Chính vì vậy, thực hiện phân tích nhu cầu sử dụng thuốc theo 28 nhóm tác dụng dược lý được phân loại theo mã ATC của Tổ chức y tế thế giói WHO đã được đề cập trong nội dung của đề án phá
Trang 1BỘYTẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC • • Dược • HÀ NỘI •
Trang 2M ở i ediw v d i t
QUtững Lài tiïa đẩu tiêu trữníỊ euồn luân úun nàjạ^ tài ínúníẬ muúễĩ itưtíe^ lùiuj iẬ lòềig biỀt ổwt ŨỈL nhũn íỊ Lài eảm đn ehăềt thùnh nhai eủxi mình tồi cún thầự^ eở, ạicL đinh^ ban lìề IcL Ệthữnạ Ệĩựitòi đjỄi íặuiưt tânL, ehi ion ũnh^ ụiúp. đ!S tồi trưồng thành lift Ị^áí nhiều ú ỉ eáeh tư íluụ trũnụ eồnụ íùêci ŨỈI ững æii inmụ euộe, Ẵồiup.
Ç îe i æuL đújứ ^ l ả Lôfig lü A đ ề i íjolu ẦẨe lớ i:
QKụjuụễMt ÇfhaMiit (Bìềứi^ Ệiụitòi ihầụ điỄL Luềwt lăềt tình kưống ílẫềt úỉi ehi bẻu^ tòi khèng ehi những, kiejt tkứa^ kặ nànụ, nghìỀễL eứu d¿ hjúàếi thành kkố€L luoit mà eèềt ụìújft lồi eá Ểtưổe, rut nhiều kinh ỆiụhiỀnt íịẨiíị Imu tmnụ eỗềtạ mệa oă euộe Ajấng
3C8^ ^rầÊt QjLUiMijg ạiànụ, úiỀn Im mỗ4Z ÇîoéiiL Çîutf Çîi^oj^njg đụi kọe^ n)ượ^ 'Jôà Qlệi^ thầMf đã râí nhiêt tình ehi l%ảũ í%à ạiújfL đ s tồi đăe, lũêl tmfig khâit
xử lẠ lê' liệu khủu ư í fduïài lojft DỈL khá khăết eủa đế tài,
nữS^^ŨL nănụ ö ’hAa, đu nhiềi tình ehi !mí% acL truụỉn itạl ehũ têỉ nhlỀu kinh ttạhiẻnL qjuẠ ỉìéuL.
nữS^ n)ưđfềỀjụ ^ h ị Qîgjà^ (BS^ QlụMMựễềt ^ h ị G)S^ (ìỉụuựỈMt Qíi^ặj^ ^ iịf h nữS> Qtụuụễiv ^ k i 'Tôut, ÚỈL eáa eê ehíí^ anh ehi lùm üiea tạ i eéba nhà ỉhuốa đÕL lậit tình
ạ iú ẹ t đs^ ú ă lq j^ điỀLL k iệ n tíu u ậ n Lổì n h à ĩ ehũ^ t è i trm iạ íịu d ừ in h ih u ih á f t â jếU ệu eủ n ụ như t í # f t hiẻu thiíe, t¿.
Çîôi eủniị æin đượe ạửi Iđi ednt ổit đển eổLe thầụ eê , eáa kặ Ikuảl ũiên eủa Im ntA Qụản !Ạ úù 3ỈẦnh t¿ n)Uí^ ¿tã ÍỊÌÚỊJL ỉtẵ tồi üwtg ãuêỉ íỊẨiá trình ỉhựa hiềễt khjỚ€L luậết ỮỈL hjơe IqufL tai lĩÃ mêềv 0'ôi cùnụ æin hàtf tẬ lồnụ lừêí đn đĩh (Ban, giánt hiÌẲL
đã, ehi l% ảjồ^f dãụ dễ tồi tmnự, âiiêt 5 nám họe t&fL úà yẻn luụện dưởì mái trưồng naif.
Qitếi eùng lài eúín ổn ehãn thành nlivít lùi ínuồết ạjửi ¿teil íịiíL đinh tẫi^ lưut l%ề
iêi Ịthttng nạttòi luâềt ầ lĩềễL lỡi^ đồnjg iHÌJễt lồi^ là üjqjiÈn đềnụ, Lựe ạiúp đs^ tồi Dưel
tịua mọi UhÁ khăn trrnijg eiẮẠa ẵốníi.
Çîài æin dành tăng, euếit luận oủềt nùii như mội ínồn (ịẮià thaii eítũ Lònjạ luâ
ổn chátt ĩhành nhấí eỉuL tầ i tổ ỉ nhữnụ, nụưồi mỈL tê i íjỉít íiu íị ĩ
7ỗà Qlội^ tháng 5 năm 2007
Sinh ơiỉn.
