nhập khẩu chưa hoàn chỉnh, thiếu vốn, thiếu thông tin, thiếu cán bộ có nghiệp vụ thương mại và trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y tế.Đứng trước tình hình thực tiễn như thế, để hiểu rõ
Trang 1KHẢO SÁT VIỆC QUẢN LÍ NHẬP KHẢU TRANG THIÉT BỊ Y TÉ
/ ' " ' A ^
Người huớng dan : TS Nguyễn Thị Sortg H a °^ • / /r\J
Vụ TTBYT và CTYT
Hà Nội, tháng 05/2007
&
Trang 2tốt nghiệp, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, tận tình íỊÍủp đỡ của các thầy cô, bạn bè và người thân Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tói T.s Nguyễn Thị Song Hà - người đã luôn tận tình hướnẹ dẫn, chỉ bảo, và cho em rất nhiều ý kiến sâu sắc, giúp em hoàn thành cuốn luận văn này.
E m cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PG S.TS Nguyễn Thị Thái
H ằng - Chủ nhiệm bộ môn cùng các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý và
K inh tế Dược Các thầy cô đã miệt mài truyền đạt không chỉ kiến thức mà cồn cả kinh nghiệm sông làm phong phú thêm hành trang cho chúng em bước vào đời
Cũng xin bày tỏ lòng biết Ơ 1 Ĩ sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt 5 năm học qua.
Em cũng xin chân thành cảm ơn ThS.KS N guyễn M inh Tuấn- Phó
vụ trưởng Vụ trang thiết bị và công trình y tế; các cán bộ của công ty Thiết
bị y tê TW1 đặc biệt là cô N guyễn Thị Lan A n h - trưởng phòng kinh doanh; các cán bộ của công ty Vim edim ex I- những người đã giúp đỡ em hết m ình trong quá trình thu thập tài liệu và sô liệu.
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn tới cha mẹ, bạn bè và những người thân, những người luôn dành tình yêu thương, chăm sóc, động viên và nâng đỡ tôi trong cuộc sống này.
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2007
Sinh viên
Lê Thị Thúy A n
Trang 3Điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRANG THIẾT bị Y t ế 3
1.1.1 Khái niệm và vai trò của TTBYT 3
1.1.2 Phân loại trang thiết bị y tế: 5
1.2 NHŨNG VẤN ĐỀ c ơ BẢN VỀ XUẤT NHẬP KHAU tra n g THIẾT BỊ Y TẾ 7
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về xuất nhập khẩu 7
1.2.2 Vài nét về tình hình nhập khẩu trang thiết bị y tếởV iệt Nam trong những năm gần đây: 9
1.3 HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP QUY ĐlỀư CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRANG THIẾT BỊ Y TẾ: 17
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, NỘI DUNG NGHIÊN c ú ư 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ú ư : 19
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIEM n g h iê n c ú ư : 19
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU: 19
2.3.1 Phương pháp mô tả hồi cứu: 19
2.3.2.Phương pháp phân tích S.W.O.T 20
2.3.3.Phương pháp chuyên gia: 20
2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY s ố LIỆU: 21
2.5 NỘI DUNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CÚU: 22
2.6 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU: 23
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ú u VÀ BÀN LUẬN 24
3.1 NGHIÊN c ú u TÌNH HÌNH NHẬP KHAU TTBYT ở n ư ớ c t a t r o n g NHŨNG NĂM GẦN ĐÂY 24
3.1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý XNK TTBYT: 24
Trang 53.1.4 Cơ cấu trang thiết bị bị y tế nhập khẩu: 32
3.1.5 Nghiên cứu tình hình nhập khẩu trang thiết bị y tế của một số công ty qua một s ố chỉ tiêu : 37
3.2 NGHIÊN CÚtJ MỘT s ố QUY ĐỊNH, QUY TRÌNH, THỦ TỤC HIỆN HÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ XNK TTBYT 47
3.2.1 Một số quy định, quy trình, thủ tục trong XNK TTBYT: 44
3.2.2 Nhập khẩu ủy thác tra n g th iế t bị y t ế : 53
3.2.3.Sơ bộ phân tích tính thích ứng của một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực quảnlýX N K TTBYT ở nước ta: 55
3.3.BÀN LUẬN 61
3.3.1 Bàn luận về tình hình nhập khẩu TTBYT nói chung: 61
3.3.2 Bàn luận về tính thích ứng và một số điểm bất cập của các văn bản pháp quy trong công tác quản lý xuất nhập khẩu TTBYT: 66
PHẦN 4: KẾT LUẬN, KIẾN n g h ị, đề x u ấ t 68
4.1 KẾT LUẬN: 68
4.1.1 Về kết quả hoạt động nhập khẩu TTBYT ở nước ta trong những năm gần đây: 68
4.1.2 Về sơ bộ tính thích ứng của các quy trình, thủ tục, hệ thôhg văn bản pháp quy trong công tác quản lý xuất nhập khẩu: 69
4.2 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: 70
4.2.1 Kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước: 70
4.2.2 Kiến nghị với các công ty làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu'. 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng Tên bảng Trang
Bộ Y tế
6
ảnh tại một số nước
14
nhập khẩu TTBYT
17
Trang 7Bảng 3.15 Lượng nhập thiết bị chẩn đoán hình ảnh (tính 5
tháng đầu năm 2005-2006)
36
Bảng 3.24 14 mặt hàng phải qua sự kiểm tra chất lượng của
Viện TTB&CTYT
59
Trang 8Hình Tên hình Trang
thuốc và TTB
4
nhóm chuyên gia
21
tham gia nhập khẩu năm 2006
26
năm 2004- 2006 (triệu USD)
Trang 9Hình 3.14 Tốc độ tăng trưởng doanh thu của công ty cổ phần
thiết bị y tế Medinsco
42
trong giai đoạn hiện nay
52
Trang 10Đặt vấn đềThế giới mà chúng ta đang sống thay đổi không ngừng trước những ứng dụng của khoa học công nghệ vào sự phát triển kinh tế xã hội Tất cả các quốc gia, các ngành nghề đang chuyển mình trong trong xu thế hội nhập cùng phát triển và Việt Nam cũng không ngoại lệ Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhân tố con người đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong vận hội mới của đất nước do đó việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân luôn được quan tâm, đặt lên hàng đầu.
