Thách thức lớn nhất đối với chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học, sự duy trì và phát triển các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia là sức ép từ các hộ dân tộc địa phương, cùng với các
Trang 1I Mở đầu
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước đã có những bước tiến tích cực cả về chính sách cũng như hoạt động thực tiễn nhằm bảo vệ đa dạng sinh học Năm 1994 Việt Nam đã phê chuẩn Công ước quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học Ngày 22 tháng 12 năm 1995 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” Một hệ thống 105 khu rừng đặc dụng với diện tích khoảng 3 triệu ha đã được phê duyệt, trong đó ưu tiên hàng đầu là 13 Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và Vườn quốc gia (VQG) có giá trị đa dạng sinh học cao
Thách thức lớn nhất đối với chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học, sự duy trì và phát triển các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia là sức ép từ các hộ dân tộc
địa phương, cùng với các hoạt động kinh tế dân sinh liên quan tới quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm cả tài nguyên sinh vật và tài nguyên không phải sinh vật có gắn với môi trường sống của sinh vật Chính vì lẽ đó mà sự tồn tại và phát triển các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia đòi hỏi sự hỗ trợ
và cộng tác của các cộng đồng dân tộc mà phương cách thiết thực nhất là thiết lập các vùng đệm để họ có thể tham gia vào việc quản lý và xây dựng các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia đồng thời với việc phát triển kinh tế nông hộ và phát triển cộng đồng theo hướng bền vững Đây là vấn đề còn rất mới, chưa có nhiều nghiên cứu và thiếu những mô hình thử nghiệm
Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây được thành lập theo quyết định số 17 - CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) ngày 16/01/1991 trên địa bàn trung du miền Núi thuộc huyện Ba Vì - Hà Tây, là một trong các Vườn quốc gia nằm trong hệ thống bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam Ngoài chức năng gìn giữ, bảo vệ và phát triển các
hệ sinh thái rừng đặc trưng, rừng Ba Vì còn là địa bàn đào tạo, nghiên cứu khoa học Mặt khác trong khu vực Vườn quốc gia Ba Vì có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh, lại gần thủ đô Hà Nội, cho nên Vườn quốc gia Ba Vì đang là một trung tâm du lịch lớn, hàng năm có hàng vạn người đến tham quan du lịch nghỉ mát
Vườn quốc gia Ba Vì với diện tích quy hoạch hiện nay 18.000 ha gồm hai
Trang 2vùng: vùng rừng Vườn quốc gia và vùng đệm Vùng đệm Vườn quốc gia rộng trên 15.000 ha bao gồm 7 xã, với số dân gần 50 ngàn người thuộc các dân tộc Dao, Mường, Kinh sinh sống Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 52,1% tổng số nhân khẩu, quen sống dựa vào rừng, cùng với những tập quán canh tác truyền thống, vốn chỉ phù hợp với điều kiện mật độ dân cư thấp nay không thể thích ứng với hiện trạng đất đai và dân số
Cũng như các Vườn quốc gia khác, Vườn quốc gia Ba Vì đang chịu nhiều sức
ép, tác động xấu đối với việc bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật quý hiếm, bảo tồn tính đa dạng sinh học, cảnh quan của các hệ sinh thái rừng đặc trưng Một trong những sức ép nêu trên là nhu cầu về gỗ, củi, lương thực, thực phẩm và các sản phẩm khác đảm bảo thu nhập từ rừng của các hộ đồng bào dân tộc ở vùng đệm và đất canh tác của các hộ gia đình và cộng đồng dân cư ngày càng đông đúc sống xung quanh Vườn quốc gia Ba Vì
Việc gia tăng các biện pháp quản lý tài nguyên của Nhà nước trong những năm gần đây làm giảm một phần quan trọng thu nhập của các hộ dân tộc, đã đặt các
hộ dân tộc vùng đệm Ba Vì đứng trước vấn đề nan giải trong việc tìm phương cách tồn tại và phát triển bền vững thông qua các nguồn thu nhập của mình Vấn đề không ngừng nâng cao thu nhập bền vững đảm bảo đời sống hàng ngày cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng đệm là vấn đề bức xúc và có liên quan chặt chẽ đến việc bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Ba Vì Điều đó cũng là mối quan tâm chung của các nhà lãnh đạo địa phương, của Vườn quốc gia Ba Vì và cũng
là trăn trở của những người quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu phát triển các Khu bảo tồn thiên nhiên và các Vườn quốc gia
Theo chúng tôi được biết thì những nhận định về thu nhập bền vững của hộ gia
đình dân tộc thiểu số nêu ra trong các tài liệu, báo cáo chưa dựa trên một điều tra nghiên cứu khoa học, mà mới là sự quan sát, nhận định khái quát của những người quan tâm
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
"Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số
ở vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây"
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số sống ở vùng đệm Vườn quốc gia
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hoá một số lý luận và thực tiễn nâng cao thu nhập bền vững của các hộ dân tộc thiểu số vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì
+ Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số sống ở vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian: Vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì bao gồm có 7 xã, nhưng đề tài chỉ tiến hành điều tra nghiên cứu ở 3 xã điển hình:
+ Xã Vân Hoà + Xã Ba Vì
+ Xã Khánh Thượng
- Về thời gian: Do hạn chế về thời gian và kinh phí nghiên cứu nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nâng cao thu nhập bền vững từ các nguồn lực sẵn có của gia
đình và các nguồn thu nhập hợp pháp khác từ rừng trong 3 năm gần đây
- Về nội dung nghiên cứu: Thu nhập bền vững bao gồm thu nhập từ rất nhiều nguồn khác nhau Trong đó nguồn thu nhập các sản phẩm từ rừng và đất rừng chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ Tuy nhiên, nguồn thu nhập này ngày càng
giảm sút do sự tác động của cộng đồng dân cư vùng đệm vào rừng, đã trực tiếp làm
suy giảm tài nguyên rừng và ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học Vì vậy đề tài
tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng các nguồn thu nhập của hộ gia đình dân tộc thiểu số và các yếu tố ảnh h ưởng đến thu nhập của hộ Trên cơ sở đó đề xuất các giải
pháp nâng cao thu nhập bền vững và tạo thu nhập bền vững lâu dài cho các hộ dân tộc thiểu số trong vùng đệm
Trang 4II Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số ở vùng
đệm vườn quốc gia
2.1 Nâng cao thu nhập bền vững các hộ dân tộc thiểu số ở vùng
đệm vườn quốc gia
2.1.1 Vùng đệm V ườn quốc gia và thu nhập của cư dân vùng đệm
2.1.1.1 Vườn quốc gia
Vườn quốc gia là vùng đất được quy hoạch để bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái của một hoặc nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và mai sau; loại bỏ sự khai thác hoặc chiếm dụng không mang tính thiên nhiên đối với những mục đích của vùng đất
và tạo cơ sở nền móng cho tất cả các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, vui chơi, giải trí và tham quan mà các hoạt động đó phải phù hợp với văn hoá và môi trường [14],[21]
Như vậy khái niệm Vườn quốc gia cho thấy rõ mọi tài nguyên trong Vườn quốc gia cần phải được bảo vệ, gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ năm này sang năm khác, cấm mọi sự xâm nhập từ bên ngoài có ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái tự nhiên phong phú của đất nước Đặc biệt mọi tác
động mang tính chất kinh tế đến tài nguyên rừng được nghiêm cấm dưới mọi hình thức Tuy nhiên do chính giá trị của các tài sản trong Vườn quốc gia lại là cản trở lớn trong công tác bảo vệ Sức ép của nhân dân sinh sống xung quanh hay trong các Vườn quốc gia ngày càng mạnh mà công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn Để giải quyết các mâu thuẫn nói trên, một mặt các Vườn quốc gia đã thực hiện một số dự án
về nâng cao nhận thức môi trường, giáo dục tuyên truyền cho cộng đồng, mặt khác cần phải có những biện pháp để nâng cao, cải thiện cuộc sống cho người dân, nhất là những người nghèo sống xung quanh các Vườn quốc gia
2.1.1.2 Vùng đệm
2.1.1.2.1 Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone)
Quan niệm về vùng đệm bắt đầu được đề cập vào khoảng năm 1950 Khi khu
Trang 5bảo tồn Nerfu ở Zambia Luangua gặp phải thử thách trước nhu cầu cuộc sống và tập quán của người dân địa phương, họ đã quan tâm đến việc cho phép các cộng đồng dân tộc được săn bắn theo phương thức truyền thống ở Vườn quốc gia Corbet (ấn
Độ) người dân địa phương cũng được quyền thu hoạch và khai thác các sản phẩm không phải là gỗ trong một khu rừng bán tự nhiên Tại Đại hội về Khu bảo tồn và Vườn quốc gia lần thứ III do IUCN tổ chức tại Bali năm 1982 đã đề cập đến việc đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương thông qua việc xây dựng các vùng đệm Vấn
đề này đã được thảo luận nhiều hơn trong hội nghị MAB/UNESCO về chương trình hành động cho các khu bảo tồn sinh quyền tổ chức tại Đại hội Minsk (Liên Xô cũ) năm 1984 Trên cơ sở đó, có rất nhiều khái niệm về vùng đệm được đưa ra [32],[73]
Theo Jeffey Sayer (1991) thì “Vùng đệm là vùng đất nằm xung quanh Vườn quốc gia hay Khu bảo tồn mà ở đó việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hạn chế, hay ở đó các biện pháp quản lý đặc biệt về phát triển nhằm nâng cao hiệu quả của công việc bảo vệ”
GTZ (1996) thì quan niệm rằng “Vùng đệm là vùng chuyển tiếp là những vùng đất nằm ngoài hay trong khu bảo tồn Các vùng này có chức năng tạo thuận lợi cho Khu bảo tồn và cho cuộc sống của dân cư ở đây Dân cư sinh sống ở đây luôn là tiềm năng trực tiếp ảnh hưởng đến Khu bảo tồn”
Cho đến nay ở nước ta đã có ba cuộc Hội thảo về vùng đệm nhưng vẫn chưa có
sự thống nhất về vùng đệm các Khu bảo tồn và Vườn quốc gia, kể cả nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Tại Hội thảo quốc gia về “Sự tham gia của cộng đồng địa phương (CĐĐP) trong quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam” được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 17 ữ 18/12/1997, khái niệm vùng đệm đã được
đưa ra thảo luận Một số khái niệm được đề cập tới trong hội thảo là [32]:
Vùng đệm là “vùng đất nằm ngoài Khu bảo tồn hay Vườn quốc gia, tại đó việc
sử dụng đất đa phần là được hạn chế, nhằm tạo thành một vành đai bảo vệ bổ sung cho khu bảo tồn, đồng thời giúp cho nhân dân sinh sống trong vùng được bù đắp phần nào những thiệt thòi do việc thành lập các khu bảo tồn đó gây ra” (Mackinnon, 1981, 1986)
“Vùng đệm là vùng tiếp giáp với khu bảo vệ bao quanh toàn bộ hay một phần
Trang 6của khu bảo vệ, vùng đệm nằm ngoài diện tích khu bảo vệ và không thuộc quyền quản lý sử dụng của ban quản lý bảo vệ” (Quyết định số 1585 LN/KL ngày 13/7/1993)
“Vùng đệm là vùng rừng hoặc đất đai có dân cư sinh sống bao quanh hoặc nằm sát ranh giới các khu rừng đặc dụng hoặc Khu bảo tồn thiên nhiên Việc thành lập vùng đệm nhằm làm giảm áp lực của người dân địa phương đối với khu vực cần bảo vệ” [32]