(ìlựAíựĩềL Q’ki ^kuùUtụ ^kújỊf
Trang 3ĐẶT VẤN Đ Ể 1
P H Ầ N l: TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình tiêu thụ thuốc 3
1.1.1 Tình hình tiêu thụ thuốc trên thế giói 3
1.1.2 Tình hình tiêu thụ thuốc ở Việt Nam 5
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thuốc, lựa chọn thuốc 9
1.2.1 Người bệnh 9
1.2.2 Thuốc 11
1.2.3 Thầy thuốc 12
1.3 Nhà thuốc tư nhân ở Việt Nam 14
1.3.1 Đặc điểm 14
1.3.2 Một số vấn đề tồn tại 17
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u 20
2.1 Đối tượng nghiên c ứ u 20
2.2 Phương pháp nghiên cứ u 21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 21
2.2.3 Phương pháp xử lý kết quả 22
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN 24
3.1 Kết q u ả 24
3.1.1 Mức tiêu thụ các nhóm thuốc 24
3.1.1.1 Nhóm thuốc tác dụng trên đường tiêu hóa và chuyển hóa (A) 24 3.1.12 Nhóm thuốc tác dụng trên hệ hô hấp (R) 28
3.1.13 Nhóm thuốc tác dụng trên hệ cơ xương (M ) 31
Trang 43.1.1.4 Nhóm thuốc tác dụng trên hệ thần kinh (N ) 33
3.1.1.5 Nhóm thuốc tác dụng trên hệ tim mạch ịC) 37
3.1.1.6 Nhóm thuốc kháng sinh (J) 39
3.1.1.7 Nhóm thuốc đông dược (X) 43
3.1.1.8 So sánh mức tiêu thụ giữa các nhóm thuốc 44
3.1.2 Mức tiêu thụ thuốc 45
3.12.1 Thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước 45
3.12.2 Đông dược và tân dược 47
3.1.3 Biến động giá của một số thuốc 49
3.1.3.1 Thuốc sản xuất trong nước 49
3.13.2 Thuốc nhập khẩu 51
3.2 Bàn luận 53
3.2.1 Mức tiêu th ụ 53
3.2.2 Biến động giá của một số thuốc 58
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 66
4.1 Kết luận 66
4.1.1 Mức tiêu th ụ 66
4.1.2 Biến động giá của một số thuốc 69
4.2 Ý kiến đề xuất 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6Bảng 1.1 Doanh số bán thuốc trên thế giới qua các năm 2000-2006 3
Trang 7Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu được tiêu
Trang 8Biểu đồ 3.32 Mức tiêu thụ thuốc đông dược, tân dược được sản xuất ừong nước 48
Trang 9Hình 1.1 Các yếu tố quyết định và ảnh hưởng đến nhu cầu thuốc 9
Trang 10KẾT CẤU KHÓA LUẬN
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỂ
Thuốc là một nhu cầu tất yếu, tối cần cho cuộc sống Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe càng tăng cao về cả chủng loại, số lượng và chất lượng
Việt Nam là một nước đang phát triển cũng không nằm ngoài quy luật
đó Trong những năm trở lại đây, mức sống của người dân được cải thiện một cách rõ nét, nhu cầu sử dụng thuốc tăng cao đáng kể Tổng giá trị tiền thuốc
sử dụng năm 2006 đạt 956,353 triệu USD tăng trưởng 20,2% so với năm 2001 [10] Mức tiêu thụ thuốc bình quân đầu người năm 2006 là 11,23 USD tăng gấp hai lần so với năm 2000 (5,4USD/người/năm) [10]
Vói tính chất là một loại hàng hóa đặc biệt, thuốc có một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và nói rộng hofn là một trong những yếu tố chủ yếu đảm bảo mục tiêu sức khỏe cho mọi người Vì vậy trong chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam được chính phủ phê duyệt và ban hành đã chỉ rõ cần đảm bảo cung ứng thường xuyên và
đủ thuốc có chất lượng đến ngưòi dân Để thực hiện mục tiêu trên, vấn đề quan trọng đặt ra là phải xác định được nhu cầu thuốc của nhân dân trong từng thời kỳ, từ đó có những kế hoạch, chính sách cung ứng thuốc hợp lý đáp ứng nhu cầu chăm sóc và đảm bảo sức khỏe cho nhân dân
Chính vì vậy, thực hiện phân tích nhu cầu sử dụng thuốc theo 28 nhóm tác dụng dược lý được phân loại theo mã ATC của Tổ chức y tế thế giói (WHO) đã được đề cập trong nội dung của đề án phát triển ngành công nghiệp Việt Nam và xây dựng hệ thống cung ứng thuốc giai đoạn đến năm 2015 Trên
cơ sở đó có thể dự báo nhu cầu tổng thể về thuốc sử dụng, đánh giá được yếu
tố tổng cầu và yếu tố tổng cung của thị trường [1]
Hiện nay, khối nhà thuốc và khối bệnh viện là hai khu vực chính cung ứng thuốc trực tiếp đến tận tay ngưòi tiêu dùng Trong đó, mạng lưới nhà thuốc đã phát triển rộng khắp thực sự trở thành một bộ phận quan trọng không
Trang 12thể thiếu của hệ thống y tế cơ sở Tính đến hết năm 2006 tổng số cơ sở bán lẻ trên toàn quốc là 41500 tăng 10,67% so với năm 2005 [10] Đạt mức 20.000 ngưòi dân được phục vụ trên một cơ sở bán lẻ [10] Do đó nghiên cứu tình hình tiêu thụ thuốc tại khối nhà thuốc sẽ là cơ sở góp phần vào việc dự đoán được nhu cầu, xu hướng tiêu thụ thuốc trong thời gian tới Từ đó có thể cải thiện chất lượng sử dụng thuốc và cung ứng một cách phù hợp, hiệu quả nhất cho người dân Đồng thời đây cũng là một phương pháp quản lý các dữ liệu về thực tế sử dụng thuốc trong cộng đồng hiện nay.
Trong thời gian qua, giá thuốc trên thị trường có sự biến động, đã có lúc diễn ra rất phức tạp, ảnh hưcmg lớn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân và gây ra nhiều dư luận xã hội [19] Vậy trên thực tế, hiện nay thuốc đến tay người sử dụng với mức giá cụ thể ra sao, có biến động không là một trong những vấn đề cần được giải đáp
Để góp phần giải quyết những vấn đề đã đặt ra, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: ” Phân tích xu hướng tiêu thụ thuốc tại một số nhà thuốc
bán lẻ tại Hà Nội năm 2006" với 2 mục tiêu sau:
1 Phân tích mức tiêu thụ thuốc tại nhà thuốc bán lẻ từ tháng 5/2006 đến tháng 4/2007
2 Phân tích biến động giá của một số thuốc tiêu thụ tại nhà thuốc bán
lẻ từ tháng 5/2006 đến tháng 4/2007
Trang 13Phần 1: TỔNG QUAN
1.1 TÌNH HÌNH TIÊU THỤ THUỐC
1.1.1 Tình hình tiêu thụ thuốc trên th ế giới
Cùng vói sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật công nghệ, ngành công nghiệp dược đã nghiên cứu ra nhiều loại thuốc có tác dụng mạnh và hiệu quả điều tiỊ cao Doanh số bán thuốc trên toàn thế giới tăng vói tốc độ 9-10% mỗi năm [1] Sản phẩm thuốc hết sức đa dạng, phong phú vói khoảng 2000 loại nguyên liệu hóa dược được sản xuất, khoảng 100.000 biệt dược khác nhau, chỉ riêng có kháng sinh đã có hàng ngàn biệt dược được lưu hành và sử dụng [1]
Doanh số thuốc bán ra trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng Năm
2005 vượt qua 600 tỷ USD, đến năm 2006 đạt kỷ lục 643 tỷ USD tăng trưởng 176,4% so vói năm 2000 [32]
Bảng 1.1: Doanh số bán thuốc trên thế giới qua các năm 2000-2006 [34], [32]
(Nguồn: IMS Health)
Tuy nhiên, sự phân bố tiêu dùng thuốc trên thế giới không đồng đều giữa các nước và khu vực Năm 2002, chỉ 18% dân số thế giói thuộc các nước phát triển đã sử dụng đến 85% lượng thuốc được sản xuất [1]
Theo báo cáo của tập đoàn IMS Health, năm 2006 thị trường Bắc Mỹ (gồm Mỹ và Canada) đã chiếm 45% doanh số dược phẩm bán ra trên toàn thếgiới, trong khi toàn bộ châu Á và châu Phi chỉ chiếm 10,2% [32] Điều đó cho thấy có một khoảng cách khá xa về mức độ tiêu thụ thuốc giữa các nước phát triển và đang phát triển [1]
Trang 14Bảng 1.2: Doanh số thuốc bán ra ở một số khu vực trên thế giói [Ỉ9], [30]
(Nguồn IMS Health)
Có thể nói, mô hình tiêu thụ thuốc sẽ cho ta thấy rõ nét về tình hình thuốc hơn là những số liệu tổng quát Các nhóm thuốc chính được tiêu thụ trên thị trường dược phẩm thế giói tính đến tháng 11 năm 2006 theo thứ tự là: nhóm thuốc tim mạch, nhóm thuốc thần kinh, nhóm thuốc tiêu hóa, nhóm thuốc hô hấp, nhóm thuốc kháng sinh, nhóm tác dụng trên cơ - xương [31].Bảng 1.3: Doanh số bán ra của các nhóm thuốc chính trên thế giói [31]
Đơn vị tính: Triệu USD
năm 2005
Doanh số bán ra năm 2006
Tăngtrưởng(%)
Trang 15Nhóm thuốc tim mạch đang dẫn đầu về doanh số bán ra trên toàn cầu Sản phẩm Lipitor có doanh số cao nhất trên thế giới đạt hơn 11,62 tỷ USD tăng trưởng 3,8% tính đến hết tháng 11 năm 2006 [31] Trong khi đó doanh số bán ra nhóm thuốc kháng sinh năm 2006 lại giảm 2,3% so với năm 2005.