Đi kèm vói tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, tồn tại song song vói những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị văn hóa xã hội là những vấn đề khó khăn mà Việt Nam đang phải đối mặt hậu thòi kỳ mở cửa Đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, phân biệt giàu nghèo, và đặc biệt là mô hình bệnh tật ngày càng phong phú, diễn biến theo chiều hướng phức tạp Những bệnh hiểm nghèo, bệnh mãn tính tăng nhanh phổ biến như HIV, bệnh tim mạch, những bệnh khó kiểm soát như SARS, bệnh cúm gia cầm cũng xuất hiện ngày càng nhiều Do đó nhiệm
vụ của ngành Y, Dược, và Trang thiết bị ngày càng nặng gánh, làm sao để cho nhân dân có sức khỏe tốt, dồi dào, giảm được tỷ lệ tử vong do các bệnh hiểm nghèo và ngăn chặn được các dịch bệnh
Thiết bị y tế- loại hàng hóa đặc biệt, ứng dụng được những thành tựu tiến tiến của khoa học kỹ thuật, đã và đang góp phần quan trọng, quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho ngưòi thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập và phát triển việc quản lý xuất nhập khẩu Trang thiết bị
y tế ở nước ta đang còn nhiều vấn đề bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước
Thực tế cho thấy, Trang thiết bị y tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực, chủ yếu là
Trang 11nhập khẩu chưa hoàn chỉnh, thiếu vốn, thiếu thông tin, thiếu cán bộ có nghiệp vụ thương mại và trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y tế.
Đứng trước tình hình thực tiễn như thế, để hiểu rõ hơn về thị trường kinh doanh Trang thiết bị y tế và công tác quản lý xuất nhập khẩu Trang thiết bị y tế trong những năm gần đây, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Khảo sát việc quản lý nhập khẩu trang thiết bị y tế ở nước ta trong những năm gần đây“ được tiến hành vói mục tiêu:
1- Khảo sát kết quả hoạt động nhập khẩu trang thiết bị y tế ở nước ta trong những năm gần đây thông qua một số chỉ tiêu cơ bản
2- Sơ bộ phân tích tính thích ứng của các quy trình, thủ tục, hệ thống văn bản pháp quy trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế đang được áp dụng
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Từ đó đưa ra các kiến nghị và đề xuất những giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém, khai thác điểm mạnh, góp phần nâng cao chất lượng trong việc quản lý xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế ở nước ta
Trang 12PHẦN I TỔNG QUAN
1.1.1 Khái niệm và vai trò của TTBYT
♦> Căn cứ theo thông tư số 13/2002/TT-BYT ra ngày 13/12/2002 của Bộ
Y tế, khái niệm TTBYT được hiểu như sau:
“ Trang thiết bị y tế bao gồm tất cả các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư,
phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho công tác khám chữa bệnh,
chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân”[6].
nghĩa: “Thiết bị y tế có nghĩa là các phương tiện, máy móc, dụng cụ dùng cho phồng thí nghiệm, phương tiện, máy móc, thiết bị, mô cấy vào cơ thể, thuốc thử trong ống nghiệm, phần mềm, nguyên vật liệu hoặc các vật phẩm có liên quan hay có đặc tính tương tự dùng trong ữnh vực y tế;
Các thiết bị này được các nhà sản xuất làm ra, có thể dùng một mình, hoặc kết hợp nhiều thiết bị y tế vói nhau nhằm phục vụ một hay nhiều mục đích xác định của con người” [9], bao gồm:
- Chẩn đoán, phòng bệnh, theo dõi, điều tri hoặc giúp bệnh thuyên giảm
- Chẩn đoán, theo dõi, điều trị, giảm nhẹ hoặc bù đắp trong trường hợp thương tổn
- Kiểm tra, thay thế, hỗ trợ quá trình giải phẫu hay quá trình điều trị chức năng
Trang 13Trong khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giói, vai trò của TTBYT đã được khẳng định là một lĩnh vực chuyên môn của ngành y tế và là một trong ba lĩnh vực cấu thành ngành y tế Y, Dược, TTBYT hay nói cách khác Thầy thuốc, Thuốc và TTB, ba lĩnh vực này gắn kết với nhau chặt chẽ mà nếu thiếu một trong
3 yếu tố thì ngành y tế không thể hoạt động được [7]
Hình 1.1 Biểu đồ biểu diễn mối quan hệ giữa thầy thuốc, thuốc và TTB.
Thuật ngữ thiết bị y tế {medical device) đề cập tói một lĩnh vực rất rộng, từ
những thiết bị đơn giản cho tới máy móc công nghệ cao Cũng tương tự như thuốc và những mặt hàng kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ khác, TTBYT rất cần thiết với quá trình chăm sóc điều tri bệnh nhân tại nhà, tại các trung tâm y tế ở vùng nông thôn tới các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên ngành [9]
Do đóng vai trò quan trọng như vậy nên trên thế giới trong vòng hai thập
kỷ cuối thể kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều loại TTBYT hiện đại như máy CT- scaner, máy cộng hưởng từ (MRI), thiết bị siêu âm mầu Dopler, đã ra đời, giúp cho việc chẩn đoán bệnh một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, hiệu quả cao đồng thời còn giúp cho ngưòi bệnh thêm lạc quan, hy vọng hơn trong việc đẩy lùi căn bệnh nguy hiểm đang được chữa trị
Tuy nhiên, TBYT cũng tiêu tốn của chính phủ một lượng lớn tiền Theo báo cáo WHO vào năm 2000, ước tính có khoảng 1,5 triệu TBYT khác nhau lưu hành trên thị trường, trị giá tương ứng khoảng hơn 145 tỷ USD Và con số này vào năm 2006 là trên 260 tỷ USD Với sự đổi mới liên tục và sự tiến bộ của khoa
Trang 14học kỹ thuât, TBYT đã trở thành một trong những ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất [9].