Nhiều khái niệm được đưa ra, nhưng khó có thể thống nhất các khái niệm trên
được Tuy nhiên có thể tìm thấy một số điểm chung cơ bản như sau:
- Vùng đệm là vùng đất nằm bao quanh Vườn quốc gia, nhưng không tính vào diện tích của Vườn quốc gia
- Vùng đệm có dân cư sinh sống và diễn ra các hoạt động kinh tế - dân sinh và chịu sự quản lý của chính quyền địa phương
- Các hoạt động ở vùng đệm nhằm hỗ trợ cho công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Như vậy dù vùng đệm được tạo ra theo hình thức nào, thì những công việc hàng ngày xảy ra, do dân cư sinh sống xung quanh tạo sức ép nặng nề lên Vườn quốc gia,
đã buộc các ban quản lý Vườn quốc gia phải có những hoạt động liên quan đến việc
ổn định cuộc sống của dân cư ở đây, giảm sức ép của dân lên Vườn quốc gia [32],[33],[67] Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý vườn quốc gia nào cũng phải thường xuyên lo lắng và không thể bỏ qua được Các công việc đó thực chất là một trong những công việc quan trọng trong việc quản lý vùng đệm
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản đã định nghĩa: “Vùng đệm là những vùng
được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có tài nguyên rừng, nằm ngoài ranh giới của Vườn quốc gia và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của Vườn quốc gia
và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh Vườn quốc gia Điều này được thực hiện bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể,
đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của dân cư sống trong vùng đệm” [19] ,[69]
Định nghĩa trên đã nói lên rõ chức năng của vùng đệm là (trích dẫn kiến nghị
Trang 7của dự án IUCN - SDC - FPD):
- Góp phần vào việc bảo tồn Vườn quốc gia mà nó bao quanh;
- Nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm;
- Tạo điều kiện mang lại cho những người dân xung quanh những lợi ích từ Vườn quốc gia
2.1.1.2.2 Vai trò của vùng đệm đối với sự phát triển của các Vườn quốc gia
Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các Vườn quốc gia đã được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới ở Việt Nam lần đầu tiên vùng đệm được đưa vào quy hoạch cho Vườn quốc gia Cúc Phương và sau đó là các Khu bảo tồn thiên nhiên
và Vườn quốc gia khác Tuy nhiên, khó có một ranh giới rõ rệt được xác lập giữa vùng đệm và khu bảo tồn nội vi [60], điều đó cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các Vườn quốc gia Sự phát triển bền vững này phải trên cơ sở không ngừng nâng cao cuộc sống của người dân không chỉ ở bên trong Vườn quốc gia mà quan trọng hơn là người dân sống bên ngoài Vườn quốc gia [40],[60]
Theo Võ Quý (1997, 1998) [35], [36]:
- Việc quản lý vùng đệm trước hết nhằm cung cấp các sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống của người dân địa phương Việc sử dụng những sinh vật hoang dã của vùng đệm có tầm quan trọng thứ yếu Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai của cư dân ở
đây không được mâu thuẫn với mục tiêu chính của Vườn quốc gia
- Việc quản lý vùng đệm nhằm mục đích mở rộng phạm vi của các môi trường sống có trong Vườn quốc gia sang vùng đệm, nhờ đó mà mở rộng môi trường sống của các loài hoang dã có trong Vườn quốc gia
Từ đó có thể hiểu vùng đệm chính là khu vực diễn ra sự trao đổi lợi ích giữa các hoạt động kinh tế dân sinh của cộng đồng dân cư địa phương và các hoạt động sinh học của các loài sinh vật hoang dã vốn có trong Vườn quốc gia trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
2.1.1.3 Mối quan hệ vùng đệm - thu nhập và Vườn quốc gia
Lương thực, tiền mặt và chất đốt là 3 nhu cầu thiết yếu trong đời sống mỗi gia
đìnhh, cộng đồng và toàn xã hội Đối với các các dân tộc vùng đệm Vườn quốc gia,
Trang 8để đáp ứng các nhu cầu này, phần lớn phụ thuộc vào đất canh tác và rừng Tức là có mối quan hệ giữa cuộc sống của con người với tài nguyên
đốt
Nhu cầu thị trường
Hiệu quả
kinh
tế
Chính sách vùng
đệm
Cơ
hội sinh
kế
Công tác quản
lý bảo
vệ rừng
Tổ chức cộng
đồng
Thể chế cộng
đồng
Nhận thức của người dân
Phong tục tập quán
Nguyên nhân kinh tế
Những tác động của các hộ dân tộc vùng đệm tới TNR V n qu c gia
Nguyên nhân xã hội
Hình 2.1: Các nguyên nhân dẫn đến sự tác động của các hộ dân tộc tới TNR Vườn quốc gia
[Nguồn: Kết quả nghiên cứu Nguyễn Thị Phương (2003)]
2.1.1.3.1 Mối quan hệ về lương thực (lúa gạo)
Đối với người nông dân, các sản phẩm lương thực mà quan trọng nhất là lúa gạo luôn là mối quan tâm hàng đầu Tuy nhiên, trong vùng đệm Vườn quốc gia, diện tích đất nông nghiệp rất thấp, vì vậy việc sản xuất lúa gạo ở đây rất hạn chế, không
đáp ứng đủ nhu cầu lương thực của hộ và cộng đồng Khả năng tự cung cấp lương thực (lương thực tự có, bao gồm từ tất cả đất nông nghiệp và đất tự thuê/mua của cộng đồng) chỉ đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu lương thực của các hộ
Có sự khác biệt về khả năng tự cung cấp lương thực của các hộ gia đình thuộc các dân tộc khác nhau, nguyên nhân một phần do tăng dân số, trong khi đất nông nghiệp trong vùng không những không có khả năng mở rộng diện tích mà còn ngày một thu hẹp lại nếu như không có giải pháp cho diện tích đất này
Trang 92.1.1.3.2 Mối quan hệ về tiền mặt
Trong cuộc sống của con người có rất nhiều vật chất không thể tự làm ra, mà cần phải sử dụng tiền mặt, đặc biệt trong thời kỳ hiện nay - sản xuất hàng hoá theo kinh tế thị trường, con người không còn sống theo chế độ tự cung tự cấp, tự sản xuất -
tự tiêu dùng
Đối với các hộ dân tộc vùng đệm Vườn quốc gia, để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống về lương thực và các khoản thiết yếu khác, mỗi hộ gia đình phải sử dụng nhiều tiền mặt Trong khi các nguồn thu nhập bằng tiền chính đáng (không vi phạm pháp luật) từ đất canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp, vườn hộ không đáp ứng đủ nhu cầu này
Tổng thu nhập bằng tiền mặt của hộ từ các nguồn: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất vườn hộ, đất tự thuê/mua, ao, làm thuê và từ nghề phụ, lương và phụ cấp Tổng chi phí bằng tiền mặt bao gồm: chi phí cho sản xuất, chi mua lương thực và các khoản chi khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của hộ gia đình
Tổng các khoản chi phí bằng tiền mặt của các hộ thông thường vượt quá khoảng 30% tổng thu nhập bằng tiền mặt của họ và không có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm dân tộc và nhóm kinh tế hộ ở vùng đệm các Vườn quốc gia, vì vậy khoản đền bù này người dân đi lấy từ tài nguyên rừng
Thu nhập từ tài nguyên rừng chiếm 40 ữ 45% tổng thu nhập của hộ gia đình (cộng đồng) [33] Có sự khác biệt về tổng thu nhập bình quân giữa các hộ dân tộc khác nhau, tương ứng là sự khác biệt thu nhập từ tài nguyên rừng, trong đó thu nhập
từ đất rừng đóng góp vai trò quan trọng nhất
2.1.1.3.3 Mối quan hệ về chất đốt (củi)
Chất đốt là vật chất quan trọng thứ hai sau lương thực trong đời sống của hộ gia đình Nó là nguồn năng lượng được sử dụng để tạo nên các bữa cơm hàng ngày và
là nguồn nhiệt sưởi ấm con người trong những ngày mùa đông giá lạnh Chất đốt còn
là thứ vũ khí xua đuổi tà ma và thú dữ ở những nơi rừng thiêng nước độc Có nhiều loại chất đốt, nhưng đối với các hộ nông dân miền Núi, củi là chất đốt quen thuộc và thông dụng nhất [51]
Trong đời sống hàng ngày, củi được người dân sử dụng để đun bếp và sưởi ấm,
Trang 10trong đó, củi đun là nhu cầu chính yếu Nhu cầu về củi đun của các hộ là rất lớn Ngoài lượng củi được lấy từ rừng, số củi còn lại được lấy từ vườn hộ, vườn rừng (đất lâm nghiệp) Phần lớn không có hộ nào phải mua củi Nguồn năng luợng này chính là
từ việc vào rừng lấy củi
Như chúng ta biết, có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ củi được lấy từ rừng giữa các dân tộc Đối với các hộ người Kinh, phần lớn số củi sử dụng được tận dụng từ vườn nhà và vườn rừng, đó là thân cây sắn, cây lâm nghiệp (xoan, bạch đàn, keo, cành chè ) Do phong tục tập quán, tỷ lệ củi rừng của các hộ người dân tộc chiếm 70 - 80% tổng số củi Như vậy, tỷ lệ củi rừng tiêu dùng của các hộ người dân tộc chiếm tỷ
lệ lớn
Những hộ sử dụng ít củi là do số nhân khẩu ít và không chăn nuôi lợn Những
hộ sử dụng nhiều củi đun là do chăn nuôi phát triển, ngoài ra đối với các hộ có nấu rượu lượng củi tiêu tốn tương đối lớn Điều này chứng tỏ các hộ người dân tộc ngoài việc sử dụng củi để nấu ăn, còn có những điểm chung và cần một lượng củi đáng kể,
đó chính là sử dụng củi nấu nước tắm và đốt lửa trong nhà vào mùa đông Đây là 2 tập quán tiêu tốn lượng củi rất lớn của cộng đồng người dân tộc
Người Mường và người Dao, đặc biệt là người Dao, do thói quen sử dụng củi trên rừng từ xa xưa nên đến nay họ vẫn sử dụng củi rừng là chất đốt chính trong gia
đình, chiếm khoảng 90% lượng chất đốt [51]
2.1.2 Nâng cao thu nhập bền vững - những vấn đề cơ bản
2.1.2.1 Thu nhập của hộ gia đình
Nguồn thu tiền mặt của hộ nông dân chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, từ rừng, làm thuê (chủ yếu là đi xẻ gỗ và chặt gỗ thuê cho Vườn quốc gia và dân buôn bán gỗ bất hợp pháp), ngành nghề thủ công, dịch vụ, nguồn thu từ Chính phủ và các nguồn thu khác
- Tổng thu của hộ nông dân là toàn bộ các khoản thu từ bán sản phẩm nông nghiệp và không nông nghiệp của hộ, bao gồm toàn bộ các khoản thu nhập, giá trị nhận được, tổng giá trị đầu ra của sản xuất ở trong hộ nông dân và ngoài hộ Nguồn thu từ bán sản phẩm trồng trọt và từ nghề thủ công chiếm tỷ trọng rất nhỏ
- Thu của nông hộ gồm có bằng hiện vật và thu bằng tiền
Trang 11- Thu từ ngoài hộ gồm có thu từ các hộ nông dân khác theo hợp đồng kinh tế
và từ các hoạt động phi nông nghiệp
Theo Đỗ Kim Chung (1997) [10] trong hạch toán kinh tế hộ nông dân phải tính được thực thu của hộ bằng công thức:
= Thực kiếm của hộ
2.1.2.2 Đặc điểm thu nhập của cư dân vùng đệm
Cũng như các vùng nông thôn miền núi khác, sinh kế của các các hộ dân tộc vùng đệm bao đời gắn liền với đất và rừng Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thay
đổi về quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh kế của các các hộ dân tộc đã có những biến đổi và ngày có chiều hướng đa dạng hơn Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canh tác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bắn, hái lượm), các hộ dân tộc vùng đệm còn có các nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh tháI,
(Sinh kế bao gồm các nguồn thu vật chất phục vụ ăn, mặc, sinh hoạt trực tiếp trong gia đình và nguồn thu bằng tiền mặt)
Đặc điểm thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số vùng đệm bao gồm các khoản thu nhập sau:
* Thu nhập từ nông nghiệp: bao gồm thu từ trồng trọt (thu trồng cây lương thực - lực phẩm như lúa, ngô, khoai, sắn, ; thu trồng cây ăn quả như vải, nhãn, hồng xiêm, mít, bưởi, ; thu trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, sắn, ); thu từ chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, dê )