1.1.2 Tình hình tiêu thụ thuốc ở Việt Nam
Tính đến hết năm 2006, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng của Việt Nam đạt 956 353 000 USD, tăng trưởng 17% so với năm 2005 (817 396 OOOUSD), tăng trưởng 20,2% so vói năm 2001 [10],
608,7
Biểu đồ 1.1: Giá trị tiền thuốc tiêu thụ qua các năm 2001-2006 [10]
Theo kết quả nghiên cứu của tổ chức IMS Health, thị trường dược phẩm Việt Nam có tốc độ tăng trưởng rất đáng kể so với các nước trong khu vực Dự báo năm 2008, giá trị tổng thị trường dược phẩm của Việt Nam sẽ đạt 1 tỉ USD và tốc độ phát triển sẽ được duy trì ở mức 15% ở các năm tiếp theo [10]
Xét về bình quân tiền thuốc/đầu người/năm của Việt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh, nhưng vẫn ở mức thấp nhất so vói thế giới và thấp so với các nước trong khu vực Đông Nam Á [3] Năm 2000 tiền thuốc bình quân đầu người là là 5,4 USD, đến năm 2006 tăng gấp hơn 2 lần đạt 11,23 USD/ngưòi/năm
Trang 16Bảng 1.4: Tiền thuốc bình quân đầu người qua các năm (2000-2006) [10]
Bên cạnh đó, nền công nghiệp dược Việt Nam cũng có những bước tiến
bộ và đang dần khẳng định vai trò, vị trí của mình trên thị trường nội địa Theo thống kê năm 2006, về cơ bản thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được tương đối đầy đủ các loại thuốc thiết yếu và thuốc phục vụ công tác điều trị chủ yếu trong khối bệnh viện [10]
Bải^ 15: So sánh mức độ tăi^ trưởng thuốc sản xuất trong nước (2001-2006) [10]
sửdụng(lOOOƯSD)
Tăng tìirởng (%)
Thuốc sản xuất ữong nước
tổng giá trị
TăngtrưỞQg(%)
Bên cạnh thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu đã góp phần rất lớn trong việc cung ứng đủ thuốc phục vụ nhu cầu điều trị, đáp ứng mô hình bệnh tật của Việt Nam hiện nay, đặc biệt đối với các loại thuốc chuyên khoa, đặc tn, thuốc hiếm [10] Kim ngạch nhập khẩu thuốc tăng trưởng với tốc độ khá nhanh, đến năm 2006 đạt 710 000 OOOUSD tăng 9,2% so vối năm 2001 đạt
417 361 OOOUSD [10]
Trang 17Giá trị thuốc nhập khẩu luôn chiếm hơn 50% tổng giá trị thuốc sử dụng
cả nước từ năm 2004-2006 [10]
%rhịịốẸ:;\
lỊ ỉiậ p Ị h ầ ụ
Biểu đồ 12: Giá tiị thuốc nhập khẩu trên tổng giá tiị tíền thuốc sử dụng
năm 2004-2006 [10]
Cũng như các loại hàng hóa khác, thuốc cmig chịu tác động bỏi những quy luật của nền kiiứi tế thị trường Theo báo cáo tổng kết của Cục quản lý dược, tì-ong năm 2005 giá thuốc đã có sự ổn định, chỉ số giá mặt hàng dược phẩm tăng 4,9% thấp hơn chỉ số tiêu dùng chung là 8,4%, chỉ bằng 50% so vói năm 2004 [6]
Bảng 1.6: Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế 2004-2006 [10]
(Nguồn: Cục quản lý dược)
Chỉ số giá tiêu dùng của cả nước năm 2006 là 6,6% trong đó chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế là 4,3% đứng thứ 7 trong 10 mặt hàng trọng yếu xếp từ cao xuống thấp với tỷ lệ tăng trung bình hàng tháng là 0,36% So sánh với năm 2005, tỉ lệ tăng của chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng dược phẩm, y tế
Trang 18Biểu đồ 13: So sánh CPI và chỉ sô giá nhóm hàng dược phẩm, y tế 2004-2006 [10]
Theo dõi biến thiên chỉ số giá của một số nhóm hàng so với chỉ số tiêu dùng năm 2005 thấy được tình hình biến động giá của nhóm dược phẩm, y tế
so với các nhóm háng hóa khác như sau:
.c h Ị s ố giá tiêu dùng
'*ChỉsỐ gia nhóm hàng D
Biểu đồ 1.4: Biêh thiên chỉ số giá của một số nhóm hàng
so với chỉ số tiêu dùng năm 2005 [8]
Thực tế khảo sát 1801 mặt hàng thuốc kinh doanh của 237 nhà sảnxuất trên thị trường 6 tháng cuối năm 2005 cho thấy [8]:
Số mặt hàng tăng giá nhập khẩu CIF: 42 vói tỷ lệ tăng tìnng bình là 11,90%
Số mặt hàng tăng giá bán buôn: 40 với tỷ lệ tăng trung bình là 9,40%
Số mặt hàng giảm giá nhập khẩu ƠF: 48 vối tỷ lệ giảm giá trung bình là 6,35%
Số mặt hàng giảm giá bán buôn: 40 với tỷ lệ giảm trung bình là 12,94%
Số mặt hàng ổn định giá: 1654, chiếm 91,84% mặt hàng đã khảo sát
Trang 1912 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHƯ CẦU THUỐC, LỰA CHỌN THUỐC
Hình 1.1: Các yếu tố quyết định và ảnh hưởng đến nhu cầu thuốc [3]
1.2.1 Người bệnh
> Tình trạng bệnh tật, mô hình bệnh tật
Nhu cầu về thuốc về cơ bản không phải là lượng thuốc mà người bệnh muốn mua ở mỗi mức giá Nhu cầu thuốc được quyết định bởi nhiều yếu tố: bệnh tật, kỹ thuật điều trị, trình độ của nhân viên y tế (người kê đơn, người bán thuốc), khả năng chi trả của bệnh nhân trong đó yếu tố bệnh tật là yếu
tố quyết định hofn cả [3]
Nhu cầu về thuốc của một ngưòd bệnh phụ thuộc vào bệnh tật, sức khỏe của họ Nhu cầu về thuốc của một cộng đồng sẽ phụ thuộc vào mô hình bệnh tật của cộng động đó
Trang 20Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới Vì thế Việt Nam có một mô hình bệnh tật đặc trưng của quốc gia nhiệt đới đang phát triển Từ năm 1960 đến nay, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi Ví dụ như các bệnh không nhiễm trùng như bệnh tim mạch, huyết áp đang có xu hướng gia tăng Sự thay đổi này cũng giống sự thay đổi tại các quốc gia đang phát triển khác [3].