Nếu xét về mặt kỹ thuật chuyên môn, TTBYT giữ một vai trò hết sức quan trọng, “then chốt” trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa ngành Y tế về mặt giá trị kinh tế, TTBYT cũng chiếm một phần hết sức to lớn- WHO đã báo động cho cộng đồng thế giói rằng khối lượng tài sản TTBYT trên toàn thế giới là khổng lồ, chi phí hằng năm để duy trì hoạt động và bổ sung TTBYT gấp 1,5 lần chi phí cho thuốc chữa bệnh của toàn nhân loại [7]
Nhìn vào thực tế, ta thấy rằng mặc dù hàng tỷ đô la được chi ra hằng năm nhằm tăng cường lượng trang thiết bị y tế nhưng phần lớn các nước coi việc quản
lý thiết bị như quá trình “thu mua" hàng hóa hơn là một phần tất yếu của chính sách về y tế cộng đồng Khoảng 95% thiết bị kỹ thuật ở các nước đang phát triển
được nhập khẩu, phần lớn trong số này không phù hợp vói nhu cầu của hệ thống
chăm sóc sức khỏe quốc gia Lên tói 50% trang thiết bị không sử dụng được do
không được bảo dưỡng hoặc không có phụ tùng thay thế Do nó quá phức tạp hoặc quá đơn giản, hoặc do người phụ trách không biết cách sử dụng Điều này lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự chăm sóc sức khỏe nhân dân, và được coi như là một
sự lãng phí [9]
Như vậy, ta có thể thấy TTBYT là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh cũng như chữa bệnh TTBYT ngày càng chứng minh được tính lợi ích và tính tiện dụng trong việc chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe cho đời sống sức khỏe của con người
1.1.2 Phân loại trang thiết bị y tế:
Theo thông tư số 13/2002/TT- BYT ra ngày 13- 12- 2002, các loại TTBYT
cụ thể được trình bày trong bảng 1.1 [6]:
Trang 15Bảng 1.1 Phân loại TTBYT theo thông tư I3/2002/TT- BYT của Bộ Y tế
1
Thiết bị y tế: các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực y tế
2
Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: phương tiện
động cho y tế
3
Dụng cụ vật tư y tế: các loại dụng cụ, vật tư hóa chất xét nghiệm được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe
4
Các loại dụng cụ, vật tư cấy, ghép trong cơ thể gồm: xương nhân tạo, nẹp, vít cố định xương, van tim, ống nong mạch, ốc tai điện tử, thủy tinh thể,
Dựa vào các nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phân loại TTB bệnh viện ra 10 nhóm thiết bị chính như sau:
Bảng 1.2 Phân loại TTBYT theo nội dung chuyên môn y học [7]:
1
Nhóm thiết bị chuẩn đoán hình ảnh: Máy X-quang các loại, máy cộng hưởng từ, máy chụp cắt lớp điện toán, máy chụp mạch hiện số, các thiết bị cắt lớp Positron
điện cơ đồ,
3 Thiết bị labo xét nghiệm: sắc ký khí, quang phổ kế, máy đếm tế bào,
4 Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ: Máy thở, máy gây
mê, máy cảnh giói các loại,
5 Thiết bị vật lý trị liệu: Máy điện phân, điện giao thoa,
Trang 166 Thiết bị quang điện tử y tê như Laser C02, phân tích máu bằng Laser.
7 Thiết bị đo và điều trị chuyên dùng như: Máy đo công năng phổi, máy đo thính giác, máy tán sỏi,
8 Các thiết bị điện y tế phương đông như: máy dò huyệt, máy châm cứu,
THIẾT BỊ Y TẾ
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về xuất nhập khẩu
❖ Đinh nghĩa xuất nhâp khẩu:
Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu là hai hình thức cơ bản của hoạt động thương mại quốc tế
Xuất nhập khẩu hàng hóa là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ vói một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ để thanh toán
Mục đích của hoạt động xuất nhập khẩu là thu được lọi nhuận thông qua việc khai thác được lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế [11], [12]
Trang 17❖ Mốt số đãc điểm của kỉnh doanh xuất nhâp khẩu:
Kinh doanh xuất nhập khẩu được tiến hành với những chủ thể là những cá nhân, doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau Hàng hóa thường được mua bán với khối lượng lớn, đạt tiếu chuẩn quốc tế Việc buôn bán vượt qua biên giới của một quốc gia do đó nguồn luật để điều chỉnh phải là luật của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc luật của nước thứ ba
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, đồng tiền thanh toán là đồng tiền mạnh
Nó là ngoại tệ ít nhất là vói một quốc gia
Khác vói thị trường trong nước, thị trường trong kinh doanh xuất nhập khẩu là thị trường rộng lớn, có những đặc điểm khác biệt so với thị trường trong nước về đặc tính, tâm lý khách hàng, thói quen mua sắm, văn hóa xã hội
Kinh doanh xuất nhập khẩu liên quan đén quan hệ kinh tế chính trị của nước xuất khẩu, nhập khẩu do đó hoạt động xuất nhập khẩu là cơ hội để doanh nghiệp có mối quan hệ làm ăn lâu dài với các doanh nghiệp các nước khác
Việt Nam là nước có quy mô nhỏ trên thị trường quốc tế, không có tác động đến giá cả của thị trường quốc tế Thách thức lớn nhất của Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu là quy mô xuất nhập khẩu nhỏ, kinh nghiệm và năng lực đàm phán xuất nhập khẩu chưa cao, các chính sách xuất nhập khẩu thường bị động Nên vai trò tác động đến thị trường không đáng kể, dẫn đến việc chúng ta thường phải chấp nhận sự chèn ép giá khi tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Hàng hóa theo giấy phép thương nhân muốn xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy phép của Bộ Thương mại hoặc các bộ quản lý chuyên ngành [10],[11],[12]
Trang 181.2.2 Vài nét về tình hình nhập khẩu trang thiết bị y tế ở Việt Nam trong những năm gần đây:
> Tình hình nhập khẩu TTBYT ở Việt Nam:
Vào những năm đầu của thập kỷ 90, điều kiện cơ sở vật chất, trang bị của
các cơ sở y tế Việt Nam còn khá nghèo nàn Sản xuất TTBYT trong nước còn
yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong khi đó hàng hoá nhập ngoại ồ ạt,
chưa có quy chế kiểm tra điều tiết dẫn tới nhiều loại TTBYT lạc hậu, chất lượng
kém chạy vào Việt Nam [7]
Trước năm 2000, trên 90% TTBYT sử dụng trong ngành y tế phải nhập
khẩu từ nhiều nước khác nhau, đặc biệt là các TTBYT đắt tiền Gần đây theo báo
cáo của Bộ Y tế, chỉ có 30 - 40% số TTBYT đang sử dụng là hàng nội, còn lại
phải nhập khẩu Không chỉ những trang thiết bị kỹ thuật cao như máy gia tốc
tuyến tính điều trị ung thư, thiết bị mổ nội soi, máy cộng hưởng từ, máy chụp cắt
lớp mà ngay cả các thiết bị thông thường, đơn giản cũng phải nhập khẩu Tình
trạng nhập khẩu phổ biến từ các bệnh viện lớn, ở TW đến những tuyến y tế cơ sở
ở các quận, huyện địa phương [8]
Nguyên nhân chính khiến các cơ sở y tế "sính dùng hàng ngoại" vì
TTBYT Việt Nam quá nghèo nàn và đơn điệu, không đáp ứng được nhu cầu đang
ngày càng đa dạng và đòi hỏi cao của ngành y tế Hiện trên thế giới có hơn 1
triệu chủng loại TTBTY thì Việt Nam mới tự sản xuất được khoảng hơn 600 loại,
hầu hết là các y cụ đơn giản, giá trị thấp Ngay trong những dòng sản phẩm thông
dụng nhất, TTBYT Việt Nam cũng chỉ đáp ứng được 20%-30% nhu cầu thực tế [8]
Trang 19Cũng do điều kiện kinh tế còn nghèo, thêm vào đó cũng chưa có những chính sách ưu tiên cho phát triển sản xuất TTBYT Mặt hàng thành phẩm nhập vào Việt Nam có chi phí thuế thấp hơn cả thuế dành cho nguyên liệu, vật tư lắp ráp trang thiết bị Do đó để đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và hướng tới xuấtkhẩu vẫn còn là một chặng đường dài ở phía trước Việc tăng cường hợp tác vóicác tổ chức quốc tế, cho phép thành lập các công ty liên doanh về sản xuất trang thiết bị đang được đẩy mạnh.
