh công ty tiến hành các hoạt động kinh

doanh nhằm tư lợi cho cá nhân mình hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác không phải công ty, gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty

Cụ thể:

Trang 39

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên thì thành viên công ty phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác

Đối với CTCP thì trách nhiệm của từng cá nhân khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh của công ty được quy định cụ thể như sau:

Cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công

ty dưới mọi hình thức để tiến hành kinh doanh và các giao dịch khác để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

GĐ/TGĐ công ty cổ phần phải điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động kí với công ty và quyết định của HĐQT Nếu điều hành mà trái với quy định này mà gây thiệt hại cho công ty thì GĐ/TGĐ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty

Thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để thực hiện công việc dưới mọi hình thức trong phạm vi công việc kinh doanh của công ty đều phải giải trình bản chất, nội dung của công ty với việc

đó trước HĐQT, BKS và chỉ được thực hiện khi được đa số thành viên còn lại của HĐQT chấp thuận; nếu thực hiện mà không khai báo hoặc không được sự chấp thuận của HĐQT thì tất cả thu nhập có được từ hoạt động đó thuộc về công ty

Thứ hai, quy định về nghĩa vụ phải trung thực, trung thành với lợi ích của công ty của HĐTV, GĐ/TGĐ công ty TNHH hai thành viên trở lên (điểm

a, b khoản 1 Điều 56); của thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, GĐ/TGĐ và KSV của công ty TNHH 1 thành viên là tổ chức (điểm b, c khoản 1 Điều 72);

Trang 40

của thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ và người quản lý khác đối với công ty cổ phần (điểm b, c Khoản 1 Điều 119), theo đó các cá nhân này có nghĩa vụ:

Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm đảm bảo lợi ích tối đa của công ty và chủ sở hữu công ty

Trung thành với lợi ích của công ty và chủ sở hữu; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, không được lạm dụng địa

vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức,

cá nhân khác

Thứ ba, quy định về chế độ công khai hóa thông tin:

Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thành viên HĐTV, GĐ/TGĐ công ty TNHH hai thành viên trở lên; thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, GĐ/TGĐ và KSV của công ty TNHH 1 thành viên là tổ chức; thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ và người quản lý khác đối với công ty cổ phần có nghĩa vụ phải thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho công ty về các doanh nghiệp

mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối Thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công

ty

Hơn nữa đối với CTCP thành viên HĐQT, thành viên BKS, GĐ/TGĐ

và người quản lý khác của công ty phải kê khai các lợi ích có liên quan của họ với công ty bao gồm: các thông tin liên quan đến doanh nghiệp mà họ có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; các doanh nghiệp mà những người có liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 35% vốn điều lệ Các thông tin cần phải kê khai bao gồm: Tên, địa chỉ trụ sở chính, ngành, nghề kinh doanh, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nơi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp mà họ có sở hữu phần vốn

Ngày đăng: 28/08/2015, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Văn Dũng (2012), “Xác định rõ cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước”, tapchitaichinh.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định rõ cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước”
Tác giả: Bùi Văn Dũng
Năm: 2012
4. CIEM -Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2010), “Báo cáo rà soát, đánh giá quy định pháp luật và thực trạng Quản trị Doanh nghiệp nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát, đánh giá quy định pháp luật và thực trạng Quản trị Doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: CIEM -Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 2010
5. CIEM -Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2010), “Báo cáo rà soát, đánh giá quy định pháp luật và thực trạng giám sát đối với tập đoàn kinh tế Nhà nước quy mô lớn, Doanh nghiệp nhà nước độc quyền” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát, đánh giá quy định pháp luật và thực trạng giám sát đối với tập đoàn kinh tế Nhà nước quy mô lớn, Doanh nghiệp nhà nước độc quyền
Tác giả: CIEM -Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 2010
6. CIEM-Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2010), “Báo cáo tổng hợp và phân tích kinh nghiệm quốc tế về cải cách quản trị Doanh nghiệp nhà nước theo thông lệ quốc tế và giám sát tập đoàn kinh tế và bài học cho Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp và phân tích kinh nghiệm quốc tế về cải cách quản trị Doanh nghiệp nhà nước theo thông lệ quốc tế và giám sát tập đoàn kinh tế và bài học cho Việt Nam
Tác giả: CIEM-Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 2010
7. CIEM-Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2012), “Báo cáo đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Tác giả: CIEM-Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 2012
8. Đại học Quốc Gia Hà Nội (2003), Trung Quốc cải cách mở cửa - những bài học kinh nghiệm, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc cải cách mở cửa - những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Đại học Quốc Gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003
9. Hoàng Thị Lan Phương (2012), Pháp luật về kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan, tr.7-8, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan
Tác giả: Hoàng Thị Lan Phương
Năm: 2012
10. Hội đồng Bộ Trưởng, Nghị định số 388/HĐBT “Ban hành quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước” ngày 20/11/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước
12. Lê Đình Vinh (2004), “Kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty theo Luật Doanh nghiệp”, Tạp chí luật học số 1/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty theo Luật Doanh nghiệp”
Tác giả: Lê Đình Vinh
Năm: 2004
13. Lê Hồng Hạnh (2004), Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Hồng Hạnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
14. Ls. Lê Minh Toàn (2013), “Nhiều vi phạm quy định giao dịch tư lợi”, tinnhanhchungkhoan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều vi phạm quy định giao dịch tư lợi”
Tác giả: Ls. Lê Minh Toàn
Năm: 2013
15. Nam Quốc (2006), “Trắng trợn, công nghệ gửi giá và tính khống”, vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắng trợn, công nghệ gửi giá và tính khống”
Tác giả: Nam Quốc
Năm: 2006
16. Ngô Thị Bích Phương (2007), Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, tr.12-14, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005
Tác giả: Ngô Thị Bích Phương
Năm: 2007
17. Nguyễn Viết Thịnh – Nguyễn Mỹ Hạnh, “Để Ban Kiểm soát Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả”, effectsoft.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để Ban Kiểm soát Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả”
18. Nhóm PV Kinh tế - Xã hội (2004), “Tiếp tục bóc trần đường dây tham nhũng lớn tại Petro Việt Nam: Có một vụ án nghiêm trọng đã bị "chìm xuồng", vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục bóc trần đường dây tham nhũng lớn tại Petro Việt Nam: Có một vụ án nghiêm trọng đã bị "chìm xuồng
Tác giả: Nhóm PV Kinh tế - Xã hội
Năm: 2004
19. PGS, TS Hồ Sỹ Hùng (2014), “Thực hiện quyền của chủ sở hữu nhằm thúc đẩy cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả DNNN”, nhandan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quyền của chủ sở hữu nhằm thúc đẩy cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả DNNN”
Tác giả: PGS, TS Hồ Sỹ Hùng
Năm: 2014
20. PGS.TS Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Hợp đồng - Phần chung, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hợp đồng - Phần chung
Tác giả: PGS.TS Ngô Huy Cương
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
21. PGS.TS Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Thương mại - Phần chung và thương nhân, tr.191-192, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại - Phần chung và thương nhân
Tác giả: PGS.TS Ngô Huy Cương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
22. Phạm Hải Ly (2013), Pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Hải Ly
Năm: 2013
23. Quang Minh, “Ai thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước”, thesaigontimes.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ai thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w