Trang 12* Thu nhập từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài
gỗ (gỗ, củi, tre, nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng ); thu từ chặt gỗ lậu; thu từ săn bắt động vật và chim thú rừng; thu từ các hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng,
* Thu nhập từ thuỷ sản: bao gồm nuôi cá, nuôi ếch, nuôi ba ba, rắn,
* Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống: bao gồm sản phẩm mây tre
đan, chế biến dược liệu, dệt vải,
* Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái: bao gồm thu từ bán hàng, phục vụ ăn
ở, phục vụ tham quan văn hoá truyền thống bản làng, hướng dẫn du lịch,
* Thu nhập phi nông nghiệp: bao gồm cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy
xe ôm,
* Thu nhập khác: bao gồm lương hưu, trợ cấp, vay mượn, vay vốn tín dụng,
2.1.2.3 Nâng cao thu nhập bền vững
2.1.2.3.1 Khái niệm về thu nhập bền vững
Theo tư tưởng của hội nghị Brundthand, thu nhập bền vững đ ược xem là lượng thu nhập lớn nhất trong một khoảng thời gian nhất định mà nó không làm giảm khả năng thu nhập có thể có trong tương lai Khái niệm này không những bao gồm lượng
thu nhập hiện hành mà còn có cả sự biến đổi tài nguyên Nếu tài nguyên gia tăng tức
là thu nhập tăng, tài nguyên mất đi tức là thu nhập giảm Bản chất của khái niệm này
đã được John Hicks phát biểu từ nửa thế kỷ trước: thu nhập bền vững lá giá trị lớn nhất của một người có thể tiêu thụ trong một khoảng thời gian mà không bị suy giảm vào cuối thời gian đó (Hicks, 1946) Quản lý kinh tế hiệu quả đòi hỏi chính phủ của mỗi nước cần biết lượng tài nguyên lớn nhất mà quốc gia đó có thể sử dụng mà không làm cho đất nước nghèo đi
Thu nhập bền vững, theo chúng tôi, đó là l ượng thu nhập đảm bảo đủ mức sống trung bình trở lên trong một thời gian tương đối dài của hộ gia đình và cộng
đồng dân cư mà không làm ảnh huởng (suy giảm) đến việc bảo tồn và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn quốc gia và vùng đệm
Thu nhập ở đây bao gồm:
+ Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp (lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây công
Trang 13nghiệp, chăn nuôi )
+ Thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp (trồng rừng, chăm sóc quản lý bảo vệ rừng, khai thác, thu hái, bảo quản và sơ chế lâm sản ngoài gỗ, gây nuôi động vật hoang dã )
+ Thu nhập từ thuỷ sản (nuôi cá, nuôi ba ba, )
+ Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống gắn với sử dụng nguyên liệu nông lâm nghiệp của địa phương
+ Thu nhập từ nuôi ong mật, trồng nấm
+ Thu nhập từ các hoạt động dịch vụ và du lịch sinh thái
+ Các thu nhập khác
2.1.2.3.2 Nâng cao thu nhập bền vững
Nâng cao thu nhập bền vững là làm cho lượng thu nhập ngày càng tăng và ổn
định trong một thời gian tương đối dài của hộ gia đình và cộng đồng dân cư mà không làm suy giảm (ảnh hưởng) đến việc bảo tồn và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn quốc gia và vùng đệm
Khái niệm này đặt ra mấy vấn đề chủ yếu sau:
- Lượng thu nhập ngày càng tăng, phù hợp với mặt bằng phát triển thu nhập của dân cư ở các vùng lân cận và cả nước
- Lượng thu nhập này giữ ổn định động trong một thời gian từ 3 đến 5 năm trở lên
- Thu nhập bền vững tính cho từng hộ gia đình nói riêng và cả cộng đồng dân cư nói chung nghĩa là không còn hộ đói, giảm hộ nghèo và tiến tới đạt được mức sống trung bình trở lên của tất cả các hộ dân cư để họ không phải vào rừng khai thác tài nguyên rừng
- Lượng thu nhập này không làm giảm tài nguyên rừng, góp phần bảo tồn và còn phát triển tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn quốc gia và vùng đệm
2.1.2.3.3 Yêu cầu nâng cao thu nhập bền vững
+ Nâng cao thu nhập bền vững đòi hỏi sử dụng bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ trong khuôn khổ pháp luật cho phép (được sự nhất trí của Vườn quốc gia và các cơ quan chức năng) và không làm ảnh
Trang 14hưởng đến bảo tồn và đa dạng sinh học
+ Nâng cao thu nhập bền vững trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số vùng đệm, bảo vệ tính đa dạng văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam
+ Nâng cao thu nhập bền vững đi đôi sử dụng hợp lý, khoa học các nguồn lực hiện có (đất đai, lao động, nguồn nước ngọt ) mà không làm giảm nhu cầu sử dụng trong tương lai
+ Nâng cao thu nhập bền vững là tăng thu nhập cho hộ gia đình thông qua các
hệ canh tác nông lâm kết hợp và áp dụng khoa học công nghệ mới đồng thời không tác động bằng phế thải và phân hoá học
2.1.2.3.4 Điều kiện để nâng cao thu nhập bền vững
+ Sử dụng đất bền vững, phát triển nông nghiệp thâm canh đa ngành
+ Sử dụng hợp lý tài nguyên rừng (chủ yếu là lâm sản ngoài gỗ)
+ Phát triển nhiều ngành nghề, đặc biệt là các ngành nghề thủ công truyền thống trong nước có liên quan đến việc sử dụng triệt để lâm sản gỗ và ngoài gỗ
+ Thúc đẩy (xúc tiến) các hoạt động dịch vụ, khai thác tiềm năng của Vườn quốc gia và vùng đệm, tăng cường hoạt động du lịch sinh thái bền vững
+ Phát triển hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ mới và bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghề cho dân cư tạo ra nguồn nhân lực dồi dào có chất lượng cao
+ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá đặc sắc của từng dân tộc và cộng đồng dân tộc ở Vườn quốc gia và vùng đệm
2.1.3 Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững với bảo tồn đa dạng sinh
học và bảo tồn đa dạng văn hóa
2.1.3.1 Mối quan hệ tương tác trên cơ sở các hộ dân tộc vùng đệm và Vườn quốc gia
Để làm rõ mối quan hệ này, chúng tôi vận dụng lý thuyết hệ thống [34],[76]
Hệ thống được hiểu là một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều
bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận
động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ (phân hệ) Mọi sự vật, hiện tượng
đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn
Mối quan hệ tương tác giữa các hộ dân tộc thiểu số và Vườn quốc gia là hoạt
Trang 15động trong hệ thống kinh tế - xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên
Sự tác động của các hộ dân tộc thiểu số đến tài nguyên rừng để tạo nguồn sinh
kế, trang trải các khoản chi phí là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác
động của các các hộ dân tộc thiểu số gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc và sự tác động này cũng phụ thuộc vào kinh tế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng tài nguyên rừng của cộng đồng dân tộc thiểu số Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của tài nguyên rừng cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của các các hộ dân tộc thiểu số Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa các hộ dân tộc thiểu số với tài nguyên
rừng nên có thể làm giảm thiểu bất lợi của họ tới tài nguyên rừng VQG bằng những
yếu tố kinh tế khác trên cơ sở người dân nhận thức rõ vai trò của tài nguyên rừng với vấn đề sinh kế của hộ dân tộc [33],[60] Đây là lý do đề tài nghiên cứu các phương thức kinh tế dẫn đến tăng các nguồn sinh kế của hộ dân tộc mà không phải là các nguồn thu từ việc tác động đến tài nguyên rừng
Mối quan hệ giữa các hộ dân tộc thiểu số và tài nguyên rừng VQG là hoạt
động có tính xã hội là vì các hoạt động này là của con người Mối quan hệ này bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của tài nguyên rừng, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen sử dụng tài nguyên rừng Mối quan hệ còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hệ thống quản lý tài nguyên rừng, việc thực thi luật bảo vệ phát triển rừng Các tổ chức cộng đồng và những quy định của cộng đồng cũng có ảnh hưởng tới những tác động của đồng bào dân tộc thiểu số và tài nguyên rừng Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc thực thi việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Mối quan hệ giữa các hộ dân tộc thiểu số với bảo tồn tài nguyên rừng liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội, vì vậy đề tài tiến hành nghiên cứu các thể chế chính sách có tác động tới vấn đề thu nhập của các hộ dân tộc với vấn đề bảo tồn tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối
Trang 16quan hệ tương tác chặt chẽ Bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài tới tài nguyên rừng cũng dẫn đến sự thay đổi các thành phần và các chức năng của hệ thống Tài nguyên rừng vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên, vì vậy để đảm bảo hài hoà các mối quan hệ, những tác động của con người tới nó để phát triển kinh
tế cộng đồng phải phù hợp với quy luật tự nhiên và cần phải giảm thiểu tới mức tối đa
những tác động đó
2.1.3.2 Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững với bảo tồn đa dạng sinh
học và bảo tồn đa dạng văn hóa
2.1.3.2.1 Đa dạng sinh học(Biodiversity) gắn với đa dạng văn hoá (Cultural diversity)
- Con ng ười là trung tâm của sự phát triển: Việc thành lập VQG đặt các hộ
dân tộc thiểu số vùng đệm trước những thách thức nhằm đảm bảo sự tồn tại Trên khía cạnh bảo tồn đa dạng sinh học, sự tồn tại và những hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số có thể là một nguy cơ làm suy giảm đa dang sinh học của VQG Trên khía cạnh khác họ là một cộng đồng dân tộc thiểu số hiện đang có những hạn chế trong hội nhập phát triển, đang có nguy cơ mất đi những điều kiện đảm bảo để duy trì sự tồn tại của cộng đồng xét cả trên lĩnh vực kinh tế và thực thể văn hoá Liệu
có công bằng khi không tiếp cận tìm kiếm giải pháp sinh kế trên cơ sở gắn các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn những đặc trưng văn hoá của cộng đồng dân tộc [60]
- Phát huy vốn tri thức bản địa truyền thống của các hộ dân tộc: Các hộ dân tộc thiểu số vùng đệm VQG từ bao đời nay gắn bó với núi rừng và đất rừng, họ đã sáng tạo và tích luỹ được một kho tàng kiến thức sử dụng và quản lý tài nguyên, đặc biệt là các loại tài nguyên rừng và đất rừng, những kiến thức này đã giúp họ thích ứng những hoàn cảnh phức tạp mà điều kiện tự nhiên nơi đây mang lại, mặt khác cũng chính nhờ vốn tri thức đó mà nguồn tài nguyên được bảo tồn đến ngày nay Nếu tạo cơ hội cho các hộ dân tộc thiểu số có thể hưởng lợi một cách hợp lý từ việc bảo tồn thì hơn ai hết họ sẽ là những cộng tác viên tích cực cho sự nghiệp bảo tồn và lúc đó bằng vốn tri thức tích luỹ được cùng với sự hỗ trợ bổ sung cần thiết họ sẽ tham gia quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững [60]
Trang 172.1.3.2.2 Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học
Qua thực tế cho thấy, khi đặt các hộ dân tộc tham gia vào quản lý đa dạng sinh học ở cả vùng đệm sinh thái và vùng nông nghiệp (vùng đệm) sẽ đạt được cả hai mục tiêu là bảo tồn tài nguyên rừng và tăng thu nhập, phát triển kinh tế Từ nhiều thế hệ nay, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó nổi bật là người Dao, các nguồn thu nhập dựa trên canh tác nông nghiệp đất dốc không đủ để nuôi sống họ, công việc làm