1 , 1
Nguyên n nhân
Hình 1.2: Mô hình bệnh tật ở Việt Nam [3]
Từ năm 1976 đến năm 2003, trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất thì chủ yếu là bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng trong đó có tói 3 bệnh trên hệ
hô hấp là viêm phế quản, viêm phổi và lao hô hấp Các bệnh không nhiễm khuẩn vói tỷ lệ mắc ngày càng cao như bệnh về tim mạch, bệnh đái đường, bệnh ung thư, bệnh tâm thần, bệnh tăng huyết áp [3] Theo thống kê của hội tim mạch Việt Nam tính đến năm 2004, có khoảng 8% đến 10% dân số mắc bệnh tăng huyết áp [9]
Trang 21> Điều kiện sống, điều kiện lao động
Bệnh tật là tình trạng mất cân bằng về thể xác và tinh thần dưói tác động của một loạt các yếu tố lên cơ thể con người Bệnh tật phụ thuộc vào cơ thể sống và điều kiện sống của mỗi người Xét về khía cạnh địa lý, khí hậu khác nhau, mức sống khác nhau thì nhu cầu về thuốc và lựa chọn sử dụng thuốc cũng khác nhau
> Kiến thức y tế
Yếu tố trình độ kiến thức y tế cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến vâh đề lựa chọn tìiuốc và sử dụng thuốc
> Nhu cầu thuốc phụ thuộc vào quyết định cuối cùng của người bệnh
Xét về lựa chọn và khả năng kinh tế, ở góc độ này nhu cầu thuốc có liên quan bởi sức mua của người dùng ở mỗi mức giá cả, và giá cả cũng là một trong các yếu
tố, động cơ để quyết định nhu cầu của ngưcà bệnh
1.2.2 Thuốc
> Chất lượng, hiệu lực điều trị
Thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, túửi mạng của người bệnh nên chất lượng, hiệu quả điều tn là yêu cầu hàng đầu trong việc lựa chọn thuốc sử dụng Do
đó các thuốc có chất lượng, hiệu quả điều tiỊ thấp hơn sẽ bị đào thải và thay thế vào
đó là các loại thuốc mới tốt hơn Vì vậy nhu cầu thuốc luôn luôn có xu hướng biến đổi theo ttình độ khoa học kỹ thuật và xu hướng điều tiỊ [3]
> Giá thuốc
Với một số thuốc tối cần trong những trường hợp cần thiết, ở những bệnh nhân có khả năng chi trả, thì yếu tố giá thuốc chỉ ảnh hưcfng ít nhiều đến nhu cầu Song với những loại thuốc không phải là thuốc tối cần, với những bệnh nhân mà khả năng kinh tế hạn hẹp, thì giá thuốc là một trong những yếu tố cân nhắc trước khi quyết định mua hàng hoặc lựa chọn nhóm thuốc này thay cho nhóm thuốc khác, lựa chọn thuốc này thay cho thuốc khác trong cùng một nhóm hoạt chất hoặc có thể không mua nữa [3]
Trang 22> Yếu tố khuyến mại, thông tin quảng cáo
Thuốc là loại hàng hóa đặc biệt, vì vậy việc khuyến mại để bệnh nhân mua thuốc là không được phép Người ta chỉ cho phép giói thiệu mặt hàng và cung cấp các thông tin cần thiết về sử dụng thuốc cho bệnh nhân trên những phưofng tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên do động cơ muốn chiếm Imh thị trường, muốn đạt doanh thu, lọi nhuận cao, nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh thuốc luôn thực hiện việc khuyến mại và thông tin quảng cáo vượt quá giói hạn cho phép [3]
1.2.3 Thầy thuốc, người bán thuốc
Thuốc là loại hàng hóa đặc biệt, vì vậy sử dụng loại thuốc nào, số lượng bao nhiêu, cách thức sử dụng ra sao lại không phải do người bệnh tự quyết định mà được quyết định bởi thầy thuốc,
> Trình độ chuyên môn
Trước khi điều trị cho một bệnh nhân, thầy thuốc cần khám bệnh để đưa
ra chuẩn đoán Căn cứ vào bệnh được chuẩn đoán để quyết định việc chỉ định thuốc cho bệnh nhân Như vậy, việc xác định nhu cầu thuốc có đúng hay không còn phụ thuộc vào chất lượng chuẩn đoán bệnh và ngược lại chuẩn đoán sai bệnh sẽ dẫn đến việc xác định sai nhu cầu thuốc
Nhu cầu thuốc phụ thuộc vào trình độ, khả năng chuyên môn của người cung cấp dịch vụ y tế, trong đó đặc biệt là bác sỹ khám bệnh cho bệnh nhân Ngày nay khi nền y dược học hiện đại phát triển, các máy móc, các kỹ thuật chuẩn đoán đã trở thành phương tiện khoa học, công cụ trong điều trị, phát hiện ra nhiều bệnh tật hơn là một trong các yếu tố làm tăng nhu cầu thuốc [3]
Đây là một điểm khác biệt của nhu cầu thuốc, nhu cầu thuốc không hoàn toàn phụ thuộc vào ý định của người dùng mà lại được quyết định bỏd yêu cầu chữa bệnh, trình độ chuyên môn của thầy thuốc và cán bộ bán thuốc [3]
Trang 23Tăng tbu nhập Kỹ thuật
chắn đoáii tốt
Điều kiện sinh hoạt thay đổỉ
Phát hiện nhiều bệnh hơn
Cầu thuốc tăng
^ỊrỊ***- Tăng nhu cầu sử
dụng thiiếc
Các yếu tó môi trường
YÌ mô, vĩ mô
Có thể nói, văh đề lựa chọn thuốc và sử dụng thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, Khi nền khoa học kỹ thuật và nền kinh tế phát triển tìiì ảnh hưởng của các yếu tố như môi trường xã hội, chính sách xã hội, quảng cáo thuốc, giá thuốc sẽ giảm dần và chỉ còn lại ba yếu tố quyết định nhất đến lựa chọn thuốc và nhu cầu thuốc là: bệnh tật, hiệu lực của thuốc và khoa học - kỹ thuật điều tri [3]
Trang 241.3 NHÀ THUỐC T ư NHÂN ở VIỆT NAM
1.3.1 Đặc điểm
Cung ứng thuốc là nhiệm vụ hàng đầu của toàn ngành dược Đảm bảo đáp ứng thuốc theo nhu cầu điều trị hợp lý là một vấn đề khó khăn [3] Tổ chức màng lưới cung ứng thuốc Việt Nam hiện nay được mô tả theo sơ đồ sau:
Hình 1.4: Sơ đồ mô hình mạng lưới phân phối thuốc ở Việt Nam [3]
Vói đặc điểm là một thành phần trong hệ thống bán lẻ thuốc, nhà thuốc cũng đóng một vai trò quan trọng trong mạng lưói cung ứng thuốc trực tiếp đến tay ngưòi bệnh
Trang 25Bên cạnh chức năng kinh doanh thì nhà thuốc còn có chức năng cung cấp thuốc đảm bảo chất lượng kèm theo thông tin thuốc, tư vấn thích hợp cho người bệnh.Tham gia hoạt động tự điều tiỊ bao gồm cung cấp thuốc và tư vấn dùng thuốc điều tiỊ triệu chứng của các bệnh thông ửiường Góp phần đẩy mạnh việc kê đơn phù hợp, kinh tế và sử dụng thuốc an toàn, hcfp lý và có hiệu quả [6].