Về xuất khẩu TTBYT hiện nay gần như là không đáng kể Hiện tại vẫn chưa có tài liệu quản lý toàn ngành nào thống kê về mặt hàng cũng như trị giá tiền TTBYT được xuất khẩu ra nước ngoài; Nếu có cũng chỉ là những thị trường lân cận với các mặt hàng vật tư tiêu hao như bông, băng, kim tiêm
Với tình hình xuất nhập khẩu thực tế như vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ tói các hoạt động khác như cung ứng, sản xuất, mua sắm, bảo dưỡng TTB
'> Tình hình cung ứng TTBYT
Hệ thống cung ứng và lưu thông
phân phối TTBYT tạo thành một mạng lưới
từ TW đến địa phương và được mở rộng
vói sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế bao gồm cả các công ty nhà nước, công
ty TNHH, và các tập đoàn lớn của nước
ngoài, góp phần cung cấp những sản phẩm
hiện đại nhất của TTBYT tói Việt Nam
Hình 1.2 Thống ké toàn cầu về nguổn
TTBYT, thì hoạt động cung ứng phát triển mạnh mẽ hơn hoạt động sản xuất Các mặt hàng được cung ứng hiện nay chủ yếu vẫn là hàng ngoại nhập từ nhiều nguồn khác nhau như Nhật Bản, Đức, Pakistan, Mỹ, Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thống kê của WHO về các nước sản xuất TTB xuất khẩu cho các quốc gia khác trên toàn cầu [9]
Trang 20Ta có thể khái quát hệ thống cung ứng TTBYT ở nước ta qua sơ đồ dưới
đây:
Hình 1.3: Sơ đồ hệ thống cung ứng TTBYT
y Tình hình sản xuất TTBYT trong nước
Trước tình hình đó, ngày 21/01/2005 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
Đề án ‘Nghiên cứu chế tạo và sản xuất TTBYT“(QE) số 18/2005/QĐ-TTg) Mục tiêu của đề án là phát triển một cách toàn diện lĩnh vực TTBYT với mục tiêu đến năm 2010 có thể sản xuất, cung ứng các TTBYT thiết yếu, thông dụng và một số TTBYT công nghệ cao cho các tuyến y tế; bảo đảm thực hiện được mục tiêu của Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010 Đây thực sự là một cơ sở pháp lý quan trọng, tạo động lực lớn khuyến khích các nhà đầu tư, các trung tâm KHCN trong cả nước nghiên cứu chế tạo và sản xuất TTBYT, từng bước xây dựng nền móng phát triển ngành công nghiệp TTBYT của Việt Nam
Với chủ trương nội địa hóa sản phẩm TTBYT, giảm dần nhập khẩu đối với những lĩnh vực trong nước có lợi thế, Bộ Y tế đã tăng cường chỉ đạo và định hướng hệ thống sản xuất kinh doanh TTBYT Tổng công ty thiết bị y tế Việt
Trang 21Nam với sáu đơn vị thành viên đã có những bước tiến rõ rệt, từ chỗ chủ yếu là nhập khẩu, đến nay nền công nghiệp TTBYT Việt Nam đã đảm bảo được khoảng 30% đến 40% nhu cẩu về TTBYT trong nước, hàng năm đã có một số mặt hàng xuất khẩu cho một số nước châu Âu, Đài loan, Hồng Kông, Liên bang Nga
nhưng không đáng kể [81
Theo số liệu của "B&CTYT tính đến 30/10/2006, chúng ta có 48 đơn
vị nghiên cứu chế tạo và sản xuất 1'IBYT trong nước vói tổng cộng 621 sản phẩm TTBYT đã được cấp giấy phép lưu hành Trong đó:
- Vật tư tiêu hao: 33 đơn vị, mặt hàng như: Dụng cụ cao su y tế (Găng
tay, Condoms), dụng cụ nhựa y tế (Bơm tiêm một lần, dây truyền dịch)
- Thiết bị nội thất bệnh viện: 12 đơn vị sản xuất
- Nồi hấp tủ sấy, thiết bị tiệt trùng: 03 đơn vị sản xuất
- Thiết bị chẩn đoán hình ảnh X-quang siêu âm: 02 đơn vị đang nghiên
cứu sản xuất
- Thiết bị laser phẫu thuật và vật lý trị liệu, phục hồi chức năng: 01 đơn
vị sản xuất
- Thiết bị laser điêu trị: 02 đơn vị sản xuất
- Các thiết bị điện tử y tế khác như điện tìm, máy nghe tìm thai, máy lắc máu, máy hút dịch: 02 đơn vị sản xuất.