ăn còn hạn chế vì thế rừng là nguồn thu nhập, là nơi để sản xuất và tạo việc làm
Kinh nghiệm quản lý vùng đệm ở các VQG cho thấy khi tạo cho người dân cơ hội tiếp cận với tài nguyên rừng thì người dân không chỉ bảo tồn, duy trì và sử dụng hợp lý lâm sản và lâm sản ngoài gỗ mà còn tái tạo tính đa dạng sinh học tại các vùng
đất đồi núi trọc và vùng đất nông nghiệp, vườn nhà Khi vùng đệm được giao cho người dân quản lý để tái tạo và bảo tồn tính đa dạng sinh học thì cộng đồng dân tộc
sẽ quyết định cơ cấu cây trồng đa dạng, lựa chọn các loài có chất lượng, có hiệu quả kinh tế cao, phát huy những kiến thức bản địa về nhân giống, chăm sóc, thu hoạch,
xử lý chế biến, tiếp thị và chi tiêu Rõ ràng đồng bào dân tộc thiểu số hành động nhằm phát triển tính đa dạng sinh học của rừng cùng với phát triển kinh tế nông hộ dựa vào rừng [35]
2.1.3.2.3 Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững và bảo tồn đa dạng văn hoá
- Phải coi việc phát triển kinh tế xã hội vùng đệm, nhất là vấn đề bảo tồn và làm giàu bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số như là một bộ phận hữu cơ của việc bảo tồn và phát triển VQG [42] Cải thiện và ổn định đời sống lâu dài của
đồng bào dân tộc thiểu số ở VQG phải bao gồm cả việc hoạch định các chính sách, các biện pháp phát triển kinh tế- xã hội và văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu
số sinh sống ở trong hay rìa ngoài của VQG
- Không chỉ dừng lại ở mức tạo nên sự gắn kết giữa các hộ cư dân với VQG, mà hơn thế nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn phải coi các dân tộc thiểu số vùng đệm VQG Ba Vì thực sự là người quản lý (người chủ) VQG Muốn đạt tới mục
tiêu đó thì cần phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, trong đó tạo nguồn sinh kế bền vững là một giải pháp trung tâm và hiệu quả nhất để người dân thực sự là một người chủ của VQG Kinh nghiệm mấy chục năm thông qua việc giao ruộng cho hộ nông
Trang 18dân, giao rừng cho cư dân sở tại kinh doanh quản lý dưới sự giúp đỡ, giám sát của Nhà nước đã tạo nên sức bật và sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp nước ta, thì việc bảo tồn VQG cũng nên học tập kinh nghiệm ấy, tránh xu hướng “nhà nước hoá”,
“quốc doanh hoá” mà trên thực tế sẽ không đưa lại kết quả theo mong muốn [60]
- Các hộ dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đệm VQG đã có lịch sử hình thành
và phát triển kinh tế hộ dân tộc hàng ngàn năm, ở họ đã hình thành nên sự thích ứng môi trường, những kinh nghiệm sản xuất, các truyền thống văn hoá và cách thức kiếm sống - sinh kế Một mặt phải tôn trọng các truyền thống văn hoá ấy, coi đó như
là một phần củaVQG cần bảo vệ và tạo điều kiện phát triển, làm giàu có thêm Mặt khác phải nghiên cứu học hỏi các tri thức, kinh nghiệm của các cộng đồng trong thích ứng môi trường, trong hoạt động sản xuất, kế thừa, nâng cao và ứng dụng nó vào việc bảo tồn VQG Đó là các tri thức về rừng, về thế giới động thực vật (dân tộc học thực vật, dân tộc học động vật ), về thời tiết và khí hậu (dân tộc học khí hậu), về kinh nghiệm sản xuất với hệ canh tác xen canh, gối canh, mà hệ quả của nó là vừa khai thác vừa bảo vệ môi trường (dân tộc học nông nghiệp), các kinh nghiệm về quản
lý môi trường và quản lý cộng đồng mà ở nhiều dân tộc được đúc rút thành các phong tục, tập quán, các luật tục Tất cả đó là vốn tri thức dân gian, tri thức bản địa vô cùng quý báu, mà nếu chúng ta biết học hỏi, khai thác, nâng cao và gìn giữ thì sẽ góp phần to lớn vào việc bảo tồn VQG
- Thực tiễn đã cho thấy cộng đồng dân tộc thiểu số thực sự là nhà khoa học liên ngành với vốn kiến thức phong phú của họ Trong thực tế, có những điều người dân biết mà nhà khoa học không biết Đó là những kiến thức bản địa của người dân, kinh nghiệm trong sản xuất, phong tục tập quán, những thay đổi, những chuyển biến trong cuộc sống nông thôn miền Núi, những khó khăn hàng ngày trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc thù Tất cả điều đó đã giúp họ phát triển kinh tế nông hộ một cách bền vững hơn dựa trên nền tảng kiến thức bản địa phong phú
Bảo tồn văn hoá của người dân, của cộng đồng vừa là mục tiêu vừa là phương cách phát triển có hiệu quả Cộng đồng dân tộc thiểu số vùng đệm VQG c ng cần
được tham gia vào các hoạt động bảo tồn, cùng với việc hỗ trợ là trao quyền hành
động cho họ
Trang 192.1.3.3 Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững với mục tiêu bảo tồn Vườn
quốc gia và thị trường
Bảo tồn
Vườn
quốc gia
Tạo nguồn sinh kế
Thị trường
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững với bảo tồn và thị trường
đ t m c tiờu nõng cao thu nh p m t cỏch b n v ng c n làm rừ m i quan h
gi a nõng cao thu nh p b n v ng v i b o t n VQG và v n đ th tru ng Ba vòng tròn hỡnh 2.2 xác định ba mục tiêu khác biệt nhưng lại có mối quan hệ với nhau trong phát triển kinh tế nông hộ ở vựng đ m VQG “Bảo tồn Vườn quốc gia” chắc chắn là một mục tiêu quan trọng nhất đối với VQG, nhưng VQG không thể đạt được mục tiêu này mà không thoả mãn những nhu cầu của người dân địa phương, nhất là các hộ dân tộc thiểu số, những người dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có của VQG để sinh sống Vì vậy “Tạo nguồn sinh kế” là mục tiêu rất quan trọng có liên quan Đối với mục tiêu thứ ba “Phát triển thị trường”, lại là một phương tiện không thể thiếu để cải
thiện và phát triển các nguồn sinh kế Vì vậy muốn nâng cao thu nhập bền vững
cần phải đáp ứng được cả ba mục tiêu Nên phạm vi mục tiêu được quan tâm nhất
được thể hiện ở phần giao điểm của ba vòng tròn [38]
có khả năng được đưa vào nếu như những giải pháp này không có tác động tiêu cực đến những giải pháp khác, nhưng những giải pháp
ưu tiên nên là những giải pháp thuộc phạm vi giao điểm
Thị trường Bảo tồn
Trang 20Nói một cách khác, giải pháp tốt nhất đối với nâng cao thu nhập bền vững là những giải pháp có tất cả các đặc điểm sau đây:
Hiệu quả bảo tồn: Có khả năng hỗ trợ bảo tồn hay sử dụng bền vững
những nguồn tài nguyên
Tính bền vững
của các nguồn sinh kế:
Có khả năng tạo nguồn sinh kế của hộ dân tộc sao cho phù hợp với hoàn cảnh của các hộ, có nghĩa là những giải pháp “có thể áp dụng được” thực sự giúp cho các hộ dân tộc nâng cao thu nhập bền vững
Khả năng đứng
vững trên thị trường:
Có nhiều khả năng thành công trên thương trường
2.1.3.4 Phương pháp tiếp cận nâng cao thu nhập bền vững và bảo tồn Vườn quốc gia
2.1.3.4.1 Quan điểm sinh thái - nhân văn
Thực tế cho thấy rằng bất cứ hoạt động kinh tế - xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi hộ gia đình đều rất đa dạng và phong phú, nó phản ánh đặc điểm sinh thái
và mối quan hệ kinh tế - xã hội Điều này chỉ ra rằng các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này, vào thời điểm này, nhưng lại không phải là như vậy trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Để nghiên cứu sự tác động của các các nhóm dân tộc đến tài nguyên rừng, chúng tôi dựa theo tháp sinh thái - nhân văn của Park đề xuất năm 1936 [43]
Theo Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001), mô hình sinh thái
- nhân văn được thiết kế cho hình tháp dựa trên các hoạt động xã hội của các hộ chịu
sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố theo trình tự: bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức Mô hình này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt động của cá nhân và sự bền vững Dựa trên hình tháp này có thể giải thích: quan hệ giữa tác động của các hộ dân tộc đến tài nguyên rừng và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn tài nguyên rừng là quan hệ có xu hướng nghịch Tức là khi kinh tế - xã hội địa phương càng phát triển,
Trang 21điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và công tác bảo tồn tài nguyên rừng được thực hiện tốt thì những tác động tới tài nguyên rừng sẽ càng giảm Sự tác
động bất lợi của các các hộ dân tộc và tài nguyên rừng đều có cơ sở sinh thái và chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội
Cơ sở sinh thái được giải thích bằng các yếu tố vật lý sinh học, được chia làm
2 loại: những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán, Những yếu tố kiểm soát hoặc hạn chế được cần được nghiên cứu bằng các giải pháp khoa học công nghệ
ảnh hưởng
- Các yếu tố văn hoá
- Các yếu tố thể chế,chính sách
Tác động của
các hộ dân tộc
tới TNR
Bậc đạo đức Bậc thể chế Bậc kinh tế Bậc sinh thái
Hình 2.3: Tháp sinh thái nhân văn nghiên cứu sự tác động của các hộ dân tộc vùng đệm đến tài nguyên rừng
Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của các hộ dân tộc, nhu cầu thị trường Những yếu tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của các hộ dân tộc tới tài nguyên rừng
Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng
đồng ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của các hộ dân tộc đến tài nguyên rừng Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa là văn hoá của các hộ dân tộc và cộng đồng Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể
Trang 22làm thay đổi thái độ và nhận thức của hộ dân tộc và cộng đồng
Theo tháp sinh thái - nhân văn (hình 2.3) thì bất kỳ một giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động tới tài nguyên rừng, bảo tồn rừng và phát triển vùng đệm
đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế - xã hội của
hộ dân tộc và cộng đồng dân tộc
2.1.3.4.2 Quan điểm bảo tồn - phát triển
Trong nhiều năm qua, khi gặp trở ngại trong việc quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia, đặc biệt là những Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia
được thành lập tại những vùng có mật độ dân cư cao, nhiều nước trên thế giới đã quan tâm đến việc làm sao quản lý được các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia và
đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương Đây là lý do dẫn đến sự hình thành các quan điểm bảo tồn - phát triển
Theo Gilmour, D.A và Nguyễn Văn Sản (1999) [19], quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, nói chung bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) sau:
- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển các hộ dân tộc thiểu số tại địa phương đó
có thể được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên
sẽ được giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế
- Thứ hai là nếu các hộ khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến
việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của các hộ dân tộc vẫn còn chưa được
đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để họ
có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: Cách tiếp cận phát triển kinh tế.