Cùng với sự phát triển mạnh và rộng khắp của hệ thống cung ứng thuốc, tính đến hết năm 2006 tổng số cơ sở bán lẻ trên toàn quốc là 41.500 tăng 10,67% so với năm 2005 [10] Mạng lưới cung ứng thuốc hiện tại đã vưofn tới hầu hết các địa bàn trên toàn quốc, đảm bảo công tác phòng và điều trị bệnh của các cơ sở điều trị và nhu cầu thuốc của nhân dân
Theo báo cáo tổng kết của Cục quản lý dược, số lượng nhà thuốc tư nhân trên cả nước từ năm 2000-2005 như sau:
Bảng 1.7: Số lượng nhà thuốc tư nhân từ năm 2000-2005 [17]
Số lượng nhà thuốc sẽ tiếp tục biến động trong vài năm tới khi mà lộ trình thực hành nhà thuốc tốt được chính thức triển khai Theo quy định của
Bộ Y Tế, kể từ ngày 01/7/2007, các nhà thuốc bổ sung chức năng kinh doanh thuốc hoặc mới thành lập tại quận, phường nội thành Hà Nội, Đà Nấng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ phải đạt tiêu chuẩn "Thực hành tốt nhà thuốc" [6] Quy định mới kể từ ngày 01/01/2010, các nhà thuốc trong cả nước phải đạt tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc mới được gia hạn giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc [6]
Vói số lượng nhà thuốc tư nhân tương đối lớn nhưng mạng lưới phân bố
lại không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Theo thống kê vào năm 2004, số lượng nhà thuốc tư nhân ở
Hà Nội và TPHCM đã chiếm quá nửa tổng số nhà thuốc trên toàn quốc [17]
Trang 26Hiện nay thuốc sản xuất trong nước đảm bảo được 773 hoạt chất trong
tổng số 1500 hoạt chất đăng ký lưu hành ở Việt Nam [10] Trong khi phần lớn
nhu cầu sử dụng thuốc chuyên khoa, đặc trị chủ yếu được cung cấp từ nguồn thuốc nhập khẩu Theo thống kê của Cục quản lý dược mức độ tiêu thụ thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu tại các khu vực cung ứng thuốc như sau:
■ sx trong nước
□ Thuốc NK
120 100 80
Tổng số Khối bệnh Khối nhà
Biểu đồ 1.5: Thị phần thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu [10]
Về số lượng, thuốc nhập khẩu chỉ chiếm 29% tổng thuốc được tiêu thụ tại khối nhà thuốc, nhưng lại chiếm đến 68% tổng giá trị tiền thuốc
Sau khi Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), áp dụng
mức thuế nhập khẩu dược phẩm từ 0%-5% so vối mức trước kia là từ 0%-10%
Đồng thời các doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép nhập khẩu trực tiếp, không mất phí ủy tìiác (0,75%-l ,5%) như trước thì giá tìiuốc ngoại có khả năng rẻ hơn [26]
Theo đề án "Quản lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai đoạn 2006-2010", tính toán nếu dùng thuốc generic sẽ tiết kiệm được chi phí hàng năm khoảng 60% so vói giá của thuốc gốc [10]
Thuốc generic là những thuốc được bào chế theo công thức có sẵn của một thuốc đã hết hạn bản quyền bằng phát minh sáng chế nên giá thành sẽ rẻ hơn rất nhiều Biệt dược là thuốc có tên thương mại do cơ sở sản xuất thuốc đặt ra, khác với tên gốc hoặc tên chung quốc tế [2]
Trang 27Báo cáo tổng kết của Cục quản lý dược Việt Nam năm 2005, số lượng thuốc generic chiếm khoảng 40% trong khối bệnh viện, còn trong khối nhà thuốc, tỷ lệ này là 34% Tuy nhiên giá trị chi phí chỉ vào khoảng 10% so vói các loại thuốc khác.
Biểu đồ 1.6; Thị phần thuốc biệt dược và thuốc generic [10]
Lượng thuốc biệt dược được sử dụng ở khối nhà thuốc rất cao chiếm 66% và trị giá lên tói 90% tổng giá trị thuốc được tiêu thụ Như vậy, trên thị trường dược phẩm dạng thuốc biệt dược được tiêu thụ là chủ yếu Để mang lại
cơ hội cho người dân nghèo khi điều trị thì việc sử dụng thuốc generic là rất cần thiết [10]
1.3.2 Một số vấn đề tồn tại
Các cơ sở bán lẻ thuốc nhìn chung hoạt động chưa có tính chuyên nghiệp, dịch vụ chưa tốt Nhiều chủ nhà thuốc chỉ nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời mà không chú trọng đến chất lượng, an toàn cho ngưòi sử dụng thuốc Một số nhà thuốc còn kinh doanh thuốc ngoài danh mục cho phép, hoạt động quá phạm vi cho phép, gây ảnh hưcữig không nhỏ đến công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân Cá biệt có tình trạng bán thuốc hết hạn, không có số đăng ký, thuốc bị đình chỉ tạm thời, thuốc giả gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh [5]
Trong năm 2006, hệ thống kiểm tra chất lượng thuốc lưu hành trên thị
Trang 2841 998 thuốc (nhiều hơn 528 mẫu so với 2005); trong đó 71% là mẫu lấy trên thị trường, phát hiện 38 mẫu thuốc giả [10].