Nhìn vào kết quả trên ta có thể nhận thấy những nét khcd sắc trong lĩnh vực công nghiệp TTBYT tuy nhiên để phát triển sản xuất TTB Y tế cần có sự tham gia của nhiều Bộ, ngành liên quan với chủ trương xã hội hoá và đa dạng hoá, tiến tới có thể tham gia xuất khẩu TTBYT trong các năm tới Bởi chúng ta mới chỉ sản xuất được những TTBYT thông thường, chất lượng hàng trong nước chưa cao, đôi khi còn hay hỏng vặt và các cơ sở y tế trong nước cũng chưa mấy
“mặn mà” với hàng nội địa Các cơ sở sản xuất còn ít, nhỏ lẻ và chưa được đầu
tư đúng mức để đổi mói công nghệ sản xuất Thêm nữa giá thành TTB thường cao, chưa có sức cạnh tranh do chưa có chính sách ưu tiên về vay vốn ưu đãi, xin thuê đất để mở rộng cơ sở sản xuất, thuế nhập phụ tùng linh kiện điện tử, cơ khí
Trang 22phục vụ cho quá trình lắp ráp sản xuất, sửa chữa, bảq dưỡng TTBYT Do đó tất yếu trang thiết bị y tế nhập khẩu chiếm ưu thế.
> Tình hình trang bị và sử dụng TTBYT tại Việt Nam:
Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, trong hơn mười năm thực hiện đổi mới ngành y tế đã đẩu tư nâng cấp các TTBYT tại các cơ sở y tế đặc biệt là các trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, TP.HỒ Chí Minh như bệnh viện Bạch
Mai, Chợ Rẫy, 108 quân đội [ 8 ] ^ ^ ^
Tại các bệnh viện tỉnh, các khoa chủ yếu như: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu đã được trang bị một số thiết bị
cơ bản Theo số liệu điều tra của các bệnh v i ệ ^ l ^ x ^ ò ^ của 822 bệnh viện do
Vụ điều trị và Dự án Hỗ trợ y tế Quốc gia phối hợp, số lượng một số TTB cơ bản
Bảng 1.3: Số lượng mọt SỐTTB cơ bản của các bệnh viện *
SỐ
ĐANGDÙNGThiết bị chuẩn
đoán hình ảnh
Máy chụp mạch máu (DSA) 1 và 2 bình điện
Thiết bị sinh hoá
và huyết học
Trang 23Tại 64 tỉnh, thành phố trực thuộc TW đều được trang bị đủ TTB để sàng lọc phát hiện bệnh nhân bị nhiễm HIV, viêm gan, một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong công tác truyền máu an toàn [6], [8].
Các Trung tâm y tế huyện đã được tran^bĩnhững thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán
và xe ô tô cứu thương Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần thiết để phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân
số và kế hoạch hóa gia đình [6]
Tuy nhiên, với đầu tư rất lớn vào TTBYT trong thòi gian gần đây, vấn đề đặt ra là hệ thống y tế nước ta có sử dụng TTBYT hiệu quả không Có hai khía cạnh khác nhau có thể đánh giá
Thứ nhất là số lần sử dụng so vói dân số, so sánh tình hình sử dụng TTBYT ở nước ta vói các nước có số liệủ, dù số liệu không nhất quán, vẫn có thể thấy, số lần chụp cắt lớp của nước ta còn rất thấp, X-quang và siêu âm lại rất cao ^
Bảng l.4:ước tính tỉ lệ sử dụng một số kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tại một số nước
Đơn vị: Số lần bình quân 1000 dân
Nguồn: Mỹ [13] [14], Ca-na-da [15], Anh [16], úc 17], Việt Nam [4]
Xét về khía cạnh công suất sử dụng của TTB Y tế, sẽ thấy ở nước ta, công suất sử dụng máy rất thấp (xem Bảng 1.5) Chỉ so sánh được giữa Việt Nam và nước khác đối với máy cắt lớp, công suất sử dụng trung bình tại bệnh viện công
lập chỉ khoảng một nửa so với Canada và chỉ 70% so với ở Mỹ Đối với siêu âm,
không có mức so sánh, nhưng tính bình quân một ngày, nếu ngày nào cũng thực hiện thì chỉ có 13 lần siêu âm bình quân một ngày
Trang 24Bảng 1.5 Công suất sử dụng TTB Y tế ở một số nước
Đơn vị: tổng số lần sử dụng!năm
Nguồn: Mỹ [13], Ca-na-da [15], Việt Nam [4]
Công suất sử dụng TTB y tế chưa cao, một phần vì dân không có khả năng chi trả sử dụng dịch vụ, một phần vì đầu tư thừa hoặc chưa đồng bộ, tổ chức sử dụng chưa hiệu quả và một phẫn vì TTB hư hỏng, thiếu kinh phí và cán bộ kỹ thuật
Chúng ta phải thừa nhận thực tế TTBYT của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực Hầu hết TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao
> Công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT:
Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là giải quyết bảo dưỡng, sửa chữa TTB y
tế Hiện nay hệ thống y tế đang thiếu cán bộ có đủ kỹ năng bảo dưỡng và sửa chữa TTB Ngành sản xuất TTB vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phụ tùng thay thế Ngân sách nhà nước hiện nay dành cho bảo dưỡng, sửa chữa còn thấp so với nhu cầu Trung bình kinh phí bảo dưỡng trong 1 năm cho các thiết bị y tế không nhỏ, tuỳ thuộc vào từng chủng loại thiết bị (xem bảng 1.6)
Trang 25Bảng 1.6 Chỉ phí bảo dưỡng TTBYT bình quân một năm
(Nguồn: V ụ T T B B ộ Y tế Việt Nam)
> Vê công tác kiểm định, kiểm chuẩn của TTBYT:
Hiện tại ngành y tế Việt Nam chỉ có 10 cán bộ làm công việc kiểm định, kiểm chuẩn TTBYT tại Viện TTB và CTYT Với thiết bị đo chuẩn nghèo nàn, cơ
sở vật chất yếu kém, trình độ cán bộ hạn chế, liệu nhân viên của Viện TTBYT có
đủ khả năng, năng lực để đánh giá chất lượng của các loại TBYT nhập khẩu, có đầy đủ thiết bị để kiểm tra hay không trong khi yêu cầu tính chính xác, ổn định,
an toàn của các thiết bị chẩn đoán, điều trị rất cao Í81 —
> Vê nguồn nhân lực: trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa
đủ để khai thác hết công suất TTB hiện có Năng lực của cán bộ kỹ thuật TTBYT chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật công nghệ Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật TBYT còn thấp so với yêu cầu tr