- Thứ ba là các hộ dân tộc đó cũng được đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi ít nhất một số nhu cầu cơ bản của đồng bào dân tộc có thể được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận tham gia quy hoạch
Những tác động của các hộ dân tộc ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên rừng Tuy
Trang 23nhiên, với tình hình thực tế tại Vườn quốc gia Ba Vì, để cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, chưa thể đưa ra các giải pháp làm triệt tiêu được ngay các tác
động nói trên Đồng thời cũng không thể nào không quan tâm tới nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên rừng của Vườn quốc gia Mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất được giải pháp làm giảm thiểu được tác động của các hộ dân tộc thiểu số vùng đệm vào tài nguyên rừng, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phương Vì vậy, trong nghiên cứu này, cách tiếp cận thứ nhất, thứ hai và thứ ba được áp dụng để thực hiện nội dung nghiên cứu
2.1.3.4.3 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu
Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động vào chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các ý tưởng của họ về tài nguyên rừng với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các ý tưởng được nêu ra Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ của
sự tham gia từ thấp đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức [61],[34], [50]
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong
đó các hộ dân tộc tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính các hộ dân tộc, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa
phương như sự ủng hộ quyền sử dụng tài nguyên rừng, các giải pháp giải quyết xung đột
2.2 Thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập và bảo tồn trên thế giới
Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới xấp xỉ 1,13 tỉ Theo thống kê, diện tích rừng của Trung Quốc tổng cộng là 10.137 tỉ m2 với tỉ lệ đất phủ rừng là
Trang 2413,29% chiếm 3% diện tích toàn thế giới Trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, dân tộc Dai ở Vân Nam đã nổi tiếng là thông minh vận dụng thiên nhiên một cách tinh vi và kinh tế
Trong thời gian dài thực hành các loại cây, người Dai đã tìm ra phương pháp
nhận diện "tìm ra cái khác trong giống, tìm ra cái giống trong các khác nhau", xây dựng "hệ thống hai chỉ định để phân loại cây" Họ giáo dục con cháu họ cách sử
dụng các loại cây từ đời này sang đời khác dưới dạng các bài thơ trào phúng và các câu tục ngữ do tổ tiên để lại Ví dụ khi thu hoạch tre, độ dài nhất có thể cắt đốn đi
nên ngắn hơn 25% tổng độ dài, những câu tục ngữ "Đốn tre chừa lại búp non" Sử
dụng tài nguyên thực vật một cách thích hợp, bền vững trong thời gian dài, dân tộc Dai đã hình thành nền văn minh canh tác riêng của họ Người Dai đã hiểu ra lợi ích
của việc bảo vệ rừng: "không có rừng thì không có n ước, không có nước thì không có
được quyền thực hiện việc săn bắn truyền thống ở Vườn quốc gia Sagarmatha tại vùng núi Everest, người ta đã đem lại quyền lợi cho người dân tộc Sherpa và thu hút
họ vào làm cho Vườn quốc gia theo chế độ người gác rừng
Các dẫn chứng trên cho thấy rằng vai trò to lớn của cộng đồng dân tộc địa phương trong việc bảo vệ rừng và Khu bảo tồn Họ gìn giữ những tri thức bản địa vô cùng phong phú và đa dạng, tự nguyện bảo vệ nơi sinh sống một cách bền vững
Thực tiễn ở nhiều VQG trên thế giới cho thấy rằng thu hút người dân tham gia tích cực vào các hoạt động VQG đã đem lại thành công ngoài sự mong muốn Nhưng
Trang 25để sự thành công có tính bền vững các VQG cũng rất chú trọng đến việc tạo nguồn sinh kế cho người dân đóng góp tích cực vào các hoạt động bảo tồn [60]
ở Peru có “Khu dự trữ sinh quyền phía Bắc” tổng diện tích 226.300 ha thực hiện chương trình quản lý do CIDA - WWF tài trợ, tổ chức việc hợp tác với nhân dân
địa phương Dân địa phương làm hướng dẫn viên dã ngoại, tư vấn về các loài hoang dã, làm người hỗ trợ trong các nghiên cứu thiên nhiên Từ các hoạt động đó người dân địa phương vừa góp phần bảo vệ tài nguyên rừng vừa nâng cao được thu nhập
ở Venezuela, tại Vườn quốc gia bán đảo Paria, thực hiện chương trình phát triển hợp lý của cộng đồng, trong đó có các hoạt động phát triển, giáo dục và nghiên cứu Vườn quốc gia Provita có dự án lớn: (i) Đưa vào ứng dụng các phương pháp canh tác lâu bền cho cộng đồng dân tộc địa phương; (ii) Triển khai các hoạt động làm ăn, sinh sống mới để tạo thu nhập cho dân, như vườn nhà, nuôi ong, du lịch sinh thái
Thông qua các hoạt động này đã trợ giúp cộng đồng dân tộc biết được các phương thức canh tác khoa học trên mảnh đất của mình để tăng thu nhập từ sử dụng đất hợp lý
Tại Niger có Khu dự trữ thiên nhiên Air - Tenere với diện tích 77.000 ha giúp
đỡ người dân phát triển kinh tế gia đình bằng cách thu hút và tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các hoạt động du lịch xã hội, tạo các việc làm mới cho người dân và trích một phần thu nhập từ khu bảo vệ chuyển cho cộng đồng nhân dân địa phương (xây dựng trường học, bệnh viện )
Nepal là một nước nằm trong khu vực châu á có khá nhiều các VQG và khu BTTN Tại khu vực bảo tồn nổi tiếng thế giới Annapurna hiện có 40.000 dân đang sinh sống Từ 1986 VQG Annapurna tiến hành dự án ACAP (Annapura Consevation Area Projiect) nhằm đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Dự
án tiến hành các hoạt động dựa trên sự tham gia của nhân dân địa phương (50% nhân viên ACAP) Dự án tập trung chủ yếu vào nhân dân địa phương và coi họ như là những người hưởng thụ dự án Ngoài ra còn thu hút nhân dân vào các khâu trong quá trình dự án, từ việc thành lập quy hoạch, kế hoạch đến các quyết định và quá trình triển khai thực hiện Thông qua đó dự án thực hiện nguyên tắc bền vững: bền vững về tài chính của dự án và bền vững về khai thác tài nguyên
Trang 262.3 Vấn đề nâng cao thu nhập của cư dân và bảo vệ vườn quốc gia ở Việt Nam
2.3.1 Quản lý vùng đệm - những khó khăn và thách thức
Để có thể hiểu được phần nào tình trạng hiện nay của các vùng đệm, ta thử xem lại lịch sử thành lập Vườn quốc gia Các Vườn quốc gia ở nước ta được chọn để thành lập tại những vùng mà thiên nhiên ở đó chưa bị tàn phá nhiều và phần đất đó trước
đây thuộc nhiều xã của vài ba huyện nằm trọn trong một hay nhiều tỉnh Cũng có Vườn quốc gia, ngoài ranh giới tiếp giáp với các xã còn có phần ranh giới tiếp giáp với một hay hai Xí nghiệp Lâm nghiệp Nhà nước Có Vườn quốc gia lại có phần ranh giới là biên giới của nước ta và các nước lân cận như Lào hay Campuchia, hay có Vườn quốc gia lại tiếp giáp với biển cả như VQG Cát Bà, VQG Côn Đảo, Khu bảo tồn Xuân Thuỷ Xung quanh các Vườn quốc gia thường có nhiều dân cư sinh sống đã
từ lâu đời hay mới di cư đến và đa số là dân nghèo, trình độ dân trí thấp, ít nhiều sống dựa vào các sản phẩm của rừng hoặc các hệ sinh thái có liên quan Mức độ phức tạp của vấn đề vùng đệm thuộc từng Vườn quốc gia thay đổi tuỳ theo tình trạng cụ thể về dân cư và kinh tế - xã hội ở xung quanh Vườn quốc gia đó
Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý vùng đệm là số dân sinh sống ở phía ngoài, sát với Vườn quốc gia, thậm chí cả bên trong đã tạo sức ép nặng nề lên Vườn quốc gia Họ phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm của rừng và do đó ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ Nguyên nhân chính của mất rừng là đói nghèo và dân số tăng nhanh Theo Võ Quý (1998) rừng và tài nguyên rừng là “bát cơm manh áo” của người nghèo Cấm người nghèo không
được lấy “bát cơm” trước mắt họ là không thể được, và thậm chí không cho phép về phương diện nhân đạo Con đường hợp lẽ nhất cho công tác bảo vệ ở đây là tìm cách thay thế “bát cơm đó” bằng “bát cơm” khác cho những người nghèo [35], [12]
Kinh nghiệm chứng tỏ rằng trong những trường hợp tương tự, thì công tác bảo
vệ theo pháp luật là khó thành công Đường ranh giới có biển báo, trạm gác, bắt bớ, tịch thu, giáo dục cũng không thể ngăn cấm họ xâm phạm Vườn quốc gia và nếu không có biện pháp thích hợp để ngăn chặn kịp thời thì chẳng bao lâu Vườn quốc gia
sẽ bị xuống cấp Phải có hệ thống tổ chức mới và cách giải quyết mới, nhằm thoả
Trang 27mãn được nhu cầu trước mắt của nhân dân mà không gây nguy hại đến mục tiêu lâu dài của Vườn quốc gia mới có thể cứu thoát sự suy thoái của các khu này Kinh nghiệm cho thấy rằng hợp tác với nhân dân địa phương và chấp nhận những yêu cầu cấp bách của họ là biện pháp bảo vệ có hiệu quả hơn là chỉ có biện pháp hàng rào, ngăn cấm, tuần tra và xử phạt Tức là các Vườn quốc gia phải làm thế nào để tạo cho
họ một nguồn thu nhập ổn định tương đối lâu dài
Do chưa có chính sách rõ ràng về vùng đệm, không có quy định và hướng dẫn
cụ thể về quản lý vùng đệm, cho dù ở một Vườn quốc gia đã xây dựng vùng đệm, nhưng các ban quản lý Vườn quốc gia đó và cả các cấp chính quyền liên quan đến vùng đệm vẫn gặp phải một số khó khăn đã trong khi tổ chức và quản lý vùng đệm:
- Vùng đệm thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương (xã, huyện, tỉnh), nhưng thường chính quyền địa phương ít quan tâm đến Vườn quốc gia vì họ không hiểu rõ tầm quan trọng của Vườn quốc gia đối với địa phương họ; họ không được lợi gì mà còn bị mất đi một số quyền lợi vì họ không còn được quản lý khu vực đó như trước; không hiểu ý nghĩa của vùng đệm đối với Vườn quốc gia [40]
- Nhân dân địa phương, đa số là nghèo, dân số tăng nhanh, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập Vườn quốc gia không đem lại lợi ích gì cho họ, mà họ chỉ bị thiệt vì không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như trước Trong lúc
đó, có một số Vườn quốc gia do tổ chức du lịch, có dự án, lấy thêm nhân viên cho Vườn quốc gia mà người dân địa phương không được ưu tiên tham gia và cũng không
được chia sẻ mối lợi có được từ Vườn quốc gia
- Việc ngăn chặn sự xâm phạm tài nguyên thiên nhiên thuộc Vườn quốc gia từ dân vùng đệm và cả dân ngoài vùng đệm không có cơ quan chỉ đạo thống nhất Tại một địa phương có thể có nhiều cơ quan cùng làm việc đó, như kiểm lâm huyện, nhân viên bảo vệ của Vườn quốc gia, công an, chính quyền xã địa phương, Các cơ quan này mạnh ai nấy làm, nhiều khi tạo nên mâu thuẫn, khó giải quyết [60]
- Chính quyền tỉnh, trung ương và các bộ, ngành có liên quan như Bộ NN & PTNT, Bộ TN&MT có quan niệm đúng đắn về vùng đệm của các Khu bảo tồn và Vườn quốc gia, chưa chỉ đạo, hướng dẫn chính quyền địa phương cách quản lý vùng
đệm, khác với cách quản lý các vùng khác như thế nào ? có những điểm gì cần lưu ý?