Biểu đồ 1.7: Tỷ lệ thuốc không đạt chất lượng từ năm 2001-2006 [10]
(Đvt: Số lô bị đình chỉ lưu hành và thu hồi toàn quốc)
Bên cạnh nguồn thuốc có số đăng ký lưu hành hợp pháp trên thị trường
có một lượng không nhỏ thuốc lưu hành bất hợp pháp Đó là thuốc nhập lậu, thuốc giả cả tân dược lẫn đông dược Tỷ lệ thuốc giả được phát hiện gần đây đang có xu hướng gia tăng Năm 2003 tỷ lệ thuốc giả chiếm 0,06% lượng thuốc tiêu thụ trên thị trường, nhưng đến năm 2005 tăng lên 0,09% Theo thống kê của Liên chi hội nhà thuốc Hà Nội cho thấy, trong số 34 thuốc bị đình chỉ lưu hành của Cục quản lý dược thì chỉ có 1 thuốc giả nhưng trong 9 tháng đấu năm 2006, thì phát hiện được 9 thuốc giả trong số 34 thuốc thông báo đình chỉ lưu hành [10]
Theo quy định, nhà thuốc tư nhân chỉ được bán lẻ các thuốc thành phẩm được ban hành và một số dụng cụ y tế thông thường Người bán thuốc chỉ được bán thuốc kê đơn khi có đơn của bác sĩ Nhưng trên thực tế, vi phạm quy chế kê đơn và bán thuốc tìieo đơn trở thành phổ biêh ở tất cả các nhà thuốc bán lẻ
Sở y tế Gia Lai vừa thực hiện kiểm tra, thanh tra hành nghề dược tư nhân tại 92
cơ sở trong tỉnh, cho kết quả là 100% cơ sở bán thuốc đều vi phạm quy chế chuyên môn bán thuốc trong danh mục kê đơn mà không có đơn của bác sĩ [26]
Trang 29Ngoài kháng sinh, nhiều loại thuốc khác cũng không được bán theo đúng quy định, cần lưu ý là nhóm thuốc steroid - một loại thuốc độc bảng B,
có rất nhiều tác dụng phụ được bán mà không cần đơn cũng khá phổ biến tại
các nhà thuốc Tại một cuộc điều tra việc bán thuốc steroid ở các nhà thuốc
trong nội thành Hà Nội, thu được kết quả trong tổng số 283 lần đóng vai khách hàng từ 60 nhà thuốc thì có đến 98% số nhà thuốc đã có ít nhất một lần bán corticosteroid và 80% số lần được đáp ứng, chỉ có duy nhất một lần nhân viên bán thuốc yêu cầu phải có đơn của thấy thuốc mới bán [11]
Trong thòi gian tói khi mà lộ trình thực hành nhà thuốc tốt (GPP) được áp dụng, chỉ các nhà thuốc đạt tiêu chuẩn mói được phép bán thuốc chuyên khoa, đặc
tn, sẽ góp phần vào việc thực hiện sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả
Theo quy chế hành nghề dược tư nhân, tiêu chuẩn của ngưòi phụ trách chuyên môn phải là dược sĩ đại học Người phụ trách phải có mặt khi cơ sở hoạt động, hướng dẫn sử dụng các loại thuốc bán theo đơn Nhưng trên thực tế thì tình trạng dược sĩ đại học cho thuê bằng cũng như chủ nhà thuốc thường xuyên vắng mặt lại xảy ra khá phổ biến ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ người dân IXrợc sĩ trung học và dược tá là hai đối tượng tham gia trực tiếp bán và tư vẫh sử dụng nhiều nhất [17] Điều đó dẫn tói tình trạng các kiến thức về chống chỉ định, phản ứng bất lọi, tương tác thuốc dường như rất ít được đề cập Nguyên nhân một phần do thiếu kiến thức nhưng điều quan trọng là người bán thuốc vẫn chưa ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác chăm sóc sức khỏe cho ngưòi dân [17]
Theo báo cáo kết quả họat động thanh tra công tác dược năm 2004 cho biết, khi kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn trong hành nghề dược tư nhân thì nội dung vi phạm chủ yếu là bán thuốc độc B không có đơn, dược sĩ chủ nhà thuốc vắng mặt, người giúp việc bán thuốc không đủ tiêu chuẩn theo quy định, ghi chép sổ mua bán và theo dõi chất lượng, hạn dùng của thuốc không đầy đủ, không kê khai, niêm yết giá hoặc niêm yết giá không đầy đủ [5]
Trang 30Phần 2: Đ ố l TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ thuốc được tiêu thụ tại bốn nhà thuốc trong thời gian từ tháng l( năm 2006 đến tháng 4 năm 2007
❖ Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Các thuốc có hoạt chất nằm trong 14 nhóm chính (bậc 1) thuộc hệ
thống phân loại ATC {hệ thống phân loại thuốc dựa theo tính chất hóa
học, tác dụng điều trị và bộ phận giải phẫu mà thuốc tác động vào)
năm 2005 của Tổ chức y tế thế giới (WHO)
- Các thuốc có nguồn gốc đông dược
❖ Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các thuốc có hoạt chất nằm trong nhóm thuốc ít được tiêu thụ tại các nhà thuốc khảo sát
Do số liệu thu được tại các nhà thuốc bị ngắt quãng, kết quả phân tích chỉ tiến hành được trong thời gian từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 4 năm 2007
và thực hiện trên một nhà thuốc với tổng số lượt người mua là 14559 lượt Nghiên cứu tập trung vào các thuốc thuộc nhóm thuốc sau:
A: Alimentaiy Tiact and Metabolism (ĩác dụng trên đường tiêu hóa và chuyển hóa) R; Respiratory system (Tác dụng trên đường hô hấp)