Hiện nay để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi nhất định trong việc thống nhất quản lý về kinh doanh, xuất nhập khẩu TTBYT từ TW đến địa phương Thiết lập hệ thống thanh tra, kiểm tra và giám sát chất lượng TTBYT đang lưu hành trên thị trường Tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế có thể tham gia hoạt động kinh doanh và XNK TTBYT theo quy định của Nhà nước và Bộ Y tế
Có thể nói trong bối cảnh hội nhập toàn cầu thì lĩnh vực XNK TTBYT ở nước ta thật sự đang rất cấp thiết và đang diễn ra tương đối sôi động, rất cần một
sự quản lý chặt chẽ, hợp lý tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thông thoáng,
Trang 261.3 HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP QUY ĐIỂU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRANG THIẾT BỊ Y TÊ:
Trong công tác quản lý nhà nước không thể thiếu luật và các văn bản dưới luật, dưới đây là danh mục những văn bản pháp quy về xuất nhập khẩu trang thiết
hoá phải kiểm tra chất lượng
4505/QĐ-BYT
HS của phụ lục 07 kèm theo thông
13/06/2006 của Bộ trưởng BYT hướng dẫn nhập khẩu vắc xin, sinh phẩm y tế; hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng, y tế và TTBYT
Trang 27TT 06/2002/TT -
Hướng dẫn việc xuất, nhập khẩu
TI BYT theo diện quản lý chuyên ngành thời kỳ 2002-2005
Tăng cường công tác quản lý TTBYT
Tóm lại, thông qua hệ thống văn bản pháp quy và một số khái niệm cơ bản
về xuất nhập khẩu nói chung, xuất nhập khẩu TTBYT nói riêng cũng như tình
hình kinh doanh và sử dụng TTBYT ở nước ta hiện nay, chúng tôi hy vọng đã
phần nào khắc họa được cái nhìn tổng quát về lĩnh vực TTBYT hiện nay
Trang 28PHẦN 2
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Để hoàn thành được mục tiêu đề ra, đối tượng được tập trung nghiên cứu của đề tài là:
- Các báo cáo, số liệu xuất nhập khẩu TTBYT giai đoạn 2002 - 2006
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý xuất nhập
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2006 đến tháng 5/2007
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược- trường Đại học Dược Hà Nội + Vụ Trang thiết bị y tế và Công trình y tế - Bộ Y tế
+ Một số công ty xuất nhập khẩu TTBYT
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.3.1.Phươne pháp mô tả hồi cứu:
Nội dung: là lĩgHĩerrcữũnRững vân đề, sự kiện xảy ra trước thòi điểm bắt
đầu tiến hành nghiên cứu
Cách thức tiên hành: phương pháp này được áp dụng để thu thập thông
tin và số liệu về tình hình xuất nhập khẩu TTBYT từ năm 2002 đến năm 2006 Đây là phương pháp chủ đạo được áp dụng cho hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 29Hình 1.4: Quá ừinh tiến hành phương pháp mô tả hồi cứu
2.3.2.Phươns pháp phân tích S.W.O.T
Được áp dụng để phân tích tính thích ứng của các văn bản vói hoạt động xuất nhập khẩu Tí'BYT ở Việt Nam Ngoài ra, S.W.O.T còn được dùng để phân tích, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hoạt động xuất nhập khẩu TTBYT của nước ta trong thời kỳ hội nhập WTO
2.3.3.Phươns pháp chuyên sia:
Khái niệm: là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc phỏng vấn
các chuyên gia trong lĩnh vực mà người hỏi quan tâm
Tiến hành: gồm 2 hình thức:
Trang 30Phỏng vấn trực tiếp: bằng những câu hỏi đã được chuẩn bị trước.
Thảo luận nhóm: vân đề cần quan tâm được đưa ra thảo luận trước một
nhóm chuyên gia để đạt được một kết luận cuối cùng
Phương pháp này được sử dụng để nhằm phân tích đánh giá thực trạng xuất nhập khẩu TTBYT, những tồn tại, bất cập và dự đoán về tương lai trong hoạt động đăng ký và xuất nhập khẩu TTBYT
Hình 1.5 Kết hợp phương pháp phỏng vấn và thảo luận
Trang 31+ Nhịp mắt xích: So sánh liên hoàn.
- Phương pháp tỷ trọng
- Phương pháp Policy mapping: Đánh giá tính khả thi của chính sách
- Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office 2003.2.5 NỘI DUNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU:
Xin được trình bày tóm tắt ở hình 1.6 như sau:
Trang 322.6 THIẾT KÊ NGHIÊN CỨU:
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát hoạt động
nhập khẩu TTBYT
Cơ cấu tổ chức quản lý XNK
Số lượng doanh nghiệp tham
gia nhập khẩu
Tổng kim ngạch nhập khẩu
qua các năm; giá nhập khẩu
Cơ cấu TTBYT được nhập
khẩu: giấy phép + nguồn gốc
Tình hình nhập khẩu TTBYT
ở Vimedimex và Medinsco.
Phươngpháp hồi
_ /
Sơ bộ phân tích tính thích ứng của các quy trình, thủ tục, hệ thống văn bản pháp trong lĩnh vực XNK hiện nay
• Một số quy định, quy trình, thủ tục trong XNK TTBYT
• Nhập khẩu ủy thác TTBYT
• Tính thích ứng của các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý XNK TTBYT ở nước ta
era ”
Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên
cứu
Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Hình 1.6: Sơ đồ thiết k ế nghiên cứu
Trang 33PHẦN 3
3.1 NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHẬP KHAU TTBYT Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Trang thiết bị y tế nhập khẩu vào nước ta trong những năm trở lại đây từ nhiều nước khác nhau thông qua các doanh nghiệp được phép nhập khẩu trực tiếp Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đã đạt được những kết quả sau
3.1.1 Cơ cấu tổ chức quản l i XNK TTBYT:
Sau 4 năm thực hiện Chính sách quốc gia về Sau 4 năm thực hiện Chính sách quốc gia về TTBYT giai đoạn 2002-2005, và đang tiến hành giai đoạn 2006-
2010, lĩnh vực TTBYT Việt Nam đã có những chấn chỉnh và tăng cường quản lý Nhà nước về TTBYT từ TW đến địa phương Sau đây xin được trình bày sơ đồ tổ chức quản lý xuất nhập khẩu TTBYT
Hình 3.7: Sơ đồ tổ chức quản lý xuất nhập khẩu TTBYT
Trang 34Vụ TTB&CTYT trực thuộc Bộ Y tế, làm đầu mối quản lý việc sản xuất, kinh doanh xuất, nhập khẩu trang thiết bị y tế trong toàn Ngành.