Trang 28- Các chương trình Nhà nước như Chương trình 327/556, Chương trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình tín dụng và nhiều chương trình của các tổ chức ngoài Chính phủ (NGOs) thực hiện ở các xã thuộc vùng đệm cũng chưa chú ý nhiều đến vai trò của vùng đệm đối với VQG và mục tiêu bảo tồn
Để có thể bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và các VQG nói riêng “ cần phải dành ưu tiên cho các dự án hỗ trợ dân chúng các vùng đệm, áp dụng các thành tựu công nghệ tiên tiến, nâng cấp hạ tầng cơ sở, cải thiện đời sống xã hội, nhằm mục
đích đảm bảo thu nhập ổn định cho nhân dân, nhờ đó ngăn chặn việc tiếp tục xâm lấn vào các khu bảo tồn” (Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học, 1995) [12]
2.3.2 Chính sách bảo vệ phát triển vùng đệm
Có thể nói chưa bao giờ các địa phương lại quan tâm đến công tác bảo tồn thiên nhiên như bây giờ, tuy nhiên việc xây dựng và bảo vệ khu bảo tồn mới là điều cần phải quan tâm hàng đầu Trên 40 năm kể từ ngày Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập (7/7/1962), công tác quản lý các khu bảo tồn đã cho ta thấy rõ một thực tế là: đời sống của dân cư sống quanh Vườn quốc gia gắn liền với Vườn quốc gia G n 90% các hoạt động thu hái, săn bắt và khai thác có giá trị về đa dạng sinh học được thực hiện bởi người ngoài Vườn quốc gia, hay nói cách khác là người sống ở vùng
đệm Các nhà bảo tồn đã nhận thức một cách chắc chắn rằng: đầu tư vào vùng đệm để nâng cao nhận thức bảo tồn, nâng cao đời sống của người dân vùng đệm làm giảm
áp lực về nhu cầu khai thác tài nguyên của Vườn quốc gia, làm cho hoạt động bảo tồn
có hiệu quả hơn Mặc dù biết vậy, nhưng cho đến nay chưa có một chính sách cụ thể riêng biệt nào chuyên đầu tư cho vùng đệm các Vườn quốc gia, nhưng trong thực tế chỉ đạo các chính sách khác có nhằm vào giải quyết những vấn đề của vùng đệm được thể hiện ở một số chương trình lớn như sau:
2.3.2.1 Chương trình 327
Chương trình 327 là một chương trình lớn nhằm hỗ trợ cho sự phát triển rừng,
được triển khai từ năm 1992 theo quyết định số 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch
H BT về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bồi bãi ven biển và mặt nước Các mục tiêu ban đầu của chương trình nhằm khuyến khích trồng lại, bảo vệ rừng, cải thiện việc sử dụng đất, tăng thêm diện tích rừng đặc dụng,
Trang 29rừng phòng hộ đầu nguồn và nâng cao đời sống, hỗ trợ cho chương trình định canh,
định cư
Để giảm nghèo và hỗ trợ cho định canh, định cư, sự hỗ trợ còn được cung cấp
để đẩy mạnh chăn nuôi, lương thực và cây công nghiệp Mỗi hộ trong vùng dự án
được cấp một diện tích đất nhất định để trồng lại rừng, bảo vệ và làm giàu hoặc tái sinh rừng, đất được cấp cho mỗi hộ phụ thuộc quỹ đất sẵn có, ngân sách, khả năng lao động và điều kiện kinh tế của hộ Khoảng 60% vốn được cấp có thể dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết bị khoa học và kỹ thuật, phúc lợi xã hội, trồng cây gây lại rừng trên đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, vốn được cấp dưới dạng cho không
và không phải hoàn trả 40% vốn còn lại của dự án được cấp cho các hộ để thực hiện các hoạt động sản xuất và phải hoàn trả lại nhưng không phải trả lãi Vốn của các chương trình lấy từ các nguồn vốn thu thuế tài nguyên, khoản vay ngân hàng và các
tổ chức quốc tế, tổng cộng số vốn cấp cho Chương trình 327 ban đầu còn nhỏ (khoảng 11,7 triệu USD trong năm 1993), nhưng tăng đáng kể và đạt 56,4 triệu USD vào năm 1995
Mặc dù những sự đầu tư đó được coi là mang ý nghĩa rất lớn, nhưng chương trình 327 là quá rộng, làm giảm bớt ý nghĩa của việc đầu tư
Để điều chỉnh Chương trình 327, ngày 12/9/1995, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 556/TTg, chuyển trọng tâm các hoạt động của Chương trình 327 theo hướng tập trung đầu tư ở rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thông qua việc trồng cây
và các mô hình nông lâm kết hợp và chủ yếu là dựa vào nông dân để thực hiện chương trình này Quyết định tập trung Chương trình 327 vào các vùng rừng phòng
hộ, đặc dụng, trong đó có vùng đệm và tăng cường sự tham gia của nông dân là những thay đổi chính Tuy nhiên, vào năm 1997, chỉ có 8 Vườn quốc gia (Ba Vì, Bạch Mã, Bến En, Cát Bà, Cúc Phương, Tam Đảo và Yok Don) dưới quyền quản lý của Bộ NN&PTNT, nhận được đầu tư thêm trong khuôn khổ Chương trình 327/556 với tổng số vốn đầu tư là 1,4 triệu USD, ngân sách giành cho các hoạt động trong vùng đệm vẫn còn nhỏ so với ngân sách chi cho các hoạt động bên trong khu bảo tồn
2.3.2.2 Chương trình 5 triệu ha rừng
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 29 tháng 6 năm 1998 (Quyết định số
Trang 30661/QĐ-TTg và thông tư liên bộ (28/1999-TT-LT) tiếp theo đã đặt chính sách, mục tiêu và hướng dẫn thực hiện những hoạt động đầy triển vọng tiếp nối chương trình trồng mới 5 tiệu ha rừng từ năm 1998 đến 2010 được thực hiện bằng nhiều cách với 3 mục tiêu cơ bản:
- Trồng mới 5 triệu ha rừng để tăng độ che phủ của rừng lên 43% so với tổng diện tích tự nhiên, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học
- Sử dụng diện tích đất trống để tạo việc làm, góp phần xoá đối giảm nghèo,
định canh, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, đặc biệt là dân tộc thiểu số, đảm bảo ổn định chính trị và xã hội, an ninh quốc phòng
- Cung cấp gỗ cho các ngành công nghiệp, củi than và các lâm sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền Núi
Một nguyên tắc chỉ đạo chính của chương trình sẽ được thực hiện thông qua các
dự án có sự tham gia của người dân, về ngân sách cho chương trình này tương tự như
đối với chương trình 327 và các mức đặt ra để trả cho các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, mức 50.000/ha/năm cho các hoạt động bảo vệ rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng
2.3.3 Mối quan hệ giữa tăng thu nhập các hộ dân tộc thiểu số và bảo tồn V ườn
quốc gia ở một số V ườn quốc gia nước ta
Thực trạng chung của các Vườn quốc gia là phải đối mặt với nạn khai thác rừng trái phép của người dân vùng đệm sống xung quanh Dân cư ngày càng đông,
đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn đã tác động mạnh mẽ đến sự bảo tồn Vườn quốc gia bằng việc đốt rừng làm rẫy, khai thác gỗ và các tài nguyên rừng trái phép Xuất phát từ mưu cầu kiếm sống, nhu cầu sinh kế người dân đã tác động một cách không có ý thức vào tài nguyên rừng làm cho tài nguyên rừng đã cạn kiệt ngày càng cạn kiệt hơn Để giải quyết vấn đề này, các Vườn quốc gia đã thực hiện hàng loạt các biện pháp nhằm ngăn chặn sự xâm hại của người dân vùng đệm vào rừng
2.3.3.1 Vườn quốc gia Cát Tiên
Cùng với chính quyền địa phương quan tâm đến cuộc sống người dân vùng
Trang 31đệm: Hỗ trợ tạo thu nhập góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho người dân địa phương bằng các chương trình của các dự án; phát triển các mô hình khuyến nông, khuyến lâm, phát triển kinh tế vườn hộ
Hiện nay, Vườn quốc gia Cát Tiên đang tiến hành các dự án: (1) Dự án bảo tồn VQG Cát Tiên (dự án vùng lõi); (2) Dự án bảo vệ rừng và phát triển nông thôn (dự án vùng đệm); (3) Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; (4) Dự án bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật bản địa quý hiếm
Vườn đã bàn với chính quyền địa phương về các biện pháp tiến hành dự án để sớm đem lại quyền hưởng dụng đến cho người dân địa phương được nhanh nhất, sớm nhất, hiệu quả nhất đáp ứng được sự mong đợi của người dân trong vùng dự án
Các chương trình đã và đang thực hiện:
+ Trồng rừng cây gỗ lớn với các loài cây ăn quả: Bước đầu đã đầu tư cho một
số hộ ở các xã vùng đệm trồng 100 ha cây ăn quả giống mới, kết hợp trồng cây rừng vành đai Dự án cấp giống cây, tiền chăm sóc năm đầu, sản phẩm người dân được hưởng 100% Bằng phương thức này đã giúp cho người dân có những vườn cây ăn quả có năng suất và chất lượng cao, nâng cao thu nhập cho người dân vùng đệm
+ Trồng cây gỗ mọc nhanh phân tán để giải quyết nhu cầu chất đốt và gỗ xây dựng
+ Phát triển ngành nghề truyền thống cho đồng bào dân tộc Châu Mạ và đồng bào Stiêng như phát triển các mặt hàng thổ cẩm, đan, rèn do giáo viên là người đồng bào dân tộc địa phương huấn luyện Vườn quốc gia tổ chức lớp học, trả lương cho giáo viên và tài trợ học phí cho học viên, cung cấp nguồn nguyên liệu, giúp họ có nơi tiêu thụ sản phẩm Ngoài giờ làm, họ còn có thời gian để học văn hoá xoá mù chữ, biết đọc biết viết Bằng các hoạt động này đã có tác động thiết thực đến đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của người đồng bào dân tộc, giúp họ an tâm và hoà nhập vào phương thức làm ăn mới, bỏ được tập quán sống dựa vào tài nguyên rừng