M: Musculo Skeletal system (Tác dụng trên hệ cơ xương)
N: Nervous system (Tác dụng trên hệ thần ỉdnh)
C: Cardiovascular system (ĩác dụng trên hệ tim mạch)
J: General Anti-infectives for system use (Kháng sinh)
X: Nhóm thuốc đông dược
Danh sách các phân nhóm (bậc 2) trong các nhóm thuốc trên được trình bày trong Phụ lục 1
Trang 31❖ Các thuốc có sự biến động giá được lựa chọn vói tiêu chí là những thuốc
có số liệu liên tục qua tất cả các tháng Danh mục một số thuốc phân tích sự biến động giá trình bày trong Phụ lục 2
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết k ế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tiến cứu mang tính chất mô tả, tập trung phân tích mức tiêu thụ thuốc, mức tiêu thụ các nhóm thuốc và theo dõi giá thuốc bán lẻ tại nhà thuốc
Thu thập trực tiếp hàng ngày số liệu các thuốc được tiêu thụ tại nhà thuốc theo mẫu sổ ghi chép [Phụ lục 3]
2.2.2 Phương pháp xử lý số lựu
+ Thu thập thông tin chi tiết (tên thuốc, hoạt chất, hàm lượng, dạng bào
chế, đơn vị, đóng gói, xuất xứ, nguồn gốc, giá tham khảo) của toàn bộ các thuốc được bày bán tại các nhà thuốc khảo sát
+ Tiến hành nhập đầy đủ dữ liệu thông tin thuốc vào bảng cấu trúc của chương trình đã thiết kế theo mẫu sau:
Hình 2.5: Cấu trúc bảng nhập cơ sở dữ liệu về thuốc
N h ậ ^ danh muíC tỉm ắ c
u
Trang 32+ Tiến hành nhập số liệu thuốc được tiêu thụ hàng ngày tại nhà thuốc theo cấu trúc bảng sau:
Hình 2.6: Cấu trúc bảng nhập số liệu thuốc được tiêu thụ
PỮahẳng - Mhệp danh sáclì cửa háng ^
được phân tích theo các chỉ số sau:
- Giá trị tiêu thụ (GTTT): là giá trị tiền thuốc được tiêu thụ tính cho từng nhóm Đơn vị tính: nghìn đồng
nhóm Trong đó, mỗi thuốc được quy ra đơn vị bán đóng gói nhỏ nhất (vỉ, viên, lọ, ống, hộp, chai, tuýp) Đơn vị tính; đơn vị
- Tần suất tiêu thụ (TSTT): là số lượng người mua tính cho từng nhóm Đơn
vi tính: lươt mua
Trang 33- Mức tiêu thụ nhóm thuốc theo thời gian:
+ Từ tháng 5/2006 đến tháng 7/2006 (T5-T7): tương ứng mùa hè
+ Từ tháng 8/2006 đến tháng 10/2006 (T8-T10): tương ứng mùa thu.+ Từ tháng 11/2006 đến tháng 1/2007 (TI 1-Tl): tưofng ứng mùa đông.+ Từ tháng 2/2007 đến tháng 4/2007 (T2-T4): tương ứng mùa xuân
- Mức tiêu thụ thuốc theo xuất xứ:
+ Thuốc sản xuất trong nước (bao gồm thuốc nội và thuốc liên doanh).+ Thuốc nhập khẩu
- Mức tiêu thụ thuốc theo nguồn gốc:
+ Thuốc đông dược
+ Thuốc tân dược
❖ Số liệu liên quan đến giá thuốc được phân tích theo chỉ số:
- Giá thuốc tính trên 1 đơn vị bán nhỏ nhất của sản phẩm (vỉ, viên, ống, lọ, hộp, chai, tuýp)
- Giá thuốc tại một thòi điểm (theo tuần, tháng) được tính là giá thuốc trung bình của thuốc đó trong tuần, trong tháng
GTB =
n
D G i: đơn giá mua lần i
Trang 34Phần 3: KÊT QUẢ NGHIÊN c ứ ư VÀ BÀN LUẬN
3.1 KẾT QUẢ
3.1.1 MỨC TIÊU THỤ CÁC NHÓM THUỐC
3.1.1.1 Nhóm thuốc tác dụng trên đường tiêu hóa và chuyển hóa (A)
a) Mức tiêu thụ nhóm thuốc tác dụng trên đường tiêu hóa, chuyển hóa
Bảng 3.8: Mức tiêu thụ nhóm thuốc tác dụng trên đường tiêu hóa, chuyển hóa
Xuất xứ T5-T7 T8-T10 T l l - T l T2-T4 Tổng Tỷ lệ
% GTTT
(nghìn
đồng)
sx trong nước 9031,28 8390 7304,86 5708,1 30434,24 23,0 Nhập khẩu 29823,3 27943,49 21913,47 22249,61 101929,8 77,0 Tổng 38854,6 Ị i i l l i i i i i i 29218,33 27957,71 s l i i i i i i l l l 100,0
SLTT
(đơn vị)
sx trong nước 5935 5128 5087 4253 20403 39,9 Nhập khẩu 8684 8201 7699 7383 31967 61,1
Trang 35Nhân xét:
Nhóm thuốc này có mức tiêu thụ cao nhất từ tháng 5 đến tháng 7 (tương ứng vói mùa hè), thấp nhất từ tháng 2 đến tháng 4 (tương ứng với mùa đông) Tính theo cả số lượng, giá trị và tần suất tiêu thụ trong mùa hè vượt qua tất cả các mùa khác chiếm đến 29,4% tổng giá trị thuốc tiêu thụ; 27,9% tổng số lượng thuốc tiêu thụ và có số lượt mua xấp xỉ 1/3 tổng số lượt mua trong vòng 12 tháng
Thuốc nhập khẩu so vói thuốc sản xuất trong nước chỉ gấp 1,5 lần số lượng thuốc tiêu thụ nhưng giá trị tiêu thụ lại cao hơn 3,35 lần Có 58,6% khách hàng chọn mua thuốc nhập khẩu
Khác 24%
Thái Lan 6%
b) Mức tiêu thụ các phân nhóm thuốc nhóm tác dmg trên đường tiêu hóa, chuyển hóa
Bảng 3.9: Mức tiêu thụ các phân nhóm thuốc nhóm A
Trang 36Điều trị gan, mật Đái tháo 3% Khác
Biểu đồ 3.10: Cơ cấu tiêu thụ các phân nhóm thuốc trong nhóm A
(Tính theo TSTT)
Nhân xét;
Phân nhóm thuốc vitamin, khoáng chất có mức tiêu thụ cao nhất chiếm đến 42,6% tổng giá ttị tiêu thụ, chiếm hơn 50% tổng số lượng ứiuốc và tổng số lượng người mua trong vòng 12 tháng