Tổng cục hải quan trực thuộc Bộ Tài chính tổ chức thực hiện pháp luật về thuế vói hàng hóa xuất nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất, nhập khẩu Các giấy
tờ liên quan đến giấy phép nhập khẩu mặt hàng TTBYT thống nhất giữa Bộ Tài chính và Bộ Y tế
Sơ đồ tổ chức quản lý xuất nhập khẩu trên thống nhất trong cả nước, giúp cho hoạt động XNK và lưu thông phân phối TTBYT của nước ta hình thành một mạng lưói từ TW đến địa phương và được mở rộng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
Khi một doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu, làm đơn hàng nhập khẩu gửi tới Vụ TTB&CTYT để xin giấy phép nhập khẩu, sau đó khi nhập hàng về thì trong số giầy tờ phải trình hải quan bắt buộc phải có giấy phép nhập khẩu rđã được Vụ duyệt
3.1.2 Số lương doanh nshiêp tham sia XNK TTBYT:
Kinh doanh TTBYT đang trở thành một ngành đầy hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp kinh doanh ngành hàng này ngày càng tăng Điều này được thể hiện rõ hơn qua số liệu tổng kết của Trung tâm thồng tin thương mại thuộc Bộ Thương mại
Bảng 3.8: Số lượng DN tham gia nhập khẩu từ năm 2004-2006
Trang 35Căn cứ vào kết quả trên ta thấy, năm 2004 chỉ có 447 đơn vị Sang năm
2005 con số này là 539 đơn vị (tăng 20,4%) Năm 2006 số đơn vị tham gia nhập khẩu TTBYT là 601, tăng 11,7% so với năm 2005
Thành phần tham gia nhập khẩu trong 3 năm trở lại đây cũng rất phong phú, ngoài bệnh viện, ban quản lý dự án, các công ty nhà nước thì số công ty cổ phần và công ty TNHH ngày càng chiếm thị phần lớn Trong năm 2006, khối các công ty TNHH chiếm tói 69% (412 công ty) vói kim ngạch đạt 170 triệu USD, tăng 30% về lượng và 105% về kim ngạch so vói năm 2005, chiếm 74% tổng kim ngạch nhập khẩu TTBYT năm 2006 Khối các công ty cổ phần chiếm 44% (99 công ty), kim ngạch đạt 26,3 triệu USD, tăng 17% về lượng, chiếm 12% tỉ trọng Các công ty nhà nước, ban quản lý dự án, trung tâm y tế tham gia khá hạn chế, thị phần giảm từ 28% năm 2004 xuống còn 14% năm 2006
Năm 2006 có 44 doanh nghiệp đạt kim ngạch nhập khẩu TTBYT trên 1 triệu USD, tăng 15,8% so với 38 doanh nghiệp năm 2005 Đặc biệt, trong khi kim ngạch của doanh nghiệp đạt cao nhất năm trước là 6,4 triệu USD (Công ty Dược và TTBYT Quân đội), sang năm 2006 có đến 3 doanh nghiệp đạt mức trên
10 triệu USD mà đứng đầu là công ty TNHH xuất nhập khẩu TTBYT BMS với tri giá nhập khẩu trên 55 triệu đô
TNHH 74%
Trang 36Bảng 3.9:10 đơn vị đạt kim ngạch nhập khẩu TTB y tế cao nhất năm 2006
Trị giá NK năm 2006(USD)
Trị giá
NK năm
2005 (USD)
So sánh 06/05(%)
(Nguồn: Thông tin thương mại, Bộ Thương mại)
Căn cứ theo bảng 3.10 ở trên, ta thấy trong 10 doanh nghiệp có trị giá cao nhất năm 2006 thì công ty BMS dẫn đầu, tăng 4018,5% so vói năm 2005 Sở dĩ như vậy là do nhập khẩu rất nhiều các mặt hàng có giá tri cao từ Đức tăng đột biến vào năm 2006, giá từ vài trăm ngàn đến hàng triệu USD: banh tự giữ kiểu Olivier giá 2,4 triệu USD, bàn uốn nẹp 1,57 triệu USD, bộ sọ não 618 ngàn USD,
hệ thống hỗ trợ phẫu thuật nội soi giá 726 ngàn USD
Bên cạnh đó có những công ty mới xuất hiện trong năm 2006 nhưng đã đạt mức kim ngạch nhập khẩu rất cao như công ty cổ phần thiết bị phụ tùng Hà Nội 3,76 triệu USD; Công ty cổ phần dược phẩm thiết bị y tế Hà Nội có tri giá nhập khẩu cao nhưng lại giảm đi 5,7% so vói năm 2005 Có kết quả như vậy là do công ty giảm nhập khẩu máy y tế- mặt hàng thường có tri giá cao trong các kỳ nhập khẩu
Như vậy nhìn chung số lượng doanh nghiệp tham gia nhập khẩu TTBYT nhất là khối doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng dần qua các năm, thể hiện rằng đây là một ngành hàng béo bở ;do nhu cầu vẫn rất cao ở tất cả các tuyến
Trang 373.1.3 Kim neach nháp khẩu trane thiết bỉ V tế sia i đoan 2004-2006: 3.1.3.1 Tổng kim ngạch nhập khẩu qua các năm:
Qua khảo sát hoạt động nhập khẩu TTBYT ở nước ta năm 2004-2006, đề tài thu được kết quả được thể hiện ở bảng 3.10 và hình 3.9
Bảng 3.10: Trị giá kim ngạch nhập khẩu TTBYT của nước ta giai đoạn 2004-2006
■ Quý I a Quý II □ Quý HI □ Quý IV
Hình 3.9: Kim ngạch NK TTBYT của nước ta
năm 2004- 2006 (triệu USD)
Qua hình và bảng ở trên ta có thể thấy thị trường TTBYT của nước ta trong