+ Phát triển các mô hình khuyến nông, khuyến lâm nhằm phát triển kinh tế vườn, kinh tế hộ gia đình, bao gồm: mô hình trồng dâu nhân giống mới kết hợp xây dựng nhà xưởng ươm tơ, mô hình nuôi gà thả vườn, mô hình phát triển giống tiêu lai, mô hình chăn nuôi lợn kết hợp xây dựng bếp Biogas cho các hộ thiểu số, mô hình canh tác bền vững trên đất dốc kết hợp chăn nuôi bò
Trang 32Ngoài ra để phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của người dân địa phương, giữ gìn và phát huy cảnh quan môi trường sinh thái của rừng, Vườn quốc gia Cát Tiên đã
đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái có người dân tham gia Vườn đã có kế hoạch
đào tạo các hướng dẫn viên du lịch là người dân tộc bản xứ và quy hoạch các điểm du lịch ở các khu vực vùng đệm như Nam Cát Tiên, Đắc Lua Khuyến khích các cộng
đồng đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch, sản xuất các mặt hàng truyền thống như dệt thổ cẩm, điêu khắc, hội hoạ, đan rèn để họ được hưởng dụng những lợi ích hợp pháp từ rừng đồng thời tăng cường trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong công tác bảo vệ Vườn quốc gia Cát Tiên
Từ các hoạt động phát triển kinh tế VQG Cát Tiên đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển kinh tế xã hội, góp phần hạn chế các tác động
vi phạm và nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, đồng thời tạo các nguồn thu nhập lâu bền cho đồng bào dân tộc thiểu số
2.3.3.2 Vườn quốc gia Pù Mát
Thực tiễn cho thấy việc thành lập VQG Pù Mát đã cắt đi nguồn sinh sống của không ít hộ nông dân nghèo, thêm vào đó là việc tư nhân hoá rừng đất rừng, sự suy thoái của rừng cộng đồng, quỹ đất hạn hẹp với phương thức canh tác truyền thống,
đời sống kinh tế nghèo đói, mật độ dân số tăng cao, trình độ học vấn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, những điều đó không chỉ là mối đe doạ đối với VQG Pù Mát mà còn làm cho người dân luôn ở trong vòng luẩn quẩn "đói nghèo → suy thoái tài nguyên
→ nghèo đói" Đó là những mối đe doạ với VQG Pù Mát và là những thách thức đối với sự phát triển kinh tế nông hộ và cộng đồng dân tộc nông thôn vùng đệm Pù Mát
Chính vì vậy VQG xác định quan điểm chiến l ược phát triển vùng đệm là bảo vệ khu
bảo tồn và phát triển nông thôn dân tộc vùng cao
- Phát triển vùng đệm dựa trên cơ sở cộng đồng và người dân
VQG phối hợp với Nhà nước thông qua các chính sách đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực, sau đó cộng đồng và người dân cụ thể hoá chính sách thành các biện pháp
và thực hiện chính sách Người dân và cộng đồng trực tiếp thực thi các hoạt động liên quan đến việc bảo tồn Giải pháp ở đây là trao quyền quản lý, hỗ trợ phát triển kinh tế
và giáo dục bảo tồn cho cộng đồng và người dân
Trang 33- Vùng đệm giảm áp lực với khu bảo tồn
VQG làm giảm áp lực đối với khu bảo tồn thông qua phát triển vùng đệm với
3 giải pháp Thứ nhất, hình thành vùng đệm sinh thái với phương thức sử dụng bền vững tài nguyên rừng và đa dạng lâm sản ngoài gỗ Thứ hai trao quyền cho công
đồng địa phương tham gia quản lý rừng, đất rừng Thứ ba nâng cao sức mạnh cho
người dân tộc địa phương về mặt kinh tế - xã hội để giảm bớt các nguyên nhân gây sức ép lên khu bảo tồn
- Vùng đệm nâng cao đời sống của người dân tộc thiểu số địa phương
Việc phát triển vùng đệm là nhằm hai mục đích: vùng đệm vừa có tác dụng bảo vệ rừng vừa nâng cao đời sống của người dân tộc thiểu số địa phương Vùng đệm với những hoạt động nông lâm nghiệp là một trong những nguồn thu nhập chủ yếu cho nông hộ ở vùng đệm Pù Mát, thu nhập từ nông nghiệp chiếm 61,5%, thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp 26,7% [21]
Với đặc điểm kinh tế tự cấp tự túc, thu nhập thấp và thiếu việc làm của nông
hộ vùng đệm Pù Mát, đòi hỏi những giải pháp có liên quan tới sử dụng đất rừng ở vùng đệm và cả rừng ở vùng đệm sinh thái Để phát triển kinh tế hộ vùng đệm VQG
Pù Mát đã có một số giải pháp sau: thứ nhất tạo thêm những nguồn thu nhập cho người dân địa phương; thứ hai là bảo vệ các nguồn lực cho các sản phẩm ở vùng đệm sinh thái; thứ ba là đa dạng hoá các nguồn thu nhập hoặc tạo cơ sở điều kiện tái tạo
chế biến lâm sản hoặc phát triển sản phẩm rừng ở cấp nông hộ
2.3.3.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ
Khu bảo tồn Kẻ Gỗ có diện tích 28.000 ha với số dân hơn 53.000 người, phần lớn là nông dân nghèo Trong những lúc nông nhàn, nhiều người ở các xã vùng đệm
và các xã khác trong vùng thường hay vào rừng Kẻ Gỗ khai thác gỗ, lá nón, song, mây hay săn bắt động vật Để tự nuôi sống nhiều người buộc phải vào rừng kiếm thêm các lâm sản, bán lấy tiền mua gạo Nhưng nếu công việc này cứ tiếp diễn thì rừng sẽ lùi dần, để lại phía sau là đồi núi trọc, trơ sỏi đá Diễn biến mất rừng ở đây chủ yếu là do kết quả khai thác gỗ, củi (thu cả cành, lá và đào cả gốc) Tiếp theo là chăn thả trâu bò, dê theo kiểu nuôi tận dụng, quảng canh, đốt đồi cây bụi vào mùa khô để cỏ mọc
Trang 34Để động viên nhân dân tự nguyện bảo vệ rừng, bảo vệ các loài động vật, Khu BTTN Kẻ Gỗ đã tìm các biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống kinh
tế, văn hoá bằng cách sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được rừng và thiên nhiên trong vùng thông qua các dự án vùng đệm, tiêu biểu là dự án của Tổ chức Oro Verde - Cộng hoà liên bang Đức thực hiện từ năm 1993
Thực hiện dự án, khu bảo tồn đã công tác chặt chẽ với chính quyền và nhân dân địa phương, thảo luận với họ để họ tự quyết định mọi công việc, chọn công việc
ưu tiên và họ tham gia vào mọi khâu thực hiện Bằng cách lấy ý kiến của dân, dự án
đã đề xuất một số hành động cụ thể nhằm giúp nhân dân địa phương nâng cao mức sống và giảm dần việc khai thác các tài nguyên rừng một cách bừa bãi bằng cách nâng cao nhận thức của họ về tác dụng của rừng đối với cuộc sống của họ, giới thiệu cho họ một số kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, nông lâm kết hợp, vườn cây ăn quả, vườn rừng, trồng cây rừng để họ tự lựa chọn
Thể theo ý kiến của cộng đồng, dự án đã hỗ trợ nhân dân địa phương tăng năng suất lúa bằng giống mới phù hợp với địa phương, thực hiện hệ thống nông lâm kết hợp, tổ chức trồng cây ăn quả với các giống đã được tuyển trọn (bưởi, cam, quýt, hồng ), nuôi ong, xây dựng thuỷ điện nhỏ cho gia đình, xây dựng trường học, tổ chức quỹ tín dụng cho phụ nữ, Khu bảo tồn đã huấn luyện nhân dân cách xây dựng
và quản lý vùng đệm và tìm cách để chứng minh cho họ thấy rằng họ có khả năng sử dụng một cách bền vững tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở đó và tự nguyện giảm bớt sức ép lên rừng Sau 3 năm thực hiện dự án, nhân dân đã nhận thức được rằng rừng
đem lại lợi ích thiết thực cho họ: rừng đã cung cấp nước cho nhân dân xã để nuôi cá, sản xuất điện, tăng năng suất lúa, hoa rừng cho ong mật và họ đã tự nguyện tổ chức việc quản lý rừng Nhiều vườn cây ăn quả của gia đình đã được cải tạo và bắt đầu thu lợi Không còn cảnh thường xuyên có hàng đoàn người lũ lượt vào rừng chặt gỗ, săn bắt động vật rừng như trước nữa
Sau khi người dân đã nhận thức được việc bảo vệ rừng là quan trọng đối với cuộc sống của họ, họ đã đề nghị được có một khu rừng riêng để họ có quyền chủ
động bảo vệ và đồng thời bảo vệ cả đa dạng sinh học trong đó
Đời sống nhân dân đã được cải thiện, rừng đã được bảo vệ vì họ nhận thức
Trang 35được rằng bảo vệ rừng là có lợi cho bản thân họ Việc khai thác bừa bãi gỗ và các tài nguyên thuộc Khu bảo tồn Kẻ Gỗ đã giảm đi rất nhiều, nhân dân đã tự nguyện phá bỏ hàng trăm chiếc thuyền nan mà trước đây họ dùng để vào rừng chặt trộm gỗ, đốt than Với sự hỗ trợ của dự án, nhân dân cả 7 xã đã có đủ lúa ăn, họ đã xây dựng hàng ngàn vườn cây ăn quả với giống tốt, đẩy mạnh chăn nuôi, nhất là nuôi lợn, trồng cây rừng làm bếp tiết kiệm Hiện nay sau khi kết thúc dự án, một số xã đang tham gia thực hiện dự án nghiên cứu phát triển các sản phẩm ngoài gỗ của rừng
2.3.4 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn
- Chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên là đúng đắn nhưng thực hiện chủ trương
đó đã làm giảm phần quan trọng nguồn thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số vùng
đệm Trong khi đó các chính sách và giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, đảm bảo
đời sống còn bất cập dẫn đến thiếu việc làm và đời sống khó khăn; do đó đồng bào dân tộc phải tiếp tục khai thác làm suy giảm tài nguyên rừng rừng để kiếm sống
- Vùng đệm phải được xem như là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho các VQG Vì vậy các chính sách cho phát triển kinh tế xã hội ở vùng đệm phải ưu tiên hơn Các chính sách này cần phải đảm bảo công ăn việc làm cho dân sống tại vùng đệm