Phân nhóm thuốc điều trị tiêu chảy, viêm một dứng thứ hai về số lượng thuốc tíêu thụ (chiếm 11,5%) và tần suất tiêu tìiụ (chiếm 15,8%) Nhưng đứng thứ hai về giá ữị tíêu thụ lại tìiuộc về các tìiuốc điều trị loét dạ dày, tá tràng (chiếm 17,1% tổng giá tri tiêu ứiụ cả nhóm)
ứiấp (chiếm 5,8%) nhưng số lượng thuốc tiêu thụ khá lớn (chiêm 10,9%) chỉ đúng sau lượng ứiuốc điều trị tiêu chảy, viêm một được tiêu thụ và có giá ừị tiêu tìiụ (chiếm 12,4%) đứng ứiứ ba ừong nhóm
Mức tiêu thụ của thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu trong cụ thể từng phân nhóm đưcK; thể hiện qua Biểu đồ 3.11
Trang 37Đtóu ĩ ậ Đ tóuiiỊ ĐlcuTrị vLTamÌQ, Đ tóuĩíị
[iiuchay, viiíni toéi inâT, g aa khiũỏag ĐTĐ
Điiẻum Đ iiẽuTcỊ Đ tóu icị ViiaiiiÌQ, ĐiiCuTrị liiẾu ctèy, vữtni loỂi nôT, kbũõQg ĐTĐ
Biểu đồ 3.11: Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu được tiêu thụ
trong các phân nhóm thuốc nhóm A
Vitamin, khoáng chất là phân nhóm duy nhất có giá trị và số lượng thuốc sản xuất trong nước được tiêu thụ cao hơn thuốc nhập khẩu chiếm 53% tổng giá tiỊ tiêu thụ, 58% tổng số lượng tiêu thụ của phân nhóm này
Về số lượng, phân nhóm thuốc điều trị đái tháo đường có số lượng thuốc sản xuất trong nước được tiêu thụ là thấp nhất
Giá tn tiêu thụ các thuốc điều tiỊ loét dạ dày tá tràng sản xuất trong nước là thấp nhất chiếm 3% tổng giá trị tiêu thụ
Mức độ tiêu thụ các hoạt chất trong từng phân nhóm thuốc nhóm A thể hiện trong Bảng 3.10
Bảng 310: Một số hoạt diất oổ mức tíâi Ihụ cao nhất tixx^ (ác |M n nhóm ttiuốc nhóm A
Phân nhóm Hoatchất Tỷ lệ %
Biệt dược tiêu thụ manh nhất GTTT SLTT TSTT Tên Xuất xứ Vitamin, khoáng chất multivitamin 39,0 20,1 31,1 Pharmaton Pháp Tiêu chảy, viêm một add lactic 52,6 38,0 47,6 Biolac Viêt Nam Loét dạ dày tá tràng Al, Mg silicate 9,4 16,0 23,2 Smecta Pháp Đái tháo đường gliclazide 68,7 72,6 63,4 Diamicron Pháp Điều tiỊ gan, mật silymarin 62,1 48,2 68,6 Vidocenol LD
Trong phân nhóm vitamin, hoạt chất có mức tiêu thụ cao nhất là multivitamin chiếm 39,0% giá tìị tiêu thụ; 20,1% số lượng tiêu thụ và có 31,1% ngưòi sử dụng Riannaton là biệt dược của Riáp có tần suất ngưòi mua cao nhất trong phân nhóm này trong vòng 12 ứiáng tính đến tháng 4 năm 2007
Trang 38Trong số các thuốc điều trị các bệnh gan - mật, thuốc có chứa hoạt chất silymarin có số lượng ngưòi mua lớn nhất chiếm 68,6% tổng số lượt ngưòi mua phân nhóm này vói chế phẩm tiêu thụ mạnh nhất là Vidocenol.
Số lượng thuốc tiêu thụ và số lượng ngưòi mua cao nhất trong phân nhóm điều trị tiêu chảy, viêm ruột có hoạt chất là acid lactic (còn gọi là men tiêu hóa) vói sản phẩm bán chạy nhất là Biolac của Việt Nam
3.I.I.2 Nhóm thuốc tác dụng trên hệ hô hấp (R)
a) Mức tiêu thụ nhóm thuốc tác dụng trên hệ hô hấp
Bảng 3.11: Mức tiêu thụ nhóm thuốc tác dụng trên hệ hô hấp
9285,48 11186,3 n « 5 12443,7 SLTT
(đơn v ị)
sx trong nước 1076 577 2179 2109 5941 Nhập khẩu 1601 1508 1615 1689 6413 51,9 TẩM | | | Ị | | ; j j 2085 3794 ■ l l ĩ 12354 Ị0O,Ơ TSTT
E 3 S L T T (đơn vị)
•TSTT (lượt)
Biểu đồ 3.12: Mức tiêu thụ nhóm thuốc tác dụng trên hệ hô hấp
Trang 39Nhân xét;
Mùa đông và mùa xuân có mức độ tiêu thụ cao hofn so vói mùa hè và mùa thu Giá trị tiêu thụ vào mùa xuân đạt mức cao nhất chiếm 27,94% tổng giá trị tiêu thụ, gấp 1,3 lần giá trị tiêu thụ trong mùa hè Từ tháng 11 đến tháng 4 số lượng thuốc tiêu thụ là 7592 đơn vị tương ứng với 870 lượt người mua và có khoảng cách chênh lệch khá xa so với tháng 5 đến tháng 10 (4752 đơn vị; 674 lượt mua)
Thuốc nhập khẩu so với thuốc sản xuất trong nước có số lượng tiêu thụ chỉ cao hơn 1,2% nhưng giá trị tiêu thụ lại cao hơn đến 78,4% Tính theo tần suất tiêu thụ có 31% khách hàng lựa chọn mua thuốc Việt Nam, 15% thuốccủa Pháp, 13% thuốc của Ấi Độ và 10% thuốc của Thái Lan
Khác
s x trong nước 31%
Bảng 3.12: Mức tiêu thụ các phân nhóm thuốc tác dụng trên hệ hô hấp
Phân nhóm thuốc GTTT Tỷ S L ll ¡ ¡ ■ i i i i
’iip-liiĩ T s r i % Điều tìị ho, lạnh (R05) 10361,9 23,2 :: 4820 572
E)iều trị hen (R09) 13439,8 30,1 1165 161 m m ẵĐiều trị trong khoa mũi (ROI) 5081,5 665 254 :
Điều ttị trong khoa họng (R02) 3779 2491 205
Các kháng histamin (R06) 9305,75 - ẵ m - 2320 322
TỔng(R) 44625,95 100,0 12354 100,0 1544 100,0
Trang 40Các thuốc điều trị hen có giá trị tiêu thụ cao nhất chiếm 30,1% tổng giá trị tiêu thụ của cả nhóm mặc dù tần suất người mua là ít nhất.
Biầiđồ3.15: Múc tiêu ttiụ các phân nhóm thuốc tác dụng tr^ đường hô hâ^
(Tính theoSLTT)
Điều đáng chú ý là tất cả các phân nhóm trong nhóm thuốc tác dụng trên hệ hô hấp đều có xu hướng tăng cao từ tháng 11 đến tháng 4 (tương ứng