3 năm gần đây diễn biến khá sôi động Tổng kim ngạch nhập khẩu TTBYT tăng vượt bậc từ 96,34 triệu USD năm 2004 lên 155,58 triệu USD năm 2005, tăng 61,5% trị giá nhập khẩu và tiếp tục tăng 45,8%, đạt 227,05 triệu USD vào năm 2006
Trị giá nhập khẩu thường thấp vào các quý đầu năm, tăng dần và đạt mức cao vào cuối năm Riêng những tháng cuối năm 2004 và đầu năm 2005, nhập khẩu TTBYT tăng vượt bậc do các đơn vị nhập khẩu được duyệt kế hoạch mua
Trang 38Trong quý II năm 2005 giảm trị giá đột ngột 49,8% so với quý I- 2005
Nguyên nhân là do chủng loại TTB nhập trong quý này khá đơn điệu, các mặt
hàng có giá trị cao chỉ được nhập với số lượng hạn chế Trong khi đó những mặt hàng có đơn giá thấp như ống nối, kìm, kẹp, kim tiêm thường được nhập với lượng lớn qua quý trước, quý này cũng giảm lượng nhập
Sang tói quý II năm 2006 kim ngạch NK TTBYT đạt 29,56 triệu USD, giảm 15,5% so với quý I năm 2006 và tăng 14,8% so vói quý n năm 2005.Các loại máy siêu âm màu, hệ thống siêu âm, nội soi có giá trí cao giảm lượng nhập khẩu là nguyên nhân làm giảm kim ngạch nhập TTBYT trong thòi gian này
Tháng 12 năm 2006 kim ngạch NK tăng vượt bậc, đạt 85,16 triệu USD là nguyên nhân chính làm tổng kim ngạch trong quý IV năm 2006 tăng đột biến 224,5% so với quý in, tăng 172% so với cùng kỳ năm trước Nhập khẩu từ các nguồn cung cấp chính là tăng mạnh so với trước đó, là nguyên nhân đẩy tổng kim ngạch nhập khẩu TTBYT trong những tháng cuối năm tăng lên mức cao Đây thường là các mặt hàng có giá trị cao như máy cộng hưởng từ, máy phẫu thuật nhãn khoa,
Vói những con số ý nghĩa như trên, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng trong năm 2007 nhập khẩu TTBYT của Việt Nam sẽ tăng mạnh từ 50-60% tri giá nhập khẩu
3.1.3.2 Giá nhập khẩu trang thiết bị y tế:
Mặt hàng TTBYT rất đa dạng về chủng loại Thông tin chính xác về giá các loại TTB trên thị trường thị giới không được cập nhật nhanh chóng và đầy đủ Cùng một tính năng nhưng có đến hàng chục loại khác nhau với các tiêu chuẩn
kỹ thuật khác nhau, giá bán khác nhau, về giá nhập khẩu của những mặt hàng có đơn giá thấp thường không thay đổi mấy qua các năm Những mặt hàng có thay đổi về giá tập trung chủ yếu vào các loại máy y tế, ví dụ như máy điện tim, máy siêu âm,
vẫn có sự chênh lệch giá nhập cùng loại từ các thị trường', máy siệụ âm
Trang 39giá 15.500USD/chiếc của Hàn Quốc và rất cao so với giá máy siêu âm đen trắng ALOKA và SSD nhập từ Nhật cổ giá từ 1.700- 4.500USD/chiếc.
Giá nhập khẩu một số mặt hàng TTBYT có cùng chủng loại nhập, do một công ty nhập từ một nước cũng chênh lệch cao N i dụ như:
Bảng 3.11: Tham khảo chênh lệch giá nhập khẩu của một số mặt hàng
Tỷ lệ chênh lệch (%)
25g(1000 chiếc)
(Nguồn: Thông tin thương mại, Bộ Thương mại)
Từ bảng trên ta nhận thấy, giá nhập khẩu có sự thay đổi ở những đợt nhập khẩu khác nhau, thường là theo chiều hướng tăng giá, xảy ra ngay cả vói cùng một mặt hàng Ví dụ như máy theo dõi bệnh nhân chênh lệch giá 40% giữa lần nhập trước và sau
Ngoài ra, mức chênh lệch giữa giá nhập khẩu và giá bán lẻ các loại
Tãng(%)
(Nguồn: Thông tin thương mại, Bộ Thương mại)
Trang 40Căn cứ vào bảng trên ta nhận thấy sự chênh lệch rất giữa giá bán lẻ và giá nhập khẩu là rất lớn, từ vài chục cho đến vài trăm % Điều này ảnh hưởng tói lợi ích của người sử dụng trang thiết bị y tế cũng như góp phẩn làm tăng thêm giá dịch vụ y tế.
Trong số hàng chục loại máy y tế nhập khẩu năm vừa qua, có 10 loại máy
có mức tăng, giảm đáng kể về lượng và giá nhập trung bình, thể hiện ở bảng sau: Bảng 3.13: Giá nhập khẩu trung bình một số loại máy y tế trong năm 2006
Lượng Trị giá
(USD)
GiáTB (USD/Đ
10 Máy đo huyết áp Bộ 157.149 2.411.568 15,35 -24,78 3,71 37,86
(Nguồn: Thông tin thương mại, Bộ Thương mại)
Nhìn bảng trên ta thấy, máy siêu âm là mặt hàng được nhập thường xuyên,
với số lượng lớn do nhu cầu trong nước vẫn ở mức cao Năm 2006 nhập khẩu
máy siêu âm các loại tăng 44,3% về lượng, 13,4% về trị giá Tuy nhiên, điều đáng mừng là giá nhập khẩu trung bình giảm 21,4% do nguồn cung được mở rộng, nhập được giá thấp từ nhiều nguồn cung khác nhau Giá nhập máy điện tim, truyền dịch, máy giúp thở, máy đo huyết áp, máy xét nghiệm huyết học và máy xét nghiệm đông máu tăng từ 13- 750% Trong khi giá nhập máy gây mê, máy theo dõi bệnh nhân và máy xét nghiêm sinh hóa giảm từ 11- 32%