-Việc nghiên cứu các giải pháp và xây dựng các mô hình phát triển sản xuất phù hợp với tiềm năng của địa phương (đất đai, vốn, lao động, tài nguyên ) làm tăng thu nhập và nâng cao dần đời sống của người dân là rất cấp thiết
- Nhà nước có những chính sách vĩ mô tạo điều kiện cho người dân vùng đệm
được quyền hưởng dụng những lợi ích từ vườn quốc gia mang lại như các dự án đầu tư phát triển cộng đồng vùng đệm, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực, cho vay vốn, tham gia trực tiếp vào công việc xây dựng và bảo vệ tài nguyên rừng để nhận được những lợi ích thiết thực từ những việc làm đó
- Sự phát triển mạnh các hoạt động kinh tế các vùng đệm chắc chắn sẽ tạo thêm được nhiều thu nhập bền vững cho dân cư địa phương
Trang 36III đặc điểm cơ bản địa bàn nghiên cứu
và Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Toàn bộ quá trình nghiên cứu của đề tài gồm 4 bước: (1) Nghiên cứu lý thuyết; (2) Nghiên cứu thực trạng; (3) Nghiên cứu đề xuất; (4) Nghiên cứu giải pháp cụ thể Quá trình nghiên cứu được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 3.1: Kết cấu hoạt động nghiên cứu của đề tài
(1) Nghiên cứu lý thuyết
(tài liệu tham khảo & soạn thảo tài liệu)
Cơ sở lý luận về nâng cao thu nhập
bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia bền vững và vấn đề bảo vệ vườn quốc gia Cơ sở thực tiễn giữa nâng cao thu nhập
trong và ngoài nước
Cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu vận dụng
(2) Nghiên cứu thực trạng
(Điều tra, khảo sát, viết đề tài)
- Đặc điểm cơ bản khu vực nghiên cứu
- Thực trạng thu nhập và chi phí của hộ dân tộc thiểu số ở Vân Hoà, Ba Vì và Khánh Thượng
- Thực trạng tiêu dùng và tiết kiệm của các hộ dân tộc thiểu số, những kết quả và hạn chế
- Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm VQG Ba Vì
(3) Nghiên cứu đề xuất
- Quan điểm nâng cao thu nhập bền vững các hộ dân tộc thiểu số: những lợi thế và thách thức
- Định hướng giải pháp nhằm nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số vùng đệm nghiêncứu: sử dụng đất bền vững; sử dụng hợp lý đi đôi với bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học của rừng;phát triển hoạt động du lịch dịch vụ sinh thái; phát triển ngành nghề…
Trang 373.2 Đặc điểm cơ bản khu vực nghiên cứu Vườn quốc gia Ba Vì
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên
3.2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây theo quy hoạch có tổng diện tích tự nhiên 6.786
ha gồm hai phân khu chức năng: phân khu bảo tồn nguyên vẹn từ cốt 400m trở lên, phân khu phục hồi sinh thái từ độ cao cốt 100m đến cốt 400m, dưới cốt 100m là vùng
đệm có tổng diện tích 13.711,11 ha thuộc 7 xã miền núi huyện Ba Vì Vườn quốc gia
Ba Vì là một trong 13 Vườn quốc gia của Việt Nam, nằm ở phía Tây thủ đô Hà Nội với khoảng cách trên 50 km theo đường Quốc lộ 21A và đường 87, có toạ độ địa lý:
210 01’ đến 210 07’ vĩ độ Bắc
1050 18’ đến 1050 25’ kinh độ Đông Vườn quốc gia Ba Vì có ranh giới:
+ Phía Bắc giáp các xã: Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh
+ Phía Tây giáp các xã: Khánh Thượng, Minh Quang
+ Phía Đông giáp các xã: Vân Hoà, Yên Bài
+ Phía Nam giáp huyện Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình
3.2.1.2 Địa hình địa thế
Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi tiếp giáp với vùng bán sơn
địa Vùng núi gồm các dãy núi liên tiếp nổi lên giữa vùng đồng bằng, có 3 đỉnh cao nhất là: Đỉnh vua cao 1296m, đỉnh Tản Viên cao 1.227m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131m vì thế có tên gọi là núi Ba Vì Ngoài ra còn có các đỉnh thấp hơn như Hang Hùm hay còn gọi là đỉnh Chàng Rể (800m), hang Gia Dê (714m)
Nói chung Ba Vì là một vùng núi khá dốc, sườn phía Tây đổ xuống sông Đà dốc hơn sườn phía Tây Bắc và Đông Nam Độ dốc của khu vực trung bình 250, từ cốt
400 m trở lên dốc hơn, độ dốc trung bình 350 có nhiều chỗ vách đá dốc dựng đứng, xung quanh núi Ba Vì là dải đồi thấp, lượn sóng xen kẽ đồng ruộng
Dải phía Tây nằm giữa núi Ba Vì và sông Đà hẹp gồm các đồi thấp và ruộng nước Dải phía Bắc và phía Đông gồm các đồi lượn sóng, địa thế thấp, thuận lợi để xây dựng các hồ nhân tạo như: Suối Hai, Đồng Mô - Ngải Sơn
Nhìn chung Ba Vì là một vùng có phong cảnh đẹp, nên thơ, kết hợp được cả
Trang 38cảnh hùng vĩ của núi non, sông suối, ao hồ và xen vào đó là cảnh trung du đồng bằng với những làng quê xinh đẹp
3.2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng
Theo báo cáo kết quả điều kiện lập địa cấp I, núi Ba Vì được hình thành do vận
động tạo sơn Indoxini của vỏ trái đất, cách đây 250 vạn đến 60 vạn năm Nó được cấu tạo theo kiểu hỗn hợp (phần dưới là đấ gốc, phần trên là phù sa) Những nhận định về
sự phát triển địa hình, kiến tạo địa chất khi tiến hành điều tra đất thuộc vùng núi Ba Vì đã nêu Đá gồm 2 nhóm chính, đá mác ma như Spilit phoocpialit, ooctopia và đá biến chất như phiến thạch sét, phấn sa Những loại đá này thường ở độ cao 200m trở lên Đá spilit là một loại đá bazan cố định, tạo ra do phun trào dưới nước biển, nó
được đưa lên độ cao phổ biến trên 400m và không có dốc aluvi trên bề mặt Quá trình feralit là quá trình phổ biến và bao chùm lên toàn vùng, thể hiện rõ rệt là sắc màu của
đất, ở những nơi xói mòn mạnh, mực nước ngầm thấp, có kết von dạng hạt màu sẫm
3.2.1.4 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn
3.2.1.4.1 Khí hậu
Khu vực này nằm trong khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm biến thiên từ 23,50 ữ 29,50 giảm dần theo độ cao địa hình Cứ lên cao 100m , nhiệt độ giảm trung bình 0,550 , như vậy nhiệt độ ở độ cao 400m so với nhiệt độ bên dưới giảm 20C ở sườn núi và chân núi phía Đông mưa nhiều, lượng mưa trung bình năm đạt 2000 ữ 2400mm Mùa khô biểu hiện rõ rệt, chỉ số ẩm mùa khô nhỏ hơn 0,5 Chỉ số ẩm cả năm biến thiên từ 1,4 ữ 2,0 Thời kỳ nóng ẩm kéo dài 8 tháng, bắt đầu từ giữa tháng 3
đến tháng 11, nhiệt độ trung bình mùa nóng là 26,1oC, tháng nóng nhất là tháng 7 (28,69oC), ngày nóng nhất trong mùa có thể lên tới 38,2oC Thời kỳ khô lạnh từ giữa tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình mùa lạnh là 17,9o , tháng lạnh nhất là tháng 1 (16,52oC), nhiệt độ thấp nhất có thể tới 6,5oC Xét về tiềm năng nhiệt
ẩm nêu trên, về cơ bản vùng này mang tính chất nhiệt đới ẩm, nhưng có một mùa
đông khô lạnh nên khí hậu vùng này không phải là khí hậu nhiệt đới điển hình, mà mang tính chất phức tạp, do đó tạo điều kiện cho sự phát triển phong phú, đa dạng của tập đoàn cây trồng, mặt khác cũng gây nhiều phiền phức cho việc xác định cơ cấu cây trồng để tạo ra hệ sinh thái bền vững
Trang 39ít, lòng suối khô cạn dẫn đến hạn hán cục bộ kéo dài Trong vùng có các con suối sau: Suối Ao Vua bắt nguồn từ độ cao 8,2 km, đã thu hút rất nhiều khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng; Suối Hoóc Cua bắt nguồn từ độ cao 400m chảy về phía Đông dài 1,5 km con suối này có giá trị cung cấp nguồn nước cho động thực vật, đồng thời tạo nên cảnh quan du lịch; Suối Hương bắt nguồn từ độ cao 400m dài 2,5 km có giá trị cung cấp nguồn nước cho con người sinh hoạt và sản xuất nông, lâm nghiệp; Một số suối chảy về mùa mưa lượng nước lớn nước chảy mạnh từ trên cao đổ xuống tạo nên các thác nước rất ngoạn mục: Thác Ao Vua, Thác Hương, Thác Ngà Voi, Thác Khoang Xanh Trong vùng có hồ nhân tạo như: Đồng Mô - Ngải Sơn, hồ Hoóc Cua (Tản Lĩnh), Hồ Suối Hai, Hồ Xuân Khanh, Minh Quang, Chẹ Đây là những
điểm tạo sự hấp dẫn cho khách du lịch và khai thác tiềm năng du lịch
0 50 100 150 200 250 300 350 400
Hình 3.2: Biểu đồ GAUSSEN - WALTER đo biến đổi các chỉ tiêu khí hậu theo
thời gian tại chân núi Ba Vì
Trang 403.2.1.5 Tài nguyên
3.2.1.5.1 Diện tích các loại đất đai
Diện tích đất đai VQG Ba Vì bao gồm đất có rừng và đất không có rừng đ−ợc thống kê ở bảng 3.1
Tổng diện tích tự nhiên khu vực: 6.786ha
Trong đó đất có rừng: 4.700,5 ha chiếm 63,3% tổng diện tích tự nhiên
Trong đất có rừng:
+ Rừng tự nhiên có 1.709,8 ha chiếm 36,4%, + Rừng trồng có 2.990,7 ha chiếm 63,6%
Bảng 3.1 : Tổng hợp diện tích các trạng thái rừng và đất rừng
540 551,7 18,3
580,7
369 21,9
21,9 347,1 211,7 135,9 66,6 9,2
2.016,1
1.386,5 220,5
220,5 1.166 629,6 166,2 206,6 256,8
1.100,0
765.0 52,1 52,1
52,1 712,9 316,7 270,7 37,8 8,2 18,3
949,2
376,4
376,4 572,8 237,3
156 179,5
2.140,0
1.803,6 1.415,3 1.409,5 260,1 499,1 650,3 5,8 388,3 336,4 165,4
73
98
Nguồn: Theo thống kê của VQG Ba Vì 2002 [55]
Bảng 3.2: Diện tích rừng tự nhiên phân theo trạng thái
260,1 499,1 944,8 5,8
15,2 29,2 55,3 0,3
Nguồn: Theo thống kê của VQG Ba Vì 2002 [55]